1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại việt nam

127 105 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 2,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do có một thời gian tham gia hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin và và qua một thời gian tiếp xúc với các doanh nghiệp triển khai ứng dụng công nghệ thông tin tại Việt Nam, em m

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Vũ Đức Nghiêm, học viên lớp Cao học 12AQTKD1-TT Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội - Mã học viên CA120401; Khóa 2012A Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, tài liệu, kết quả trong luận văn này là thực tế Tôi xin chịu mọi vấn đề liên quan về nội dung của đề tài này

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN II

MỤC LỤC III

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT VI

DANH MỤC CÁC BẢNG VII

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ VII

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CNTT TRONG DOANH NGHIỆP 4

1.1 KHÁI NIỆM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 4

1.1.1 Khái niệm 4

1.1.2 Vai trò của công nghệ thông tin trong doanh nghiệp Việt Nam 6

1.1.3 Hệ thống thông tin 10

1.2 CÁC DẠNG ỨNG DỤNG CNTT TRONG DOANH NGHIỆP 11

1.2.1 Hệ thống xử lý giao dịch (TPS) 11

1.2.2 Hệ thống tự động hóa văn phòng (OAS) 12

1.2.3 Hệ thống thông tin quản lý tri thức (KWS) 13

1.2.4 Hệ thống thông tin phục vụ quản lý (MIS) 14

1.2.5 Hệ thống thông tin hỗ trợ ra quyết định (DSS) 15

1.2.6 Hệ thống thông tin hỗ trợ lãnh đạo (ESS) 15

1.2.7 Một số hệ thống thông tin tích hợp phổ biến 16

1.2.8 Hệ thống thông tin liên doanh nghiệp 18

1.3 CÁC CẤP ĐỘ ỨNG DỤNG CNTT 18

1.4 CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VỀ ỨNG DỤNG CNTT TRONG QUẢN LÝ TẠI CÁC DNVVN TẠI VIỆT NAM 22

1.4.1 Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ 23

1.4.2 Nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực CNTT 23

1.4.3 Phần mềm và quy trình nghiệp vụ được ứng dụng tại DNVVN 24

Trang 4

1.4.5 Mức độ ứng dụng CNTT trong DNVVN 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC ỨNG DỤNG CNTT TRONG QUẢN LÝ TẠI CÁC DNVVN TẠI VIỆT NAM 29

2.1 GIỚI THIỆU VỀ DNVVN TẠI VIỆT NAM 29

2.1.1 Khái niệm và tiêu chí xác định DNVVN 29

2.1.2 Thực trạng về doanh nghiệp vừa và nhỏ trong những năm gần đây 31

2.1.3 Vai trò của DNVVN trong nền kinh tế 36

2.2 THỰC TRẠNG ỨNG DUNG CNTT TRONG QUẢN LÝ TẠI CÁC DNVVN TẠI VIỆT NAM 39

2.2.1 Đầu tư cơ sở hạ tầng cho công nghệ thông tin 41

2.2.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động liên lạc và truyền thông 45

2.2.3 Ứng dụng công nghệ thông tin nâng cao hiệu quả hoạt động bộ phận 48

2.2.4 Mức độ hoạch định chiến lược trong ứng dụng công nghệ thông tin 52

2.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG 56

2.3.1 Các yếu tố bên trong 56

2.3.2 Các yếu tố bên ngoài 60

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠCH ỨNG DỤNG CNTT TRONG QUẢN LÝ TẠI CÁC DNVVN TẠI VIỆT NAM 66

3.1 CÁC YÊU CẦU VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI CÁC DNVVN TẠI VIỆT NAM 66

3.1.1 Tăng cường ứng dụng CNTT trong các DNVVN để tăng khả năng cạnh tranh 66

3.1.2 Tăng cường ứng dụng CNTTtrong các DNVVN để giảm chi phí 67

3.1.3 Chính sách nhà nước 68

3.2 CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT 69

3.2.1 Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức của bản thân DNVVN, tạo môi trường ứng dụng CNTT tạo lợi thế cạnh tranh trong DNVVN tại Việt Nam 69

3.2.2 Giải pháp 2 Ứng dụng điện toán đám mây(Cloud computing) trong quản lý doanh nghiệp tại các DNVVN tại VN 77

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 80

3.3.1 Áp dụng triệt để các ứng dụng B2G và từng bước áp dụng các giải pháp công nghệ thông tin trong DNVVN 80

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂU HỎI KHẢO ỨNG DỤNG CNTT TRONG DNVVN 91

PHỤ LỤC 2: BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHẢO SÁT 98

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

CNTT Công nghệ thông tin CRM Hệ thống quản lý quan hệ khách hàng

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Các hoạt động chính trong văn phòng 12

Bảng 2.1: Tiêu thức phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ 30

Bảng 2.2: Tình hình đăng ký thành lập doanh nghiệp giai đoạn 2009-2014 32

Bảng 2.3: Số lượng và tỷ lệ các loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2011 phân theo quy mô lao động và quy mô vốn 35

Bảng 2.4: Cơ cấu DNVVN tính đến 31/12/2011 36

Bảng 2.5: Loại hình sản xuất kinh doanh 40

Bảng 2.6: Số lượng máy tính cá nhân trong doanh nghiệp đã được kết nối và có thể được kết nối 41

Bảng 2.7: Số máy tính cá nhân có thể chia sẻ dữ liệu, chương trình ứng dụng thông qua mạng kết nối với 44 Bảng 2.8: Chức năng CNTT của chúng tôi rõ ràng về các tiêu chí thực hiện 52

Bảng 2.9: Chức năng CNTT của chúng tôi rõ ràng về các tiêu chí thực hiện 53

Bảng 2.10: Thảo luận các mục tiêu của nhóm quản lý ứng dụng công nghệ thông tin 53

Bảng 2.11: Xác định các tiêu chí đánh giá và xếp hạng đối với các dự án tiềm năng 54

Bảng 2.12: Các dự án công nghệ thông tin hỗ trợ mục tiêu và chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp 57

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Hình 2.1: Hình Tình hình sử dụng máy tính trong doanh nghiệp năm 2014 42

Hình 2.2: Cơ cấu chi phí cho CNTT và TMĐT trong doanh nghiệp qua các năm 43

Hình 2.3: Tình hình sử dụng email trong doanh nghiệp 45

Hình 2.4: Tình hình sử dụng email cho mục đích kinh doanh của doanh nghiệp qua các năm 46

Hình 2.5: Tình hình sở hữu website của doanh nghiệp qua các năm 47

Hình 2.6: Tỷ lệ sở hữu website phân theo lĩnh vực hoạt động 47

Hình 2.7: Website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử tham gia khảo sátphân bổ theo địa phương 48

Hình 2.8: Tỷ lệ sử dụng chữ ký điện tử phân theo quy mô doanh nghiệp 51

Hình 2.9: Tỷ lệ ứng dụng các phần mềm của doanh nghiệp năm 2014 55

Hình 2.10: Tỷ lệ cán bộ chuyên trách về thương mại điện tử theo quy mô doanh nghiệp năm 2014 58

Hình 2.11: Tỷ lệ cán bộ chuyên trách về CNTT và TMĐT theo từng lĩnh vực 59

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do thực hiện đề tài

Hiện nay, nền khoa học công nghệ đang đứng trước những bước chuyển mình to lớn trên quy mô toàn cầu, cùng với sự phát triển vũ bão của công nghệ thông tin đã có những tác động to lớn vào mọi mặt đời sống xã hội, từ nhu cầu sinh hoạt, tiếp cận thông tin của từng cá nhân, cho đến nhu cầu sản xuất tự động hóa, các hoạt động đòi hỏi khả năng xử lý, tính toán cao của các ngành công nghiệp, hay ngành giao thông vận tải, hàng không vũ trụ Một đặc điểm chung là tất cả đều cần khả năng xử lý, lưu trữ và truy cập dữ liệu ở mức cao, tất cả đều xoay quanh “dữ liệu số” Có thể nói, thế kỷ 21 chính là kỷ nguyên của công nghệ dữ liệu số

Đối với Việt Nam, mặc dù vẫn còn đang thuộc diện các nước kém phát triển, nhưng không có nghĩa là nhu cầu về thông tin ở nước ta thấp hơn so với các nước khác Trái lại, công nghệ thông tin ở Việt nam rất nhanh nhạy trong việc nắm bắt, thực hiện đi tắt đón đầu các công nghệ mới và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý các doanh nghiệp

Công việc quản lý kinh doanh một khi được "số hóa" sẽ giúp ích đáng kể cho các doanh nghiệp trong việc tiết kiệm chi phí, thời gian, nhân sự Chính vì thế, ngày càng nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) ứng dụng các giải pháp công nghệ thông tin (CNTT) trong việc điều hành công ty, xem đây là một biện pháp nhằm tăng tính cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận Với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ thông tin (CNTT), các doanh nghiệp được "hưởng lợi" rất nhiều khi kịp thời ứng dụng các giải pháp công nghệ cho việc điều hành công ty Trong thời điểm kinh tế suy thoái và cạnh tranh khốc liệt như hiện nay thì đây là một giải pháp nâng cao tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN)

Trang 9

Một trong những công cụ tối ưu giúp các DNVVN giải quyết được một số thách thức để đứng vững trên thị trường với chi phí hợp lý nhất trong thời điểm hiện nay chính là nhờ vào việc ứng dụng CNTT Thông qua các công cụ CNTT như website, phần mềm bán hàng, phần mềm quản lý thông tin khách hàng… DNVVN

có thể nhanh chóng cung cấp thông tin sản phẩm, tạo ra các dịch vụ mới, sản phẩm mới để tiếp cận một thị trường mới, khách hàng mới hay chăm sóc các khách hàng

cũ tốt hơn với chi phí thấp nhất Cũng thông qua cácphần mềm quản lý sản xuất, phân tích giá thành, lợi nhuận… DNVVN có thể tìm ra các chi phí không cần thiết hay các sản phẩm sinh lời cao, từ đó thực hiện việc tối ưu hóa sản xuất, tối ưu hóa công tác quản lý để có thể tối đa hóa lợi nhuận của mình

CNTT phải được coi như một công cụ hỗ trợ quản tri doanh nghiệp Nếu hợp

lý hoá quy trình quản lý nội bộ - doanh nghiệp Việt Nam có thể tiết kiệm được rất nhiều chi phí quản lý Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp ứng dụng CNTT hay mắc sai lầm như: xem CNTT quá phức tạp và quan trọng hóa việc ứng dụng CNTT, xem CNTT như một khoản tiêu tốn tiền mà mình không kiểm soát được, xem trang bị CNTT như chi phí quản lý mà chưa coi đây là khoản đầu tư, mất lòng tin vào các đơn vị CNTT do nghe nhiều đến thất bại

Do có một thời gian tham gia hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin

và và qua một thời gian tiếp xúc với các doanh nghiệp triển khai ứng dụng công

nghệ thông tin tại Việt Nam, em mạnh dạn chọn đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam” với

mong muốn góp phần thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ thông tin và giải quyết một số vấn đề trong hoạt động quản lý tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu và làm sáng tỏ những lý luận cơ bản về ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp

Trang 10

- Phân tích thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam nhằm xác định những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn làm tiền đề cho việc đề xuất các giải pháp phát triển ứng dụng CNTT trong quản lý

- Đề xuất những giải pháp chủ yếu và cơ bản nhất và các kiến nghị để phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Thu thập và phân tích số liệu thống kê, đồng thời tiến hành công tác điều tra qua phỏng vấn trực tiếp và bảng hỏi

5 Kết cấu luận văn

Luận văn bao gồm các phần chính như sau: Phần mở đầu và ba chương; nội dung chính của các chương được trình bày như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về ứng dụng cntt trong doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng việc ứng dụng cntt trong quản lý tại các DNVVN tại Việt Nam

Chương 3: Các giải pháp đẩy mạch ứng dụng cntt trong quản lý tại các DNVVN tại Việt Nam

Ngoài ra còn có hệ thống các bảng, biểu, hình vẽ, danh mục các từ viết tắt, danh mục các tài liệu tham khảo, các phụ lục kèm theo

Trang 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CNTT

TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 KHÁI NIỆM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

1.1.1 Khái niệm

Để hiểu rõ về vai trò của Công nghệ thông tin(CNTT) đối với doanh nghiệp,

ta cần phải tìm hiểu về khái niệm CNTT Có thể nói, hiện nay, CNTT không còn là thuật ngữ xa lạ với mỗi người, mỗi doanh nghiệp Mọi công việc chúng ta làm hàng ngày đều có thể có sự góp mặt của CNTT, đặc biệt là những thao tác liên quan đến

dữ liệu

Xã hội loài người phát triển như ngày nay là do con người luôn luôn sáng tạo, áp dụng những thành tựu khoa học vào trong đời sống xã hội Để tăng năng suất lao động, con người đã thực hiện nhiều cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, từ nửa cuối thế kỷ18 được coi là cuộc cách mạngcông nghiệp lần thứ nhất, nó

có bản chất là quá trình cơ khí hoá, nội dung là sử dụng máy móc thay thế lao động chân tay Kết quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật này là sự ra đời của các nước công nghiệp, cơ cấu kinh tế được chuyển đổi từ thuần tuý nông nghiệp sang công nghiệp với tỷ trọng cao hơn nhiều lần Từ những năm 50 của thế kỷ 20con người bắt đầu cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai Cuộc cách mạng trong giai đoạn này chủ yếu về sự phát triển của ngành năng lượng mới, những vật liệu mới cho phép đổi mới và chế tạo những máy móc mới, công nghệ sinh học … cuộc cách mạng đã chuyển loài người sang một nền văn minh mới "văn minh trí tuệ" Thành tựu của cách mạng khoa học trong giai đoạn này phải kế đến sự đóng góp của các thế hệ máy tính điện tử Bản chất của các ứng dụng máy tính là quá trình sử dụng máy tính trong xử lý thông tin để thay thế một phần lao động trí óc, để trợ giúp phần điều khiển bằng trí tuệ của con người

Trang 12

Sau khi chiếc máy tính điện tử đầu tiên ra đời năm 1944, giới học giả Hoa

Kỳ sử dụng thuật ngữ “computer science” (khoa học về máy tính) để chỉ ngành khoa học dành riêng cho lĩnh vực này Người Pháp cho rằng máy tính điện tử dùng làm phương tiện xử lý thông tin, làm cho ngành thông tin phát triển mạnh hơn nên

họ dùng thuật ngữ “informatique” (nghĩa là khoa học về xử lý thông tin trên máy tính điện tử)

Ở nước ta vào thập niên 1960, phía Bắc tiếp xúc với các hệ thống máy tính của Liên Xô, chúng ta gọi những máy này là “máy tính điện tử” Khoảng đến thập niên 1970, những nhà khoa học đi tiên phong trong lĩnh vực này mới dịch

“informatique” từ tiếng Pháp thành “tin học”, chúng ta hiểu nghĩa là một ngành khoa học nghiên cứu về thông tin

Như vậy chúng ta sử đã sử dụng thuật ngữ “tin học” từ khá lâu và hiện nay vẫn sử dụng thuật ngữ này, còn thuật ngữ “Công nghệ thông tin” được sử dụng từ khi nào? Thuật ngữ CNTT được cho là xuất hiện lần đầu trong ấn bản của tạp chí Harvard Business Review năm 1958; trong đó, hai tác giả bài viết là Leavitt và Whisler đã bình luận: “Công nghệ mới chưa có cái tên riêng Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology – IT).” Ở Việt Nam, do ảnh hưởng của chiến tranh kéo dài và tình trạng cơ sở vật chất thấp kém, việc tiếp cận và ứng dụng công nghệ thông tin diễn ra tương đối muộn Tuy nhiên, với sự mở cửa nền kinh tế thị trường và tăng cường hội nhập quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, Nhà nước đã đẩy mạnh ứng dụng nghiên cứu khoa học công nghệ tại các

Bộ, ban, ngành, và CNTT là một trong những trọng tâm được đầu tư ưu tiên hàng đầu Quả thực, từ cuối những năm 90 thế kỷ 20 và đầu những năm 2000, CNTT đã thực sự bùng nổ với tốc độ chóng mặt

Trong nghị quyết chính phủ 49/CP năm 1993 đã đưa ra khái niệm về CNTT như sau: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm

Trang 13

tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội"

(Nghị quyết của chính phủ 49/CP năm 1993)

Luật Công nghệ thông tin của Việt Nam năm 2006 đưa ra định nghĩa “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số”

Có thể hiểu công nghệ thông tin bao gồm các kỹ thuật phần cứng, phần mềm,

dữ liệu, mạng máy tính và viễn thông được sử dụng để xử lý thông tin

Luật công nghệ thông tin năm 2006 nhấn mạnh: “Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế -

xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này”

Có thể khẳng định ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là việc sử dụng công nghệ thông tin phục vụ các hoạt động sản xuất, các hoạt động kinh doanh, các hoạt động quản lý của doanh nghiệp nhắm khai thác tối đa các nguồn lực và tối ưuhoá các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đem lại lợi ích cao nhất cho doanh nghiệp và xã hội

1.1.2 Vai trò của công nghệ thông tin trong doanh nghiệp Việt Nam

Công nghệ thông tin hiện đang được áp dụng sâu rộng trong mọi mặt, mọi lĩnh vực, đối tượng trong cuộc sống, trong đó có các doanh nghiệp Với những lợi ích to lớn mà nó đem lại và đã được chứng minh từ thực tiễn nhiều quốc gia phát triển, các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay cũng đang đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như quản lý nhằm nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh Việc ứng dụng công nghệ thông tin là một bước chuyển mình to lớn, có tính chất chiến lược, tạo ra những thay đổi cơ bản và toàn diện về phương thức, quá trình sản xuất và phương thức quản lý,

Trang 14

điều hành doanh nghiệp Vai trò của công nghệ thông tin đối với các doanh nghiệp tại Việt nam có những đặc điểm cơ bản như sau:

- Tăng năng suất lao động: Khi có các thông tin đầy đủ và bao quát thì doanh nghiệp có thể thông kê và loại bỏ được những yếu tố kém hiệu quả trong quá trình sản xuất Bên cạnh đó nếu không dùng công nghệ thông tin mà lên kế hoạch sản xuất một cách thủ công dẫn đến tính toán sai và gây ra các điểm thắt cổ chai trong quá trình sản xuất do đó thường sử dụng không hết công suất của máy móc và công nhân

- Hỗ trợ ra quyết định: Công nghệ thông tin cũng cho phép các nhà quản lý giám sát các hoạt động sản xuất kinh doanh tại văn phòng, nhà máy, công xưởng; từ đó theo dõi được hiệu suất hoạt động tổng thể của các nguồn lực doanh nghiệp để có thể đưa ra những quyết định và giải pháp kịp thời khi cần, điều này đã trở thành một trong những yếu tố then chốt trông môi trường kinh doanh hiện đại ngày nay

- Tăng cường hợp tác lao động: Với việc chia sẽ các tài nguyên thông tin nhà sản xuất có thể tăng cường hợp tác với nhau tốt hơn, tận dụng những thế mạnh những nguồn lực chung một cách hiệu quả nhất

- Tạo liện kết giữa các đối tác kinh doanh: thông qua những phần mềm, các diễn đàn và các ứng dụng trực tuyến các đối tác có thể tìm đến nhau một cách dẽ dàng hơn, tạo lên mối liên kết bền chặt và rộng khắp trên toàn thế giới

- Cho phép thực hiện toàn cầu hóa: Bằng việc sử dụng công nghệ thông tin đã rút ngắn được các khoảng cách về không gian và thời gian tạo điều kiện mở rộng quan hệ những hợp tác với các đối tác đa dạng hơn trên toàn thế giới sự phát triển của công nghệ thông tin làm xuất hiện hình thức kinh doanh mới là thương mại điện tử Thương mại điện tử hiện nay đang bùng nổ và phát triển mạnh mẽ, giúp mở ra các phương thức giao dịch và thanh toán tiện lợi, nhanh chóng (ví dụ thanh toán và mua hàng trực tuyến) Với sự tiện lợi và

Trang 15

hiệu quả của mình, các phương thức này giúp kích thích tăng cường nhu cầu mua bán, ngoài ra còn đẩy mạnh thương mại quốc tế Việc phát triển thương mại điện tử còn mang lại những lợi ích to lớn, giúp giảm chi phí lưu trữ kho hàng hóa hay chi phí đầu tư cửa hàng và các dịch vụ chăm sóc khách hàng liên quan Việc phát triển thương mại điện tử hiện nay rõ ràng là một yếu tố phát triển tiên quyết giúp các doanh nghiệp nâng cao ưu thế cạnh tranh, tiếp cận phục vụ các khách hàng một cách sâu rộng, liên tục 24/7

Tại các quốc gia phát triển, ứng dụng công nghệ thông tin được áp dụng và triển khai rộng rãi tại nhiều doanh nghiệp, trên nhiều lĩnh vực khác nhau và đã thu được những kết quả khả quan, trong đó có lĩnh vực quản lý tại doanh nghiệp Việc

sử dụng các giải pháp công nghệ cho quản lý cũng dần trở thành một chỉ tiêu cho từng doanh nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế theo xu hướng chung của thời đaị Sự cần thiết của việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam thể hiện qua những ý sau:

- Thứ nhất, ứng dụng công nghệ thông tin giúp quy trình quản lý và kinh

doanh trở nên hiệu quả và nhanh chóng hơn Hiện nay có rất nhiều hệ thống tích hợp được xây dựng và phát triển, giúp nâng cao chất lượng quản trị cho doanh nghiệp như ERP (Enterprise Resource Planning – Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp), CRM (Customer Relationship Management –

Hệ thống quản lý quan hệ khách hàng), SCM (Supply Chain Management –

Hệ thống quản lý chuỗi cung ứng), HRM (Human Resouce Management –

Hệ thống quản lý nhân sự), v.v Các giải pháp này bao gồm những bộ công

cụ tích hợp, hỗ trợ cho mọi hoạt động, lĩnh vực quản lý của doanh nghiệp, thay vì phải xử lý từng hoạt động riêng rẽ Điều này giúp quá trình quản lý của doanh nghiệp có sự đồng bộ, thống nhất cao, nhanh chóng và hạn chế được những sai sót Việc xử lý và vận hành hệ thống cũng tận dụng các tính năng tính toán và tự động có độ chính xác cao hơn

Trang 16

- Thứ hai, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giúp các doanh nghiệp

đáp ứng được những yêu cầu và tiêu chuẩn khắt khe, có thể tiến hành hội nhập với kinh tế thế giới Việc hội nhập nền kinh tế thế giới, gia nhập các tổ chức quốc tế (ví dụ Tổ chức Thương mại Thế giới WTO) có thể mở ra cho các doanh nghiệp Việt Nam nhiều cơ hội cũng như thách thức Ngoài việc nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, các doanh nghiệp còn phải tiến hành thay đổi về những phương thức quản lý và sản xuất để đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe của các thị trường nước ngoài Và việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý chính là một giải pháp như thế Các ứng dụng quản lý như ERP, FRM, CRM, v.v đều đã được nghiên cứu xây dựng từ quá trình lâu dài và áp dụng thành công trên nhiều nước, tuân theo những tiêu chuẩn và khuyến cáo từ các chuyên gia kinh tế hàng đầu, điều này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận nhanh chóng và hiệu quả, tiến tới thâm nhập và mở rộng các thị trường mới tiềm năng

Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giúp nâng cao trình độ

các cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp vừa và nhỏ Trình độ quản lý của các đội ngũ lao động tại doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam vẫn còn thấp Những hạn chế trình độ là một rào cản đối với các lao động và các doanh nghiệp tìm kiếm các cơ hội và tăng khả năng cạnh tranh tại thị trường trong và ngoài nước, cũng như làm giảm mức độ hiệu quả của việc sử dụng công nghệ thông tin trong doanh nghiệp

Do đó, một yêu cầu cấp thiết đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, đó là tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin nhằm tận dụng sức mạnh, tiện ích công nghệ thông tin, nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại doanh nghiệp Việc áp dụng những giải pháp tiên tiến nhất cũng là cơ hội cho đội ngũ cán bộ trao dồi học hỏi kiến thức, tiến tới hội nhập xu hướng công nghệ mới, nâng cao trình độ lao động và khả năng của các cá nhân

Trang 17

1.1.3 Hệ thống thông tin

Hệ thống thông tin (Information System - IS) là một tập hợp các yếu tố

có liên quan với nhau cùng làm nhiệm vụ thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền đạt thông tin để hỗ trợ việc ra quyết định, phân tích tình hình, lập kế hoạch, điều phối và kiểm soát hệ thống các công việc, hoạt động trong một tổ chức, doanh nghiệp

Hệ thống thông tin có thể chứa thông tin về đối tượng mà doanh nghiệp quan tâm điển hình như các thông tin về con người, thị trường kinh doanh, nơi chốn,

sự kiện, hiện tượng và các hoạt động trong phạm vi một cơ quan hay trong môi trường hoạt động Trong một hệ thống thông tin doanh nghiệp môi trường có thể là khách hàng, nhà cung cấp, các cơ quan quản lý nhà nước, các cổ đông và các đối thủ cạnh tranh

Các chức năng chính của một hệ thống thông tin là thu thập dữ liệu từ trong nội bộ cơ quan và từ môi trường bên ngoài để lưu trữ và xử lý thành thông tin có ý nghĩa, rồi phân phối thông tin ấy đến những người hoặc tổ chức cần sử dụng

Có thể nói xây dựng hệ thống thông tin là việc ứng dụng công nghệ thông tin một cách có hệ thống, hiệu quả của doanh nghiệp Để hệ thống hoạt động hiệu quả

nó phải được tổ chức, quản lý một cách chặt chẽ,hệ thống thông tin không chỉ là các máy móc, phần mềm, nó bao gồm những yếu tố sau:

- Thu thập thông tin

- Truyền thông tin

- Lưu trữ

- Phục hồi

- Xử lý

- Hiển thị

Trang 18

1.2 CÁC DẠNG ỨNG DỤNG CNTT TRONG DOANH NGHIỆP

Để phát triển trên thị trường các doanh nghiệp phải huy động hiệu quả các nguồn tài nguyên hay nguồn lực của mình.Trước đây người ta vẫn quan niệm nguồn lực của doanh nghiệp bao gồm nguồn nhân lực,nguồn lực tài chính,nguồn lực thiết

bị, nguồn lực công nghệ , … Với sự đa dạng của các hoạt động kinh doanh ngày nay, việc quản lý và điều hành các hoạt động kinh doanh càng trở nên phức tạp hơn, yêu cầu về thời gian, độ chính xác và tính hiệu quả cao hơn Đồng thời công việc hàng ngày của các nhà quản trị luôn đòi hỏi phải làm việc với kế toán, tài chính, với vấn đề nhân sự - tiền lương hay việc điều hành sản xuất, marketing.Các nhà quản lý khó có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình bởi lượng thông tin cần xử lý ngày càng nhiều, yêu cầu về độ chính xác và thời gian xử lý ngày càng cao Như vậy vấn

đề cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời cho các nhà quản lý là yêu cầu bắt buộc, thông tin đã trở thành một nguồn tài nguyên của doanh nghiệp Các nguồn lựcnhân lực,nguồn lực tài chính,nguồn lực thiết bị, nguồn lực công nghệ, … tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm, nguồn lực thông tin có chức năng nhận biết và

sử dụng hiệu quả các nguồn lực Nguồn lực thông tin trực tiếp hỗ trợ các nhà quản trị ra quyết định quản lý; Nó góp phần xác định, xây dựng chính sách, chiến lược kinh doanh Thông tin cần thiết và là cơ sở hoạt động cho bộ phận tiếp theo, trong các tiến trình hoạt động của doanh nghiệp Đối với bên ngoài thông tin cung cấp cho các hoạt động truyền thông, thông báo về các sản phẩm, dịch vụ của công ty cho khách hàng, đối tác, … Một vai trò rất quan trọng trong hoạt động là thông tin góp phần giải quyết các mâu thuẫn, xung đột trong DN

Để giải quyết được những đòi hỏi thông tin như ở trên đối với các nhà quả trị thì có thể tổng kết lại một số dạng ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp như sau

1.2.1 Hệ thống xử lý giao dịch (TPS)

Hệ thống xử lý giao dịch bao gồm các hệ thống ở mức tác nghiệp như sau:

- Theo dõi đơn đặt hàng

Trang 19

- Kiểm soát máy móc

- Thanh toán tiền lương

- Mua bán chứng khoán

- Quản lý tiền mặt

- Quản lý khoản phải thu, phải trả

- Quản lý kế hoạch sản xuất

- Đào tạo và phát triển

Hệ thống xử lý giao dịch (TPS) là hệ thống thu thập và lưu trữ dữ liệu giao dịch, có thể kiểm soát các quyết định được tạo ra như một phần trong

giao dịch Ở đây: Giao dịch = một sự kiến tạo hoặc mã hóa dữ liệu

Một số TPS bỏ qua những người thư ký và thực hiện các giao dịch hoàn toàn

tự động

1.2.2 Hệ thống tự động hóa văn phòng (OAS)

Hệ thống thông tin tự động hóa văn phòng là một hệ thống dựa trên máy tính nhằm thu thập, xử lý, lưu trữ, và gửi thông báo, tin nhắn, tài liệu, và các dạng truyền tin khác giữa các cá nhân, các nhóm làm việc, và các tổ chức khác nhau

Hoạt động chính trong một văn phòng:

Bảng 1.1: Các hoạt động chính trong văn phòng

Các hoạt động chính trong văn

phòng

Quản lý tài liệu

Tạo tệp tin, lưu trữ, khôi phục,

liên kết hình ảnh, và các tài liệu

Thiết kế, quản lý, và liên kết các

tài liệu, các kế hoạch và lịch hoạt

động

Tạo lịch điện tử Thư điện tử Các phần mềm làm việc theo nhóm

Trang 20

Quản lý dữ liệu về các cá nhân

- Truyền thông hiệu quả hơn

- Truyền thông trong thời gian ngắn hơn

- Giảm thời gian lặp lại các cuộc gọi, tránh khả năng người nhận chưa sẵn sàng nhận tin nhắn (SMS, fax)

- Loại bỏ việc thất lạc thư trong quá trình gửi

* Nhược điểm:

- Chi phí cho phần cứng khá lớn

- Người sử dụng ít có khả năng quan sát vai trò công việc

- An toàn thông tin của doanh nghiệp bị đe dọa và thường nhận được những thông tin không mong muốn, gây gián đoạn công việc

1.2.3 Hệ thống thông tin quản lý tri thức (KWS)

Hệ thống thông tin quản lý tri thức (KWS): các hệ thống được thiết kế để hỗ trợ việc chia sẻ kiến thức hơn là chia sẻ thông tin

*Vai trò của hệ thống thông tin quản lý tri thức trong doanh nghiệp:

Trang 21

- Diễn đạt các tri thức ngoài doanh nghiệp

- Người cố vấn nội bộ của mỗi doanh nghiệp

- Nhân công tri thức là những tác nhân thay đổi tổ chức

*Đặc điểm trong quản lý tri thức:

- Quản lý tri thức là công việc tốn kém

- Quản lý tri thức hiệu quả đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống giải pháp lai ghép giữa con người và công nghệ

- Quản lý tri thức cần phải có những người quản lý có kiến thức

- Quản lý tri thức có lợi từ việc sắp xếp, định hướng nhiều hơn là từ các mô hình, được xây dựng từ thị trường hơn là từ hệ thống cấp bậc

- Chia sẻ và sử dụng thông tin thường không phải là một hành động tự nhiên

- Quản lý tri thức có ý ghĩa là phát triển quá trình xử lý tri thức

- Truy cập dữ liệu mới là bước đầu tiên

- Quản lý tri thức không bao giờ có điểm dừng

- Phải liên hệ được với nhiều nguồn thông tin và dữ liệu bên ngoài doanh nghiệp

- Đòi hỏi các phần mềm hỗ trợ đồ họa, phân tích, quản lý tài liệu, dữ liệu, và

có khả năng truyền thông tin ở mức cao hơn các hệ thống khác

- Phải được hỗ trợ về phần cứng

- Có những giao diện tiện ích

- Phải sử dụng các máy trạm mạnh hơn so với các máy tính thông thường

1.2.4 Hệ thống thông tin phục vụ quản lý (MIS)

Hệ thống thông tin phục vụ quản lý (MIS) – cung cấp thông tin cho việc quản lý tổ chức Hệ thống này lấy và tổng hợp dữ liệu từ TPSs từ đó cho phép các

Trang 22

nhà quản lý kiểm soát và điều khiển các tổ chức Bên cạnh đó hệ thống này cũng cung cấp những thông tin phản hồi chính xác để nhà quản lý đưa ra những quyết định có tính chính xác cao hơn

Hệ thống thông tin phục vụ quản lý (MIS) cung cấp các báo cáo đặc biệt dựa trên cơ sở đã được lập kế hoạch từ trước đó

1.2.5 Hệ thống thông tin hỗ trợ ra quyết định (DSS)

HTTT hỗ trợ ra quyết định (DSS) là một hệ thống thông tin tương tác cung cấp thông tin, các mô hình, và các công cụ xử lý dữ liệu hỗ trợ cho quá trình ra các quyết định có tính nửa cấu trúc và không có cấu trúc

Các thành phần chính tạo nên hệ thống DSS:

- Cơ sở dữ liệu: tập hợp các dữ liệu được tổ chức sao cho dễ dàng truy cập

- Các mô hình cơ sở: các mô hình phân tích và toán học giải đáp, ví dụ: mô hình nếu – thì và các dạng phân tích dữ liệu khác

- Hệ thống phần mềm hỗ trợ quyết định: cho phép người sử dụng can thiệp vào cơ sở dữ liệu và cơ sở mô hình

1.2.6 Hệ thống thông tin hỗ trợ lãnh đạo (ESS)

Hệ thống thông tin hỗ trợ lãnh đạo (ESS) là một hệ thống tương tác cao cho phép truy cập thông tin từ các kết quả kiểm soát và tình trạng chung của doanh nghiệp

*Đặc điểm chính của ESS:

- Truy cập được thực trạng hiện tại

- Thư điện tử

- Cơ sở dữ liệu bên ngoài

- Xử lý văn bản

- Bảng tính

Trang 23

- Tự động lập file

- Phân tích xu hướng

- Các cách trình bày kết quả khác nhau

*Lợi ích của ESS:

- Linh hoạt, có khả năng phân tích, so sánh và xác định các xu hướng

- Hỗ trợ đồ họa để khám phá các tình huống

- Thực hiện kiểm soát

- Cập nhật, cho phép dòng dữ liệu theo sát các hoạt động

1.2.7 Một số hệ thống thông tin tích hợp phổ biến

Một số hệ thống tích hợp khác đang từng bước được áp dụng bởi các doanh nghiệp có thể kể tới như sau:

* Chuyển đổi dữ liệu điện tử (EDI): truyền dữ liệu kinh doanh giữa các hệ

thống thông tin máy tính của hai doanh nghiệp Theo Ủy ban liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL), việc trao đổi dữ liệu điện tử được xác định như sau: “Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) là việc chuyển giao thông tin từ máy tính điện

tử này sang máy tính điện tử khác bằng phương tiện điện tử, có sử dụng một tiêu chuẩn đã được thỏa thuận để cấu trúc thông tin” EDI rút thông tin từ những ứng dụng của công ty và truyền tải các chứng từ giao dịch phi giấy tờ dưới dạng máy tính đọc được qua đường dây diện thoại hoặc các thiết bị viễn thông khác Ở đầu nhận, dữ liệu có thể nhập trực tiếp vào hệ thống máy tính của đối tác, được tự động

xử lý với các ứng dụng nội bộ tại nơi nhận EDI bao hàm những qui trình đảm bảo

cho hình thức truyền thông này an toàn hơn Ngoài khả năng nhận dạng, kỹ thuật này còn có thể hỗ trợ phát hiện và sửa lỗi Chứng thực theo hướng xác nhận nội dung dữ liệu có thể được thực hiện và tính cá nhân được đảm bảo bởi một số phương tiện tích hợp trong hệ thống Sau hết, chứng thực người được quyền gửi thông điệp cũng được đảm bảo

Trang 24

EDI có thể được sử dụng để truyền theo đường điện tử các tài liệu như hóa đơn, phiếu đặt hàng, giấy biên nhận, các tài liệu vận chuyển và các thư từ trao đổi nghiệp vụ chuẩn khác giữa các tổ chức và các đối tác kinh doanh

* Hệ thống thông tin quản lý chuỗi cung ứng (SCM): là hệ thống tích hợp

giúp quản lý và liên kết các bộ phận sản xuất, khách hàng và nhà cung cấp

- Lợi ích của chuỗi cung ứng:

+ Tăng nhanh thời gian đáp ứng đơn hàng

+ Thực hiện kế hoạch giao hàng tốt hơn

+ Tăng doanh thu, tăng chất lượng dịch vụ khách hàng

+ Giảm lưu kho, thời gian đặt hàng

+ Giảm lượng hàng hỏng

+ Giảm chi phí điều hành chung

* Hệ thống thông tin quản lý quan hệ khách hàng (CRM): là hệ thống tích

hợp giúp quản lý và liên kết toàn diện các quan hệ với khách hàng qua nhiều kênh

và bộ phận chức năng khác nhau

- CRM có thể cho phép doanh nghiệp:

+ Xác định dạng khách hàng

+ Xây dựng các chiến dịch marketing cho từng cá nhân khách hàng

+ Đối xử với khách hàng trên phương diện là mỗi cá nhân

*Hệ thống thông tin hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP): là hệ thống

tích hợp và phối hợp hầu hết các quy trình tác nghiệp chủ yếu của doanh nghiệp

+ Hiểu rõ về hành vi mua hàng của khách hàng

- Lợi ích từ ERP:

+ Thay đổi cơ cấu tổ chức, quy trình quản lý, nền tảng công nghệ và năng lực

Trang 25

+ Được thiết kế dựa trên các quy trình nghiệp vụ xuyên chức năng và có thể cải thiện tình hình báo cáo quản lý và ra quyết định

+ Cung cấp một nền tảng công nghệ thông tin duy nhất, hoàn thiện và thống nhất, chứa đựng dữ liệu về tất cả các quy trình nghiệp vụ chủ yếu

+ Giúp doanh nghiệp thiết lập nền tẳng cho việc lấy khách hàng làm trọng tâm

1.2.8 Hệ thống thông tin liên doanh nghiệp

*Thương mại điện tử (e – commerce): là các giao dịch được thực hiện trên

mạng internet giữa các doanh nghiệp với các khách hàng mua và sử dụng hàng hóa

và dịch vụ hoặc giữa các doanh nghiệp với nhau

*Kinh doanh điện tử (e – business): là một khái niệm rộng hơn của thương

mại điện tử Nó không chỉ bao gồm các hoạt động mua, bán, mà gồm cả các dịch vụ khách hàng, liên kết với các đối tác, và thiết lập các giao dịch điện tử bên trong tổ chức

1.3 CÁC CẤP ĐỘ ỨNG DỤNG CNTT

Thực tế hầu hết các doanh nghiệp đều đã sử dụng máy tính vào các mục đích khác nhau, nhưng nhiều doanh nghiệp quan niệm máy tính chỉ là công cụ soạn thảo văn bản, do vậy doanh nghiệp vẫn coi việc mua sắm trang bị thiết bị CNTT như mua sắm văn phòng phẩm Chỉ có một số doanh nghiệp đã xác định đúng vai trò của CNTT, và thực hiện chính sách đầu tư vào công nghệ thông tin là khoản đầu tư chính thống theo kế hoạch Theo điều tra, ở nhiều doanh nghiệp máy tính chỉ được sử dụng thực hiện các công việc văn phòng và hầu như chưa triển khai được các giải pháp công nghệ thông tin để phục vụ trực tiếp quá trình kinh doanh như quản lý sản xuất, bán hàng, phục vụ quản lý

Việc mua sắm phần cứng, phần mềm cũng là vấn đề lớn đối với doanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp dễ dàng quyết định mua phần cứng, nhưng lại rất

Trang 26

hiệu quả được, nếu chỉ quan tâm đến phần mềm thì khả năng hoạt động của hệ thống cũng bị hạn chế hoặc không hoạt động được Như vậy khi đầu tư vào CNTT doanh nghiệp cần xác định đầu tư đúng hướng, đúng cơ cấu, tỷ lệ phần cứng và phần mềm phù hợp với yêu cầu của giải pháp công nghệ

Như vậy việc triển khai ứng dụng CNTT cho các doanh nghiệp đòi hỏi nhiều công sức của cả doanh nghiệp Doanh nghiệp cần huy động các nguồn lực về tài chính, con người, … nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng thành công Có nhiều yếu tố chủ quan lẫn khách quan, nhưng đơn giản cũng có thể là giải pháp ứng dụng ngay từ đầu đã không được chọn đúng hướng đầu tư, phù hợp với quy mô, quy trình hoạt động của doanh nghiệp Cũng có thể doanh nghiệp đã không thể hiện được quyết tâm thực hiện đến cùng Để thực hiện thành công quá trình ứng dụng CNTT tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp, tuỳ thuộc tính chất hoạt động, tuỳ thuộc vào mục tiêu và nguồn lực của doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể lựa chọn định hướng ứng dụng CNTT phù hợp

Các hoạt động đầu tư CNTT trong doanh nghiệp nhằm phục vụ cho các mục tiêu của doanh nghiệp như hỗ trợ các hoạt động tác nghiệp, hỗ trợ cho việc ra các quyết định quản lý, hỗ trợ việc xây dựng các chiến lược nhằm đạt lợi thế cạnh tranh,…Có nhiều mô hình đầu tư CNTT trong doanh nghiệp, mỗi mô hình có cách tiếp cận khác nhau nhưng đều có chung mục đích là giúp doanh nghiệp xác định được lộ trình đầu tư và mối quan hệ giữa các thành phần trong bức tranh tổng thể về ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp cần phải chọn cho mình

mô hình đầu tư CNTT cho phù hợp để phát huy hiệu quả các khoản đầu tư, phục vụ cho mục tiêu kinh doanh và phù hợp với năng lực khai thác công nghệ của doanh nghiệp

Mô hình đầu tư CNTT trong doanh nghiệp được tổng hợp theo 4 giai đoạn kế thừa nhau: Đầu tư cơ sở về CNTT; Tăng cường ứng dụng điều hành, tác nghiệp; Ứng dụng toàn diện nâng cao năng lực quản lý và sản xuất; Đầu tư để biến đổi doanh nghiệp và tạo lợi thế cạnh tranh quốc tế Tại mỗi giai đoạn đều có những mục

Trang 27

tiêu cụ thể và tuân theo các nguyên tắc cơ sở của đầu tư CNTT là: đầu tư phải phù hợp với mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp; đầu tư phải đem lại hiệu quả; đầu tư cho con người đủ để sử dụng và phát huy các đầu tư cho công nghệ

Đối với giai đoạn 1 “Đầu tư cơ sở về CNTT”, là sự đầu tư ban đầu của doanh nghiệp vào CNTT bao gồm các trang bị cơ bản về phần cứng, phần mềm và nhân lực Mức độ trang bị “cơ bản” có thể không đồng nhất, tuy nhiên, cần đạt được một

số yêu cầu chính về cơ sở hạ tầng công nghệ (phần cứng & phần mềm) được trang

bị đủ để triển khai một số ứng dụng thường xuyên của doanh nghiệp như: trang bị máy tính, thiết lập mạng LAN, WAN, thiết lập kết nối Internet, môi trường truyền thông giữa các văn phòng trong nội bộ hoặc giữa các đối tác; về con người được đào tạo để sử dụng được các hạ tầng trên vào một số hoạt động tác nghiệp hoặc quản lý của doanh nghiệp, các đầu tư trong giai đoạn này nhằm xây dựng “nền tảng” cho các ứng dụng CNTT tiếp theo

Đối với giai đoạn hai “Đầu tư nâng cao hiệu xuất làm việc của các bộ phận” Trong giai đoạn này Doanh nghiệp có thể tiến hành đồng thời nhiều gói

phần mềm chuyên dụng để hỗ trợ chho các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp như: Nhân sự; theo dõi đơn hàng; lập hóa đơn; kế toán ….Với cách này thì doanh nghiệp không sử dụng CNTT để xác định cách thức làm khác biệt hóa sản phẩm hoặc dịch vụ của họ Mục tiêu của giai đoạn này là đầu tư CNTT để nâng cao hiệu suất hoạt động, hỗ trợ cho các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp, cụ thể cho hoạt động của các phòng ban chức năng hoặc các nhóm làm việc theo nhiệm vụ Đây là bước phát triển tự nhiên của hầu hết các doanh nghiệp, vì khối lượng thông tin cần xử lý tăng lên, và do đã có được các kỹ năng cần thiết về ứng dụng CNTT trong các giai đoạn trước Các đầu tư nhằm tự động hóa các quy trình tác nghiệp, kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp như triển khai các ứng dụng để đáp ứng từng lĩnh vực tác nghiệp và sẵn sàng mở rộng theo yêu cầu kinh doanh; chương trình tài chính-kế toán, quản lý nhân sự-tiền lương, quản lý bán hàng; các ứng dụng mang tính rời rạc, hướng tới tác nghiệp và thống kê, CNTT tác

Trang 28

Đối với giai đoạn ba “Đầu tư nâng cao hiệu xuất làm việc của toàn thể

doanh nghiệp” Nếu coi giai đoạn 2 là giai đoạn số hóa cục bộ, thì giai đoạn 3 là

giai đoạn số hóa toàn thể doanh nghiệp, chuyển từ cục bộ sang toàn thể là vấn đề

lớn nhất của giai đoạn 3 này Về cơ sở hạ tầng CNTT cần có mạng diện rộng phủ

khắp doanh nghiệp, đảm bảo cho các luồng thông tin lưu chuyển thông suốt giữa

các bộ phận; các phần mềm tích hợp và các CSDL cấp toàn công ty là những công

cụ chủ đạo hỗ trợ cho hoạt động quản lý và tác nghiệp; triển khai các giải pháp đồng

bộ giúp DN thay đổi chất lượng quản lý nội tại, nâng cao năng lực điều hành, tăng

hiệu quả và tăng năng lực cạnh tranh như ERP, SCM, CRM,…Văn hóa số - được

khởi đầu xây dựng và phát triển dần dần trong hai giai đoạn trước nay đã trở nên

chín muồi, góp phần tạo nên văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp, mà nền tảng là

các chuẩn mực làm việc, các thước đo công việc mới, cùng hệ thống các quy định

và công cụ đảm bảo cho việc thực thi đầy đủ các chuẩn mực đó trong toàn doanh

nghiệp Trong giai đoạn này doanh nghiệp có thể thuê các công ty chuyên trách hỗ

trợ cho những ứng dụn CNTT phức tạp Trong giai đoạn này cũng cần phải có lãnh

đạo chuyên trách về CNTT để có thể quyết định chiến lược đầu tư CNTT

Đối với giai đoạn bốn: Đầu tư để biến đổi doanh nghiệp, tạo lợi thế cạnh

tranh quốc tế Trong giai đoạn này thì doanh nghiệp đã nhận ra tiềm năng CNTT

như một thành tố để tạo ra thành công cạnh tranh và định hướng chiến lược cho

doanh nghiệp Một số đặc điểm của giai đoạn này như Sử dụng CNTT như một

công cụ nhằm tạo ra một cải cách trong ngành Sau đo tiến tới Phát triển các ứng

dụng phần mềm phục vụ cho mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp Những

chương trình được xây dựng theo yêu cầu thường có ưu điểm là khó bị bắt chước

Bên cạnh đó thì doanh nghiệp sẽ sử dụng những ứng dụng nửa tùy biến

(customize) và các ứng dụng xây dựng theo yêu cầu của ngành dọc để tạo ra những

nhánh thị trường có sử dụng CNTT

Đây là giai đoạn đầu tư CNTT nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh trong môi

trường kinh doanh hiện đại, tức là đầu tư CNTT vào các sản phẩm và dịch vụ để tạo

Trang 29

nên ưu thế về giá, tạo nên sự khác biệt, và các sản phẩm khác, phù hợp với chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp Hiện nay, các vấn đề kinh doanh trong thời đại Internet, cụ thể hơn là sử dụng công nghệ và các dịch vụ của Internet trong kinh doanh, có vai trò quyết định: xây dựng Intranet để chia sẻ thông tin trong doanh nghiệp, extranet để kết nối và chia sẻ có lựa chọn các nguồn thông tin với các đối tác, nhà cung cấp, khách hàng,…Sử dụng Internet để hình thành các quan hệ TMĐT như B2B, B2C và B2G Kế thừa phát huy sức mạnh trên nền tảng dữ liệu và các quy trình nghiệp vụ đã hình thành trong DN đưa DN lên tầm cao mới, kinh doanh toàn cầu, CNTT là công cụ đắc lực trong việc thực thi các chiến lược kinh doanh Các giai đoạn đầu tư trên đây nhằm nhấn mạnh đầu tư cho CNTT trong doanh nghiệp phải phù hợp với sự phát triển và phục vụ cho chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trong mỗi giai đoạn Mô hình đầu tư CNTT là một căn cứ tốt khi quyết định đầu tư cũng như là một mô hình tham chiếu tốt khi trình bày các vấn đề liên quan Tuy nhiên đó chưa phải là mô hình duy nhất Thêm nữa, tốc độ phát triển của doanh nghiệp và của công nghệ không phải khi nào cũng giống nhau, do vậy đôi khi có sự xen giữa các giai đoạn đầu tư CNTT với giai đoạn phát triển của doanh nghiệp Có thể có doanh nghiệp hội tụ được các điều kiện để bỏ qua một giai đoạn nào đó, hoặc chọn được mô hình đầu tư khác với mô hình trên đây

1.4 CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VỀ ỨNG DỤNG CNTT TRONG QUẢN LÝ TẠI CÁC DNVVN TẠI VIỆT NAM

Việc thực hiện đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong doanh nghiệp vừa và nhỏ để có thể mang lại tính khách quan và có ý nghĩa thực tiễn cao cần phải có một hệ thống tiêu chí đánh giá chặt chẽ và hợp lý Chúng ta sẽ thực hiện đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua các tiêu chí sau:

- Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực CNTT

Trang 30

- Phần mềm và quy trình nghiệp vụ được ứng dụng tại doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Hệ thống cơ sở dữ liệu

- Mức độ ứng dụng CNTT trong DNVVN

1.4.1 Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Đây là tiêu chí đầu tiên và cơ bản nhất trong việc đánh giá mức độ áp dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp Cơ sở hạ tầng có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng, sự ổn định, khả năng khắc phục sự cố, khả năng mở rộng của hệ thống công nghệ thông tin Cơ sở hạ tầng cho ứng dụng công nghệ thông tin bao gồm: hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng nhân lực

1.4.2 Nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực CNTT

Việc đánh giá nguồn nhân lực sẽ dựa trên hai tiêu chí chính là số lượng nhân viên sử dụng máy tính thường xuyên trong doanh nghiệp và Trình độ nhân lực cho ứng dụng công nghệ thông tin

1.4.2.1 Số lượng nhân viên sử dụng máy tính thường xuyên

Đây là tiêu chí rõ nhất phản ánh rõ nhất trình độ ứng dụng công nghệ thông tin cho doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có tỉ lệ nhân viên dùng máy tính thường xuyên cao thì khả năng triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin sẽ cao hơn và

sẽ nhận được sự ủng hộ tốt hơn từ đông đảo nhân viên trong doanh nghiệp đó Với

sự phát triển nhanh chóng của CNTT rất nhiều doanh nghiệp đã có tỉ lệ dùng máy tính thường xuyên là 100% với những ứng dụng bước đầu trong thông tin liên lạc như sử dụng thư điện tử(email) hoặc dùng website như một công cụ quảng cáo sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Thực tế cho thấy khi doanh nghiệp đã quen với việc sử dụng máy tính và các ứng dụng công nghệ thông tin cơ bản thì việc áp dụng các hệ thống thông tin và các phần mềm quản lý sẽ trở nên dẽ dàng hơn

Trang 31

1.4.2.2 Thực trạng về trình độ nguồn nhân lực cho ứng dụng công nghệ thông tin

tại doanh nghiệp vừa và nhỏ

Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong quá trình ứng dụng CNTT và ứng dụng thành công trong doanh nghiệp Những số liệu trong các Báo cáo TMĐT của Bộ Công thương qua các năm cho thấy các DNVVN đã dần dần nhận thức được vai trò của nhân lực trong ứng dụng CNTT Tuy nhiên, mức chi cho đào tạo nhân lực CNTT vẫn còn thấp Trình độ CNTT của nhân viên trong nói chung còn tương đối sơ đẳng, chỉ dừng lại ở mức sử dụng các phần mềm tin học văn phòng, các phần mềm tài chính kế toán, v.v đơn giản Ở các doanh có triển khai xây dựng website

đã có cán bộ chuyên trách về CNTT và TMĐT hoặc nếu không có thì cũng có bộ phận riêng phụ trách vấn đề này

Theo dự báo, nhu cầu nhân lực CNTT Việt Nam hiện đang vượt quá khả năng đáp ứng của hệ thống đào tạo, mặc dù chỉ tiêu và kế hoạch tuyển sinh cho ngành này đã tăng mạnh thời gian qua Bên cạnh đó việc triển khai các cơ chế, chính sách trong đào tạo nguồn nhân lực CNTT cũng chưa theo kịp với yêu cầu thực tiễn phát triển xã hội và địa phương như: chuẩn nghề nghiệp CNTT; chuẩn chương trình đào tạo CNTT; về đánh giá hệ thống văn bằng, chứng chỉ trong lĩnh vực CNTT; công tác xã hội hóa đào tạo CNTT cũng chưa thực sự hiệu quả

1.4.3 Phần mềm và quy trình nghiệp vụ đƣợc ứng dụng tại DNVVN

Hiện nay việc sử dụng phần mềm vào việc quản trị doanh nghiệp là yêu cầu cấp thiết và tất yếu Quản lý doanh nghiệp là một phần quan trọng trong hoạt động kinh doanh - sản xuất, hiện nay đã trở thành một phần của ngành khoa học quản lý Trong quá trình hoạt động, mọi doanh nghiệp luôn phải đứng trước bài toán quản trị: quản trị khách hàng, quản trị nhân sự, quản trị dự án Trước đây, trong nghiệp

vụ quản lý, doanh nghiệp thường phải đối mặt với những thủ tục phức tạp, đống hồ

sơ tài liệu dày cộm, những cuộc họp kéo dài hàng giờ để trao đổi kiểm soát thì hiện nay, nghiệp vụ quản lý đã được tối ưu hóa bằng giải pháp phần mềm

Trang 32

Việc lựa chọn phần mềm quản trị doanh nghiệp sao cho phù hợp là vấn đề không hề đơn giản với các nhà quản trị.Trên thị trường hiện nay, có rất nhiều giải pháp giúp cho doanh nghiệp thực thi nghiệp vụ quản lý, nhưng đâu là vấn đề của những giải pháp hiện có trên thị trường ? Tại sao trên thị trường không có sản phẩm nào thực sự nổi bật?

Thứ nhất: Sản phẩm không có tính tổng thể và đầy đủ Những giải pháp

hiện có trên thị trường chỉ đáp ứng được DUY NHẤT một tính năng quản trị; quản

lý khách hàng, quản lý tuyển dụng, quản lý dự án không có giải pháp quản lý tổng thể

Thứ hai: Giá thành của sản phẩm trên thị trường quá cao, rất khó cho doanh

nghiệp sử dụng Hiện nay giá trên thị trường cho những giải pháp quản lý trên trung bình 6000 – 10.000 USD, chỉ phù hợp cho những doanh nghiệp lớn, với những doanh nghiệp vừa và nhỏ, giá thành của sản phẩm hoàn toàn không phù hợp

Thứ ba: Giải pháp phức tạp, khó ứng dụng Nguyên nhân là hầu hết những

giải pháp đó không do người Việt Nam sản xuất, chỉ đơn thuần được Việt hóa từ những sản phẩm nước ngoài Sản phẩm được xây dựng theo tư duy, quy trình của nước ngoài, không phù hợp với văn hóa Việt Nam coi trọng sự đơn giản, hiệu quả

Thứ tƣ: Cách triển khai phần mềm phức tạp, phải chuẩn bị một hệ thống cơ

sở vật chất : server, người quản trị tốn kém và lãng phí Ngoài ra những giải pháp trên gần như sẽ bị lỗi thời trong một vài năm sau khi sử dụng, gần như không thể update tính năng, khả năng bảo mật ngày càng giảm sút

Bên cạnh đó việc xây dụng phần mềm cho phù hợp với quy trình nghiệp vụ của doanh nghiệp cũng là một tiêu chí rất quan trọng quyết đính sự thành công của việc áp dụng hệ thống phần mềm quản lý trong doanh nghiệp Trong rất nhiều trường hợp thì hệ thống được áp dụng quá xa với quy trình nghiệp vụ của doanh nghiệp dẫn đến người dùng gặp khó khăn trong quá trình sử dụng, không khai thác hết được tính năng hệ thống và dẫn đến việc ứng dụng không đạt kết quả cao

Trang 33

1.4.4 Hệ thống cơ sở dữ liệu

Hệ quản trị cơ sở dữ liệu (tiếng Anh: Database Management System DBMS), là phần mềm hay hệ thống được thiết kế để quản trị một cơ sở dữ liệu Cụ thể, các chương trình thuộc loại này hỗ trợ khả năng lưu trữ, sửa chữa, xóa và tìm kiếm thông tin trong một cơ sở dữ liệu (CSDL) Có rất nhiều loại hệ quản trị CSDL khác nhau: từ phần mềm nhỏ chạy trên máy tính cá nhân cho đến những hệ quản trị phức tạp chạy trên một hoặc nhiều siêu máy tính

-Tuy nhiên, đa số hệ quản trị CSDL trên thị trường đều có một đặc điểm chung là sử dụng ngôn ngữ truy vấn theo cấu trúc mà tiếng Anh gọi là Structured Query Language (SQL) Các hệ quản trị CSDL phổ biến được nhiều người biết đến

là MySQL, Oracle, PostgreSQL, SQL Server, DB2, Infomix, v.v Phần lớn các hệ quản trị CSDL kể trên hoạt động tốt trên nhiều hệ điều hành khác nhau như Linux, Unix và MacOS ngoại trừ SQL Server của Microsoft chỉ chạy trên hệ điều hành Windows

- Ưu điểm của hệ quản trị CSDL:

Quản lý được dữ liệu dư thừa

Đảm báo tính nhất quán cho dữ liệu

Tạo khả năng chia sẻ dữ liệu nhiều hơn

Cải tiến tính toàn vẹn cho dữ liệu

- Nhược điểm:

Hệ quản trị CSDL tốt thì khá phức tạp

Hệ quản trị CSDL tốt thường rất lớn chiếm nhiều dung lượng bộ nhớ

Giá cả khác nhau tùy theo môi trường và chức năng

Hệ quản trị CSDL được viết tổng quát cho nhiều người dùng thì thường chậm

Trang 34

về ứng dụng CNTT và Quy trình quy hoạch hệ thống thông tin cảu doanh nghiệp như thế nào

Trang 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong phần chương 1, là phần tìm hiểu những khái niệm cơ bản về CNTT và qua đó nêu bật vai trò của CNTT cái mà hiện đang được áp dụng sâu rộng trong mọi mặt, mọi lĩnh vực, đối tượng trong cuộc sống, trong đó có các doanh nghiệp

Trong phần này cũng sẽ tiến hành tìm hiểu các dạng ứng dụng sẽ được ứng dụng trong doanh nghiệp với những đặc điểm và tác dụng to lớn của nó mạng lại cho doanh nghiệp trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay

Các tiêu chí đánh giá cũng được trình bày trong chương này để làm cơ sở để đánh giá về thực trạng ứng dụng CNTT trong quản lý tại các DNVVN tại Việt Nam

Và những yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng CNTT trong quản lý tại các doanh nghiệp

Trang 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC ỨNG DỤNG CNTT TRONG QUẢN LÝ TẠI CÁC DNVVN TẠI VIỆT NAM

2.1 GIỚI THIỆU VỀ DNVVN TẠI VIỆT NAM

2.1.1 Khái niệm và tiêu chí xác định DNVVN

Ở Việt Nam trước đây có nhiều khái niệm khác nhau về doanh nghiệp vừa và nhỏ Tuy nhiên, từ khi có Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNVVN thì định nghĩa DNVVN đã được hiểu thốngnhất:

“Doanh nghiệp vừa và nhỏ là các cơ sở sản xuất - kinh doanh độc lập, đãđăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỷđồng hoặc

có số lao động trung bình hàng năm không quá 300 lao động”

Như vậy tiêu chí để xác định DNVVN là:

- Có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng (khoảng 650.000 USD), hoặc

- Có số lượng lao động dưới 300 người

Theo Điều 4: "Nghị định này áp dụng đối với các DNVVN bao gồm: Cácdoanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; Các doanh nghiệpthành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước; Các doanh nghiệp thànhlập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã; Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theoNghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ về Đăng ký kinh doanh”

Tuy nhiên qua 7 năm thực hiện, khái niệm DNVVN của Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ đãbộc lộ những điểm chưa hợp lý,

“có những doanh nghiệp có số lao động vượt xacon số 300 (có trường hợp 500-600 lao động), nhưng vì vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng nên vẫn dược coi DNVVN Ngược lại, có doanh nghiệp có mức vốn đăngký hàng trăm tỷ đồng, nhưng số lao động thường xuyên thấp hơn 300 cũng được xếp vào “đội ngũ” DNVVN” Mặt

Trang 37

khác, khái niệm DNVVN không phân theo lĩnh vực sản xuất cũng có hạn chế, vì

“lĩnh vực sản xuất thì 10tỷ đồng là ít, nhưng trong một số lĩnh vực dịch vụ thì lại nhiều” Hơn nữa, tiêuchí phân loại doanh nghiệp theo vốn đăng ký do doanh nghiệp

tự khai thường“mang tính chủ quan, không chính xác và khó kiểm soát” Điều nàysẽ làm việc vận dụng chính sách hỗ trợ cụ thể cho DNVVN gặp nhiều khó khăn

Chính vì vậy, Chính phủ đã định nghĩa lại về DNVVN trongNghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệpvừa và nhỏ Theo Nghị định này, DNVVN đã được phân theo khu vực kinhdoanh và có phân loại cụ thể cho doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ vàdoanh nghiệp vừa.“Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theoquy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổngnguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cânđối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn làtiêu chí

ưu tiên), cụ thể như sau:

Bảng 2.1: Tiêu thức phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ

Quy mô

Khu vực

Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa

Số lao động Tổng nguồn

vốn Số lao động

Tổng nguồn vốn Số lao động

I Nông, lâm

nghiệp và thủy

sản

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

300 người III Thương

mại

và dịch vụ

10 người trở xuống

10 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

100 người

Trang 38

(Nguồn: Khái niệm DNVVN trong Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ)

2.1.2 Thực trạng về doanh nghiệp vừa và nhỏ trong những năm gần đây

Bên cạnh đó, xu hướng thanh lọc diễn ra mạnh mẽ từ năm 2013 đến nay đã sàng lọc lại những doanh nghiệp thực sự có chất lượng, không chỉ linh hoạt để tồn tại qua giai đoạn khó khăn nhất mà còn tìm kiếm thêm cơ hội kinh doanh mới để

mở rộng quy mô hoạt động Cụ thể, trong năm 2014, có 22.758 lượt doanh nghiệp thay đổi tăng vốn với tổng số vốn đăng ký tăng thêm là 595.707 tỷ đồng Như vậy, tổng số vốn đăng ký mới và đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong năm 2014

là 1.027.993 tỷ đồng

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động kinh doanh trong năm 2014 của cả nước là 9.501 doanh nghiệp, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm trước Bên cạnh đó, số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động của cả nước là 58.322 doanh nghiệp, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: 11.723 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, 46.599 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký

Trang 39

Ở một góc khác, khi đánh giá tình hình đăng ký doanh nghiệp trong 6 năm trở lại đây, số doanh nghiệp đăng ký mới dù đã chững lại và có xu hướng giảm, nhưng vẫn duy trì ở mức cao Theo số liệu thống kê từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp (Cục Quản lý Đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong giai đoạn 2009-2014 đã có 446.900 doanh nghiệp được thành lập mới

Bảng 2.2: Tình hình đăng ký thành lập doanh nghiệp giai đoạn 2009-2014

3 Quy mô

vốn

Tỷ VND/

DN

(Nguồn:Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Số doanh nghiệp thành lập mới từ 83,6 nghìn DN đăng kí năm 2010 xuống còn 77,5 nghìn DN năm 2011, tiếp đó giảm sâu xuống còn 69,8 nghìn DN năm

2012 Năm 2013 số lượng DN thành lập mới có dấu hiệu tăng trở lại, đạt 76,9 nghìn

DN nhưng không bằng số lượng của các năm 2009 và 2010 Năm 2014 lại giảm về 74,8 nghìn DN Trong số DN đăng kí thành lập mới, chủ yếu là DNNVV.Quy mô trung bình của doanh nghiệp tính đến năm 2014 là 5,8 Tỷ VNĐ/DN, như vậy ta có thể thấy tỉ trọng của số DNVVN là chiếm đa số

Cũng Theo Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN), hiện cả nước có khoảng 500.000 DNVVN, chiếm 97,5% tổng số DN đang hoạt động

Có thể thấy doanh nghiệp vừa và nhỏ đã và đang trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp đáng kể vào Tổng thu nhập quốc dân, tạo

Trang 40

công ăn việc làm, huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước cho hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết các vấn đề xã hội

Có thể thấy doanh nghiệp vừa và nhỏ đã và đang trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp đáng kể vào Tổng thu nhập quốc dân, tạo công ăn việc làm, huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước cho hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết các vấn đề xã hội

Nhìn chung các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị hạn chế bởi nguồn vốn, tài nguyên, đất đai và công nghệ Mặt khác doanh nghiệp vừa và nhỏ còn gặp khó khăn trong các quan hệ với thị trường tài chính tiền tệ Chính phủ đã triển khai các chính sách, chương trình hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ như bảo lãnh tín dụng và hỗ trợ tín dụng Tuy nhiên trên thực tế mới chỉ có một số lượng nhỏ các doanh nghiệp được thụ hưởng chính sách hỗ trợ cụ thể như sau: theo công bố của

“Tạp chí dân chủ và pháp luật” có 30% các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được vốn từ ngân hàng, 70% còn lại sử dụng vốn tự có hoặc vay từ nhiều nguồn khác đặc biệt trong số này nhiều doanh nghiệp vẫn phải chịu mức vay ở lãi suất cao 15 – 18% Nguyên nhân của tình trạng này được lý giải thông qua các trở ngại đang tồn tại như:

+ 55% trở ngại do thủ tục vay (hồ sơ vay vốn phức tạp, không đủ thủ tục vay vốn đơn giản cho doanh nghiệp vừa và nhỏ);

+ 50% trở ngại yêu cầu thế chấp (thiếu tài sản có giá trị cao để thế chấp, ngân hàng không đa dạng hóa tài sản thế chấp như hàng trong kho, các khoản thu…);

+ 80% tỷ lệ lãi suất chưa phù hợp, điều kiện vay vốn hiện nay chưa phù hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ

(Nguồn: Tạp chí dân chủ và pháp luật ngày 25/03/2014)

Do đó mà quá trình tự tích lũy thường đóng vai trò quyết định của từng doanh nghiệp vừa và nhỏ Bản thân mỗi doanh nghiệp phải tự mình đề ra các chính

Ngày đăng: 21/01/2021, 08:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w