Từ thực tế trên, đòi hỏi phải có các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, thực hiện việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng kinh phí NSNN của các cơ quan, đơn vị nhằm ngăn chặn kịp thời nhữ
Trang 1MỤC LỤC Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
Danh mục các hình vẽ, sơ đồ
MỞ ĐẦU……… 01
Chương 1 - TỔNG QUAN VỀ CHI ĐẦU TƯ XDCB TỪ NSNN QUA HỆ THỐNG KHO BẠC NHÀ NƯỚC 06
1.1 CHI NSNN VÀ KIỂM SOÁT CHI NSNN 06
1.1.1 Khái niệm 06
1.1.2 Đặc điểm và phân loại chi NSNN06 06
1.1.3 Sự cần thiết kiểm soát chi NSNN 07
1.1.4 Yêu cầu đối với công tác kiểm soát chi NSNN 09
1.1.5 Nhiệm vụ kiểm soát chi của Kho bạc Nhà nước 11
1.2 CHI ĐẦU TƯ XDCB VÀ QUẢN LÝ CHI ĐẦU TƯ XDCB.…… 15
1.2.1 Khái niệm và đặc trưng của chi đầu tư XDCB…… … …… 15
1.2.2 Đặc điểm của chi đầu tư XDCB từ NSNN……… 17
1.2.3 Phân loại chi đầu tư XDCB………… ………….……… 18
1.2.4 Nguồn hình thành vốn đầu tư XDCB……… 20
1.2.5 Nguyên tắc quản lý.……… 20
1.2.6 Điều kiện cấp phát thanh toán vốn đầu tư XDCB của NSNN 24
1.3 KIỂM SOÁT CHI ĐẦU TƯ XDCB TỪ NSNN QUA KBNN … 26
1.3.1 Hệ thống văn bản pháp lý…… …… …… …… …… 26
1.3.2 Sự cần thiết kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN…… …… 27
1.3.3 Vai trò Kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN…….………… 28
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN…… 31
1.3.5 Nguyên tắc kiểm soát chi đầu tư XDCB ……… 34
1.3.6 Nội dung và trình tự kiểm soát chi đầu tư XDCB qua KBNN 35
Chương 2 - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI ĐẦU TƯ XDCB TỪ NSNN TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC MÊ LINH - HÀ NỘI……… 39
2.1 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KHO BẠC NHÀ NƯỚC MÊ LINH - HÀ NỘI ……… ………… 39
2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Huyện Mê Linh 39
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển KBNN Mê Linh - Hà Nội 41
Trang 22.2 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KIỂM SOÁT CHI ĐẦU TƯ XDCB TỪ
NSNN TẠI KBNN MÊ LINH – HÀ NỘI…… ……… 44
2.2.1 Tổ chức bộ máy kiểm soát chi đầu tư XDCB ……… 44
2.2.2 Trách nhiệm kiểm soát chi, giải ngân vốn đầu tư XDCB … 45
2.2.3 Điều kiện chi vốn đầu tư XDCB…….……… 46
2.2.4 Nội dung kiểm soát chi đầu tư XDCB ……… …… 47
2.2.5 Phương thức thanh toán……….……… 50
2.2.6 Quy trình kiểm soát, thanh toán vốn đầu tư XDCB………… 53
2.2.7 Kết quả đạt được qua công tác kiểm soát chi đầu tư XDCB tại KBNN Mê Linh - Hà Nội………… ……… 60
2.2.8 Một số tồn tại, hạn chế trong công tác kiểm soát chi đầu tư XDCB……… ……… 63
2.2.9 Một số nguyên nhân……… 70
Chương 3 - MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI ĐẦU TƯ XDCB TẠI KBNN MÊ LINH - HÀ NỘI ……… 75
3.1 PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NSNN CỦA KBNN……… 75
3.1.1 Phương hướng đổi mới kiểm soát chi đầu tư XDCB 75
3.1.2 Mục tiêu 75
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI ĐẦU TƯ XDCB TẠI KBNN MÊ LINH - HÀ NỘI ……… 77
3.2.1 Tăng cường mức độ chặt chẽ trong công tác kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN ……… 77
3.2.2 Quản lý, sử dụng tốt đội ngũ cán bộ kiểm soát chi đầu tư XDCB … 78
3.2.3 Xây dựng mối quan hệ tốt với các cơ quan, đơn vị có liên quan……… 80
3.2.4 Đẩy mạnh công tác thuyết minh quyết toán vốn đầu tư XDCB 81 3.2.5 Tăng cường công tác thanh tra kiểm tra nội bộ KBNN 82
3.3 CÁC KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CƠ QUAN CẤP TRÊN 83
3.3.1 Đối với Kho bạc Nhà nước Trung ương 83
3.3.2 Đối với Bộ Tài chính 91
3.3.3 Đối với UBND các cấp, các Ngành có liên quan 94
PHẦN KẾT LUẬN ………… ……… 102
Tài liệu tham khảo ……… ……… 104
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là Công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả, nội dung nêu trong Luận văn là trung thực có trong các báo cáo và các văn bản của Nhà nước chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Nhà trường
Tác giả
Trần Mạnh Hà
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐTKB Đầu tư Kho bạc
HDND Hội đồng nhân dân
KBNN Kho bạc Nhà nước
KTKB Kế toán Kho bạc
NSĐP Ngân sách Địa phương
NSNN Ngân sách Nhà nước
NSTW Ngân sách Trung ương
TABMIS Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và Kho bạc UBND Ủy ban nhân dân
XDCB Xây dựng cơ bản
Trang 563
2.4 Tóm tắt các lý do từ chối thanh toán sau kiểm soát chi 63
Trang 6
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Số hiệu sơ đồ Tên sơ đồ Trang
Sơ đồ số 1 Qui trình kiểm soát chi đầu tư XDCB 59
Sơ đồ số 2 Qui trình kiểm soát chi đầu tư XDCB sửa đổi 87
Trang 71
PHẦN MỞ ĐẦU
1/ Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư phát triển là một trong những yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế và giải quyết nhiều vấn đề xã hội vì trong hoạt động này trực tiếp làm tăng tài sản cố định, tài sản lưu động, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực, đồng thời góp phần quan trọng vào việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm nâng cao mức sống dân cư và mặt bằng dân trí, bảo vệ môi trường sinh thái và đưa các chương trình phát triển kinh tế xã hội khác vào cuộc sống Trong những năm qua thực hiện chủ trương đưa nền kinh tế nước ta thành nền kinh tế thị trường theo hướng mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà nước đã không ngừng tăng cường đầu tư cho cơ sở hạ tầng và coi đó là điểm mấu chốt để thu hút vốn đầu tư
Do nhận thức được vai trò quan trọng của đầu tư và phát triển như vậy nên trong những năm qua chúng ta đã có nhiều chính sách và giải pháp khơi dậy nguồn nội lực và tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để huy động vốn cho đầu tư phát triển Bằng việc cung cấp những dịch vụ công cộng như hạ tầng kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng mà các thành phần kinh tế khác không muốn, không thể hoặc không được đầu tư, đầu tư XDCB từ NSNN là công cụ kinh tế quan trọng để nhà nước trực tiếp tác động đến các quá trình phát triển kinh tế xã hội, điều tiết vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước Hàng năm, NSNN đã dành ra một số lượng vốn khá lớn và không ngừng ra tăng theo mỗi năm để chi cho đầu tư XDCB nhằm chủ động điều chỉnh cơ cấu kinh tế ngành, vùng lãnh thổ, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế cùng như toàn nền kinh tế phát triển Vốn đầu tư XDCB từ NSNN được coi như vốn mồi để thu hút các nguồn lực trong cũng như ngoài nước vào đầu tư phát triển, đóng vai trò mở đường cho phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân
Trang 82
Trong lĩnh vực đầu tư XDCB, xuất phát từ cơ sở lý thuyết, đặc điểm ngành xây dựng và sản phẩm xây dựng đòi hỏi phải có cơ chế quản lý đầu tư chặt chẽ Vì vậy, đi đôi với việc tăng vốn đầu tư XDCB từ NSNN, cơ chế quản lý đầu tư xây dựng ở nước ta cũng đã tích cực thay đổi và không ngừng hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới, từng bước phù hợp với quốc tế trong quá trình hội nhập Sự ra đời của “Quy chế quản lý dự án đầu tư và xây dựng” đã khiến cho lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản ở nước ta có những bước tiến bộ rõ rệt, nhiều dự án đầu tư xây dựng đã phát huy tốt hiệu quả, các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng đã lớn mạnh về nhiều mặt, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng luôn được chỉnh sửa, bổ sung phù hợp với yêu cầu quản lý Kết quả là năng lực của hầu hết các ngành sản xuất dịch vụ và kết cấu hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội được nâng lên
rõ rệt
Tuy nhiên, do đầu tư XDCB là một lĩnh vực phức tạp, chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản quy phạm pháp luật, sản phẩm xây dựng cơ bản mang tính chất đơn chiếc, loại hình công trình có đặc điểm khác nhau và phải trải qua rất nhiều khâu Vì vậy, trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng ở nhiều nơi còn xảy ra tình trạng thất thoát lãng phí vốn đầu tư dẫn đến kết quả đạt được chưa tương xứng với lượng vốn ngân sách bỏ ra
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên: năng lực dự toán, thiết kế, thực hiện, quản lý khai thác của giới chức có trách nhiệm còn yếu kém, hoạt động giám sát còn bất cập, công tác kiểm toán các dự án còn chưa thực sự chính xác và một trong số đó là cơ chế kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB từ NSNN tuy đã được bổ sung, sửa đổi nhiều lần nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý Việc quản lý cấp phát, thanh toán vốn còn nhiều vướng mắc dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực, gây lãng phí, thất thoát vốn NSNN Vấn đề đặt ra là làm sao sử dụng một cách tiết kiệm và hiệu quả mọi nguồn vốn đầu tư, góp phần nâng cao tiềm lực, khả năng và sức cạnh tranh của nền kinh tế Trong đó tăng cường kiểm soát chi vốn đầu tư có ý nghĩa quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn đầu tư
Trang 93
KBNN được Chính phủ, Bộ Tài chính giao thực hiện vai trò là cơ quan kiểm soát chi đầu tư XDCB Thời gian qua, KBNN đã thực hiện tốt vai trò của mình, tiết kiệm cho NSNN nhiều tỉ đồng từ việc phát hiện và loại bỏ những khoản chi không đúng chế độ Tuy nhiên, công tác kiểm tra kiểm soát chi vốn đầu tư của KBNN vẫn còn một số bất cập Vấn đề này cần được quan tâm giải quyết để thực sự phát huy hiệu quả của vốn đầu tư
Do vậy tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: Một số giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi đầu tư xây dựng cơ bản tại Kho bạc Nhà nước Mê Linh -
Hà Nội
2/ Mục đích nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hoá và làm rõ thêm các vấn đề về đầu tư XDCB từ NSNN đối với tăng trưởng kinh tế, nội dung vai trò của cơ chế kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN
Phân tích , đánh giá thực trạng công tác thanh toán vốn đầu tư XDCB nói chung và cụ thể tại KBNN Mê Linh - Hà Nội trong thời gian qua Nêu những kết quả đạt được, những tồn tại và nguyên nhân của nó
Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN tại KBNN Mê Linh - Hà Nội để có thể sử dụng hiệu quả nguồn vốn này trong giai đoạn tới
3/ Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động kiểm soát chi đầu tư XDCB
từ NSNN tại KBNN Mê Linh - Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chủ yếu là tổ chức thực hiện kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN tại KBNN Mê Linh - Hà Nội; trừ phần kiểm soát chi đầu tư XDCB đối với nguồn vốn nước ngoài
Thời gian nghiên cứu được tập trung trong giai đoạn 3 năm, từ năm 2010 đến hết năm 2012
Trang 104
4/ Phương pháp nghiên cứu
Luận văn xem xét một cách toàn diện về vốn đầu tư XDCB và cơ chế kiểm soát chi đầu tư dựa trên các lý thuyết liên quan đến vai trò của vốn đầu tư XDCB và các quy định về kiểm soát chi đầu tư XDCB như lý thuyết về đầu tư và tăng trưởng, các văn bản pháp quy liên quan tới việc kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng để đáp ứng các mục tiêu bao gồm:
Luận văn sử dụng số liệu nghiên cứu từ các báo cáo hàng năm của KBNN
Mê Linh - Hà Nội và phòng Tài chính kế hoạch Mê Linh giai đoạn năm 2010 đến hết năm 2012
Phương pháp nghiên cứu định tính mô tả quá trình thay đổi chính sách, cơ chế kiểm soát chi đầu tư XDCB làm rõ bản chất của các sự kiện, những mặt tích cực và hạn chế trong quy trình, cơ chế kiểm soát chi đầu tư XDCB
Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu thống kê đánh giá xu hướng thay đổi của các tác động cũng như kết quả thực hiện vốn đầu tư XDCB
5/ Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát những lý luận cơ bản về quản lý NSNN và kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN tại KBNN
Khảo sát, phân tích thực trạng về hoạt động kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN tại KBNN Mê Linh - Hà Nội
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi đầu tư XDCB tại KBNN Mê Linh - Hà Nội
6/ Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Góp phần bổ sung và hoàn thiện lý luận về kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN tại KBNN
Đánh giá sát thực trạng công tác kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN tại KBNN Mê Linh - Hà Nội Đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN tại KBNN ở Việt Nam và Huyện Mê Linh - Hà
Trang 115
Nội, nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm trong quá trình quản lý, sử dụng kinh phí của các cấp chính quyền và các đơn vị sử dụng NSNN
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các đơn vị thuộc ngành Tài chính
và các đơn vị có sử dụng NSNN để có thêm kinh nghiệm trong quá trình kiểm soát
và chuẩn chi các khoản chi NSNN, về đầu tư XDCB đảm bảo đúng nguyên tắc, đúng chế độ quy định
7/ Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, như sau:
Chương 1: Tổng quan về chi NSNN, chi đầu tư XDCB và kiểm soát chi đầu
tư XDCB từ NSNN qua hệ thống KBNN
Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN tại
KBNN Mê Linh - Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi đầu tư XDCB
tại KBNN Mê Linh - Hà Nội
Trang 12Chi NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng các nguồn lực tài chính tập trung được vào việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kinh tế, chính trị và xã hội của Nhà nước trong từng công việc cụ thể Chi NSNN có quy mô rộng và mức độ rộng lớn, bao gồm nhiều lĩnh vực, tại các Địa phương và các cơ quan hành chính, đơn vị
sự nghiệp của Nhà nước
Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng các quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Kiểm soát chi NSNN là quá trình các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN theo các chính sách, chế
độ, tiêu chuẩn và định mức chỉ tiêu do Nhà nước qui định dựa trên cơ sở những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý tài chính trong từng thời kỳ
1.1.2 Đặc điểm và phân loại chi NSNN
Đặc điểm
Chi NSNN gắn chặt với hoạt động của bộ máy Nhà nước và những nhiệm
vụ chính trị, kinh tế và xã hội Quy mô tổ chức bộ máy Nhà nước, khối lượng, phạm
vi nhiệm vụ do Nhà nước đảm đương có quan hệ tỷ lệ thuận với tổng dự toán chi NSNN
Trang 137
Các khoản chi NSNN thường được xem xét tính hiệu quả ở tầm vĩ mô, tức là các khoản chi NSNN phải được xem xét một cách toàn diện và dựa vào mức độ hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế, xã hội mà Nhà nước đã đề ra trong từng thời kỳ
Các khoản chi NSNN thường mang tính chất không bồi hoàn trực tiếp, đặc điểm này giúp chúng ta phân biệt các khoản chi NSNN với các khoản tín dụng, các khoản chi cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Các khoản chi NSNN gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như tiền lương, giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái và các phạm trù khác thuộc lĩnh vực tiền tệ
Phân loại chi ngân sách nhà nước
Phân loại các khoản chi NSNN là việc sắp xếp các khoản chi NSNN theo những tiêu thức, tiêu chí nhất định vào các nhóm, các loại chi Có nhiều tiêu thức để phân loại các khoản chi NSNN, song tựu chung lại có thể sắp xếp theo những tiêu thức phân loại chủ yếu sau:
Theo mục đích kinh tế - xã hội của các khoản chi, thì chi NSNN được chia thành: chi tiêu dùng và chi đầu tư phát triển
Theo tính chất các khoản chi thì chi NSNN được chia thành: chi cho y tế, chi cho giáo dục, chi phúc lợi, chi quản lý Nhà nước, chi đầu tư kinh tế…
Theo yếu tố thì chi NSNN được chia thành: chi đầu tư, chi thường xuyên và chi khác
Theo chức năng của Nhà nước thì chi NSNN được chia thành: chi nghiệp vụ
và chi phát triển
Theo tính chất pháp lý, thì chi NSNN được chia thành: các khoản chi theo luật định, các khoản chi đã được cam kết; các khoản chi có thể điều chỉnh
1.1.3 Sự cần thiết kiểm soát chi NSNN
Do yêu cầu của công cuộc đổi mới: đổi mới về cơ chế quản lý tài chính nói chung và đổi mới cơ chế quản lý NSNN nói riêng, đòi hỏi mọi khoản chi của NSNN
Trang 148
phải đảm bảo đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả Trong điều kiện hiện nay, khi khả năng NSNN còn hạn hẹp mà nhu cầu chi phát triển kinh tế - xã hội ngày càng tăng thì việc kiểm soát chặt chẽ các khoản chi NSNN thực sự là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước và của các ngành, các cấp Thực hiện tốt công tác này có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí nhằm tập trung mọi nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế - xã hội, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ và lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia; đồng thời, nó cũng góp phần nâng cao trách nhiệm cũng như phát huy được vai trò của các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến công tác quản lý và điều hành NSNN Đặc biệt là hệ thống KBNN sẽ kiểm soát, thanh toán trực tiếp từng khoản chi NSNN cho các đối tượng sử dụng đúng chức năng, nhiệm vụ đã được Nhà nước giao, góp phần lập lại kỷ cương, kỷ luật tài chính
Do hạn chế của bản thân cơ chế quản lý chi NSNN: cơ chế quản lý chi NSNN tuy đã thường xuyên được sửa đổi và hoàn thiện, nhưng vẫn chỉ quy định được những vấn đề chung nhất mang tích nguyên tắc, dẫn đến không thể bao quát hết tất cả các hiện tượng phát sinh trong quá trình thực hiện quản lý kiểm soát chi NSNN Mặt khác, cùng với sự phát triển không ngừng của các hoạt động kinh tế,
xã hội, các nghiệp vụ chi NSNN cũng ngày càng đa dạng và phức tạp hơn Do vậy,
cơ chế quản lý chi NSNN nhiều khi không theo kịp với biến động của hoạt động chi NSNN Tình trạng này đã tạo kẽ hở trong cơ chế quản lý chi NSNN Từ đó, một số đơn vị, cá nhân đã tìm cách lợi dụng, khai thác những kẽ hở của cơ chế quản lý nhằm tham ô, trục lợi, tư túi gây lãng phí tài sản và công quỹ của Nhà nước Từ thực tế trên, đòi hỏi phải có các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, thực hiện việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng kinh phí NSNN của các cơ quan, đơn vị nhằm ngăn chặn kịp thời những hiện tượng tiêu cực, phát hiện những điểm chưa phù hợp trong cơ chế quản lý để từ đó kiến nghị với các ngành, các cấp sửa đổi, bổ sung kịp thời để các cơ chế quản lý và kiểm soát chi NSNN ngày càng được hoàn thiện, phù hợp và chặt chẽ hơn
Trang 159
Do ý thức của các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN: các đơn vị thụ hưởng kinh phí NSNN thường có tư tưởng tìm mọi cách để sử dụng hết số kinh phí đã được cấp Các đơn vị thường lập hồ sơ, chứng từ thanh toán sai chế độ, chính sách ; thiếu hồ sơ, chứng từ có liên quan,… Vì vậy, cần thiết phải cơ quan chức năng có thẩm quyền (độc lập khách quan, có kỹ năng nghề nghiệp, trách nhiệm pháp lý) để thực hiện kiểm tra, kiểm soát đối với các khoản chi của cơ quan, đơn vị có trong dự toán hay không; có đúng mục đích, đối tượng đã được duyệt không; có đúng chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi tiêu không; có đầy đủ hồ sơ, chứng từ thanh toán không,… Qua đó, phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các gian lận, sai phạm, sai sót và lãng phí
có thể xảy ra trong việc sử dụng kinh phí NSNN của các đơn vị, đảm bảo mọi khoản chi của NSNN được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả
Do tính đặc thù của các khoản chi NSNN: các khoản chi của NSNN thường mang tính chất không hoàn trả trực tiếp như các đơn vị được NSNN cấp phát kinh phí sẽ không phải hoàn trả lại trực tiếp cho Nhà nước về số kinh phí đã sử dụng; cái
mà họ phải “hoàn trả” cho Nhà nước chính là “kết quả công việc” đã được Nhà nước giao Tuy nhiên, việc dùng các chỉ tiêu định lượng để đánh giá kết quả của các khoản chi NSNN trong một số trường hợp sẽ gặp khó khăn và không toàn diện Do vậy, cần thiết phải có một cơ quan Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, kiểm soát các khoản chi của NSNN để đảm bảo cho việc chi trả của Nhà nước là phù hợp với các nhiệm vụ đã giao
Do yêu cầu mở cửa và hội nhập với nền tài chính khu vực và thế giới: theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới và khuyến nghị của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), thì việc kiểm tra, kiểm soát và thực hiện chi trả trực tiếp các khoản chi NSNN từ KBNN đến từng đối tượng sử dụng là rất cần thiết, để đảm bảo yêu cầu,
kỷ cương quản lý tài chính Nhà nước và sử dụng kinh phí NSNN đúng mục đích, có hiệu quả
1.1.4 Yêu cầu đối với công tác kiểm soát chi NSNN
Công tác kiểm soát chi NSNN phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Trang 1610
Chính sách và cơ chế kiểm soát chi NSNN phải làm cho hoạt động của NSNN đạt hiệu quả cao, có tác động tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế, tránh tình trạng làm cho quỹ NSNN bị cắt đoạn, phân tán, gây căng thẳng trong quá trình điều hành NSNN Vì vậy, cơ chế và chính sách kiểm soát chi NSNN phải quy định rõ ràng các điều kiện, trình tự cấp phát theo hướng: cơ quan tài chính thực hiện cấp phát kinh phí phải căn cứ vào dự toán ngân sách năm đã được giao; về phương thức thanh toán phải đảm bảo mọi khoản chi của NSNN được thanh toán, chi trả trực tiếp qua KBNN cho các đối tượng thụ hưởng trên cơ sở dự toán được duyệt, được thủ trưởng cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách chuẩn chi và phù hợp với chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi tiêu hiện hành của Nhà nước
Công tác quản lý và kiểm soát chi NSNN là một quy trình phức tạp, bao gồm
từ khâu lập dự toán, phân bổ dự toán đến cấp phát, thanh toán, hạch toán và quyết toán NSNN, có liên quan đến tất cả các Bộ, ngành, địa phương và các cấp ngân sách.Vì vậy, kiểm soát chi NSNN phải được tiến hành hết sức thận trọng, được thực hiện dần từng bước; sau mỗi bước có tiến hành đánh giá, rút kinh nghiệm để cải tiến quy trình kiểm soát chi cho phù hợp tình hình thực tế Có như vậy mới đảm bảo tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính Mặt khác, cũng không khắt khe, máy móc, gây ách tắc, phiền hà cho các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN cấp
Tổ chức bộ máy kiểm soát chi NSNN phải gọn nhẹ theo hướng thu gọn các đầu mối các cơ quan quản lý và đơn giản hoá thủ tục hành chính Đồng thời, cũng cần phân định rõ vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan quản lý ngân sách, các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN, trong quá trình thực hiện chi NSNN từ khâu lập dự toán, cấp phát ngân sách, thực hiện chi đến khâu thông tin, báo cáo, quyết toán chi NSNN để tránh những trùng lặp, chồng chéo trong quá trình thực hiện Mặt khác, đảm bảo sự công khai, minh bạch và kiểm tra, giám sát lẫn nhau giữa những cơ quan, đơn vị đó trong quá trình kiểm soát chi NSNN
Kiểm soát chi NSNN cần được thực hiện đồng bộ, nhất quán và thống nhất với việc quản lý NSNN từ khâu lập, chấp hành đến quyết toán NSNN Đồng thời,
Trang 1711
phải thống nhất với việc thực hiện các chính sách, cơ chế quản lý tài chính khác như chính sách thuế, phí và lệ phí, chính sách tiết kiệm, chính sách ổn định phát triển kinh tế - xã hội,
1.1.5 Nhiệm vụ kiểm soát chi của Kho bạc Nhà nước
* Chức năng, nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước
Hệ thống KBNN được thành lập và đi vào hoạt động từ 01/04/1990 theo Quyết định số 07/HĐBT ngày 04/01/1990 của chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ( nay là Thủ tướng Chính phủ) Qua quá trình hoạt động và phát triển, hệ thống KBNN đã không ngừng lớn mạnh và ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò trong nền kinh
tế, trong hệ thống Tài chính Quốc gia Để phù hợp với các nhiệm vụ của KBNN trong từng giai đoạn, Chính phủ đã ban hành các Nghị định số 25/CP ngày 05/04/95, Nghị định số 145/1999/NĐ-CP ngày 20/09/1999 của Chính phủ, Quyết định số 235/2003/QĐ- TTg ngày 13/11/2003 và nay là quyết định số 108/2009/QĐ –TTg ngày 26/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ để quy định bổ sung chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của hệ thống KBNN trực thuộc Bộ Tài chính
Theo Quyết định số 108/2009/QĐ–TTg ngày 26/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ thì: “KBNN là cơ quan trực thuộc Bộ tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý Nhà nước về quỹ ngân sách Nhà nước, các quỹ tài chính Nhà nước và các quỹ khác của Nhà nước được giao quản lý; quản lý ngân quỹ; tổng kế toán Nhà nước; thực hiện viêc huy động vốn cho NSNN
và cho đầu tư phát triển thông qua hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ theo quy định của Pháp luật”
Với chức năng trên, theo Quyết định số 108/2009/QĐ–TTg ngày 26/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ, thì hệ thống KBNN có một số nhiệm vụ chủ yếu sau:
+ Quản lý quỹ NSNN, quỹ tài chính Nhà nước và các quỹ khác được giao theo quy định của pháp luật
+ Tập trung và phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoản thu NSNN; tổ chức thực hiện việc thu nộp vào quỹ NSNN các khoản tiền do các tổ chức và cá nhân nộp tại
Trang 18+ Quản lý tài sản quốc gia quý hiếm được giao theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; quản lý tiền, tài sản, các loại chứng chỉ có giá của Nhà nước và của các đơn vị, cá nhân gửi tại KBNN
Được trích tài khoản của tổ chức, cá nhân mở tại KBNN để nộp NSNN hoặc
áp dụng các biện pháp hành chính khác để thu cho NSNN theo quy định của pháp luật; từ chối thanh toán, chi trả các khoản chi không đúng, không đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật
Tổ chức hạch toán kế toán NSNN, các quỹ và tài sản của Nhà nước được giao quản lý, các khoản vay nợ, viện trợ, trả nợ của Chính phủ và chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật; báo cáo tình hình thực hiện thu, chi NSNN cho
cơ quan tài chính cùng cấp và cơ quan Nhà nước liên quan theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính
Tổ chức thực hiện công tác thống kê KBNN và chế độ báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật
Tổ chức quản lý, điều hành ngân quỹ KBNN tập trung, thống nhất trong toàn hệ thống:
+ Mở tài khoản, kiểm soát tài khoản tiền gửi và thực hiện thanh toán bằng tiền mặt, chuyển khoản đối với tổ chức, cá nhân có quan hệ giao dịch với KBNN
Trang 1913
+ Mở tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản thanh toán tại ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại để thực hiện các nghiệp vụ thu, chi, thanh toán của KBNN theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính
+ Được sử dụng ngân quỹ KBNN để tạm ứng cho NSNN theo quy định của
Hiện đại hóa hoạt động Kho bạc Nhà nước:
+ Xây dựng cơ chế, chính sách và quy trình nghiệp vụ phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn của Việt Nam
+ Tổ chức quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại hóa cơ sở vật chất của hệ thống Kho bạc Nhà nước
Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước theo phân công, phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tài chính và quy định của pháp luật
* Vai trò của Kho bạc Nhà nước đối với công tác kiểm soát chi NSNN
Quản lý cấp phát và thanh toán các khoản chi NSNN là trách nhiệm của các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến việc quản lý và sử dụng NSNN, từ khâu lập dự toán, phân bổ, cấp phát, thanh toán đến quyết toán chi tiêu
Trang 2014
NSNN, trong đó hệ thống KBNN giữ vai trò đặc biệt quan trọng Tại điều 56 Luật NSNN (sửa đổi) đã quy định: “Căn cứ vào dự toán NSNN được giao và yêu cầu nhiệm vụ, thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách quyết định chi gửi KBNN, KBNN kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật và thực hiện chi ngân sách khi có đủ các điều kiện quy định”; đồng thời, tại điểm 1, điều 55 Nghị định 60/2003/NĐ-CP cũng quy định “Các đơn vị sử dụng ngân sách và các tổ chức được ngân sách hỗ trợ thường xuyên phải mở tài khoản tại KBNN, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài chính và KBNN trong quá trình thanh toán, sử dụng kinh phí”
Như vậy, KBNN là “trạm canh gác kiểm soát cuối cùng” được Nhà nước giao nhiệm vụ kiểm soát trước khi đồng vốn của Nhà nước ra khỏi quỹ NSNN
Thực hiện nhiệm vụ trên, KBNN chủ động bố trí vốn cho từng đơn vị KBNN trực thuộc để chi trả đầy đủ, kịp thời và chính xác cho các cơ quan, đơn vị trên cơ
sở dự toán NSNN được duyệt và yêu cầu rút dự toán của đơn vị sử dụng ngân sách Bên cạnh đó, KBNN còn thường xuyên cải tiến quy trình cấp phát, thanh toán như
mở rộng hình thức thanh toán điện tử trong nội bộ hệ thống, cải tiến chế độ kế toán, đưa ứng dụng tin học vào các quy trình nghiệp vụ, Từng bước thực hiện cấp phát, chi trả trực tiếp cho người được hưởng hoặc người cung cấp hàng hoá, dịch vụ theo tính chất của từng khoản chi NSNN
Trên cơ sở đó, KBNN thực hiện kiểm tra và hạch toán các khoản chi NSNN theo đúng chương, loại, khoản, mục, tiểu mục của mục lục NSNN; đồng thời, cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin cần thiết, phục vụ cho công tác chỉ đạo và điều hành của cơ quan tài chính và chính quyền các cấp Ngoài ra, KBNN còn phối hợp chặt chẽ với cơ quan tài chính trong việc bố trí, sắp xếp các nhu cầu chi tiêu, đảm bảo thu, chi NSNN luôn được cân đối, việc điều hành quỹ NSNN được thuận lợi
Khi nhận được lệnh trả tiền của cơ quan tài chính hay đơn vị thụ hưởng kinh phí do ngân sách cấp, thì nhiệm vụ của KBNN là trả tiền cho người được hưởng Tuy nhiên, nhiệm vụ của KBNN không chỉ có xuất, nhập công quỹ, mà còn có nhiệm vụ quản lý quỹ NSNN Với nhiệm vụ này, KBNN chịu trách nhiệm về tính
Trang 21Vì vậy, không những hạn chế được tình trạng lãng phắ, thất thoát, tiêu cực, mà còn đảm bảo cho việc sử dụng NSNN đúng mục đắch, hợp pháp, tiết kiệm và có hiệu quả Đồng thời, góp phần kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán, đảm bảo sự ổn định lưu thông tiền tệ
Thông qua việc cấp phát, thanh toán các khoản chi của NSNN, KBNN còn tiến hành tổng hợp, phân tắch, đánh giá tình hình chi NSNN qua KBNN theo từng địa bàn, từng cấp ngân sách và từng loại chi chủ yếu Rút ra những kết quả đã đạt được, những hạn chế và nguyên nhân Từ đó, cùng với các cơ quan hữu quan nghiên cứu và hoàn thiện cơ chế thanh toán, chi trả và kiểm soát NSNN qua KBNN
1.2 CHI ĐẦU TƢ XDCB VÀ QUẢN LÝ CHI ĐẦU TƢ XDCB
1.2.1 Khái niệm và đặc tr-ng của chi đầu tư XDCB
Chi đầu tư XDCB của NSNN là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để đầu tư tái sản suất tài sản cố định nhằm từng bước tăng cường, hoàn thiện và hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục
vụ của nền kinh tế quốc dân
Trang 2216
Chi đầu tư XDCB là khoản chi lớn và chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nguồn vốn chi đầu tư phát triển của NSNN Hàng năm NSNN dành một khối lượng vốn lớn để thực hiện việc xây dựng các công trình, dự án theo kế hoạch được duyệt của Nhà nước Tính phức tạp của việc quản lí chi đầu tư XDCB bắt nguồn từ những đặc trưng riêng có của lĩnh vực XDCB Đó là:
Sản phẩm đầu tư XDCB là các công trình xây dựng gắn liền với đất xây dựng công trình , nơi đầu tư xây dựng công trình cũng chính là nơi đưa công trình vào khai thác sử dụng Sản phẩm XDCB chủ yếu được sản xuất theo đơn đặt hàng Chính vì vậy , quản lý đầu tư xây dựng các công trình phải dựa vào dự toán chi phí đầu tư xây dựng công trình được xác định và phê duyệt trước khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình
Sản phẩm đầu tư XDCB có tính đơn chiếc, mỗi hạng mục công trình có một thiết kế và dự toán riêng tuỳ thuộc vào mục đích đầu tư và điều kiện địa hình, địa chất của nơi đầu tư xây dựng công trình quyết định đến quy hoạch, kiến trúc, quy
mô và kết cấu khối lượng, quy chuẩn xây dựng, giải pháp công nghệ thi công và
dự toán chi phí đầu tư của từng hạng mục công trình, công trình Vì vậy việc, quản
lý và cấp vốn đầu tư XDCB phải gắn với từng hạng mục công trình, công trình xây dựng nhằm quản lý chặt chẽ về chất lượng xây dựng và vốn đầu tư
Sản phẩm đầu tư XDCB là các công trình xây dựng thường có vốn đầu tư lớn , được tạo ra trong một thời gian dài Vì vậy quản lý và cấp vốn đầu tư XDCB phải thiết lập các biện pháp quản lý và cấp vốn đầu tư phù hợp nhằm đảm bảo tiền vốn được sử dụng đúng mục đích, tránh ứ đọng thất thoát vốn đầu tư, bảo đảm cho quá trình đầu tư xây dựng các công trình được thực hiện liên tục đúng theo kế hoạch
và tiến độ đã được xác định
Đầu tư XDCB được tiến hành trong tất cả ngành kinh tế quốc dân , các khu vực kinh tế xã hội nên sản phẩm XDCB có nhiều loại hình công trình và mỗi loại hình công trình có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật riêng Quản lý và cấp vốn đầu
tư XDCB phải phù hợp với đặc điểm của từng loại hình công trình nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Trang 2317
Đầu tư XDCB thường được tiến hành ngoài trời nên luôn chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, thời tiết và lực lượng thi công xây dựng công trình thường xuyên phải di chuyển theo nơi phát sinh nhu cầu đầu tư xây dựng các công trình nhằm giảm bớt những lãng phí, thiệt hại về vật tư và tiền vốn trong quá trình đầu tư xây dựng các công trình
Những đặc điểm của đầu tư XDCB nêu trên cho thấy tính đa dạng và phức tạp của đầu tư XDCB Những đặc điểm này có tác động chi phối đến sự vận động của vốn đầu tư XDCB đòi hỏi cần có cách thức tổ chức quản lý và cấp phát vốn phù hợp nhằm đảm bảo hiệu quả vốn đầu tư Chính vì vậy, quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN cần phải có những nguyên tắc, biện pháp và trình tự quản lý cấp phát vốn tiền dựa trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc quản lý chi NSNN nói chung và được vận dụng phù hợp với đặc điểm của đầu tư XDCB
1.2.2 Đặc điểm của chi đầu tư XDCB từ NSNN
Chi NSNN cho đầu tư XDCB là khoản chi rất lớn thường chiếm khoảng 30% tổng chi NSNN Hơn nữa khoản chi này thường bao quát hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội với những khác biệt lớn Điều đó cho thấy tính chất phức tạp của kiểm soát chi NSNN cho đầu tư XDCB
Chi đầu tư XDCB bao quát nhiều dự án, công trình Hàng năm cả nước có khoảng 20.000 dự án, công trình, trong đó có khoảng 4.000 dự án, công trình do Ngân sách Trung ương cấp vốn
Nguồn vốn chi cho đầu tư XDCB rất đa dạng bao gồm vốn trong nước, vốn ngoài nước Trong đó lại được chia ra vốn XDCB tập trung, vốn đầu tư chương trình mục tiêu, vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư,…Nguồn vốn NSNN được chia thành vốn cấp phát không hoàn lại, vốn ngân sách cho vay ưu đãi…
Chủ thể quyết định đầu tư XDCB khác nhau, phản ánh sự đa cấp, đa tầng, có liên quan đến toàn xã hội Đối với các cơ quan tổng hợp Nhà nước như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng… tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ Nhà nước giao mà thực hiện việc nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách, quy phạm
Trang 2418
quy chuẩn xây dựng, đơn giá định mức, tiêu chuẩn kinh tế - kĩ thuật xây dựng thuộc lĩnh vực quản lí để thực hiện thống nhất trong cả nước Đối với các Bộ quản lí chuyên ngành nghiên cứu ban hành cơ chế, chính sách, định mức kinh tế - kĩ thuật, đơn giá theo từng chuyên ngành.Các Bộ, ngành khác thuộc Trung ương và Địa phương thì theo chức năng và nhiệm vụ được Nhà nước giao mà thực hiện việc quản lí đầu tư xây dựng thuộc phạm vi mình quản lí
1.2.3 Phân loại chi đầu tư XDCB
Tuỳ theo yêu cầu quản lí trong từng thời kỳ, nội dung chi đầu tư XDCB có thể được phân chia theo các tiêu thức khác nhau Cụ thể là:
1.2.3.1 Theo tính chất công trình, chi đầu tư XDCB bao gồm
Chi xây dựng mới: là các khoản chi để xây dựng mới những công trình chưa
có trong nền kinh tế quốc dân Kết quả của quá trình này là sự hình thành tài sản cố định mới của nền kinh tế, làm tăng số lượng, chất lượng tài sản cố định, tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế Đầu tư xây dựng mới là việc đầu tư theo chiều rộng, cho phép ứng dụng kĩ thuật tiên tiến và thay đổi sự phân bố sản xuất Xây dựng mới đòi hỏi một lượng vốn lớn, thời gian xây dựng dài, thời gian thu hồi vốn chậm
Chi cải tạo, mở rộng, trang bị lại kĩ thuật: Bao gồm các khoản chi để mở rộng, cải tạo lại những năng lực và tài sản cố định hiện có nhằm tăng thêm công suất, năng lực và hiện đại hoá tài sản cố định Cải tạo, trang bị lại kĩ thuật là yếu tố
để phát triển sản xuất theo chiều sâu
Chi khôi phục tài sản cố định: Là các khoản chi để xây dựng lại toàn bộ hay từng phần của những tài sản cố định đang phát huy tác dụng nhưng bị tổn thất do những nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan
1.2.3.2 Theo cấu thành vốn đầu tư, chi đầu tư XDCB bao gồm
Chi xây lắp: Là các khoản chi cho việc xây dựng, lắp đặt các kết cấu kiến trúc, máy móc, trang thiết bị, dây truyền công nghệ bao gồm cả những chi phí lắp đặt gắn với công trình xây dựng ( hệ thống cấp thoát nước, hệ thống thoát nước…)
và chi phí chạy thử có tải và không tải máy móc thiết bị hợp thành
Trang 2519
Chi mua sắm máy móc thiết bị: là những khoản chi hợp thành giá trị của máy móc thiết bị đầu tư mua sắm nó, bao gồm: chi phí giao dịch hợp lí, giá trị máy móc ghi trên hoá đơn, chi phí vận chuyển, bốc xếp, chi phí bảo quản, gia công, tinh chế thiết bị kể từ khi mua sắm đến khi thiết bị được lắp đặt hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng Chi mua sắm thiết bị có vai trò quan trọng trong việc tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế quốc dân Trong điều kiện hiện nay, khoản chi này chiếm tỉ trọng ngày càng tăng trong tổng chi đầu tư XDCB
Chi XDCB khác: là những khoản chi nhằm đảm bảo điều kiện cho quá trình xây dựng, lắp đặt và đưa công trình vào sản xuất, sử dụng Bao gồm: chi phí chuẩn
bị đầu tư, chi phí khảo sát thiết kế, lập dự toán công trình, chi phí cho ban quản lí công trình, chi phí cho chuyên gia hướng dẫn thi công, chi phí tháo dỡ vật kiến trúc, chi phí đền bù hoa màu đất đai, di chuyển nhà cửa, chi phí khánh thành, nghiệm thu công trình…
1.2.3.3 Theo trình tự XDCB, chi đầu tư XDCB bao gồm
Chi chuẩn bị đầu tư: là những khoản chi phục vụ cho nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư dự án, xác định qui mô đầu tư, tiến hành tiếp xúc, điều tra thăm dò thị trường trong và ngoài nước để tìm nguồn cung cấp vật tư, thiết bị hoặc tiêu thụ sản phẩm Xem xét lựa chọn hình thức đầu tư, tiền hành điều tra khảo sát, chọn địa điểm xây dựng… để lập và thẩm định dự án đầu tư
Chi chuẩn bị thực hiện đầu tư: Là những khoản chi cho khảo sát thiết kế, lập, thẩm định tổng dự toán, dự toán công trình, chi cho giải phóng mặt bằng, chuẩn
bị xây dựng công trình kết cấu hạ tầng như các công trình cấp nước, đường đi, bãi chứa, lán trại,… Chi đào tạo công nhân vận hành, chi cho ban quản lí công trình…
Chi thực hiện đầu tư: Bao gồm tất cả các khoản chi hợp thành giá trị công trình được nghiệm thu, bàn giao và đã được quyết toán, bao gồm: Chi xây dựng công trình, chi mua sắm, gia công, vận chuyển, lắp đặt thiết bị; chi phí lập, thẩm tra báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành, và một số khoản chi khác phục vụ cho quá trình thực hiện đầu tư
Trang 2620
Việc phân loại theo trình tự XDCB có ý nghĩa lớn trong việc quản lí thời hạn xây dựng, đảm bảo quản lí chất lượng công trình, đầu tư đúng hướng, tiết kiệm, hiệu quả
1.2.4 Nguồn hình thành vốn đầu tư XDCB
Xuất phát từ đặc trưng của lĩnh vực đầu tư XDCB là lĩnh vực không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp, phần lớn các công trình XDCB nhằm phục vụ cho mục đích công cộng cho nên khu vực tư nhân ít tham gia đầu tư mà phần lớn vốn đầu tư được lấy từ NSNN
Nguồn vốn đầu tư XDCB của NSNN bao gồm vốn trong nước của các cấp NSNN, vốn vay nợ nước ngoài của chính phủ và vốn viện trợ của nước ngoài cho chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan Nhà nước để thanh toán cho các dự
án đầu tư thuộc đối tượng sử dụng vốn NSNN theo quy định của Luật NSNN
Trong những năm gần đây, nguồn vốn cho đầu tư XDCB không ngừng tăng lên và cơ cấu nguồn cũng có nhiều thay đổi Nguồn vốn huy động trong nước thông qua hình thức phát hành trái phiếu ngày càng đóng góp lớn hơn cho công cuộc phát triển cơ sở hạ tầng Nguồn vốn từ vay nợ, viện trợ của nước ngoài, vốn huy động của dân cư như công trái giáo dục, trái phiếu Chính phủ, vốn nhà nước và nhân dân cùng làm, nguồn vốn Quốc hội để lại, nguồn vốn CK, nguồn vốn đổi đất lấy công trình… Như vậy thực tế ngày nay một công trình, dự án sử dụng nhiều nguồn vốn
Nguồn vốn cấp phát đầu tư XDCB của NSNN bao gồm vốn trong nước của các cấp NSNN, vốn nợ nước ngoài của Chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ
Trang 2721
quan Nhà nước Nguồn vốn cấp phát đầu tư XDCB của NSNN chỉ được sử dụng để cấp phát thanh toán cho các dự án thuộc đối tượng sử dụng vốn NSNN theo luật NSNN và quy chế quản lý đầu tư và xây dựng
Các dự án thuộc đối tượng cÊp phát vốn đầu tư XDCB của NSNN bao gồm: + Các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh không
có khả năng thu hồi vốn và được quản lý theo phân cấp quản lý chi NSNN cho đầu
tư phát triển như giao thông thuỷ lợi, giáo dục đào tạo, y tế, công trình văn hoá xã hội, phúc lợi công cộng , quản lý Nhà nước, khoa học kỹ thuật
+ Các dự án đầu tư của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần thiết có
sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật được NSNN hỗ trợ
+ Các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội chung của cả nước, vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất đai, quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch chung xây dựng đô thị nông thôn, quy hoạch chi tiết các trung tâm đô thị
+ Các dự án khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Thực hiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư và xây dựng, có đủ các tài liệu thiết
kế dự toán được duyệt
Các dự án đầu tư không phân biệt quy mô và mức vốn đầu tư đều phải thực hiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư và xây dựng gồm 3 giai đoạn là chuẩn bị đầu tư , thực hiện đầu tư, kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng Các công việc trong giai đoạn thực hiện đầu tư và kết thúc xây dựng công trình vào khai thác sử dụng có thể thực hiện tuần tự hoặc gối đầu, xen kẽ tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng dự án đầu tư
Nội dung công việc giai đoạn chuẩn bị đầu tư bao gồm : nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư, tiếp xúc trực tiếp, thăm dò thị trường trong nước và ngoài nước để xác định nhu cầu tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, nguồn cung ứng vật tư và thiết bị, khả năng về nguồn vốn đầu tư và hình thức lựa chọn đầu tư, điều tra, khảo sát và lựa chọn địa điểm xây dựng, lập dự án đầu tư ( Báo cáo nghiêm cứu tiền khả thi , báo cáo khả thi hoặc báo cáo đầu tư ),
Trang 2822
thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư của cấp có thẩm quyền Kết quả cuối cùng của giai đoạn chuẩn bị đầu tư là báo cáo nghiên cứu khả thi hoăc báo cáo đầu tư của dự
án được cấp thẩm quyền xem xét phê duyệt để đề ra quyết định đầu tư dự án
Nội dung công việc giai đoạn thực hiện đầu tư bao gồm : xin giao đất hoặc thuê đất, xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên nếu có, thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng, thực hiện kế hoạch tái định cư và phục hồi , chuẩn
bị mặt bằng xây dựng, khảo sát thiết kế và lập dự toán, kể cả thiết bị dây truyền công nghệ; thẩm định phê duyệt thiết kế và tổng dự toán, dự toán công trình, chỉ định thầu hoặc đấu thầu và thương thảo , ký kết hợp đồng về xây lắp và mua sắm thiết bị, thi công xây lắp công trình, mua sắm máy móc thiết bị theo hợp đồng về xây lắp và mua sắm thiết bị; thi công xây lắp công trình , mua sắm máy móc thiết bị theo hợp đồng, quản lý kỹ thuật, chất lượng thiết bị và chất lượng xây dựng, nghiệm thu bộ phận hoặc hạng mục công trình hoàn thành và thanh toán vốn đầu tư, quyết toán và bàn giao đưa bộ phận hoặc hạng mục công trình vào vận hành
Nội dung công việc giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng bao gồm: tổng nghiệm thu và bàn giao công trình; thực hiện kết thúc xây dựng công trình; bảo hành công trình, quyết toán vốn đầu tư công trình hoàn thành; thẩm định phê duyệt quyết toán công trình hoàn thành
Thực hiện tốt giai đoạn chuẩn bị đầu tư để có được thông tin toàn diện, đầy
đủ và chính xác liên quan đến việc đầu tư xây dựng từng công trình, từ đó đảm bảo được quyết định đầu tư đúng đắn, nếu không tuân thủ đúng trật tự các bước công việc đã quy định sẽ dẫn đến việc đưa ra quyết định đầu tư không đúng đắn gây lãng phí và sử dụng vốn đầu tư kém hiệu quả
Có được quyết định đầu tư đúng đắn, muốn tránh được hiện tượng phải phá
đi làm lại , đảm bảo yêu cầu của thiết kế để đưa vào sản xuất và sử dụng đòi hỏi trong giai đoạn thực hiện đầu tư phải tuân thủ, đúng trật tự các bước công việc đầu
tư
Trang 2923
Tài liệu thiết kế và dự toán công trình xây dựng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt là căn cứ pháp lý quy định về quy mô kết cấu định mức tiêu chuẩn kỹ thuật của vật tư thiết bị cấu thành từng khối lượng, các giải pháp kỹ thuật công nghệ xây dựng công trình, giá trị từng khối lượng của công trình Vì vậy để đảm bảo chất lượng công trình xây dựng và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư đòi hỏi không ngừng nâng cao chất lượng công tác lập, thẩm định và phê duyệt thiết kế và dự toán các công trình xây dựng
Khi có quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền, các đơn vị đầu tư phải tuân thủ đúng trình tự các công việc lập, thẩm định, trình phê duyệt tài liệu thiết kế, dự toán của công trình và gửi tài liệu thiết kế dự toán của công trình đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt đến cơ quan quản lý cấp phát vốn
Cấp phát vốn đầu tư XDCCB phải đúng mục đích , đúng kế hoạch
Nguồn vốn NSNN đầu tư cho các công trình, dự án được xác định trong kế hoạch NSNN hàng năm dựa trên kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của toàn bộ nền kinh tế, kế hoạch XDCB của từng bộ ngành địa phương , từng đơn vị cơ sở và khả năng nguồn vốn của NSNN Vì vậy việc cấp phát vốn đầu tư XDCB của NSNN đúng mục đích, đúng kế hoạch nhằm tuân thủ đúng nguyên tắc quản lý NSNN và đảm bảo tính kế hoạch, cân đối của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, của từng ngành, từng lĩnh vực từng địa phương
Vốn đầu tư XDCB chỉ được sử dụng cho mục đích đầu tư XDCB theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, không được sử dụng cho các mục đích khác Cấp phát vốn đầu tư XDCB phải tuân thủ theo đúng kế hoạch vốn đã được duyệt cho từng công trình , tổng số vốn cấp phát thanh toán trong năm kế hoạch cho từng dự án đầu tư không được vượt kế hoạch vốn năm của dự án được duyệt, không được điều chuyển vốn từ công trình này sang công trình khác nếu không có quyết định của cấp có thẩm quyền, đặc biệt là điều chuyển vốn từ công trình Trung ương sang công trình Địa phương
Trang 3024
Nguyên tắc cấp vốn đầu tư XDCB đúng mục đích, đúng kế hoạch đòi hỏi phải không ngừng hoàn thiện phương pháp cấp phát thanh toán theo hướng khối lượng XDCB hoàn thành được cấp phát vốn thanh toán là sản phẩm hàng hoá vừa
có giá trị và vừa có giá trị sử dụng Nâng cao hiệu quả đầu tư XDCB của nền kinh
tế quốc dân nói chung và hiệu quả đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN nói riêng phải đòi hỏi công tác quy hoạch lập và phê duyệt kế hoạch xây dựng cơ bản
Cấp phát vốn đầu tư phải theo mức độ khối lượng thực tế hoàn thành kế hoạch và chỉ trong phạm vi dự toán được duyệt : Sản phẩm XDCB có vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựng dài, kết cấu kỹ thuật phức tạp Quản lý cấp phát vốn theo mức độ khối lượng thực tế hoàn thành kế hoạch nhằm đảm bảo vốn cho quá trình đầu tư XDCB được tiến hành liên tục đúng kế hoạch tiến độ, kiểm tra chặt chẽ được chất lượng từng khối lượng XDCB và chất lượng công trình hoàn thành, đảm bảo vốn đầu tư được sử dụng đúng mục đích và có vật tư đảm bảo , tránh ứ đọng và gây thất thoát và lãng phí vốn đầu tư
Sảm phẩm XDCB có tính đơn chiếc, mỗi công trình có một thiết kế dự toán riêng, mặt khác một trong những nguyên tắc quan trọng của quản lý chi NSNN là quản lý theo dự toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt Vì vậy , quản lý và cấp phát vốn đầu tư XDCB phải dựa vào dự toán đã được phê duyệt và chỉ trong phạm
vi dự toán đã được duyệt Trong trường hợp tổ chức đấu thầu thì mức vốn cấp phát thanh toán là giá trúng thầu hoặc giá được tính theo đơn giá trúng thầu được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhưng giá trúng thầu hoặc giá tính theo đơn giá trúng thầu không được vượt quá dự toán đã được duyệt Các trường hợp vượt dự toán đòi hỏi chủ đầu tư phải lập dự toán bổ sung, giải trình và chỉ được cấp vốn thanh toán khi
có quyết định của cấp có thẩm quyền
1.2.6 Điều kiện cấp phát thanh toán vốn đầu tư XDCB của NSNN
Dự án đầu tư phải được ghi vào kế hoạch đầu tư hàng năm của Nhà nước Mọi dự án đầu tư bằng nguồn vốn NSNN cấp phát chỉ được cấp phát vốn khi được ghi vào kế hoạch đầu tư hàng năm của Nhà nước Khi dự án đầu tư được ghi vào trong kế hoạch đầu tư hàng năm của Nhà nước nó minh chứng dự án đã được cân
Trang 3125
đối trên tổng thể phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, được tính toán về hiệu quả đầu tư, phương án đầu tư, nguồn vốn đầu tư, cân đối về khả năng cung cấp thiết bị, các giải pháp công nghệ thi công xây dựng , điều kiện đưa dự án vào khai thác sử dụng và cấp có thẩm quyền đầu tư
Các dự án đầu tư chỉ được ghi kế hoạch đầu tư hàng năm của Nhà nước khi
có đủ điều kiện sau :
+ Dự án quy hoạch có đề cương hoặc nhiệm vụ dự án và dự toán chi phí công tác quy hoạch được duyệt
+ Dự án chuẩn bị đầu tư phải phù hợp với quy hoạch phát triển ngành và lãnh thổ được duyệt, có dự toán chi phí công tác chuẩn bị đầu tư được duyệt
+ Dự án thực hiện đầu tư phải có quyết định trứơc ngày 31/10 năm trước năm kế hoạch, có thiết kế, có dự toán và tổng dự toán được duyệt
Dự án đầu tư phải được thông báo kế hoạch vốn đầu tư năm bằng nguồn vốn NSNN
Việc cấp phát thanh toán vốn đầu tư XDCB chỉ có thể thực hiện được khi các
dự án đầu tư có nguồn vốn đầu tư thích hợp đảm bảo Khi các dự án đầu tư đã được thông báo kế hoạch thanh toán vốn đầu tư, nó minh chứng dự án đã có nguồn vốn đảm bảo điều kiện vật chất cần thiết để tiến hành cấp phát thanh toán cho dự án trong năm kế hoạch Các dự án đầu tư bằng nguồn vốn cấp phát của NSNN chỉ được cấp phát thanh toán vốn khi KBNN nhận được kế hoạch vốn đầu tư năm của
cơ quan Tài chính Chỉ tiêu kế hoạch thanh toán vốn đầu tư năm của từng dự án đầu
tư là mức vốn tối đa được cấp phát thanh toán cho dự án năm kế hoạch
Dự án đầu tư phải có đủ tài liệu cần thiết làm căn cứ cấp phát thanh toán vốn đầu tư gửi tới KBNN
Các tài liệu làm cần thiết làm căn cứ cấp phát thanh toán vốn đầu tư là căn cứ pháp lý để minh chứng dự án đã đủ điều kiện được cấp phát thanh toán vốn, xác định các khối lượng được cấp phát thanh toán vốn và mức vốn được cấp thanh toán cho từng khối lượng của dự án, xác định trách nhiệm của tổ chức và cá nhân chịu
Trang 3226
trách nhiệm về việc quản lý sử dụng đầu tư đã được cấp phát thanh toán Chủ đầu
tư các dự án thuộc nguồn vốn cấp phát của NSNN đã phải chuẩn bị và gửi đi các tài liệu cần thiết làm căn cứ pháp lý cấp phát thanh toán phù hợp với từng dự án đàu tư,
từng giai đoạn của trình tự đầu tư tới KBNN nơi chủ đầu tư mở tài khoản thanh toán
của dự án
Các tài liệu làm căn cứ cấp phát vốn đầu tư phải đảm bảo tính hợp pháp và hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật về hình thức, nội dung, thẩm quyền quyết định Các tài liệu làm căn cứ cấp phát thanh toán vốn đầu tư của từng dự án gồm các tài liệu cơ sở của dự án chỉ gửi một lần đến KBNN cho đến khi dự án kết thúc, tài liệu gửi từng năm và hồ sơ gửi tới từng lần đến KBNN đề nghị cấp phát vốn đầu
+ Luật NSNN (sửa đổi) đã được ban hành vào năm 2002, có hiệu lực thi hành từ năm 2004
+ Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN; Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ
+ Thông tư số 27/2007/TT-BTC ngày 03/04/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn dự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước; Thông tư số 130/2007/TT-BTC ngày 02/07/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư số 27/2007/TT-BTC ngày 03/04/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn dự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách
Trang 3327
nhà nước; Thông tư số 88/2009/TT-BTC ngày 29/04/2009 của Bộ Tài chính về việc sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư số 27/2007/TT-BTC ngày 03/04/2007 và Thông tư số 130/2007/TT-BTC ngày 02/07/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước
+ Thông tư số 108/2007/TT-BTC ngày 7/9/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính đối với các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển chính thức ODA
+ Thông tư số 86/2011/TT-BTC ngày 17/06/2011 của Bộ Tài Chính quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn ngân sách nhà nước
+ Thông tư số 113/2008/TT-BTC ngày 27/11/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý và kiểm soát cam kết chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
1.3.2 Sự cần thiết kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN
Trong những năm qua, công tác kiểm soát chi đầu tư XDCB ngày càng khẳng được vai trò của nó trong việc tăng cường hiệu quả của chi ngân sách Với sự gia tăng của những hành vi tiêu cực trong XDCB thời gian qua, người ta càng chú trọng hơn đến công tác kiểm soát chi đầu tư XDCB và coi đó là một tất yếu Tính tất yếu của kiểm soát chi đầu tư XDCB qua KBNN thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, Chi NSNN cho đầu tư XDCB là khoản chi rất khó xác định chính
xác vì không có một khung chi phí chung cho tất cả các dự án Do tính chất không thể di chuyển của sản phẩm đầu tư XDCB cho nên yếu tố khí hậu, thổ nhưỡng, thời tiết… cho nên ở những địa điểm khác nhau thì chi phí thực hiện dự án cũng khác nhau
Thứ hai, do thời gian thực hiện dự án kéo dài nên chi phí đầu tư XDCB biến
động của giá cả nguyên vật liệu, lao động…Yếu tố lạm phát tuy đó được tính đến trong các hợp đồng nhưng trên thực tế biến động giá cả là rất khó lường Điều này
Trang 3428
gây khó khăn cho cả chủ đầu tư và cơ quan kiểm soát bởi lẽ các định mức đơn giá của Nhà nước thường ít thay đổi trong một thời gian nhất định
Thứ ba, Do quá trìnhđầu tư XDCB là một quá trình bao gồm rất nhiều khâu,
tính chất cụng việc và sản phẩm của từng khâu khác nhau cho nên các chi phí phát sinh thường khó kiểm soát
Thứ tư, Chi NSNN cho đầu tư XDCB có những đặc điểm riêng so với các
các loại hình chi NSNN khác Trong khi các khoản chi thường xuyên của ngân sách
là những khoản chi có tính chất ổn định, có thể xác định trước được, hơn nữa tác động của các khoản chi này là rất lớn, ảnh hưởng của nó dễ nhận biết cho nên khả năng thất thoát, lãng phí là khó xảy ra Ngược lại, chi NSNN cho đầu tư XDCB là những khoản chi kéo dài và tác động của nó không dễ dàng nhận biết cộng thờm tính chất phức tạp của lĩnh vực XDCB cho nên tình trạng thất thoát, lãng phí rất dễ xảy ra và tính chất của nó là rất nghiêm trọng Do vậy, kiểm soát chi đầu tư XDCB
là rất cần thiết và ngày càng được quan tâm chú trọng
Thứ năm, KBNN với vai trò là cơ quan quản lí quỹ NSNN, cơ quan kiểm
soát chi vốn đầu tư, đây là khâu cuối cùng để đưa vốn ra khỏi NSNN, do đó tăng cường kiểm soát chi NSNN qua KBNN một lần nữa khẳng định và đảm bảo việc sử dụng vốn đúng mục đích, đúng đối tượng, hạn chế thất thoát, lãng phí vốn đầu tư đó
và đang xảy ra như hiện nay
1.3.3 Vai trò Kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN
Vai trò của kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN thể hiện trên các mặt sau:
1.3.3.1 Chống thất thoát, lãng phí cho NSNN và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Việt nam cũng như những nước đang phát triển trên thế giới, đã dành một phần đáng kể số chi cho đầu tư XDCB bằng nguồn thu từ việc khai thác tài nguyên khoáng sản như dầu lửa, than đá, quặng hoặc thu từ việc cấp quyền sử dụng đất và một phần tài trợ của các nước và các tổ chức quốc tế Tuy nhiên, tài nguyên quốc gia chỉ có một giới hạn nhất định và các khoản tài trợ nước ngoài hay của các tổ
Trang 3529
chức tài chính quốc tế ngày càng khan hiếm và thường kèm theo nhiều ràng buộc đối với nước tiếp nhận Mặt khác, ngày nay các nguồn tài trợ chủ yếu là có hoàn lại cho nên nếu Chính phủ sử dụng các nguồn tài trợ này một cách lãng phí, kém hiệu quả thì sẽ gây nên gánh nặng nợ nần cho những thế hệ con cháu chúng ta sau này
Bên cạnh đó, như ta đã biết vốn đầu tư từ NSNN có vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Vì vậy, nếu chi đầu tư cho các dự án dè dặt, tiết kiệm hơn, cơ chế kiểm soát thanh toán chặt chẽ và hoàn thiện để mỗi dự án, công trình tiết kiệm được 1% kinh phí nhưng vẫn đảm bảo chất lượng và năng lực sản xuất hoặc công năng như dự trù thì lượng GDP sẽ tăng thêm đáng kể, góp phần giải quyết được phần nào những nhu cầu cần thiết về tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế Nhờ đó mức sống của dân cư sẽ được nâng lên do được thụ hưởng tốt hơn các dịch vụ công: y tế, giáo dục, giao thông công cộng vv Và người dân đóng thuế cũng thấy được rằng số lợi tức tiền tệ họ trích ra nộp cho Nhà nước đã được sử dụng một cách tiết kiệm và hợp lý, những tài sản và dịch vụ mà Nhà nước mua vào là cần thiết và hữu dụng
Như vậy, kiểm soát chi đầu tư XDCB giúp cho việc quản lý và sử dụng vốn NSNN được chặt chẽ, thống nhất, hạn chế thất thoát, lãng phí cả do nguyên nhân khách quan và chủ quan
1.3.3.2 Nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư XDCB
Trong quản lý NSNN không có chế tài máy móc nào để từ đó có thể đem lại một sự quản lý phân minh, sự chi tiêu công quỹ có hiệu quả, tiết kiệm mà không cần đến một cơ chế kiểm soát thanh toán hữu hiệu
Chúng ta thấy rằng, những người được giao nhiệm vụ quản lý và sử dụng công quỹ họ cũng có những nhu cầu và sự hứng thú cá nhân, mặc dù họ có được trang bị những kiến thức, hiểu biết về những nhu cầu và lợi ích công công, họ luôn
ý thức được rằng tài nguyên là có giới hạn không phải vụ tận, phải sử dụng một cách khôn ngoan, có hiệu quả, nhưng họ vẫn có thể vấp phải những sai lầm, thiếu sót, vi phạm kể cả vụ tình cũng như cố ý Việc kiểm soát chặt chẽ sẽ luôn nhắc nhở,
Trang 3630
hướng dẫn họ tự kìm chế cũng như bắt buộc phải kìm chế bản thân để thực hiện việc quản lý và sử dụng công quỹ một cách trung thực, rõ ràng và hiệu quả
1.3.3.3 Tăng cường tính hiệu lực của các văn bản pháp lý
Cơ quan kiểm soát chi được Chính phủ giao cho trọng trách kiểm soát tất cả các quyết định hành chính làm cho Chính phủ trở thành con nợ và Chính phủ phải dành một số tiền để thanh toán khoản nợ đó Vì thế, mỗi văn bản pháp lý phải được kiểm soát kỹ lưỡng để đi đến kết luận hợp pháp hay bất hợp pháp Tất nhiên những văn bản pháp lý bất hợp pháp không thể là căn cứ để tiến hành kiểm soát các thủ tục tiếp theo và thanh toán trả tiền Trong trường hợp này theo thể lệ tài chính hiện hành, cơ quan kiểm soát chi có quyền từ chối thanh toán và báo cáo với các cơ quan chức năng có liên quan
Như vậy, về phương diện hành chính, thông qua kết quả kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN mà cấp trên có thể biết được những mệnh lệnh về đầu tư XDCB của mình có được thi hành triệt để không, có bị cấp dưới hiểu lầm hoặc cố tình làm thiên lệch, hoặc kém khả năng hay bất lực không thi hành được
1.3.3.4 Hạn chế tiêu cực, góp phần sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư
từ NSNN
Vốn đầu tư XDCB nhằm tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, là yếu
tố quyết định quy mô và tốc độ phát triển kinh tế không những trước mắt mà còn cho lâu dài
Trong nền kinh tế thị trường, sự chi phối của quy luật cạnh tranh khiến các nhà thầu luôn tìm cách hạ giá thành, tăng lợi nhuận Trong vụ số cách hạ giá thành
có cả thủ đoạn cắt giảm định mức kinh tế kỹ thuật, thay đổi kết cấu công trình, chủng loại vật tư và hậu quả tất yếu là công trình kém chất lượng, tuổi thọ bị rút ngắn, công suất thực tế không như lúc phê duyệt ban đầu vv Vì vậy, một hệ thống
cơ chế kiểm soát chi đầu tư XDCB chặt chẽ, hoạt động có hiệu quả sẽ góp phần hạn chế những mặt tiêu cực trong quá trình thực hiện đầu tư cũng như nâng cao hiệu quả đầu tư
Trang 3731
1.3.3.5 Góp phần ổn định chính trị
Một thực tế hiện nay là lĩnh vực đầu tư XDCB ở Việt Nam rất nhạy cảm, bất
cứ ở đâu có dự án, công trình đầu tư XDCB từ NSNN mà phát sinh hiện tượng lãng phí, thất thoát vốn thì ở đó phản ứng của xã hội lan truyền rất mạnh mẽ và để lại hậu quả nặng nề như chúng ta đã từng thấy Mà một nền chính trị muốn ổn định thì phải dựa trên rất nhiều yếu tố, trong đó có cả hoạt động đầu tư xây dựng Do vậy, nếu cơ chế kiểm soát chi đầu tư XDCB được thực hiện một cách thống nhất, đồng
bộ sẽ có tác động tích cực để ngăn ngừa, chống lãng phí và tiêu cực trong lĩnh vực này, góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế, tài chính, tiền tệ trong nền kinh tế nói chung và trong hoạt động đầu tư xây dựng nói riêng Từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo dựng được lòng tin trong nhân dân, góp phần ổn định sự nghiệp chính trị của đất nước
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN
Cơ chế kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN chịu sự tác động của nhiều nhân tố với mức độ và phạm vi khác nhau do chi NSNN cho đầu tư XDCB là hoạt động kinh tế có liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực cũng như nhiều cá nhân, tổ chức, đơn vị Tuy nhiên có thể phân chia những nhân tố cơ bản và tác động mạnh mẽ đến công táckiểm soát chi đầu tư từ ngân sách thành hai nhóm : Nhóm nhân tố bên trong và nhóm nhân tố bên ngoài
1.3.4.1 Nhóm nhân tố bên trong bao gồm
Yếu tố con người
Con người là nhân tố trung tâm, quyết định nhất của mọi quá trình Trình độ chuyên môn, tinh thần trách nhiệm và phẩm chất đạo đức của người cán bộ làm công tác kiểm soát chi nói riêng và các cá nhân có liên quan trong tất cả các khâu của quá trình xây dựng nói chung là nền tảng để thực hiện thành công công tác kiểm soát chi
Năng lực quản lý của người lãnh đạo, cán bộ hoạch định cơ chế chính sách cũng như đội ngũ cán bộ chuyên môn, tổ chức bộ máy và quy trình nghiệp vụ, công
Trang 38+ Cơ chế kiểm soát chi đầu tư XDCB một mặt phải phù hợp với cơ chế quản
lý NSNN nói chung và cơ chế quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN nói riêng Mặt khác, để cơ chế đi vào cuộc sống, được thực thi một cách triệt để, có hiệu quả, đạt được mục đích đề ra đòi hỏi phải phù hợp với năng lực, trình độ của cán bộ thực thi chức năng kiểm soát chi, tổ chức bộ máy, trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của cơ quan kiểm soát chi Do đó, khi xây dựng cơ chế kiểm soát chi đầu tư XDCB
từ NSNN đòi hỏi cán bộ xây dựng cần có thực tế, hiểu rõ được những yêu cầu có thể thực hiện được khi đặt ra cho cơ quan kiểm soát, đồng thời vẫn đảm bảo được yêu cầu quản lý
+ Năng lực chuyên môn của cán bộ cơ quan kiểm soát chi là yếu tố quyết định đến tính thực thi của cơ chế kiểm soát chi Nếu năng lực chuyên môn cao sẽ loại trừ được sai sót trong quá trình thực hiện Năng lực chuyên môn thể hiện ở năng lực phân tích xử lý các thông tin được cung cấp và giám sát, đối chiếu với các quy định hiện hành của nhà nước Nếu thiếu khả năng này, thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB và mục đích của kiểm soát chi không đạt được là điều khó trách khỏi
Tổ chức bộ máy, phân cấp kiểm soát chi và quy trình nghiệp vụ của cơ quan kiểm soát chi
Đây là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng của công tác kiểm soát chi Việc thực thi công tác kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN có được thuận lợi, đạt hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào tổ chức bộ máy và quy trình nghiệp vụ của cơ quan kiểm soát chi Trong đó, đặc biệt quan trọng là quy trình nghiệp vụ quản lý Tổ chức bộ máy, quy trình quản lý, quyền hạn và trách nhiệm của từng khâu, từng bộ phận, từng cá nhân; mối quan hệ giữa các khâu, các bộ phận, các cá nhân trong quá trình thực hiện kiểm soát chi từ khâu tiếp nhận hồ sơ
Trang 3933
cho đến khâu chuyển tiền thanh toán cho đơn vị thụ hưởng tác động rất lớn đến cơ chế kiểm soát chi đầu tư XDCB, sự phân biệt rừ ràng giữa yếu tố quản lí và thực hiện nhiệm vụ, tránh việc chồng chéo cũng không ngoài mục đích nâng cao trách nhiệm của các đơn vị có liên quan trong công tác kiểm soát chi đầu tư XDCB
Cơ cấu tổ chức bộ máy càng gọn nhẹ nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả công việc luôn là mục tiêu hướng tới của không chỉ quá trình kiểm soát chi đầu tư XDCB mà
là của cả nền hành chính Quốc gia, tổ chức bộ máy phù hợp, quy trình quản lý bố trí khoa học, rõ ràng, minh bạch sẽ góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu các yếu
tố sai lệch thông tin từ đó nâng cao được hiệu quả kiểm soát chi đầu tư XDCB từ NSNN, hạn chế tình trạng sai phạm, rủi ro trong quản lý
Sự phát triển của khoa học công nghệ và ứng dụng kho học công nghệ Trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, ứng dụng công nghệ hiện đại trong công tác kiểm soát chi đầu tư XDCB của cơ quan kiểm soát chi cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kiểm soát chi Thực tế đã chứng minh, việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong công tác kiểm soát chi giúp tiết kiệm được thời gian xử lý công việc, đảm bảo được tính chính xác, nhanh chóng và thống nhất về mặt dữ liệu, tạo tiền đề cho những cải cách quy trình nghiệp vụ một cách hiệu quả hơn
1.3.4.2 Nhóm nhân tố bên ngoài bao gồm
Điều kiện kinh tế xã hội của đất nước, các cơ chế chính sách về tài chính ngân sách nói chung và cơ chế chính sách về quản lý vốn đầu tư XDCB nói riêng:
Quá trình sử dụng NSNN để đầu tư XDCB nhằm đạt những mục tiêu của từng thời kỳ, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong một thời kỳ nhất định Tuỳ theo mục tiêu cụ thể của chương trình dự án mà nhà nước có những
cơ chế cho phù hợp Do đó cơ chế kiểm soát chi cũng phải sửa đổi theo Mặt khác, tuỳ theo tình hình kinh tế xã hội nhà nước sẽ có những thay đổi về chính sách đối với đầu tư XDCB và kéo theo nó là sự thay đổi về cơ chế kiểm soát chi Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, pháp luật đã trở thành bộ phận không thể thiếu, chúng ta đang đi và hướng tới một Nhà nước pháp quyền, điều đó
Trang 4034
đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật và bảo vệ pháp luật theo đúng nghĩa của nó Bên cạnh đó, ý thức pháp luật của người dân trong xã hội cũng phải được nâng cao Hệ thống pháp luật với vai trò hướng dẫn và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trong xã hội hoạt động trong trật tự, trong khuôn khổ pháp luật, đảm bảo sự công bằng, an toàn và hiệu quả đòi hỏi phải đầy đủ, chuẩn tắc và đồng bộ Từ đó cơ chế kiểm soát chi đầu tư XDCB cũng phải được cải tiến cho phù hợp với pháp luật
Môi trường pháp lý về cơ chế quản lý chi đầu tư XDCB cũng ảnh hưởng rất lớn đến cơ chế kiểm soát chi đầu tư XDCB Việc Nhà nước ban hành các định mức chi một cách khoa học, hợp lý cũng đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả kiểm soát chi đầu tư của cơ quan kiểm soát chi Hay như sự phân định trách nhiệm của các cơ quan trong việc quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB cũng ảnh hưởng không nhỏ đến công táckiểm soát chi Chỉ có trên cơ sở phân định, phân công trách nhiệm rõ ràng của từng cơ quan mới có thể tạo điều kiện cho việc kiểm soát chi được hiệu
quả, không lãng phí công sức, tiền của của nhân dân Nếu cơ chế chính sách phù
hợp, năng động sẽ tạo điều kiện cho công tác kiểm soát chi được thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác Ngược lại, chính sách chồng chéo, chậm đổi mới sẽ cản trở hiệu quả của công tác kiểm soát chi
Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương và chủ đầu tư, ban quản lí dự án Cũng như bất cứ nhiệm vụ nào khác, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan có tác dụng như dầu bôi trơn cho mọi hoạt động của cơ quan Nhà nước KBNN trong quá trình kiểm soát chi cần phối hợp với các cơ quan Tài chính, các ngành liên quan
để đạt hiệu quả kiểm soát cao nhất, ít gây phiền hà cho Chủ đầu tư
1.3.5 Nguyên tắc kiểm soát chi đầu tư XDCB
Trong quá trình kiểm soát chi đầu tư XDCB cần đảm bảo các nguyên tắc:
1.3.5.1 Chi đầu tư XDCB phải trên cơ sở thực hiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư xây dựng, đảm bảo đầy đủ các tài liệu về thiết kế, dự toán
Ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, chỉ khi có quyết định đầu tư được duyệt thì dự
án mới được ghi vào kế hoạch đầu tư XDCB của Nhà nước và được cấp phát vốn