Tương tự như cơ chế quản lý kinh tế, cơ chế quản lý KHCN bao hàm các nội dung sau: Đường lối, chiến lược, mục tiêu phát triển KHCN; Bố trí cơ cấu tổ chức hệ thống KHCN hệ thống tổ chức h
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Không sao chép bất kỳ một công trình hay một luận án của bất cứ tác giả nào khác Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực Các tài liệu trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của luận văn này
Tác giả luận văn
Hoàng Anh Vũ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều
cơ quan, nhiều tổ chức và cá nhân Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới tất cả các tập thể và các cá nhân đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu vừa qua
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Minh Duệ, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Đại học Bách khoa
Hà Nội, Viện sau Đại học, Viện Kinh tế và Quản lý, các thầy cô giáo những người
đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình, Trung tâm Phân tích Kiểm nghiệm và Dịch vụ KHCN Hòa Bình đã cung cấp tư liệu, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ và giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành Luận văn này
Hà Nội, ngày tháng 9 năm 2014
Tác giả luận văn
Hoàng Anh Vũ
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC CÁC BẢNG 8
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ 8
MỞ ĐẦU 9
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài 9
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 10
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4 Phương pháp nghiên cứu 11
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 11
6 Kết cấu của luận văn 11
CHƯƠNG 1 12
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC CHUYỂN ĐỔI TRUNG TÂM PHÂN TÍCH KIỂM NGHIỆM VÀ DỊCH VỤ KHCN HÒA BÌNH 12
1.1 Một số khái niệm cơ bản về KHCN 12
1.2 Cơ sở lý luận của việc chuyển đổi 14
1.2.1 Khái quát những đặc điểm kinh tế xã hội 14
1.2.2 Vai trò của KHCN trong việc đổi mới nền kinh tế ở nước ta 15
1.2.2.1 Mối tương tác giữa KHCN với kinh tế 15
1.2.2.2 Sự thích ứng của việc đổi mới quản lý hoạt động KHCN với đổi mới phát triển kinh tế 20
1.3 Cơ sở thực tiễn của việc chuyển đổi 24
1.3.1 Các phương án đổi mới tổ chức và quản lý các tổ chức KHCN từ trước đến nay của nước ta 24
Trang 41.3.2 Một số kết quả thực tế đã đạt được trong công tác triển khai chuyển đổi mô hình hoạt động của các Tổ chức KH&CN công lập theo Nghị định 115
ở nước ta 37
CHƯƠNG 2 40
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM PHÂN TÍCH KIỂM NGHIỆM VÀ DỊCH VỤ KHCN HÒA BÌNH 40
2.1 Thực trạng tổ chức và hoạt động KH&CN của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình 40
2.1.1 Thực trạng về cơ cấu tổ chức, nhân sự của Sở KH&CN Hòa Bình 40 2.1.2 Kết quả hoạt động theo chức năng nhiệm vụ của Sở KH&CN Hòa Bình những năm gần đây 41
2.1.2.1 Tình hình thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh 41
2.1.2.2 Tình hình thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ 44
2.2 Thực trạng tổ chức và hoạt động của Trung tâm Phân tích Kiểm nghiệm và Dịch vụ KHCN Hòa Bình 51
2.2.1 Giới thiệu chung về Trung tâm PTKN&DVKHCN Hòa Bình 51
2.2.1.1 Sự hình thành và phát triển của Trung tâm 51
2.2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm PTKN&DVKHCN Hòa Bình 52
2.2.2 Thực trạng tổ chức và hoạt động của Trung tâm PTKN&DVKHCN Hòa Bình 55
2.2.2.1 Tình hình tổ chức 55
2.2.2.2 Tình hình tài chính và tài sản 56
2.2.3 Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, sản xuất và dịch vụ trong thời gian 5 năm gần đây 60
2.2.3.1 Kết quả thực hiện nhiệm vụ KHCN do cơ quan nhà nước giao 60
2.2.3.2 Về nội dung hoạt động 60
2.2.3.3 Các nhiệm vụ khác: 61
2.2.3.4 Kết quả hoạt động của Trung tâm 61
2.2.3.5 Đánh giá chung 62
Trang 52.3 Những hạn chế của mô hình hoạt động hiện tại 64
2.4 Lý do phải chuyển đổi mô hình hoạt động 65
CHƯƠNG 3 68
XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN CHUYỂN ĐỔI TRUNG TÂM PHÂN TÍCH KIỂM NGHIỆM & DỊCH VỤ KHCN HÒA BÌNH 68
VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 68
3.1 Phân tích lựa chọn mô hình chuyển đổi phù hợp 68
3.2 Đề xuất phương hướng tổ chức và hoạt động của Trung tâm PTKN & DVKHCN Hòa Bình theo hình thức Tổ chức khoa học và công nghệ tự chủ 69 3.2.1 Dự kiến về cơ cấu tổ chức 69
3.2.1.1 Mô hình tổ chức 69
3.2.1.2 Tên tổ chức 69
3.2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ 69
3.2.1.4 Các bộ phận trực thuộc trung tâm 71
3.2.1.5 Chức năng, nhiệm vụ của lãnh đạo trung tâm và các phòng 71
3.2.1.6 Nhân lực 74
3.2.2 Phương hướng hoạt động 77
3.2.2.1 Hoạt động thường xuyên theo chức năng 77
3.2.2.2 Hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, sản xuất và dịch vụ 77
3.2.2.3 Xác định ngành nghề, lĩnh vực đăng ký kinh doanh 78
3.2.3 Tài chính của Trung tâm sau chuyển đổi 78
3.2.3.1 Các nguồn thu 78
3.2.3.2 Kế hoạch tài chính 79
3.2.4 Tài sản của Trung tâm sau chuyển đổi 79
3.2.5 Tổ chức thực hiện 80
3.3 Nhận xét, đánh giá mô hình của Trung tâm sau chuyển đổi 80
3.4 Giải pháp thực hiện mô hình sau chuyển đổi 87
3.4.1 Giải pháp về nhân lực 88
3.4.2 Giải pháp trong hoạt động dịch vụ 89
Trang 63.4.3 Giải pháp về cơ sở vật chất 91
3.4.4 Giải pháp trong tổ chức quản lý 91
KẾT LUẬN 93
KIẾN NGHỊ 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CNH: Công nghiệp hóa
2 HĐH: Hiện đại hóa
3 Trung tâm PTKN&DVKHCN Hòa Bình: Trung tâm Phân tích Kiểm
nghiệm và Dịch vụ khoa học công nghệ tỉnh Hòa Bình
4 Sở KH&CN Hòa Bình: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình
5 KHCN: Khoa học Công nghệ
6 KH&CN: Khoa học và công nghệ
7 TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
8 NCCB: Nghiên cứu cơ bản
9 NCKH: Nghiên cứu khoa học
10 KTKT: Kinh tế kỹ thuật
11 Nghị định 115/2005/NĐ-CP: Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng
9 năm 2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
tổ chức khoa học và công nghệ công lập
12 Nghị định 96/2010/NĐ-CP: Nghị định số 96/2010/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ sủa đổi nghị định 115/2005/NĐ-CP
13 Nghị định 80/2007/NĐ-CP: Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ về doanh nghiệp khoa học và công nghệ
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả hoạt động về tài chính trong 5 năm 57
Bảng 2.2: Chi tiết kết quả hoạt động sự nghiệp trong 5 năm 57
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp tài sản cố định đến tháng 12/2013 59
Bảng 2.4: Kết quả hoạt động của Trung tâm từ 2008 – 2013 62
Bảng 3.1: Nhu cầu nhân lực 2015-2016 76
Bảng 3.2: Nhu cầu nhân lực 2017-2019 77
Bảng 3.3: Dự kiến thu chi Tài chính của Trung tâm 79
trong 3 năm (2015 - 2017): 79
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ Hình 2.1: Bố trí nhân lực và mối quan hệ công việc 56
Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức, bố trí nhân lực và mối quan hệ công việc: 74
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Trong thời đại ngày nay, những bước tiến kỳ diệu và những thành tựu to lớn của khoa học và công nghệ tác động sâu sắc đến sự phát triển của xã hội loài người Đối với nước ta, khoa học và công nghệ cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao trình độ quản lý của Nhà nước và tiềm lực lãnh đạo của Đảng
Trong thời gian qua, nhiều văn bản quan trọng về định hướng chiến lược và
cơ chế, chính sách phát triển khoa học và công nghệ đã được ban hành: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 20-NQ/TW) về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế (2012); Luật Khoa học và Công nghệ (2013); Nghị quyết số 46-NQ/CP Ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW (2013); Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm giai đoạn
2011 – 2020 (2012); và nhiều chính sách cụ thể khác về xây dựng tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ
Mục tiêu của Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 là:“Phát triển đồng bộ khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ; đưa khoa học công nghệ thực sự trở thành động lực then chốt, đáp ứng các yêu cầu cơ bản của một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Đến năm 2020, khoa học và công nghệ Việt Nam có một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến, hiện đại của khu vực ASIAN và thế giới” với Định hướng nhiệm vụ phát triển khoa học công nghệ về cơ chế hoạt động khoa học công nghệ theo hướng“…Chuyển các tổ chức khoa học và công nghệ công lập sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật Thực hiện nghiên cứu ứng dụng khoa học theo đặt hàng của Chính phủ, các Bộ, chính quyền các địa phương, của các doanh nghiệp và tổ chức khác…”
Trang 10Trong đó văn bản quan trọng nhất của Nhà nước thể hiện định hướng cải cách cơ chế hoạt động đối với các Tổ chức khoa học và công nghệ công lập là Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập, sau này là Nghị định số 96/2010/NĐ-
CP ngày 20/9/2010 sửa đổi một số điều của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP Sự ra đời của Nghị định 115 có ý nghĩa rất lớn đối với ngành khoa học và công nghệ nước
ta Với những đổi mới mang tính đột phá, dư luận đã coi Nghị định này là “khoán 10” trong KHCN
Tuy nhiên quá trình triển khai đưa Nghị định vào đời sống thực tế vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn bất cập, tốc độ chuyển đổi của các Tổ chức còn chậm chưa đáp ứng được kỳ vọng ban đầu, để đấy nhanh tiến độ thực hiện cần có lỗ lực lớn từ mọi cấp mọi nghành đặc biệt là lỗ lực từ những người làm công tác KH&CN Công tác chuyển đổi mô hình hoạt động của các tổ chức KHCN công lập của tỉnh Hòa Bình thành Tổ chức khoa học công nghệ tự chủ tự trang trải kinh phí (theo quy định của Nghị định 115) cũng không nằm ngoài tình hình chung trên Do đó việc
nghiên cứu thực hiện Đề tài “Nghiên cứu chuyển đổi mô hình hoạt động của Trung tâm Phân tích, Kiểm nghiệm và Dịch vụ khoa học công nghệ theo hình thức Tổ chức khoa học công nghệ tự chủ tỉnh Hòa Bình” là việc làm rất cần thiết và mang tính
thời sự cao
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu đề xuất mô hình chuyển đổi Trung tâm PTKN&DVKHCN Hòa Bình từ tổ chức Khoa học Công nghệ sự nghiệp có thu thành tổ chức Khoa học Công nghệ tự chủ tự trang trải kinh phí (theo quy định của Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn của việc chuyển đổi Trung tâm PTKN&DVKHCN Hòa Bình, đánh giá thực trạng hoạt động của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình, thực trạng hoạt động của Trung tâm PTKN&DVKHCN
Trang 11Hòa Bình Trên cơ sở đó đưa ra phương án chuyển đổi Trung tâm từ tổ chức Khoa học Công nghệ sự nghiệp có thu thành tổ chức Khoa học Công nghệ tự chủ tự trang trải kinh phí (theo quy định của Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ)
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát số liệu, phân tích tổng hợp, tham khảo ý kiến chuyên gia, biện chứng, logic lịch sử
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn nghiên cứu có giá trị ứng dụng để hoàn thiện cơ sở lý luận, đề xuất những định hướng, giải pháp chuyển đổi Trung tâm PTKN&DVKHCN Hòa Bình qua đó tháo gỡ những khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện chuyển đổi góp phần đẩy nhanh tiến độ chuyển đổi của Trung tâm và có thể tham khảo cho việc chuyển đổi những tổ chức KHCN tương tự
6 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn gồm:
Mở đầu
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc chuyển đổi Trung tâm Phân tích Kiểm nghiệm và Dịch vụ khoa học công nghệ tỉnh Hòa Bình
Chương 2 Thực trạng tổ chức và hoạt động của Trung tâm Phân tích Kiểm
nghiệm và Dịch vụ khoa học công nghệ tỉnh Hòa Bình
Chương 3 Xây dựng mô hình tổ chức của Trung tâm PTKN&Dịch vụ
KHCN tỉnh Hòa Bình theo hình thức Tổ chức KHCN tự chủ và Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm
Kết luận
Kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC CHUYỂN ĐỔI TRUNG TÂM
PHÂN TÍCH KIỂM NGHIỆM VÀ DỊCH VỤ KHCN HÒA BÌNH
1.1 Một số khái niệm cơ bản về KHCN
Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa KHCN đóng góp vai trò quan trọng trong sự nghiệp đổi mới phát triển kinh
tế ở nước ta Để thấy rõ vai trò đó của KHCN cần làm rõ một số khái niệm cơ bản
về KHCN
Hiện nay, một số khái niệm cơ bản về KHCN ở các nước khác nhau được hiểu với các góc độ khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận
Ở đây tác giả chỉ trình bày các khái niệm đó theo quan điểm của UNESCO
Khoa học (Science): Theo Tổ chức văn hóa – Khoa học – Giáo dục của Liên
hợp quốc (UNESCO), khoa học là một hệ thống các tri thức của nhân loại về các phạm trù, quy luật vận động và phát triển khách quan của thế giới tự nhiên, xã hội
và bản thân con người; là một loại hình hoạt động xã hội đặc biệt nhằm đạt tới những hiểu biết mới và vận dụng những hiểu biết đó vào sản xuất và đời sống trong những điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội nhất định Tri thức khoa học biểu hiện chủ yếu dưới hình thức các phạm trù, định luật và quy luật Đối tượng nhận thức của khoa học rất rộng lớn, bao gồm mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy
Công nghệ (Technology): là tổng thể các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và
phương pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo hoặc dịch vụ công nghiệp, dịch vụ quản lý
Trong những ngày đầu CNH, người ta sử dụng phổ biến thuật ngữ kỹ thuật (Technique) với ý nghĩa là các giải pháp thực hiện một loại công việc hay công cụ được sử dụng trong sản xuất làm tăng hiệu quả sản xuất Tiếp đó xuất hiện thuật ngữ công nghệ sản xuất, lúc đầu nó được hiểu là quy trình kỹ thuật dùng trong dây chuyền sản xuất về sau khái niệm này được hiểu theo nghĩa rộng hơn và ổn định như ngày nay Công nghệ là kết quả của quá trình áp dụng các thành tựu của khoa
Trang 13học vào sản xuất Công nghệ là sản phẩm của lao động trí tuệ sáng tạo của con người trong lĩnh vực sản xuất Công nghệ được coi là phương tiện, công cụ để biến đổi thế giới tự nhiên phù hợp với lợi ích của con người; là tác nhân chủ chốt trong quá trình khai thác và chế biến tài nguyên thiên nhiên thành hàng hoá và dịch vụ Nói cách khác, công nghệ gồm hai phần: “phần cứng” và “phần mềm” Phần cứng bao gồm: máy móc, thiết bị, nhà xưởng Phần mềm bao gồm: đội ngũ nhân lực có sức khoẻ, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm sản xuất, ; thông tin về quy trình sản xuất, bản vẽ, thuyết minh, chỉ dẫn kỹ thuật; trình độ tổ chức quản lý, điều hành sản xuất của ban quản lý,
Khái niệm công nghệ được sử dụng rộng rãi vào tất cả các lĩnh vực của cuộc sống con người Công nghệ được dùng không chỉ trong sản xuất vật chất mà còn trong các hoạt động xã hội: Công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ quản lý, công nghệ giáo dục,
Hoạt động khoa học là tất cả các hoạt động có hệ thống, liên quan chặt chẽ đến việc nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức khoa học vào đời sống và sản xuất Nội dung chủ yếu của hoạt động khoa học bao gồm: Hoạt động nghiên cứu KHCN và dịch vụ KHCN
Trong các hoạt động nghiên cứu KHCN được chia ra thành các hoạt động chủ yếu sau đây: hoạt động nghiên cứu cơ bản, hoạt động nghiên cứu ứng dụng, hoạt động nghiên cứu triển khai, hoạt động nghiên cứu công nghệ
Hoạt động nghiên cứu cơ bản là nhằm nghiên cứu những kiến thức mới về các hiện tượng tự nhiên và xã hội, không phụ thuộc vào bất cứ sự quan tâm nào tới việc ứng dụng trong thực tế kinh tế - xã hội
Hoạt động nghiên cứu ứng dụng là nhằm đạt được những kiến thức mang tính thực tiễn, trong những điều kiện cụ thể có tính đặc thù Như vậy, khác với nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng là nghiên cứu mà mang tính ứng dụng đã được đặt ra trước
Hoạt động nghiên cứu triển khai là hoạt động có hệ thống nhằm vận dụng và ứng dụng các kiến thức khoa học hoặc kinh nghiệm thực tiễn để sản xuất ra những
Trang 14sản phẩm mới (thiết bị, kỹ thuật, vật liệu, các chất tổng hợp, ) để đưa ra các phương pháp tiến hành mới hoặc hoàn thiện những gì đã đưa vào sản xuất bằng các ứng dụng KHCN Hoạt động nghiên cứu triển khai là một trong những bộ phận quan trọng của hoạt động KHCN
Hoạt động nghiên cứu công nghệ là hoạt động nghiên cứu nhằm đạt được những hiểu biết và thực hành để thiết lập nên những quy trình sản xuất dựa trên các nguyên lý khoa học trong mọi lĩnh vực kỹ thuật
1.2 Cơ sở lý luận của việc chuyển đổi
1.2.1 Khái quát những đặc điểm kinh tế xã hội
Cho tới đầu những năm 80, nền kinh tế nước ta đã vận động theo cơ chế chỉ huy với mô hình chủ yếu là kế hoạch hoá và tập trung hoá cao độ Nền kinh tế phát triển mang nặng tính tự cung tự cấp, các yếu tố sản xuất hàng hoá còn yếu, chưa phát triển, các yếu tố thị trường mới sơ khai, thiếu đồng bộ lại quản lý theo cơ chế
kế hoạch hoá tập trung cứng nhắc nên đã phát sinh sự mất cân đối, lạm phát cao dẫn đến khủng hoảng và sự tăng trưởng kinh tế chậm Những mâu thuẫn nội tại từ nền kinh tế nước ta đòi hỏi phải đổi mới để thoát khỏi khủng hoảng và thúc đẩy các yếu
tố sản xuất hàng hoá phát triển
Nền kinh tế chỉ huy tồn tại ở nước ta đã huy động một bộ phận nguồn lực cho sự phát triển ban đầu, nhưng mô hình này bị khép kín, kém hiệu quả, không phù hợp với xu hướng quốc tế hoá các quan hệ kinh tế của thế giới
Trong giai đoạn phát triển mới, cơ chế chỉ huy ngày càng bộc lộ những mâu thuẫn và bế tắc Đại hội VI đã bắt đầu và đại hội VII đã phát triển những chủ trương đổi mới với việc chuyển nền kinh tế vận động theo cơ chế chỉ huy trước đây sang nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường
Sự hoà nhập trong phân công lao động quốc tế cùng với thành quả của tiến
bộ KHCN của thế giới về công nghệ, về quản lý, về chất lượng và phát triển môi trường cũng yêu cầu phải chuyển nền kinh tế nước ta theo cơ chế thị trường là tất yếu
Những cải cách chủ yếu trong giai đoạn đầu là:
Trang 15Đổi mới một bước quan trọng cơ chế kế hoạch hoá theo hướng thu hẹp tập trung, mở rộng tự chủ kế hoạch và tự chủ về chiến lược sản xuất kinh doanh của các đơn vị cơ sở
Cải cách hệ thống giá cả theo hướng tự chủ về giá của các đơn vị sản xuất kinh doanh, hoà nhập từng bước giá đầu vào và giá đầu ra vào cơ chế thị trường
Cải cách hệ thống tài chính theo hướng tự chủ tài chính của các đơn vị sản xuất kinh doanh, tách dần tài chính Nhà nước với tài chính doanh nghiệp; chế độ thuế thay các khoản thu từ kinh tế quốc doanh; tín dụng hoá vốn đầu tư; những cải cách trong lĩnh vực kế toán thống kê, thu chi ngân sách,
Cải cách hoạt động ngân hàng, đưa ngân hàng vào hoạt động kinh doanh, bước đầu áp dụng cơ chế thị trường trong điều tiết lưu thông tiền tệ
Đổi mới chính sách lao động và tiền lương
Ban hành và thực hiện luật và các văn bản dưới luật về khu vực kinh tế tư nhân, về hợp tác và đầu tư với nước ngoài
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế nước ta theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một nội dung cơ bản về đổi mới của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tuy thời gian chưa dài nhưng các yếu tố cho sự tăng trưởng kinh tế thực tế đang phát triển Thực tiễn đó cũng là cơ sở khoa học chứng minh tất yếu của sự chuyển đổi nền kinh tế nước ta theo cơ chế thị trường là phù hợp với quy luật của xã hội và đạt được mục tiêu của nước ta là chủ nghĩa xã hội, ổn định và tăng trưởng kinh tế là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
1.2.2 Vai trò của KHCN trong việc đổi mới nền kinh tế ở nước ta
1.2.2.1 Mối tương tác giữa KHCN với kinh tế
KHCN không sinh ra như một vật tự nó mà bắt nguồn từ nhu cầu nhận thức
và cải tạo thế giới của xã hội loài người Trong thế giới hiện đại từ nhà kinh doanh muốn giành ưu thế trong cạnh tranh đến các nhà lãnh đạo quốc gia muốn đưa đất nước ra khỏi nghèo nàn lạc hậu đều phải tìm câu trả lời trong những chính sách cụ thể và phát triển các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu KHCN
Trang 16Đồng thời KHCN thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế tạo điều kiện thay đổi chiến lược tái sản xuất từ giản đơn sang phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
Hiện nay ta đang trên đà cải cách toàn diện về mặt kinh tế và xã hội, mà điểm cốt lõi về cải cách kinh tế là chuyển từ một nền kinh tế chỉ huy tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước Đi đôi với cải cách kinh tế là cải cách trong hệ thống chính trị mà đặc biệt điểm quan trọng nhất như trong đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra mục tiêu “Huy động
và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho CNH-HĐH đất nước, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, tạo nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”
Bối cảnh chính trị xã hội đã quy định nội dung của những bước phát triển trong chính sách KHCN, và có thể nói chính sách KHCN cũng đã và đang trải qua những cuộc cải cách với đầy đủ những nét đặc trưng cơ bản công cuộc cải cách kinh
tế và xã hội
Trong nền kinh tế chỉ huy tập trung, do vai trò lãnh đạo của nhà nước chi phối mọi hoạt động kinh tế và xã hội nên mọi hoạt động KHCN cũng được quan niệm là một hoạt động do nhà nước độc quyền chủ trì Nhà nước lập kế hoạch nghiên cứu và áp dụng kết quả nghiên cứu cho toàn xã hội và do vậy ngân sách nhà nước được cấp cho mọi hoạt động KHCN trong xã hội Mặc dù trên hình thức nhà nước lập kế hoạch nghiên cứu, nhưng trong thực tế thì đó cũng là những sáng kiến nghiên cứu của các nhà khoa học công nghệ được đưa lên từ cấp cơ sở, sau đó được
“Nhà nước hoá” thông qua một hệ thống xem xét và phê duyệt theo thang bậc quản
lý hành chính
Cùng với những biến động và khủng hoảng kinh tế xã hội trong các nước có nền kinh tế chỉ huy, hệ thống KHCN cũng ngày càng bộc lộ tính kém hiệu quả và cuối cùng nó đã phải bước vào những công cuộc cải cách cùng với hệ thống kinh tế
xã hội
Trang 17Ở nước ta mạng lưới các tổ chức KHCN có những biến động và cải cách khá tương đồng cả trên nội dung và các bước phát triển
a Sự tác động của KHCN đối với kinh tế thị trường
Nước ta là một nước nông nghiệp với điểm xuất phát thấp về lực lượng sản xuất, về trình độ xã hội hoá lao động và xã hội hoá sản xuất Sự thấp kém này đã kìm hãm quá trình chuyển biến nền kinh tế nặng tính tự cấp tự túc sang kinh tế thị trường Việc phát triển KHCN chính là để thay đổi về chất lực lượng sản xuất và nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất của đất nước nhằm thúc đẩy quá trình chuyển biến nền kinh tế từ chậm phát triển sang phát triển, chuyển nền kinh tế bao cấp kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường Dưới tác động của KHCN làm biến đổi
về chất lực lượng sản xuất theo hướng thực hiện từng bước chiến lược đồng bộ hoá giữa tư liệu sản xuất hiện đại với con người hiện đại, nhằm nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất Đến lượt nó lại tác động làm biến đổi sở hữu và cơ chế kinh tế ở nước
ta từ độc quyền độc tôn sang sở hữu hỗn hợp đa dạng, từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước
Mặt khác, dưới tác động của KHCN theo hướng đã xác định đã làm cho nền kinh tế thị trường ở nước ta từng bước thích nghi với tốc độ nhanh của xu hướng quốc tế hoá các quan hệ kinh tế trên thế giới
Phát triển KHCN đã thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua sự phân công lao động làm thay đổi từng bước cơ cấu ngành, vùng; thay đổi chiến lược kinh doanh, thay đổi sự hình thành cơ cấu giá trị hàng hóa, nhất là trong các ngành công nghiệp mới
b.Sự tác động của kinh tế thị trường đối với sự phát triển KHCN
Nền kinh tế thị trường được xây dựng sẽ có sự tác động tích cực đến sự phát triển KHCN Chính nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải xác định vai trò then chốt thực sự của KHCN và KHCN là động lực quan trọng nhất đối với lực lượng sản xuất ở nước ta
Kinh tế thị trường đã thúc đẩy trình độ phát triển lực lượng sản xuất và xã hội hoá sản xuất được thể hiện ở chỗ:
Trang 18Cơ cấu lao động nhiều trình độ, hình thành lực lượng mũi nhọn gắn với công nghệ mới hiện đại được lựa chọn để đi thẳng vào nguyên tắc của công nghệ
Đối tượng lao động ở trong nước được khai thác ngày càng nhiều và sử dụng nguyên liệu nhân tạo
Từng bước mở rộng phân công lao động và hợp tác sản xuất, lao động trong nước và trên thế giới
Kinh tế thị trường tác động đã làm thay đổi hẳn cơ cấu kinh tế với việc đa dạng sở hữu, thúc đẩy hình thành cơ cấu công - nông - dịch vụ hiện đại gắn với phân công và hợp tác quốc tế sâu rộng, ngành kết cấu hạ tầng sản xuất được ưu tiên đầu tư theo hướng hiện đại và đã từng bước xuất hiện những ngành công nghệ mới, các khu chế xuất, vùng kinh tế đặc biệt và đô thị hoá tập trung
Đặc biệt, dưới sự tác động của kinh tế thị trường đã làm thay đổi trình độ văn minh, góp phần vượt qua văn minh nông nghiệp đi lên trong sự gắn bó với hai nền văn minh công nghệ và văn minh trí tuệ
c Sự phát triển KHCN gắn bó với công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Lịch sử đã khẳng định rằng trong quá trình từ sản xuất nhỏ thủ công lạc hậu lên sản xuất lớn hiện đại, CNH là bước đi tất yếu mà mỗi dân tộc đều phải trải qua Trong thời đại hiện nay, CNH bao hàm trong đó cả HĐH trong tất cả các lĩnh vực, các ngành kinh tế quốc dân
HĐH chính là cách thức dùng sự phát triển hiện đại mà thế giới đã đạt được qua cải tạo và chuyển giao công nghệ cho đất nước Đó là cách thực hiện cách mạng khoa học công nghệ gắn với quá trình phân công lao động quốc tế một cách có hiệu quả
Kinh nghiệm CNH ở nhiều nước trên thế giới cho thấy cái cốt lõi của CNH
là sự đổi mới kỹ thuật (phần cứng) và công nghệ (phần mềm), chuyển từ kỹ thuật và công nghệ lạc hậu, năng suất và hiệu quả kinh tế xã hội thấp lên trình độ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến hiện đại có năng suất và hiệu quả kinh tế - xã hội cao trong các ngành kinh tế quốc dân
Trang 19CNH là bước phát triển tất yếu mà mỗi nước phải trải qua Nó là quá trình thực hiện phương pháp công nghiệp trong các ngành và các lĩnh vực kinh tế quốc dân, là quá trình phát triển kỹ thuật và công nghệ hiện đại trong sản xuất kinh doanh
Như vậy, thực chất CNH là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của xã hội Đó không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghệ trong nền kinh tế mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới căn bản về công nghệ tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh chóng, hiệu quả cao và lâu bền của toàn
bộ nền kinh tế
Trên thế giới cách mạng KHCN diễn ra mạnh mẽ, tác động tích cực, sâu sắc toàn diện đến đời sống kinh tế Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy quá trình công nghiệp hoá ở từng nước và từng nhóm nước có những đặc điểm rất khác nhau Việc nghiên cứu sự đa dạng, tìm ra những nét chung nhất mang tính quy luật và những nét đặc thù riêng biệt của mỗi nhóm nước, có một ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn một chiến lược CNH tích cực, thích hợp với điều kiện phát triển về trình độ KHCN
cụ thể ở từng nước
Ở nước ta CNH, HĐH nền kinh tế là mục tiêu chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội phấn đấu vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Một trong những nhiệm vụ chủ yếu của Đảng và nhà nước ta là: thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Đây là nhiệm vụ trọng tâm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới Bởi vì CNH, HĐH là con đường thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước xung quanh, giữ được ổn định chính trị, xã hội bảo vệ độc lập chủ quyền và định hướng xã hội chủ nghĩa
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn cho thấy sự nghiệp CNH được thực hiện nhanh hay chậm, có hay không có hiệu quả kinh tế xã hội cao là tuỳ thuộc rất nhiều vào phạm vi nhịp độ, hiệu quả của việc ứng dụng tiến bộ KHCN vào sản xuất và đời sống Việc phát triển sự nghiệp nghiên cứu và ứng dụng KHCN đáp ứng yêu cầu phát triển trước mắt cũng như lâu dài trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân ở nước ta là một đòi hỏi khách quan và là
Trang 20một yếu tố rất cơ bản đảm bảo sự tiến bộ về kinh tế và xã hội vì: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
1.2.2.2 Sự thích ứng của việc đổi mới quản lý hoạt động KHCN với đổi mới phát triển kinh tế
a Quản lý và cơ chế quản lý
Quản lý là một yếu tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triển của xã hội loài người, là hoạt động có ý nghĩa quan trọng nhất trong các hoạt động của con người Quản lý có nghĩa là hiệu quả, bởi vì con người không chỉ cần và biết sản xuất ra sản phẩm gì, mà điều quan trọng hơn là phải biết sản xuất ra sản phẩm
đó với giá nào và ai sẽ là người tiêu thụ
Hoạt động KHCN là lao động xã hội đặc biệt, được tiến hành trên quy mô khá lớn, có mối quan hệ hữu cơ với lao động sản xuất và đời sống xã hội Cơ chế quản lý KHCN phải phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế trong từng giai đoạn phát triển kinh tế quốc dân Cơ chế quản lý kinh tế phải mở đường cho hoạt động KHCN, phát huy được tác dụng tích cực của mình đối với phát triển kinh tế và tạo được môi trường, điều kiện để KHCN phát huy được vai trò động lực thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội
Cơ chế quản lý kinh tế bao gồm các nội dung chủ yếu sau: Xác định đường lối, chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và xác định phương hướng phát triển nền kinh tế quốc dân; Tổ chức nền kinh tế - xã hội (cơ cấu tổ chức, bộ máy, cán bộ thông tin); Xác định phương thức trao đổi giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa cung và cầu; Sử dụng các đòn bẩy kinh tế và giải quyết đúng vấn đề phân chia lợi ích kinh tế; Hạch toán, đánh giá hiệu quả; Chính sách, biện pháp quản lý cụ thể
Cũng như cơ chế quản lý chung, cơ chế quản lý KHCN của Nhà nước là phương thức điều hành hệ thống KHCN quốc gia phù hợp với quy luật khách quan của tiến trình phát triển KHCN của cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại, phù hợp với đặc điểm của hoạt động KHCN, với chính sách kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế, được thể hiện thành thể chế, luật lệ quy định, ràng buộc đối với các đơn vị, cá nhân tiến hành các hoạt động KHCN nhằm đạt được mục tiêu, chiến lược phát triển
Trang 21KHCN đặt ra một cách tốt nhất trong môi trường trong và ngoài nước đầy các biến động
Tương tự như cơ chế quản lý kinh tế, cơ chế quản lý KHCN bao hàm các nội dung sau: Đường lối, chiến lược, mục tiêu phát triển KHCN; Bố trí cơ cấu tổ chức
hệ thống KHCN (hệ thống tổ chức hoạt động và quản lý KHCN) bao gồm việc bố trí mạng lưới các cơ quan, các đơn vị KHCN trong cả nước theo hướng tiếp cận thị trường, theo các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, lợi ích của mỗi đơn vị, cơ quan, nhằm thực hiện đường lối, chiến lược, mục tiêu phát triển KHCN; Xác định phương thức trao đổi giữa đầu vào và đầu ra của các cơ quan, đơn vị hoạt động KHCN trong môi trường kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo hướng gắn KHCN với sản xuất với môi trường kinh tế - xã hội; Chính sách KHCN (hạch toán đối với KHCN, sở hữu công nghiệp, thương mại hóa KHCN, các biện pháp về khen thưởng,
kỷ luật, các công cụ quản lý khác, ); Khai thác và sử dụng thời cơ KHCN; Lựa chọn phương pháp và nghệ thuật quản lý KHCN
b.Tính tất yếu phải sắp xếp lại tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý KHCN Trong thời đại hiện nay không một lĩnh vực nào không chịu sự tác động mạnh mẽ của KHCN Cuộc cách mạng KHCN hiện đại đang làm chuyển biến sâu sắc nền kinh tế thế giới, các quan hệ quốc tế và tất cả các hoạt động của xã hội loài người Nước nào cũng phải dựa vào KHCN để phát triển kinh tế xã hội và củng cố
vị trí của mình trong cuộc cạnh tranh kinh tế và đấu tranh chính trị Cuộc cạnh tranh công nghệ đang trở thành một nội dung chủ yếu trong quan hệ quốc tế ngày nay và đây cũng là thách thức đối với các nước đang phát triển Tuy nhiên, các nước đang phát triển nếu có chiến lược đúng về phát triển KHCN, biết phát huy lợi thế của các nước đi sau, nhanh chóng nâng cao năng lực KHCN của mình, mạnh dạn đi thẳng vào những công nghệ mới có chọn lựa thì cũng có thể phát triển nhanh chóng
Nước ta cũng đang đứng trước những thách thức do các nhân tố khách quan
và chủ quan Điều đáng quan tâm nhất là do đang bị tụt hậu so với nhiều nước về KHCN Trong những thập kỷ qua ta bị tụt lại sau cuộc cách mạng KHCN hiện đại,
Trang 22trình độ công nghệ thấp kém, năng suất, chất lượng, hiệu quả của sản xuất quá thấp, tốc độ phát triển của nền kinh tế quá chậm, các tiềm năng to lớn về con người và điều kiện tự nhiên chưa được phát huy Vì vậy yêu cầu phát triển kinh tế xã hội đối với KHCN rất đa dạng và toàn diện Hệ thống nghiên cứu triển khai gồm các Trung tâm , trung tâm và các trường đại học bước đầu đã phát huy vai trò động lực phát triển kinh tế xã hội do trực tiếp đóng góp vào việc nâng cao trình độ công nghệ sản xuất, chuyển giao công nghệ, ứng dụng công nghệ tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong một số lĩnh vực và địa phương tuy nhiên vẫn còn những tồn tại như mới tập trung vào một số vấn đề trước mắt mà chưa định hướng giải quyết những vấn đề KHCN có tính chiến lược chuẩn bị xây dựng công nghệ đặc thù và truyền thống để khai thác các nguồn tài nguyên, lao động, cơ sở vật chất
kỹ thuật
Với mạng lưới nghiên cứu triển khai phân tán, chồng chéo, với cơ sở vật chất
kỹ thuật thô sơ và lạc hậu, với đội ngũ cán bộ thiếu đồng bộ, thiếu cán bộ đầu đàn giỏi có năng lực tập hợp lực lượng thành tập thể khoa học mạnh, với đầu tư chi phí cho hoạt động KHCN nhỏ bé và với sự khan hiếm thông tin và hạn chế hợp tác cộng với điều kiện sinh hoạt và làm việc như hiện nay thì nền KHCN của ta không thể nào đủ sức là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội
Cơ chế quản lý các hoạt động nghiên cứu triển khai KHCN đã được điều chỉnh bổ sung một số quy định để gắn trực tiếp hơn KHCN với thực tiến sản xuất và tạo khả năng cho các thành phần kinh tế cùng tham gia vào các hoạt động KHCN theo nhu cầu tất yếu của phát triển Song có thể nói đến thời điểm này, về cơ bản lực lượng tham gia các hoạt động KHCN vẫn chỉ thuộc về các cơ quan KHCN của nhà nước với cách thức tổ chức quản lý phần lớn vẫn theo kiểu hành chính như thời
kế hoạch hoá tập trung Như vậy trong quản lý nghiên cứu triển khai các hoạt động KHCN chưa có những đổi mới cơ bản để thích ứng với yêu cầu của hoạt động theo
cơ chế thị trường với nhiều thành phần tham gia, đã quá chậm trễ so với tiến trình đổi mới quản lý phát triển kinh tế Tình hình đó tất yếu làm hạn chế vai trò tác động
Trang 23tích cực của KHCN đối với phát triển kinh tế xã hội và cũng chính là lạm hạn chế
sự phát triển của chính bản thân KHCN
Để KHCN thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế xã hội và nghiên cứu triển khai đi vào thực tiễn sản xuất Nhà nước phải có những biện pháp quản lý hữu hiệu nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động KHCN của đội ngũ cán bộ KHCN - một trong những tiềm năng quý của đất nước Vì vậy, việc đổi mới quản lý nhà nước về nghiên cứu triển khai các hoạt động KHCN là một đòi hỏi tất yếu của đổi mới kinh tế ở nước ta Việc đổi mới quản lý nhà nước đối với nghiên cứu triển khai các hoạt động KHCN ở nước ta hiện nay không chỉ là đòi hỏi tất yếu của đổi mới kinh tế nói chung, đổi mới quản lý nhà nước nói riêng mà còn là đòi hỏi bức thiết của chính sự phát triển KHCN trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Lý luận và kinh nghiệm nhiều nước cho thấy việc đổi mới quản lý đối với nghiên cứu triển khai các hoạt động KHCN cần được thực hiện qua các khâu: xây dựng chiến lược, định hướng phát triển, tổ chức thực hiện chiến lược và định hướng phát triển, phối hợp chặt chẽ các hoạt động trong quá trình thực hiện; kiểm tra kết quả thực hiện và điều chỉnh quá trình thực hiện Để thực hiện quá trình này, việc quản lý nhà nước đối với nghiên cứu triển khai các hoạt động KHCN được thông qua việc thực hiện các chức năng chủ yếu sau:
Nhà nước phải xây dựng chiến lược phát triển KHCN, xây dựng các chương trình mục tiêu, các kế hoạch dài hạn 5 năm (trên cơ sở chiến lược và kế hoạch chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước) và các bước đi thích hợp cho từng thời
kỳ Đồng thời, xác định mô hình tổ chức hoạt động thích hợp để thực hiện chiến lược, kế hoạch và các chương trình mục tiêu đã đề ra
Nhà nước ban hành và hướng dẫn chỉ đạo thực hiện cơ chế chính sách đối với hoạt động KHCN như luật pháp, chế độ quản lý tài chính, các tiêu chuẩn định mức kỹ thuật, các chính sách về quan hệ quốc tế, chính sách cán bộ nghiên cứu khoa học
Tạo môi trường thuận lợi về kinh tế cho hoạt động KHCN, khuyến khích mở rộng liên doanh liên kết để nghiên cứu triển khai có hiệu quả
Trang 24Thực hiện chế độ kiểm tra, kiểm soát của nhà nước đối với các hoạt động KHCN và nghiên cứu triển khai
Để thực hiện được những chức năng đó cần sử dụng các công cụ chủ yếu như kế hoạch, chính sách kinh tế xã hội và các công cụ khác cùng với việc xây dựng được một hệ thống tổ chức quản lý có hiệu lực hiệu quả
Như vậy, khi cơ chế quản lý kinh tế thay đổi, với chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và mở cửa hội nhập với thế giới, hàng loạt vấn
đề mới nảy sinh, vượt ra khỏi khuôn khổ giải quyết của mô hình tổ chức và cơ chế quản lý cũ Cùng với tiến trình cải cách nền hành chính quốc gia, xây dựng nhà nước pháp quyền, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước vấn đề sắp xếp lại các tổ chức KHCN và đổi mới cơ chế quản lý hoạt động cho phù hợp với tình hình mới cũng là điều tất yếu Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần tạo điều kiện xã hội hóa hoạt động KHCN, đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư, đồng thời cũng đòi hỏi sự nhạy bén, năng động của cán bộ khoa học cũng như của các tổ chức KHCN trước yêu cầu rất đa dạng, thiết thực, kịp thời và kịp thời trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của thị trường trong cũng như ngoài nước Kinh tế hàng hóa phát triển, nhu cầu đổi mới công nghệ càng cao, sản xuất càng cần đến các nhà khoa học và các tổ chức KHCN Vì vậy tiến trình sắp xếp lại tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KHCN cho phù hợp với yêu cầu của sản xuất và đời sống càng trở nên bức xúc
1.3 Cơ sở thực tiễn của việc chuyển đổi
1.3.1 Các phương án đổi mới tổ chức và quản lý các tổ chức KHCN từ trước đến nay của nước ta
a Phương án theo Quyết định 782/TTg
Thực chất Quyết định 782/TTg ngày 24/10/1996 của Thủ tướng Chính phủ
về việc sắp xếp các cơ quan nghiên cứu và phát triển khoa học và công nghệ là nhằm triển khai cụ thể phần Quyết định 324-CT nêu trên: “ Hình thành một số cơ quan khoa học và công nghệ mạnh, có ý nghĩa toàn quốc, đặt tại một số bộ” và
“chuyển những tổ chức khoa học và công nghệ chuyên nghiên cứu những vấn đề
Trang 25gắn liền với những sản phẩm cụ thể vào các doanh nghiệp hoặc chuyển thành các liên hiệp khoa học - sản xuất”
Việc chuyển các tổ chức nghiên cứu và phát triển vào doanh nghiệp và cho phép Viện, Trung tâm tổ chức sản xuất kinh doanh là vấn đề còn để ngỏ và nó đặc biệt nổi cộm khi ban hành Quyết định 782/TTg
Phương án 782/TTg, bằng việc chuyển các Viện, Trung tâm về doanh nghiệp phần nào đã khắc phục sự thiếu gắn bó giữa nghiên cứu và sản xuất, nghiên cứu và đào tạo, ít nhất là về mặt hình thức Số lượng các tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc các doanh nghiệp tính đến tháng 12/1999 đã có 66, mặc dù chủ yếu bằng các quyết định hành chính chứ không phải do nhu cầu thực của tổ chức nghiên cứu
và phát triển hay doanh nghiệp
Phương án 782/TTg thể hiện thái độ dứt khoát của Nhà nước là từng bước xoá bỏ bao cấp Đây là việc không có ở bất kỳ phương án nào trước đó Kinh nghiệm của Bộ cơ khí và luyện kim trước đây (năm 1985 - nay là Bộ công nghiệp) khi quyết định tất cả các tổ chức nghiên cứu và phát triển trực thuộc phải tự hạch toán kinh tế từ 01/01/1985 là bài học tốt cho Quyết định này Có thể cơ chế “hạch toán kinh tế” đã một thời làm các Trung tâm của Bộ cơ khí và luyện kim khó khăn, nhưng nếu không có cuộc tập dượt ấy thì thật khó hình dung sẽ có Viện máy và công cụ công nghiệp, Viện mỏ và luyện kim, Trung tâm điện tử - tin học và tự động hoá hôm nay với tư cách là những điển hình tiên tiến - điểm trội của hệ thống tổ chức nghiên cứu và phát triển nước ta
Tuy nhiên, nhiều Viện thuộc diện chuyển đổi theo phương án 782/TTg đã phản ứng quyết liệt Nguyên nhân có lẽ là phạm vi hoạt động của Viện, Trung tâm
từ trước tới nay rất rộng mà nhu cầu sử dụng của tổng công ty lại bó hẹp, khả năng quản lý khoa học của tổng công ty không có, nguồn lực cung cấp cho việc thực hiện rất hạn chế
Phương án 782-TTg, trên thực tế vẫn lấy ghép nối làm công cụ sắp xếp, thậm chí ngay cả đối với các Viện Trung tâm ban đầu trong danh sách các Viện của Nhà
Trang 26nước Sắp xếp thể hiện ý chí của Nhà nước, song ý chí đó phải được bảo đảm bằng
hệ thống các công cụ chính sách và bước đi cụ thể trên thực tế
Hệ thống chính sách bảo đảm chuyển đổi theo phương án 782/TTg thì chỉ dừng lại ở chủ trương Trong số 5 công cụ chính yếu bảo đảm chuyển đổi, duy nhất chỉ có Thông tư liên bộ số 395/KCM-TCCBCP ngày 12/4/1997 của Bộ KH,CN&MT và Ban tổ chức - cán bộ Chính phủ hướng dẫn về cơ chế hoạt động và quan hệ của các Viện Trung tâm khoa học và công nghệ trực thuộc tổng công ty nhà nước Bản thân Thông tư này cũng chỉ giải quyết các quan hệ hành chính - tổ chức, còn các quan hệ kinh tế - tài chính thì vẫn “theo quy định hiện hành của pháp luật”, thậm chí còn quy định mức cắt lương luỹ thoái đối với các Viện Trung tâm chuyển đổi Chính sách, cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào đổi mới công nghệ cho mãi tới ngày 18/9/1999 mới được ban hành bằng Nghị định 119/1999/NĐ-CP
Do không được hậu thuẫn bởi các luận cứ khoa học, do các quy định về chính sách đầu tư, cắt giảm quỹ lương nên phương án 782/TTg đã tạo nên sự bất bình đẳng về cơ hội giữa các Viện Trung tâm thuộc danh sách các Viện, Trung tâm quốc gia và các Viện, Trung tâm phải chuyển đổi
Tóm lại, phương án 782/TTg là phương án chỉ nhằm sắp xếp lại phân hệ các
tổ chức nghiên cứu và phát triển của Nhà nước Với tư cách là chủ sở hữu, Nhà nước đã sử dụng công cụ hành chính - tổ chức kết hợp với công cụ kinh tế - tài chính (đầu tư, lương, chính sách lao động) để sắp xếp, ghép nối, thu gọn đầu mối
Lẽ ra, việc áp dụng công cụ hành chính - tổ chức phải được luận cứ trước đó bằng các tiêu chí về thứ tự ưu tiên, về hiệu quả hoạt động của các tổ chức nghiên cứu và phát triển trong các lĩnh vực ưu tiên đó Lẽ ra, các công cụ chính sách bảo đảm thực hiện phải được hình dung cụ thể và ban hành sớm sau khi công bố phương án
về cơ bản đã không thực hiện được điều này Đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc không thực hiện được phương án 782/TTg như mong muốn Có nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân cơ bản là đã không cụ thể hoá được các chính sách có liên quan tới nhân lực khoa học và công nghệ và đầu tư tài chính, cơ sở vật chất
Trang 27b Phương án theo Quyết định 68/QĐ-TTg
Tiếp đó, ngày 27/3/1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 68/QĐ-TTg về thí điểm thành lập doanh nghiệp nhà nước trong các Trường đại học
và Viện, Trung tâm nghiên cứu, được các Viện, Trung tâm , Trường hồ hởi đón nhận, nhưng sau khi triển khai thực hiện đã bộc lộ những bất cập không thể giải quyết được, ví dụ :
Việc hình thành doanh nghiệp nhà nước trong các đơn vị sự nghiệp không phù hợp với xu thế phát triển theo cơ chế thị trường và đi ngược lại chủ trương chung là đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá đồng thời hạn chế việc thành lập thêm các doanh nghiệp nhà nước;
Doanh nghiệp nhà nước được thành lập trong các Viện, Trung tâm , Trường nhưng tài sản và vốn của doanh nghiệp lại do các Viện, Trung tâm , Trường giao từ tài sản của mình, chứ không được nhà nước cấp nên hạn chế quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp;
Giám đốc doanh nghiệp do cơ quan chủ quản cấp trên của Viện, Trung tâm , Trường bổ nhiệm, vì vậy các Viện, Trung tâm , Trường không được chủ động về nhân sự và không đủ thẩm quyền xử lý khi có sai phạm trong sản xuất kinh doanh;
Không có quy định cụ thể về quyền lợi và nghĩa vụ của cán bộ thuộc biên chế củaViện, Trung tâm, Trường khi tham gia quản lý và làm việc trong doanh nghiệp nên không khuyến khích họ chuyển sang doanh nghiệp;
Vì vậy, sau một thời gian thực hiện với sự ra đời của hơn 20 doanh nghiệp thuộc các Trung tâm , Trường, năm 2001 chủ trương này đã phải tạm dừng thực hiện Hiện nay các doanh nghiệp đó vẫn tồn tại nhưng hầu hết đều không phát triển được và hình thức hoạt động hầu như theo mô hình các công ty trách nhiệm hữu hạn
c Luật KH&CN số 21/2000/QH10, nghị định 115/2005/NĐ-CP, nghị định 80/2007/NĐ-CP
Kế thừa kết quả của các phương án đã thực hiện Luật KH&CN được ban hành tháng 6/2000 và có hiệu lực từ 01/01/2001 làm rõ hơn, bổ sung thêm cho đầy
đủ hơn nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hơn quá trình xã hội hoá hoạt động KH&CN Với
Trang 28việc ban hành Luật , các quy định về biện pháp xã hội hoá hoạt động KH&CN đã được nâng cao tầm hiệu lực của mình
Luật khẳng định chủ trương và các biện pháp lớn khuyến khích mọi tổ chức,
cá nhân trong và ngoài nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư phát triển KH&CN ở Việt Nam dưới rất nhiều hình thức
Tổ chức KH&CN của nhà nước hay ngoài nhà nước đều được khẳng định có các quyền sau đây:
Tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc tiến hành hoạt động KH&CN; ký kết hợp đồng KH&CN, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đăng ký tham gia tuyển chọn thực hiện các nhiệm vụ KH&CN
Thành lập tổ chức nghiên cứu và phát triển, tổ chức dịch vụ KH&CN, doanh nghiệp trực thuộc theo quy định của pháp luật
Hợp tác liên doanh, nhận tài trợ của tổ chức, cá nhân; góp vốn bằng tiền, tài sản, giá trị quyền sở hữu trí tuệ để tiến hành hoạt động KH&CN và hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật
Được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; chuyển giao, chuyển nhượng, công bố kết quả hoạt động KH&CN theo quy định của pháp luật
Cá nhân hoạt động KH&CN có các quyền:
Tự mình hoặc hợp tác với các tổ chức, với các cá nhân khác để tiến hành hoạt động KH&CN, ký kết hợp đồng KH&CN, thành lập tổ chức KH&CN trong một số lĩnh vực theo quy định của Chính phủ; đăng ký tham gia tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ KH&CN
Được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, bình đẳng, tự do sáng tạo trong hoạt động KH&CN; chuyển giao, chuyển nhượng, công bố kết quả hoạt động KH&CN theo quy định của pháp luật;
Tham gia tổ chức KH&CN, hội KH&CN; tham gia đào tạo, tư vấn, hội nghị KH&CN; góp vốn bằng tiền, tài sản, giá trị quyền sở hữu trí tuệ vào hoạt động KH&CN, sản xuất, kinh doanh, nhận tài trợ để hoạt động KH&CN theo quy định của pháp luật
Trang 29Như vậy, Luật KH&CN khẳng định quan điểm phải coi việc chăm lo, đầu tư cho KH&CN , phát triển KH&CN, tổ chức triển khai nghiên cứu, ứng dụng kết quả KH&CN không phải là công việc chỉ của riêng Nhà nước, của riêng các cơ quan, tổ chức của Nhà nước; chấm dứt tình trạng nhà nước bao cấp tràn lan, phủ nhận vai trò chủ động và tích cực của các tổ chức, cá nhân, đặc biệt vai trò của các doanh nghiệp trong việc phát triển KH&CN
Nghị định số 115/2005/NĐ-CP quy định đối tượng điều chỉnh là các tổ chức nghiên cứu và phát triển, các tổ chức dịch vụ KH&CN do cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, tức là các tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ, các tổ chức dịch vụ KH&CN (bao gồm cả các tổ chức trực thuộc các trường đại học công lập) do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng các bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập
Nghị định 115 quy định có 2 loại hình tổ chức KH&CN có thể chuyển đổi hoạt động (điều 4) :
Thứ nhất là, tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí hoạt động (gọi tắt là tổ chức chuyển đổi), được hiểu là đơn vị tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động
thường xuyên, được tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình theo quy định của Nghị định và chịu sự kiểm tra kiểm soát của một cơ quan chủ quản, điều quan trọng là các tổ chức KH&CN khi chuyển đổi vẫn là một tổ chức KH&CN hoạt động theo Luật KH&CN, được hưởng các ưu đãi của một tổ chức KH&CN, đồng thời trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì được hưởng những quyền lợi ưu đãi khác như doanh nghiệp mới thành lập theo quy định của pháp luật
Thứ hai là, doanh nghiệp KH&CN, là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực KH&CN, được tổ chức theo mô hình công ty đa sở hữu, hoạt động theo Luật doanh nghiệp, đồng thời trong lĩnh vực nghiên cứu triển khai được hưởng ưu đãi của một tổ chức KH&CN
Trang 30Có thể nhận thấy Nghị định 115/2005/NĐ-CP có những nội dung hoàn toàn mới, trong đó vấn đề trọng tâm xuyên suốt là trao quyền tự chủ cao cho các tổ chức KH&CN, cho phép các tổ chức khoa học và công nghệ khi có sản xuất kinh doanh thì được hoạt động “như doanh nghiệp” hoặc có thể chuyển thành doanh nghiệp thực sự, nhờ đó huy động tối đa tính năng động, sáng tạo và tiềm năng của cán bộ khoa học và công nghệ và tổ chức khoa học và công nghệ, nâng cao hiệu quả hoạt động và đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào sản xuất kinh doanh
Nghị định 115/2005/NĐ-CP quy định tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các
tổ chức KHCN công lập như một bước đột phá cơ chế mở, mà chưa bao giờ các nhà khoa học có trước đây Nghị định này rất có lợi cho những đơn vị biết tận dụng điểm mạnh để bứt phá Mặc khác, khi đơn vị NCKH trở thành doanh nghiệp phải ứng dụng những thành tựu NCKH của mình để tạo thu nhập cho đơn vị Điều này, giúp các nhà khoa học không còn tư tưởng ỷ lại hay trông chờ
Ngày 19/5/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN) đánh dấu một bước trưởng thành trong hoạt động KH-CN Đây được xem là một chính sách đột phá nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân ứng dụng các kết quả KH&CN vào sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnh thương mại hoá các kết quả nghiên cứu, phát triển thị trường công nghệ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp KHCN sớm ra đời và hoạt động chẳng khác gì doanh nghiệp bình thường hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Nghị định có nêu rõ Sở KH&CN nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp KHCN là cơ quan
có thẩm quyền xem xét, cấp, kiểm tra, xử lý vi phạm và thu hồi giấy chứng nhận doanh nghiệp KHCN Trong thời hạn tối đa 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
hồ sơ hợp lệ, Sở KH&CN có trách nhiệm xem xét, thẩm định để cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KHCN Trường hợp không cấp, phải trả lời bằng văn bản và nêu
rõ lý do Giấy chứng nhận doanh nghiệp KHCN đồng thời là giấy đăng ký hoạt động KH-CN
Trang 31Cùng với thủ tục đơn giản, Nghị định còn có những cơ chế khuyến khích để doanh nghiệp KHCN hoạt động thuận lợi và hiệu quả Đó là doanh nghiệp KHCN được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giao quyền sử dụng hoặc sở hữu các kết quả KH-CN thuộc sở hữu nhà nước Được hưởng chế độ miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, được trừ một số khoản chi phí hợp lý khi tính thu nhập chịu thuế và miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà…
Nghị định 80/2007/NĐ-CP đã hình thành hệ thống cơ sở pháp lý cơ bản để KHCN vươn ra thị trường trong và ngoài nước, thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và phát triển kinh tế của đất nước
d Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi) 2013 số 29/2013/QH13; Nghị định 96/2010/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP (2010)
Năm 2013 được đánh giá là thời điểm có nhiều dấu mốc quan trọng trong hoạt động khoa học và công nghệ Việt Nam Một trong những sự kiện tiêu biểu nhất
là Luật khoa học và công nghệ (sửa đổi) được Quốc hội thông qua ngày 18/06/2013 với nhiều nội dung mang tính đột phá, phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết TW 6 Khóa XI về phát triển KH&CN Luật KH&CN được thông qua đã thực sự mang lại động lực cho giới trí thức, giới nghiên cứu và quản lý khoa học của cả nước, cụ thể hóa tinh thần tập trung cho phát triển KH&CN
Luật khoa học và công nghệ (sửa đổi) gồm 11 chương, 81 điều, được kỳ vọng sẽ trở thành yếu tố quan trọng thúc đẩy KH&CN thực sự phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội
Luật Khoa học và công nghệ lần đầu tiên được ban hành vào năm 2000, sau
13 năm thực hiện đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu và tình hình mới
Về định hướng, Luật Khoa học và Công nghệ sửa đổi thể hiện quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển khoa học công nghệ như một quốc sách hàng đầu, là
Trang 32động lực quan trọng nhất cho việc phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa và của nền kinh tế
Việc sửa đổi Luật Khoa học và Công nghệ còn thực sự cần thiết để tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật, khi mà 7 đạo luật chuyên ngành như Luật tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, Luật chuyển giao công nghệ, Luật sở hữu trí tuệ, Luật công nghệ cao đã được chỉnh sửa, bổ sung
Bên cạnh đó, để có thể tận dụng cơ hội hợp tác quốc tế phát triển khoa học công nghệ trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu và rộng, rất cần có những chính sách quản lý khoa học hợp lý
Trên tinh thần đó, Chính sách đầu tư và cơ chế tài chính, Cơ chế tổ chức và hoạt động khoa học công nghệ, Đào tạo và trọng dụng nguồn nhân lực khoa học công nghệ được coi là những bước thay đổi cơ bản trong Luật KH&CN 2013
Đột phá cho cơ chế tài chính
Những vướng mắc về cơ chế tài chính và đầu tư cho KH&CN là điểm nghẽn chủ yếu trong hoạt động KH&CN Những quy định cụ thể của Luật KH&CN đã thể hiện rõ hơn quan điểm phát triển KH&CN là quốc sách hàng đầu và đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư cho KH&CN
Về chính sách đầu tư, Luật KH&CN khẳng định rõ mức chi 2% ngân sách hàng năm cho KHCN Ngoài ra, những dự án quan trọng đặc biệt của quốc gia sẽ áp dụng cơ chế đầu tư đặc biệt Luật Khoa học và Công nghệ sửa đổi cũng đưa ra các chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân, đặc biệt là doanh nghiệp đầu tư để đổi mới công nghệ trong sản xuất và kinh doanh
Luật KH&CN quy định các doanh nghiệp nhà nước phải thành lập Quỹ phát triển KH&CN Doanh nghiệp ngoài nhà nước được khuyến khích trích thu nhập tính thuế để thành lập Quỹ phát triển KH&CN của mình (nhưng không quy định mức tối đa được trích) hoặc đóng góp vào Quỹ phát triển KH&CN của ngành, địa phương và được hưởng quyền lợi theo quy định của Quỹ Đồng thời, để khắc phục tình trạng không phát huy được hiệu quả sử dụng Quỹ phát triển KH&CN trong các
Trang 33doanh nghiệp, doanh nghiệp được toàn quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng quỹ đúng mục đích thành lập
Theo Luật KH&CN, việc giao kinh phí sẽ áp dụng cơ chế khoán, cơ chế Nhà nước đặt hàng và cơ chế Quỹ để triển khai các nhiệm vụ khoa học công nghệ, tránh được việc phải lo quyết toán hàng năm
Cơ chế tổ chức hoạt động khoa học công nghệ cũng được đổi mới Nhiệm vụ nghiên cứu phải được xác định đúng với nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội Sau khi tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ khoa học, việc đánh giá, nghiệm thu kết quả nghiên cứu phải căn cứ vào hiệu quả ứng dụng
Có thể nói, việc sửa đổi Luật lần này đã khắc phục được 4 nguyên nhân chính của những tồn tại, yếu kém trong hoạt động KH&CN là: Cơ chế kế hoạch hóa trong quản lý KH&CN, từ việc xác định nhiệm vụ, phê duyệt nhiệm vụ đến lập kế hoạch thực hiện hoạt động KH&CN; Cơ chế cấp phát kinh phí cho hoạt động KH&CN cứng nhắc, không phù hợp với hoạt động sáng tạo; Cầu về công nghệ rất thấp Thực tế trước đây, nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp Nhà nước còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự bảo trợ, hỗ trợ của Nhà nước, việc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp rất chậm; Chưa có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động KH&CN, không thu hút được các nguồn lực của xã hội đầu tư cho KH&CN, nhất là từ các doanh nghiệp Nghiên cứu khoa học chưa gắn với sản xuất, còn tình trạng nghiên cứu khoa học vị khoa học Nghiên cứu ứng dụng và tổ chức triển khai các kết quả nghiên cứu khoa học chưa tốt
Sự phân bố nhân lực khoa học công nghệ có sự chênh lệnh lớn giữa các vùng miền, đặc biệt là cán bộ có trình độ cao như tiến sỹ khoa học tại các vùng miền trên
Trang 34cả nước; Đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam bộ chiếm tỷ lệ trên dưới 90% nhưng lại chủ yếu tập trung ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Cơ cấu đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ giữa các ngành, các lĩnh vực chưa hợp lý, chưa
có sự tập trung đối với một số lĩnh vực khoa học, công nghệ ưu tiên là lĩnh vực tạo sản phẩm cho xã hội có chất lượng cao Ví dụ như những công nghệ tạo hạt giống, tạo giống cây trồng vật nuôi trong thủy sản, trong nông nghiệp, hoặc những công nghệ quản lý tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên khai thác biển Các cơ sở đào tạo chuyên ngành về khoa học công nghệ nhỏ lẻ, chưa có quy hoạch đồng bộ, chính sách phát triển nguồn khoa học công nghệ chưa phù hợp với chính sách phát triển kinh tế xã hội, chưa tạo môi trường và động lực thúc đẩy đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ đem hết tài năng cống hiến cho đất nước
Yêu cầu đặt ra trong tình hình này là cần có các biện pháp mạnh mẽ để phát triển và thu hút nhân lực KH&CN, có các chính sách rõ ràng trọng dụng và sử dụng nhà khoa học; tạo điều kiện cho các nhà khoa học làm việc, cống hiến, đặc biệt là đối với nhà khoa học đầu ngành và nhà khoa học chủ trì các nhiệm vụ KH&CN quan trọng của Quốc gia, đặc biệt là các nhà khoa học làm việc tại các tổ chức KH&CN công lập có chức năng nghiên cứu cơ bản
Chính bởi vậy, Luật KH&CN 2013 được sửa đổi trên tinh thần khuyến khích hoạt động đào tạo và trọng dụng nhân lực khoa học công nghệ Luật Khoa học và công nghệ sẽ đãi ngộ nhà khoa học trên 3 phương diện: môi trường nghiên cứu, sáng tạo; đãi ngộ về thu nhập và điều kiện sống; được tôn vinh
Với những nội dung quan trọng được thông qua, Luật Khoa học và công nghệ sẽ cụ thể hóa tư tưởng chỉ đạo nêu trong Nghị quyết số 20-NQ/TW về Ưu tiên tập trung mọi nguồn lực để phát triển khoa học công nghệ; ưu tiên đầu tư trước một bước để phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 là căn cứ pháp lý quan trọng để Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì cùng các Bộ, ngành, địa phương trình Chính phủ các chính sách đổi mới về tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động, phương thức
Trang 35đầu tư và cơ chế tài chính trong KH&CN, chính sách sử dụng và trọng dụng đội ngũ cán bộ KH&CN trong nước và ở nước ngoài Luật KH&CN năm 2013 đã quán triệt
tư tưởng phải có cách tiếp cận mới trong quản lý KH&CN theo phương thức hiện đại, xóa bỏ các rào cản, thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo phù hợp với các đặc thù hoạt động KH&CN nhằm đạt mục tiêu phát triển của ngành, lĩnh vực và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Nghị định 96/2010/NĐ-CP ngày 20/9/2010 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 115/2005/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) công lập và Nghị định số 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công nghệ tiếp tục bổ sung nhiều ưu đãi đối với Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ
Theo Nghị định này, ngoài các hình thức khác về giao đất, thuê đất theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp KH & CN được lựa chọn việc sử dụng đất theo một trong hai hình thức: cho thuê đất và miễn tiền thuê đất hoặc giao đất có thu tiền
sử dụng đất và được miễn tiền sử dụng đất Doanh nghiệp KH & CN được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp như doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ kể từ khi có thu nhập chịu thuế với điều kiện: doanh thu của các sản phẩm, hàng hóa hình thành từ kết quả KH & CN trong năm thứ nhất từ 30% tổng doanh thu trở lên, năm thứ 2 từ 50% tổng doanh thu trở lên và năm thứ 3 trở đi từ 70% tổng doanh thu trở lên của doanh nghiệp KH & CN Doanh nghiệp KH & CN không được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với năm tài chính không đáp ứng được điều kiện về
tỷ lệ doanh thu nêu trên.Ngoài ra, cán bộ, viên chức thuộc tổ chức KH & CN công lập đã được ký hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động không xác định thời hạn sẽ được bảo lưu hệ số lương trong thời gian tối đa 18 tháng kể từ ngày chuyển sang làm việc tại doanh nghiệp KH & CN nếu có mức lương tại doanh nghiệp KH & CN thấp hơn mức lương tại tổ chức KH & CN trước khi chuyển đổi, sau đó được sắp xếp lại theo thang, bảng lương áp dụng đối với doanh nghiệp Thời gian chuyển đổi hình thức hoạt động được Chính phủ gia hạn Theo đó, tổ chức nghiên cứu khoa học
Trang 36và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ KH & CN chưa tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên, chậm nhất đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2013 phải tổ chức và hoạt động theo hai hình thức:
1- Tổ chức KH & CN tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên (tổ chức
tự trang trải kinh phí)
2 - Doanh nghiệp KH & CN hoặc được sát nhập, giải thể Cũng theo Nghị định này, kinh phí do ngân sách nhà nước cấp bao gồm: kinh phí hoạt động thường xuyên (gồm tiền lương, tiền công và tiền chi hoạt động bộ máy); kinh phí thực hiện các nhiệm vụ; vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn đối ứng dự án, kinh phí mua sắm trang thiết bị và sửa chữa lớn tài sản cố định; kinh phí khác (nếu có) Kinh phí hoạt động thường xuyên của các tổ chức KH & CN sẽ do ngân sách nhà nước cấp theo phương thức khoán đến hết ngày 31/12/2013 Tổ chức KH & CN hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách, nghiên cứu xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành, phục vụ quản lý nhà nước phải kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động trước ngày 31/12/2011 để được ngân sách nhà nước tiếp tục bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên theo nhiệm
vụ được giao
Có thể nhận định mạng lưới các tổ chức KHCN ở nước ta là một hệ thống động, phức tạp, bao gồm nhiều thành phần tạo hệ khác nhau, song liên kết với nhau bằng một mục tiêu chung là phục vụ phát triển kinh tế-xã hội Hệ thống kinh tế- xã hội đang chuyển đổi các yếu tố của cơ chế thị trường đang hình thành, xu thế cạnh tranh, điều đó càng thúc ép các doanh nghiệp đổi mới công nghệ và sản phẩm để có thể tồn tại và phát triển Tình hình đó đòi hỏi hệ thống các tổ chức KHCN phải tự hoàn thiện để thích nghi với môi trường mới
Từ trước đến nay Nhà nước ta có rất nhiều các phương án về đổi mới tổ chức
và quản lý các tổ chức KHCN các phương án ngày càng hoàn thiện dần Để KHCN
có thể đi vào tất cả các lĩnh vực sản xuất và đời sống, đóng góp nhiều hơn nữa cho
sự phát triển kinh tế - xã hội, cần có các tổ chức, doanh nghiệp thực hiện việc ứng
Trang 37dụng các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vào sản xuất và đời sống
Các tổ chức KHCN căn cứ vào tình hình hoạt động, khả năng hiện tại mà lựa chọn hình thức hoạt động thích hợp phát huy được năng lực đơn vị mình
1.3.2 Một số kết quả thực tế đã đạt được trong công tác triển khai chuyển đổi mô hình hoạt động của các Tổ chức KH&CN công lập theo Nghị định 115 ở nước ta
Trong định hướng phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định KHCN là quốc sách hàng đầu và là động lực để phát triển Hôm nay, chúng ta đang
ở vào giai đoạn hội nhập, muốn tiến tới một nền kinh tế tri thức không có con đường nào khác ngoài đẩy nhanh và mạnh mẽ sự phát triển của khoa học, kỹ thuật Luật KHCN 2013, đi kèm đó là những văn bản, nghị định ngày một đồng bộ đã và đang tạo ra cho KHCN những bước tiến mạnh mẽ
Chính sách giao quyền tự chủ mạnh mẽ, thông thoáng cho tổ chức KHCN công lập theo tinh thần Nghị định 115/2005/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 96/2010/NĐ-CP) đã bước sang năm thứ 9 Với tính chất đổi mới cộng những đổi thay mang tính đột phá, dư luận đã coi Nghị định này là “khoán 10” trong KHCN
Chính sách chuyển đổi tổ chức KH&CN sang mô hình doanh nghiệp là kết quả của một quá trình dài cải cách cơ chế hoạt động và cơ chế quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp công với mục tiêu là trao quyền tự chủ thật sự cho cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức công việc, sử dụng lao động, tăng cường huy động và quản lý thống nhất các nguồn thu Đồng thời, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn tài chính nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp đảm bảo trang trải kinh phí hoạt động và nâng cao thu nhập của cán bộ, viên chức
Tiếp tục thực hiện chiến lược dài hơi này, gần đây, một trong những nội dung quan trọng thuộc đề án “Tiếp tục đổi mới cơ bản toàn diện và đồng bộ tổ chức,
cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động khoa học và công nghệ cho giai đoạn đến năm 2015”, Bộ KH&CN đưa ra mục tiêu, từ nay đến năm 2015 phải thực hiện dứt điểm
Trang 38cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức KHCN công lập Như vậy, phải khẳng định, với chính sách thúc đẩy tiến trình tự chủ của các tổ chức KHCN và hình thành, phát triển các doanh nghiệp KHCN không chỉ là điều kỳ vọng mà còn là chính sách thiết thực giúp các nhà khoa học tự đứng trên đôi chân của mình bằng cách đưa những kết quả nghiên cứu vào phục vụ nhu cầu thực tiễn của đời sống Và chính sách cũng là cách để đưa nền KHCN nước nhà tiếp cận với những mô hình đổi mới sáng tạo, tăng cường lực lượng chất xám và sự đóng góp của các nhà khoa học để KHCN thực sự là quốc sách hàng đầu như chúng ta mong muốn
Nhà nước đã đặt ra mục tiêu ưu tiên mọi nguồn lực xã hội cho phát triển KHCN và đổi mới cơ chế hoạt động của hệ thống KHCN quốc gia Nghị định 115
và sau này là Nghị định 96 đã đem lại nguồn “sinh khí mới” cho các tổ chức KHCN, góp phần hình thành một đội ngũ các tổ chức khoa học hoạt động hiệu quả, sôi nổi,
là nền tảng cho sự hình thành các doanh nghiệp KHCN
Theo báo cáo của Bộ KHCN, trong 571 tổ chức KHCN công lập của Nhà nước, hiện đã có 249 tổ chức chuyển đổi sang mô hình tự chủ, tự trang trải kinh phí hoạt động Các tổ chức này được tự chủ hoàn toàn trong việc xác định, thực hiện các nhiệm vụ KHCN, ký hợp đồng, liên kết hợp tác thực hiện các nhiệm vụ và dịch
vụ KHCN, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và được sử dụng con dấu cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định
Và thực tế, nhiều tổ chức sau khi chuyển đổi có nguồn kinh phí từ các nhiệm
vụ và dịch vụ KHCN lớn hơn rất nhiều lần so với kinh phí hoạt động thường xuyên
do Nhà nước cấp trước đây Một số tổ chức như Viện Khoa học Vật liệu, Viện Công nghệ Sinh học, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I, Viện Cơ khí Năng lượng mỏ có nguồn thu từ các nhiệm vụ KHCN từ vài chục tới hàng trăm tỷ đồng Ông Nguyễn Đình Hiệp, Vụ trưởng Vụ KHCN, Bộ Công Thương cũng cho biết, sau khi chuyển đổi mô hình hoạt động, doanh thu của phần lớn các viện đều tăng cao Đặc biệt, một số viện như Viện Cơ khí năng lượng, Viện Máy và dụng cụ công nghiệp có doanh thu 500 tỷ đồng/năm Trong đó, tỷ trọng doanh thu từ hoạt động tự
Trang 39chủ chiếm tới 90% tổng doanh thu Theo Viện Dầu khí Việt Nam - một trong số các đơn vị chuyển đổi thành công sang mô hình tự chủ, tự chịu trách nhiệm, sau khi hoạt động theo mô hình mới, số đề tài nghiên cứu và dịch vụ KHCN của Viện đã tăng cả về số lượng và chất lượng, gắn chặt với thực tiễn sản xuất kinh doanh của ngành, được đối tác trong và ngoài nước đánh giá cao Từ năm 2008 đến nay, viện
đã triển khai hàng trăm đề tài, nhiệm vụ KHCN, trong định hướng phát triển đất nước
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn đã nêu, trong chương sau luận văn sẽ trình bày
về thực trạng tổ chức, hoạt động của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình, thực trạng tổ chức, hoạt động của Trung tâm PTKN&DVKHCN Hòa Bình làm cơ
sở xây dựng phương án mô hình chuyển đổi
Trang 40CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM PHÂN
TÍCH KIỂM NGHIỆM VÀ DỊCH VỤ KHCN HÒA BÌNH
2.1 Thực trạng tổ chức và hoạt động KH&CN của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hòa Bình
2.1.1 Thực trạng về cơ cấu tổ chức, nhân sự của Sở KH&CN Hòa Bình
Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân tỉnh, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động khoa học và công nghệ, phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, Kế hoạch - Tài chính KHCN, Tiêu chuẩn đo lường chất lượng sản phẩm, Thông tin thống kê KHCN, Quản lý Công nghệ An toàn bức xạ, Thông báo hỏi đáp về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) và Sở hữu trí tuệ (SHTT), Thanh tra KHCN trên địa bàn tỉnh theo quy định của Pháp luật
* Về cơ cấu tổ chức: Sở KH&CN Hoà Bình gồm 7 phòng và 3 đơn vị trực thuộc, Cụ thể:
1- Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng
2- Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ
3- Trung tâm Phân tích, kiểm nghiệm và dịch vụ KH&CN
* Về hiện trạng nhân sự: Sở KH&CN Hòa Bình hiện có tổng số 63 cán bộ
công chức, viên chức và 09 hợp đồng theo Nghị định 68 của Chính phủ Trình độ