1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh các thể tại chi cục thuế thành phố nam định

105 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với lý do trên, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài: “ Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục Thuế thành phố Nam Địn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh

LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT

QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN VĂN NGHIẾN

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, kết hợp với kinh nghiệm trong quá trình công tác thực tiễn, với sự nỗ lực cố gắng của bản thân

Đạt được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý thầy, cô giáo trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ cho tôi Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo Tiến sỹ Nguyễn Văn Nghiến là người trực tiếp hướng dẫn khoa học và đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến lãnh đạo; cán bộ công chức Cục thuế tỉnh Nam Định; Chi cục Thuế thành phố Nam Định; Cục thống kê tỉnh Nam Định, UBND tỉnh Nam định đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn

Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết Kính mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy, cô giáo; đồng chí và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Người thực hiện

Trần Văn Sơn

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 5

1.1 THUẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG .5 1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế .5

1.1.2 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường .7

1.2 QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 11

1.2.1 Những vấn đề cơ bản về cơ chế quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 11

1.2.2 Khái niệm và đặc điểm về thuế đối với với hộ kinh doanh cá thể 13

1.2.3 Nội dung quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 17

1.3 NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ 20

1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 20

1.3.2 Những bài học kinh nghiệm về hoàn thiện công tác quản lý thuế đối hộ kinh doanh cá thể 26

CHƯƠNG II:THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ Ở CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH 29

2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH 29

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 29

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 29

2.1.3 Khái quát tình hình hộ kinh doanh cá thể ở thành phố Nam Định 30

2.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy chức năng nhiệm vụ Chi cục thuế thành phố Nam Định 31

2.1.5 Tình hình sử dụng cán bộ, công chức ngành thuế 38

2.1.6 Cơ sở vật chất kỹ thuật 39

Trang 4

2.2.7 Tình hình thực hiện dự toán thu ngân sách giai đoạn 2008-2013 40

2.2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ 42

KINH DOANH CÁ THỂ Ở CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH 42

2.2.1 Quy trình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 42

2.2.2 Công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 53

2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ Ở CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH 70

2.3.1 Những thành tựu đạt được và nguyên nhân 70

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 71

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH 76

3.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 76

3.1.1 Định hướng 76

3.1.2 Mục tiêu của Chi cục thuế thành phố Nam Định 77

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TẠI CHI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH 78

3.2.1 Hoàn thiện quy trình về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 79

3.2.2 Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể 82

3.3 KIẾN NGHỊ 90

3.3.1 Đối với Nhà nước 90

3.3.2 Đối với Bộ Tài chính 91

3.3.3 Đối với chính quyền địa phương 92

3.3.4 Đối với cơ quan Thuế 92

3.3.5 Đối với hộ kinh doanh cá thể 93

KẾT LUẬN 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy Chi Cục Thuế thành phố Nam Định 32

Bảng 2.2: Tình hình thu thuế của Chi cục thuế TP Nam Định 34

trong 2 năm gần đây 34

Bảng 2.3 Tình hình sử dụng lao động ở Chi cục thuế Thành phố 39

Nam Định giai đoạn 2008 – 2013 39

Bảng 2.4 Tài sản và cơ sở vật chất giai đoạn 2008-2013 40

Bảng 2.5 Kết quả thực hiện dự toán thu Ngân sách trên địa bàn giai đoạn 2008 – 2013 41

Bảng 2.6 Kết quả thực hiện dự toán thu các sắc thuế của hộ kinh doanh cá thể giai đoạn 2008-2013 42

Bảng 2.7: Bảng phân loại hộ kinh doanh theo phương pháp tính thuế trên địa bàn thành phố Nam Định 59

Bảng 2.8: Doanh thu tính thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể nộp theo phương pháp kê khai trực tiếp 61

Biểu 2.9: Tình hình thực hiện thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể nộp thuế trên địa bàn 66

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Thuế là công cụ của Đảng và Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ kháng chiến cứu quốc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc nên có thể nói lịch sử ngành thuế đồng hành cùng với lịch sử của Cách mạng Việt Nam, cùng với sự hình thành nhà nước Việt nam Dân chủ cộng hoà Từ khi ra đời đến nay, hệ thống thuế luôn là chính sách vĩ

mô để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng trong mỗi thời kỳ lịch sử Trong giai đoạn 1945 - 1954, thực hiện trọng trách động viên nguồn lực để phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Pháp, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế ở những vùng giải phóng, công tác thuế đã bảo đảm cho bộ đội ăn no đánh thắng, đảm bảo cho Nhà nước Việt nam non trẻ ổn định và phát triển, mà đỉnh cao là đã huy động được nguồn lương thực, tiền vốn cần thiết cho chiến dịch Điện Biên phủ giành thắng lợi Trong suốt 68 năm qua, công tác thuế góp phần quan trọng, thực hiện thắng lợi sự nghiệp Cách mạng của Đảng và nhân dân ta

Nhà nước thu thuế cũng là nhằm tạo ra một nguồn lực tập trung ðể chi phát triển cơ sở hạ tầng, chi phúc lợi công cộng, chi văn hóa, giáo dục y tế, xã hội, an ninh, quốc phòng… Hiến pháp nước ta đã ghi rõ: công dân có nghĩa vụ đóng thuế theo qui định pháp luật Tuy nhiên, xuất phát từ đặc điểm của thuế là điều tiết thu nhập của dân cư, nhà nước không hoàn trả trực tiếp, ngang giá cho người nộp thuế,

mà chỉ thông qua việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cộng Nhà nýớc cần phải thu đúng thu đủ để đảm bảo chi cho các mục tiêu trên, còn người nộp thuế thường muốn nộp thuế càng ít càng tốt Do đó khi ý thức tự giác chấp hành pháp luật thuế của người dân chưa cao thì tình trạng trốn thuế, nợ thuế là điều không thể tránh khỏi, dẫn đến công tác thuế luôn gặp những khó khăn nhất định

Vì vậy, công tác thuế không phải chỉ riêng của ngành thuế mà phải có sự tham gia của nhiều tổ chức cá nhân, nhiều cấp, nhiều ngành, nhằm tạo sự đồng thuận, sự phối hợp trong công tác thu ngân sách

Cùng với ngành thuế cả nước, Chi cục thuế thành phố Nam Định được thành lập năm 1990 có nhiệm vụ thu ngân sách trên địa bàn Kết quả thu thuế năm sau cao hơn năm trước Tổ chức quản lý thu thuế từng bước được cải cách, hiện đại hoá; trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ công chức (CBCC) thuế ngày càng được

Trang 8

nâng lên Hiện nay với hơn 3.590 hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động SXKD, là một nhân tố quan trọng trong việc đóng góp nguồn thu cho NSNN ở địa phương Công tác thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tuy có những chuyển biến tích cực, song thực tế vẫn còn bị thất thu cả về diện hộ và doanh thu kinh doanh Nguyên nhân một phần do công tác lãnh đạo, chỉ đạo có những mặt còn hạn chế chưa tìm ra những biện pháp hữu hiệu để chống thất thu; việc điều chỉnh doanh thu còn thiếu kịp thời, nên doanh số ấn định để tính thuế chưa thật sát đúng với doanh thu thực tế kinh doanh Mặt khác ý thức tuân thủ pháp luật về thuế của một số hộ kinh doanh chưa cao, một số hộ kinh doanh ở một số ngành hàng như: vận tải, thuốc tân dược, thương mại đang mượn danh nghĩa là thành viên góp vốn, là cửa hàng, cửa hiệu trực thuộc các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế để trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế, trong khi đó sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan thuế còn thiếu chặt chẽ và đồng bộ, nên việc phát hiện và xử lý vi phạm chưa nghiêm và kịp thời

Với lý do trên, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài: “ Phân tích và đề xuất một

số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục Thuế thành phố Nam Định”, có ý nghĩa thiết thực, mang tính thời sự cấp

bách về mặt lý luận và thực tiễn góp phần thực hiện thành công, công cuộc cải cách quản lý thuế, tăng cường công tác quản lý thuế

2 Tình hình nghiên cứu

Đã có nhiều đề tài nghiên cứu, các bài báo, các bài tham luận khác… về hoàn thiện quản lý thuế, năng lực quản lý nhà nuớc về thuế cũng như cơ chế quản lý thuế Tuy nhiên các đề tài chỉ nghiên cứu một khía cạnh hoặc một thành phần kinh tế riêng biệt và cho đến nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu một cách có hệ thống

và mang tính cập nhật tổng thể về cơ cấu kinh tế của tỉnh Nam Định

Hộ kinh doanh cá thể đóng trên địa bàn thành phố Nam Định nói riêng, cả nước nói chung có những đóng góp nhất định trong nền kinh tế thị trường Nếu như thành phần kinh tế quốc doanh chiếm vai trò chi phối nền kinh tế, thì thành phần kinh tế cá thể nói riêng và thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nói chung, tuy chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhưng càng ngày càng phát triển và chiếm một vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân Khu vực kinh tế này không những chiếm một khối lượng sản phẩn tương đối trong tổng sản phẩm xã hội mà nguồn thu từ thành phần kinh tế này cũng chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong tổng thu Ngân sách Nhà nước Đồng thời còn thu hút một lực lượng lao động lớn mà thành phần kinh tế quốc doanh chưa đảm bảo hết Kinh tế cá thể đã tận dụng được lực lượng dồi dào,

Trang 9

nhất là lao động có tay nghề cao, đồng thời giải quyết được công ăn việc làm cho nhiều lao động dư thừa, tạo thu nhập và từng bước góp phần nâng cao đời sống của các tầng lớp dân cư Phương pháp kinh doanh của hộ cá thể cũng rất phong phú và

đa dạng, thu hút nhiều thành phần xã hội tham gia, do đó trình độ chuyên môn, tay nghề của họ cũng rất đa dạng Vì vậy đề tài mà tác giả chọn mang hướng mới và là những nghiên cứu đầu tiên mang tính tổng quát về kinh tế Nam Định

3 Mục đích nghiên cứu luận văn

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu các vấn đề lý luận và thực tiễn về

cơ chế quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể phân tích vai trò, thực trạng và xu hướng phát triển của mỗi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường; đồng thời chỉ ra những thành tựu và hạn chế trong công tác quản lý kinh doanh hộ cá thể, nguyên nhân của vấn đề này, trên cơ sở đó làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn thành phố Nam Định

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn lấy sự hoàn thiện cơ chế quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại thành phố Nam Định làm đối tượng nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: Từ năm 2008 đến 2013

5 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả đã vận dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để phân tích quy trình quản lý thuế cơ cấu kinh doanh hộ cá thể tại thành phố Nam Định; đồng thời có sự kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp logic để nghiên cứu động thái chuyển dịch các thành phần kinh tế Bên cạnh đó còn sử dụng phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh trên cơ sở số liệu thống kê

cá thể ở Việt Nam hiện nay

Trang 10

Từ các lý luận và thực trạng nghiên cứu, luận văn đã đưa ra sự cần thiết phải đổi mới và yêu cầu khi đổi mới cơ chế quản lý thuế, từ đó đề xuất một số giải pháp

cơ bản và điều kiện để thực hiện các giải pháp đó

Nâng cao vai trò của Nhà nước về cơ chế quản lý thuế đối với hộ kinh doanh

cá thể trong đó tập trung vào nội dung đổi mới, sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh phương pháp trên nền tảng lý luận, thực tiễn cùng với những điều kiện thực hiện cơ bản để đảm bảo các giải pháp được thực thi một cách hiệu quả nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế thuộc mội thành phần kinh tế, tăng thu cho Ngân sách nhà nước, tạo động lực cho phát triển kinh tế

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu như sau:

Chương 1: Cơ sở khoa học và thực tiễn về phân tích và đề suất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể

Chương 2: Thực trạng về công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế thành phố Nam Định

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với

hộ kinh doanh cá thể tại ở Việt Nam

Trang 11

CHƯƠNG I

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ

THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ 1.1 THUẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế

1.1.1.1 Khái niệm

Thuế là khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời gian được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội

Thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước và sự phát triển tồn tại của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ Nhà nước sử dụng thuế như một công cụ để phục

vụ cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình Lịch sử càng phát triển, các hệ thống thuế khoá, các hình thức thuế khoá và pháp luật thuế ngày càng đa dạng và hoàn thiện cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, các khoản đóng góp của người dân cho Nhà nước được xác định và được quy định công khai bằng luật pháp của Nhà nước

Các khoản thuế đóng góp của dân tạo thành quỹ tiền tệ của Nhà nước Cùng với sự hoàn thiện chức năng của Nhà nước, phạm vi sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước ngày càng mở rộng Nó không chỉ đảm bảo chi tiêu để duy trì quyền lực của

bộ máy Nhà nước, mà còn để chi tiêu cho các nhu cầu phúc lợi chung và kinh tế Như vậy gắn liền với Nhà nước, thuế luôn là một vấn đề thời sự nóng bỏng đối với các hoạt động kinh tế xã hội và với mọi tầng lớp dân cư

Có rất nhiều các quan điểm nhìn nhận thuế dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng đứng trên góc độ tài chính, có thể xem xét thuế dưới khái niệm như sau:

Thuế là một trong những biện pháp tài chính bắt buộc nhưng phi hình sự của Nhà nước nhằm động viên một số bộ phận thu nhập từ lao động, từ của cải, từ vốn, từ các chi tiêu hàng hoá và dịch vụ, từ tài sản của các thể nhân và pháp nhân nhằm tập trung vào tay Nhà nước để trang trải các khoản chi phí cho bộ máy nhà nước và các nhu cầu chung của xã hội Các khoản động viên qua thuế được thể chế hoá bằng luật

Trang 12

1.1.1.2 Đặc điểm

Với nhận thức như vậy, có thể thấy rõ sự khác nhau giữa thuế với các hình thức phân phối khác dựa trên những đặc điểm chủ yếu sau đây:

*Đặc điểm thứ nhất : Thuế là một biện pháp tài chính của Nhà nước

mang tính quyền lực, tính cưỡng chế, tính pháp lý cao nhưng sự bắt buộc này là phi hình sự

Quá trình động viên nguồn thu từ thuế của Nhà nước là quá trình chuyển đổi quyền sở hữu một bộ phận thu nhập của các pháp nhân và thể nhân thành quyền sở hữu của Nhà nước Do đó Nhà nước phải dùng quyền lực để thực hiện quyền chuyển đổi Tính quyền lực tạo nên sự bắt buộc là một tất yếu khách quan, nhưng vì các hoạt động thu nhập của thể nhân và pháp nhân không gây cản trở cho xã hội nên tính bắt buộc này là phi hình sự Vì vậy có thể nói việc đánh thuế không mang tính hình phạt

Đặc điểm này được thể chế hoá trong hiến pháp của mọi quốc gia, việc đóng góp thuế cho nhà nước được coi là một trong những nghĩa vụ bắt buộc đối với công dân Mọi công dân làm nghĩa vụ đóng thuế theo những luật thuế được cơ quan quyền lực tối cao quy định và nếu không thi hành sẽ bị cưỡng chế theo những hình thức nhất định

* Đặc điểm thứ hai: Thuế tuy là biện pháp tài chính của Nhà nước mang tính

bắt buộc, song sự bắt buộc đó luôn luôn được xác lập trên nền tảng kinh tế-xã hội của người làm nhiệm vụ đóng thuế, do đó thuế bao giờ cũng chứa đựng các yếu tố kinh tế xã hội

+ Yếu tố kinh tế thể hiện : Hệ thống thuế trước hết phải kể đến thu nhập bình quân đầu người của một Quốc gia, cơ cấu kinh tế, thực tiễn vận động của cơ cấu kinh tế đó, cũng như chính sách, cơ chế quản lý của Nhà nước Cùng với yếu tố đó còn phải kể đến phạm vi, mức độ chi tiêu của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng kinh tế của mình

+ Yếu tố xã hội thể hiện : Hệ thống thuế phải dựa trên phong tục, tập quán của quốc gia, kết cấu giai cấp cũng như đời sống thực tế của các thành viên trong từng giai đoạn lịch sử Mặt khác thuế còn thực hiện phân phối lại thu nhập xã hội đảm bảo công bằng xã hội

Như vậy mức động viên qua thuế trong GDP của một quốc gia phụ thuộc vào nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và các vấn đề kinh tế, xã hội của quốc gia đó

Trang 13

* Đặc điểm thứ ba: Thuế là một khoản đóng góp không mang tính chất hoàn

trả trực tiếp Nghĩa là khoản đóng góp của công dân bằng hình thức thuế không đòi hỏi phải hoàn trả đúng bằng số lượng và khoản thu mà nhà nước thu từ công dân đó như là một khoản vay mượn Nó sẽ được hoàn trả lại cho người nộp thuế thông qua

cơ chế đầu tư của Ngân sách nhà nước cho việc sản xuất và cung cấp hàng hoá công cộng

Đặc điểm này làm nổi rõ sự khác nhau giữa thuế và lệ phí Lệ phí được coi

là một khoản đối giá giữa Nhà nước với công dân, khi công dân thừa hưởng những dịch vụ công cộng do nhà nước cung cấp phải trả một phần thu nhập của mình cho nhà nước Tuy nhiên việc trao đổi này thường không tuân thủ theo hình thức trao đổi ngang giá dựa trên quy luật của thị trường

Tóm lại, Thuế là một biện pháp kinh tế của mọi Nhà nước, nó được thực thi khi hoạt động kinh tế tạo ra thu nhập hoặc sử dụng nguồn thu nhập tạo ra Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường vai trò của Nhà nước ngày càng trở nên quan trọng thì vai trò của thuế cũng chiếm vị trí không thể thiếu được trong công tác quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế

1.1.2 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường

- Thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào NSNN

Nhà nước ban hành pháp luật thuế và ấn định các loại thuế áp dụng đối với các pháp nhân và thể nhân trong xã hội.Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiện nghĩa

vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhà nước Cũng như pháp luật nói chung, Pháp luật thuế có chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội Mục đích chủ yếu và quan trọng nhất của sự điều chỉnh quan hệ pháp luật thu - nộp thuế

là nhằm tạo lập qũy ngân sách Nhà nước Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất phát từ phạm vi hoạt động mà đòi hỏi Nhà nước phải ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật thuế để tập trung nguồn tài chính vào NSNN từ đó mới đáp ứng được nhu cầu chi ngày càng tăng Thuế là công cụ quan trọng nhất để phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

- Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Trang 14

Nhà nước thực hiện quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng nhiều biện pháp nhý: giáo dục chính trị tư tưởng, hành chính, luật pháp và kinh tế; trong đó biện pháp kinh tế là gốc Trong các biện pháp kinh tế, Thuế là công cụ quan trọng và sắc bén nhất

Chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện chức năng việc kiểm

kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh

tế quốc dân

Ngày nay, hướng vào việc xử lý các mục tiêu của kinh tế vĩ mô là nhiệm vụ trọng tâm của mọi chính phủ Sự thành công hay thất bại của việc quản lý Nhà nước, nền kinh tế là giải quyết các mục tiêu của kinh tế vĩ mô Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, người ta thường xác định 4 mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô mà mọi chính phủ phải theo đuổi Bốn mục tiêu đó là:

- Đảm bảo thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý

- Tạo được công ăn việc làm đầy đủ cho người lao động

- Ổn định giá cả, tiền tệ, chống lạm phát

-Thực hiện sự cân bằng cán cân thanh toán quốc tế

- Thuế là công cụ điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối

Các sắc thuế trực thu (đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân) với việc sử dụng thuế suất luỹ tiến là sắc thuế có tác dụng rất lớn trong việc điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội Việc điều hoà thu nhập giữa các tầng lớp dân cư được thực hiện một phần thông qua thuế gián thu, đặc biệt là hình thức thuế tiêu thụ đặc biệt

- Thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo thực hiện tốt quản lý nhà nước đối với mọi mặt của đời sống kinh

tế, xã hội

Sử dụng cơ chế thị trường để giải quyết 3 vấn để cơ bản của nền kinh tế (sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai) là phát kiến vĩ đại của nhân loại, cơ chế thị trường thông qua những yếu tố của nó đã tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, kích thích tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng hiệu quả, thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất, đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung hoá sản xuất

Trang 15

Bên cạnh những ưu điểm đó, cơ chế thị trường có nhược điểm là gây cho xã hội những lãng phí về lao động, tài nguyên, vốn dẫn đến độc quyền thủ tiêu cạnh tranh Với cơ chế phân phối qua thị trường thường khoét sâu hố ngăn cách giữa người giầu và người nghèo, tạo sự bất ổn định về kinh tế xã hội

Từ những ưu, nhược điểm đó cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình kinh tế -xã hội để phát huy những mặt tích cực của cơ chế thị trường

và hạn chế tối đa những nhược điểm của chúng Để quản lý, điều hành vĩ mô nền kinh tế xã hội, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ như: Kế hoặch hoá, pháp luật, các chính sách tài chính tiền tệ vv Trong các công cụ trên thì chính sách tài chính tiền

tệ đóng vai trò quan trọng nhất và Thuế là một công cụ quan trọng trong chính sách tài chính tiền tệ, thuế được nhà nước sử dụng để thực hiện vai trò quản lý vĩ mô kinh tế xã hội

Với 4 mục tiêu trên ta có thể thấy rõ Thuế là một công cụ hết sức quan trọng nhằm biến 4 mục tiêu đó thành hiện thực

- Thuế kích thích sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm

Để thực hiện các mục tiêu này, một trong những công cụ quan trọng mà nhà

nước sử dụng là chính sách thuế Nội dung điều tiết của thuế gồn hai mặt: Kích

thích và hạn chế Nhà nước đã sử dụng chính sách thuế một cách linh hoạt trong

từng thời kỳ nhất định, bằng việc tác động vào cung-cầu nhằm điều chỉnh chu kỳ

kinh doanh- một đặc trưng vốn có của nền kinh tế thị trường

Khi nền kinh tế suy thoái, tức là khi đầu tư ngừng trệ, sản xuất và tiêu dùng đều giảm thì nhà nước dùng thuế để kích thích đầu tư và khuyến khích tiêu dùng

- Bằng việc giảm thuế đánh vào sản xuất, giảm thuế đối với hàng hóa sản xuất ra để khuyến khích tạo lợi nhuận, kích thích việc đầu tư vào sản xuất; giảm thế đánh vào tiêu dùng nhằm khuyến khích tiêu dùng

- Để hạn chế và gây áp lực đối với việc lưu giữ vốn không đưa vào đầu tư,

có thể tăng thuế đánh vào thu nhập về tiền gửi tiết kiệm và thu nhập về tài sản dự trữ, từ đó sẽ khuyến khích việc đưa vốn vào đầu tư, sản xuất kinh doanh

Khi nền kinh tế hưng thịnh, để ngăn chặn nguy cơ một nền kinh tế “nóng” phát triển dẫn đến lạm phát và khủng hoảng thừa thì nhà nước dùng thuế để giảm tốc độ đầu tư ồ ạt và giảm bớt mức tiêu dùng của xã hội Song việc tăng thuế phải được xem xét trong một giới hạn cho phép để đảm bảo vừa tăng nguồn thu cho NSNN vừa điều chỉnh cơ cấu ngành nghề hợp lý

Trang 16

Như vậy, có thể thấy sự tác động của thuế có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, đến việc điều tiết kinh tế thị trường của Nhà nước Thông qua thuế, Nhà nước thực hiện định hướng phát triển sản xuất Chính sách thuế có định hướng phân biệt, có thể góp phần tạo ra sự phát triển cân đối hài hoà giữa các ngành, các khu vực, các thành phần kinh tế, làm giảm bớt chi phí xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong nền kinh tế thị trường xảy ra các chu kỳ kinh doanh đó là chu kỳ dao động lên xuống về mức độ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát, sự ổn định nền kinh tế với tình trạng có đầy đủ công ăn việc làm, lạm phát ở mức thấp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững là hướng phấn đấu nỗ lực của mọi chính phủ nhằm san bằng chu kỳ kinh doanh, đưa giá cả về mức ổn định

- Thuế thực hiện vai trò tái phân phối các nguồn tài chính, góp phần đảm bảo công bằng xã hội

Kinh tế thị trường làm ra tăng sự phân hoá giàu nghèo, sự phân hoá này có những khi bất hợp lý và làm giảm tính hiệu quả kinh tế-xã hội Do vậy, cần phải có những biện pháp phân phối lại của cải xã hội nhằm hạn chế sự phân hoá này, làm lành mạnh xã hội

Nhà nước dùng thuế để điều tiết phần chênh lệch giữa người giàu và người nghèo, thông qua việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá công cộng Thông qua thuế thu nhập, Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ mô trong lĩnh vực tiền lương và thu nhập, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và tiến tới công bằng xã hội Một khía cạnh khác của chính sách thuế nhằm điều chỉnh thu nhập là các khoản thuế đánh vào tiêu dùng: Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế Giá trị gia tăng

Với những hàng hóa dịch vụ thiết yếu việc giảm thuế sẽ có lợi cho người nghèo hơn và sự chênh lệch về thu nhập cũng được giảm bớt Trái lại những mặt hàng xa xỉ, cao cấp việc tăng thuế sẽ góp phần phân phối lại một bộ phận thu nhập của người giàu trong xã hội Tuy nhiên, khi sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh thu nhập, mức thu nên xây dựng hợp lý tránh tình trạng điều tiết quá lớn làm giảm khát vọng làm giàu của nhà kinh doanh và giảm khả năng tăng trưởng kinh tế của đất

nước

- Thuế là công cụ kiềm chế lạm phát

Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu làm cho giá cả hàng hoá tăng lên hoặc do chi phí đầu vào tăng Thuế được sử dụng để điều chỉnh lạm phát, ổn định giá cả thị trường Nếu cung nhỏ hơn cầu thì nhà nước dùng thuế để điều chỉnh bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản xuất, giảm thuế thu nhập để kích thích

Trang 17

đầu tư sản xuất ra nhiều khối lượng sản phẩm nhiều hơn Đồng thời tăng thuế đối với hàng hoá tiêu dùng để giảm bớt cầu Nếu lạm phát do chi phí tăng, gia tăng thất nghiệp, sự trì trệ của tốc độ phát triển kinh tế, giá cả đầu vào tăng, nhà nước dùng thuế hạn chế tăng chi phí bằng cách cắt giảm thuế đánh vào chi phí, kích thích tăng năng suất lao động

- Thuế góp phần bảo hộ sản xuất trong nước và tạo điều kiện hoà nhập nền kinh tế thế giới

Bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nước tránh khỏi sự cạnh tranh khốc kiệt từ bên ngoài được coi là hết sức cần thiết đối với các nước Điều này được thể hiện rõ nét thông qua thuế xuất nhập khẩu Để kích thích sản xuất trong nước phát triển, kích thích sản xuất hàng hoá xuất khẩu, nhà nước đánh thuế rất thấp hoặc không đánh thuế vào hàng xuất khẩu Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá đã qua chế biến, hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô Đánh thuế nhập khẩu thấp đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nước chưa sản xuất được và đánh thuế nhập khẩu cao đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nước đã sản xuất được hoặc hàng hoá tiêu dùng xa

xỉ

Hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế đang phát triển mạnh mẽ ở trong khu vực và trên thế giới Sự ưu đãi, các hiệp định về thuế, tính thông lệ quốc tế của chính sách thuế có thể làm gia tăng sự hoà nhập kinh tế giữa một số quốc gia với khu vực và cộng đồng quốc tế

Trước sự đổi mới mạnh mẽ của cơ chế thị trường đòi hỏi hàng loạt các chính sách kinh tế, tài chính phải thay đổi cho phù hợp, trong đó có chính sách thuế khoá Kỳ họp thứ XI Quốc hội khoá IX nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam

đã thông qua hai luật thuế quan trọng là Luật thuế Giá trị gia tăng và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 01/01/1999 thay thế cho Luật thuế doanh thu, lợi tức Vấn đề đặt ra là ngành thuế cũng như các người sản xuất kinh doanh phải nắm vững và thực hiện nghiêm chỉnh 2 luật thuế này giúp cho Thuế ngày càng

có sức khả thi, hiệu quả hơn trong nền kinh tế thị trường

1.2 QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ

1.2.1 Những vấn đề cơ bản về cơ chế quản lý thuế đối với hộ kinh doanh

cá thể

1.2.1.1.Vị trí, đặc điểm, vai trò của hộ kinh tế cá thể trong nền kinh tế thị trường

Trang 18

* Vị trí của hộ kinh tế cá thể trong nền kinh tế thị trường

Sự tồn tại nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu trong nền kinh tế là một tất yếu khách quan, bởi vì nền kinh tế ở các nước chậm và đang phát triển là nền kinh tế có lực lượng sản xuất kém phát triển với nhiều trình độ khác nhau Tương ứng với các trình độ đó là các hình thức sở hữu, tổ chức sản xuất thích hợp Chính việc thừa nhận sự tồn tại khách quan của nhiều thành phần kinh tế, từ đó khai thác tốt các tiềm năng nhằm phát triển lực lượng sản xuất cho đất nước

Từ cơ sở lý luận và thực trạng của nền kinh tế nước ta, đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ VII đã khẳng định "Thành phần kinh tế chủ yếu trong thời kì quá độ ở nước ta là kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân

và kinh tế tư bản Nhà nước"

Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã thừa nhận thành phần kinh tế cá thể tồn tại độc lập trong nền kinh tế, với chủ trương khuyến khích và tạo điều kiện cho nền kinh tế cá thể phát triển bình đẳng với các thành phần kinh tế khác

* Đặc điểm của hộ kinh tế cá thể trong nền kinh tế thị trường

Đặc điểm nổi bật của thành phần kinh tế cá thể đó là tính sở hữu về tư liệu sản xuất, người chủ kinh doanh tự quyết định từ việc tổ chức sản xuất kinh doanh đến tiêu thụ sản phẩm Do vậy hoạt động sản xuất kinh doanh của thành phần kinh tế này mang tính tự chủ cao, tự tìm kiếm nguồn vốn, lao động, lựa chọn phương án sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Thành phần kinh tế cá thể có phạm vi hoạt động tương đối lớn, phát triển ở hầu hết các ngành nghề, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, không hạn chế bởi việc mở rộng qui mô kinh doanh Nó có thể tồn tại độc lập hay tham gia vào các loại h nh hợp tác xă, các loại h nh doanh nghiệp Các hộ cá thể có số vốn không lớn, qui mô sản xuất chủ yếu là vừa và nhỏ nên rất linh hoạt và nhạy bén trong kinh doanh, cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác

* Vai trò của hộ kinh tế cá thể trong nền kinh tế thị trường

Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước, thành phần kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thì kinh tế cá thể giữ vai trò hết sức quan trọng và chiếm một vị trí nhất định trong nền kinh tế quốc dân

Trong thời gian vừa qua, thành phần kinh tế này đã có những bước phát triển mạnh mẽ Nó đóng vai trò quan trọng trong sản xuất hàng hoá và cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho sản xuất và đời sống Khu vực kinh tế này không chỉ cung cấp một khối lượng lớn sản phẩm cho nhu cầu xã hội, mà còn đem lại nguồn thu không nhỏ cho NSNN, đồng thời sự hoạt động của thành phần kinh tế này đã tạo ra một khối

Trang 19

lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động, giải quyết phần nào tình trạng thất nghiệp và nâng cao đời sống kinh tế xã hội Sự phát triển ngày càng cao của thành phần kinh tế cá thể trong nền kinh tế thị trường đã đẩy nhanh vòng quay vốn trong nền kinh tế và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển

1.2.2 Khái niệm và đặc điểm về thuế đối với với hộ kinh doanh cá thể 1.2.2.1 Khái niệm

Để đi đến khái niệm quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trước hết

ta xem xét khái niệm quản lý thuế

- Quản lý thuế là vấn đề đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và có nhiều cách quan niệm khác nhau Mỗi quan niệm đều nhìn nhận quản lý thuế ở một góc

độ, phạm vi khác nhau và với mục đích, ý nghĩa thực tiễn khác nhau Dù vậy theo chúng tôi, các quan niệm về quản lý thuế đều có các điểm chung là:

Sự tác động của chủ thể quản lý lên người bị quản lý bằng các phương thức, phương tiện nào đó nhằm đạt mục đích nhất định Chủ thể quản lý là Nhà nước (mà trực tiếp là cơ quan thuế các cấp) Người bị quản lý là các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ về thuế Mục đích quản lý là để người nộp thuế và các người có liên quan phải thực hiện tốt nghĩa vụ luật định về thuế của mình Phương tiện quản lý là sử dụng các qui định về đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế với bộ máy, đội ngũ cán

bộ, cơ sở chất cần thiết để quản lý

Quản lý nhà nước về thuế là thuật ngữ dùng để chỉ tổng thể các khâu lập pháp, hành pháp và tư pháp về thuế, còn quản lý thuế gồm những hoạt động có tổ chức trong bộ máy Nhà nước, thuộc lĩnh vực hành pháp và tư pháp về thuế của cơ quan thuế các cấp, với các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do luật định nhằm thực hiện chính sách thuế đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua Theo nghĩa rộng, quản lý thuế là hoạt động nhằm đảm bảo sự thực thi nghiêm chỉnh pháp luật về thuế thông qua sự tự giác của chính người nộp thuế và sự hỗ trợ của cơ quan thuế và các cơ quan Nhà nước có liên quan

- Quản lý thu thuế đối với DN nói chung và hộ kinh doanh cá thể nói riêng là hoạt động quản lý của Nhà nước mà cơ quan thuế là đại diện để tổ chức hướng dẫn, điều hành, giám sát việc thực thi pháp luật về thuế đối với các doanh nghiệp nhằm

động viên nguồn thu vào ngân sách nhà nước

- Đối với CBCC thuế, quản lý thu thuế nói chung và quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể nói riêng bao gồm 3 hoạt động riêng biệt, liên tiếp nhau: xác định người nộp thuế, xác định số thuế phải nộp và thu thuế Chức năng chủ yếu của quản

Trang 20

lý ở đây là kiểm soát sự tuân thủ và áp dụng các khoản phạt theo luật thuế để răn đe những người nộp thuế vi phạm Đồng thời, quản lý thu thuế cũng đảm bảo bên thứ

ba có giao dịch mua bán hay cung cấp dịch vụ với người nộp thuế phải báo cáo đầy

đủ, trung thực các giao dịch kinh tế có phát sinh thuế nộp ngân sách nhà nước theo qui định của luật

- Đối với một cơ quan thuế, quản lý thu thuế hay quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể là một quá trình giống như quá trình sản xuất Trong đó, đầu vào gồm nhân công (cán bộ công chức thuế), tài liệu và các thông tin, còn đầu ra là số thu cho Nhà nước và sự công bằng cho người nộp thuế

- Quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể bao gồm các hoạt động: hoạch định mục tiêu, phân cấp quản lý, xây dựng và ban hành qui trình thủ tục, đề

ra giải pháp tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra, sắp xếp tổ chức bộ máy và nhân sự để thực hiện các khâu công việc

Cùng với việc đổi mới chính sách kinh tế, hệ thống luật pháp, thể chế nói chung, cải cách hệ thống thuế trong thời gian qua đã góp phần quan trọng trong việc đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế, điều chỉnh vĩ mô các hoạt động sản xuất và tiêu dùng cũng như thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội khác của Đảng và Nhà nước Sau gần hai thập kỷ cải cách kinh tế, cơ cấu kinh tế và điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam đã có những chuyển biến quan trọng hướng đến một giai đoạn mới của quá trình phát triển; quan hệ hợp tác quốc tế cũng bước vào giai đoạn hội nhập sâu, rộng hơn vào nền kinh tế thế giới Trong bối cảnh này, hệ thống thuế cần phải tiếp tục cải cách để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn mới

Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, có cơ cấu phù hợp với nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn với hiện đại hóa công tác quản lý thuế nhằm đảm bảo chính sách động viên thu nhập quốc dân, đảm bảo nguồn lực tài chính phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; góp phần thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Hệ thống chính sách thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô có hiệu quả của Nhà nước đối với nền kinh tế, động viên được các nguồn lực, thúc đẩy phát triển nhanh sản xuất, khuyến khích xuất khẩu, đầu tư, đổi mới công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng cao, bền vững, góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân

Trang 21

Hệ thống chính sách thuế đã đảm bảo huy động đầy đủ các nguồn thu vào NSNN, đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên của Nhà nước và dành một phần cho tích luỹ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; đảm bảo tỷ lệ động viên về thuế và phí vào NSNN bình quân hàng năm đạt từ 20-21% GDP

Hệ thống chính sách thuế đã thể hiện và tạo ra những nội dung cụ thể phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời đảm bảo được yêu cầu về bảo hộ

có chọn lọc, có thời hạn, có điều kiện một cách hợp lý, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, bảo đảm lợi ích quốc gia

Hệ thống chính sách thuế đã tạo môi trường pháp lý bình đẳng, công bằng; áp dụng hệ thống thống nhất, không phân biệt giữa các thành phần kinh tế cũng như giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Đẩy mạnh cải cách hệ thống chính sách thuế theo hướng đơn giản, minh bạch, công khai; tách chính sách xã hội ra khỏi các chính sách thuế

Hệ thống chính sách thuế phải tạo điều kiện thúc đẩy cải cách hành chính và hiện đại hóa công tác quản lý thuế Đặc biệt, các qui định về thủ tục hành chính thuế phải đảm bảo phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính của Nhà nước, vừa đáp ứng các yêu cầu quản lý thuế của Nhà nước, vừa không gây phiền hà, tốn kém cho cả tổ chức, cá nhân nộp thuế và cơ quan thuế

Đối với hộ kinh doanh cá thể hệ thống chính sách thuế áp dụng chung các mức thuế suất đối với cùng ngành hàng, nhóm mặt hàng gồm 9 sắc thuế cơ bản là: Thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNCN, thuế tài nguyên, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế TTĐB Trong đó các sắc thuế có tác động nhiều nhất đến các hộ kinh doanh đó là thuế GTGT và thuế TNDN (trước 1999 là thuế Lợi tức), thuế TNCN (thay thế TNDN từ tháng 01/01/2009)

Khi hộ kinh doanh cá thể đi vào hoạt động phải khai thuế thu nhập theo một trong ba cách tính sau đây:

a Đối với cá nhân kinh doanh không thực hiện chế độ kế toán hóa đơn, chứng

từ thì nộp thuế theo phương pháp khoán Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế = Doanh thu ấn định trong kỳ tính thuế X tỷ lệ thu nhập chịu thuế ấn định

b Đối với cá nhân kinh doanh chỉ hạch toán được doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ, không hạch toán, xác định được chi phí thì Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế = Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế X tỷ lệ thu nhập chịu thuế ấn định

Trang 22

c Đối với cá nhân kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn chứng

từ, thì Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế = Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế - Chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập trong kỳ tính thuế + thu nhập chịu thuế khác trong kỳ tính thuế

Đối với tất cả các thành phần kinh tế nhất là hộ kinh doanh phát triển, Nhà nước đã và đang có nhiều biện pháp cải tiến hệ thống và cách thức thu thuế nhằm một mặt thu đủ, thu đúng người cần thu, hợp lý hoá và giảm thuế suất (chẳng hạn thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân), tăng diện thu, nuôi dưỡng nguồn thu về lâu dài, mặt khác đảm bảo việc thu thu thuế minh bạch công khai, dân chủ

Tuy nhiên, do đang trong quá trình xây dựng các định chế phù hợp với nền kinh tế thị trường, việc hạn chế thay đổi thường xuyên các quy định pháp luật về thuế đang đựơc đặt ra, những bước đầu khó tránh khỏi Đóng thuế vừa là nghĩa vụ của công dân, vừa là vinh dự của mỗi người đựơc góp phần vào việc xây dựng và phát triển Ở nhiều nước công nghiệp phát triển, trốn thuế đựơc coi là một tội lớn và thườg bị pháp luật xét xử rất nghiêm, bất kể người trốn thuế là ai, kể cả tổng thống

1.2.2.2 Những đặc điểm chủ yếu quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh

cá thể

Số thu từ hộ kinh doanh cá thể chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tổng thu nội

địa, do vậy quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể được đặc biệt quan tâm và đặt ưu tiên hàng đầu Hầu hết cơ quan thuế các nước cũng tập trung không ngừng và

đáng kể các nguồn lực vào việc quản lý nhóm người nộp thuế này

Hộ kinh tế cá thể kinh doanh cố định là những hộ sản xuất kinh doanh dịch

vụ ( những hoạt động kinh doanh mà pháp luật cho phép ) có địa điểm kinh doanh

cố định ở một nơi nào đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, kinh tế cá thể phát triển rất nhanh trong cả nước, hoạt động trong mọi ngành nghề sản xuất, giao thông vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ

Đặc điểm của kinh tế cá thể là tính tư hữu về tư liệu sản xuất người chủ kinh doanh tự quyết định từ quy trình sản xuất kinh doanh đến phân phối tiêu thụ sản phẩm Do đó hoạt động của kinh tế cá thể mang tính tự chủ cao, tự tìm kiếm nguồn lực, vốn, sức lao động, tự lo về phương án sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Kinh tế cá thể rất linh hoạt, nhạy bén trong kinh doanh, tuy nhiên nó cũng bộc lộ nhiều hạn chế gây lộn xộn cho thị trường như: Kinh doanh trái phép, làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế nhằm thu lợi nhuận cao

Trang 23

Nếu như thành phần kinh tế quốc doanh chiếm vai trò chi phối nền kinh tế, thì thành phần kinh tế cá thể nói riêng và thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nói chung, tuy chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhưng càng ngày càng phát triển và chiếm một

vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân Khu vực kinh tế này không những chiếm một khối lượng sản phẩn tương đối trong tổng sản phẩm xã hội mà nguồn thu

từ thành phần kinh tế này cũng chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong tổng thu Ngân sách Nhà nước Đồng thời còn thu hút một lực lượng lao động lớn mà thành phần kinh tế quốc doanh chưa đảm bảo hết Kinh tế cá thể đã tận dụng được lực lượng dồi dào, nhất là lao động có tay nghề cao, đồng thời giải quyết được công ăn việc làm cho nhiều lao động dư thừa, tạo thu nhập và từng bước góp phần nâng cao đời sống của các tầng lớp dân cư Phương pháp kinh doanh của hộ cá thể cũng rất phong phú và đa dạng, thu hút nhiều thành phần xã hội tham gia, do đó trình độ chuyên môn, tay nghề của họ cũng rất đa dạng

Ở nước ta mở cửa phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã khẳng định được vai trò của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nói chung và kinh tế cá thể nói riêng.Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh bổ sung hỗ trợ cho thành phần kinh tế quốc doanh, nhất là khu vực thành phần kinh tế chưa thực sự chiếm vị trí chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân

Tóm lại, hoạt động kinh tế ngoài quốc doanh nói chung và hoạt động kinh tế

cá thể nói riêng là hoạt động tồn tại khách quan do đòi hỏi của sản xuất và đời sống

xã hội Với quan điểm đó hoạt động của thành phần kinh tế này ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế quốc dân cả trong hiện tại và trong tương lai

Do đó quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể đòi hỏi đội ngũ cán bộ

có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao Có như vậy, mới phát hiện được các thủ thuật trốn thuế, tránh thuế hết sức tinh vi của các người này, từ đó đề xuất hoàn thiện chính sách hoặc xử lý người vi phạm

1.2.3 Nội dung quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể

1.2.3.1 Hoạch định mục tiêu quản lý

Mục tiêu là trạng thái tương lai, là đích phải đạt tới mà hệ thống quản lý mong muốn đạt tới Nó có vai trò chi phối và định hướng hoạt động của toàn bộ hệ thống

Mục tiêu quản lý phải được xác định trước, nó luôn chi phối, dẫn dắt cả chủ thể và người quản lý trong toàn bộ quá trình hoạt động Xác định mục tiêu đúng có

ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động quản lý

Trang 24

Mục tiêu của quản lý thuế nói chung thường được xác định bằng các chỉ tiêu

cụ thể như: số thuế thu trong một thời gian nhất định; tỷ lệ huy động nguồn thu từ thuế vào ngân sách nhà nước; tốc độ tăng trưởng về số thu của thời kỳ kế hoạch so với thời kỳ trước; tỷ trọng các sắc thuế (thường hay quan tâm đến tỷ trọng của thuế gián thu và thuế trực thu trong tổng thu ngân sách) cần đạt được trong từng thời kỳ.v.v Tuy nhiên vì thuế có các chức năng cơ bản là huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước và điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô của Nhà nước, do đó xét đến cùng, mục tiêu của quản lý thuế là nhằm làm cho người nộp thuế thực hiện đầy đủ kịp thời các nghĩa vụ luật định về thuế của mình, đồng thời Nhà nước thực hiện được các mục tiêu vốn có của mỗi sắc thuế

Mục tiêu cụ thể của quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể, đó là làm cho

hộ kinh doanh cá thể thực hiện đầy đủ kịp thời các nghĩa vụ luật định về thuế của mình trên cơ sở mức độ tuân thủ tự nguyện pháp luật thuế của hộ kinh doanh cá thể ngày càng cao Điều đó cũng có nghĩa là số thuế thu từ hộ kinh doanh cá thể sẽ tiến gần đến số thuế tiềm năng, hay thất thu thuế ngày càng giảm thiểu và tiến dần tới 0;

số thu của ngân sách Nhà nước từ hộ kinh doanh cá thể sẽ là góp phần không nhỏ trong điều kiện chính sách thuế ổn định, đồng thời chi phí của cơ quan thuế giảm khi mức độ tuân thủ của người nộp thuế ngày càng tăng Đồng thời mục tiêu vốn có của mỗi sắc thuế cũng được thực hiện

1.2.3.2 Phân cấp quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể

Hệ thống quản lý là một hệ thống rất phức tạp, bao gồm nhiều tầng nấc, mỗi tầng nấc là một hệ thống con có sự độc lập tương đối, có mục tiêu riêng và điều kiện vận động đặc thù cả về vật chất và thông tin nhưng lại đặt trong sự quản lý thống nhất chung của toàn hệ thống Như vậy toàn bộ hệ thống vừa có một sự quản lý tập trung thống nhất, vừa có sự tự vận động độc lập tương đối Do đặc thù quản lý của hệ thống, chủ thể quản lý một mặt phải đảm bảo sự quản lý tập trung thống nhất trên những mặt cơ bản chính yếu nhất, mặt khác phân cấp cho cấp dưới xử lý thông tin và

ra quyết định với những quyền hạn và trách nhiệm xác định Việc phân cấp trong quản lý mang lại nhiều lợi ích:

- Giải phóng cho chủ thể quản lý cấp cao những công việc sự vụ, tập trung vào những nhiệm vụ quan trọng, có tầm chiến lược, đảm bảo sự quản lý tập trung, thống nhất

Trang 25

- Giao quyền và trách nhiệm quản lý cho cấp dưới để tạo điều kiện phát huy tính năng động sáng tạo của cấp dưới, rèn luyện và tập dượt cho cấp dưới trưởng thành, khắc phục tính dựa dẫm, ỷ lại cấp trên

- Tạo nên bầu không khí tâm lý dân chủ và lành mạnh trong tập thể của hệ thống quản lý, mở rộng dân chủ hoá trong quản lý

Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý cũng là nội dung cơ bản của phân cấp, vừa đảm bảo sự quản lý tập trung trên những vấn đề cơ bản và mở rộng dân chủ cho cấp dưới Trong quản lý hiện đại, nhất là trong điều kiện của hệ thống quản

lý ngày càng phức tạp, lượng thông tin cực kỳ lớn và rất nhạy cảm trong xử lý thì yêu cầu phân cấp càng lớn và càng đòi hỏi dân chủ hoá và mở rộng quyền Tuy nhiên tập trung quyền lực hay phân quyền đến đâu còn tuỳ thuộc vào điều kiện khách quan và nhất là t nh độ, năng lực của cán bộ quản lý ở mỗi cấp

Trong hệ thống quản lý thuế, việc phân cấp quản lý cho từng cấp là hết sức cần thiết Ở nhiều nước, hệ thống thuế được tổ chức phù hợp với tổ chức của Nhà nước như thuế Liên Bang, thuế Bang (như Hoa Kỳ, Úc), hoặc thuế Trung ương và thuế địa phương (như Trung Quốc, Nhật Bản, Philipin ) Đối với thuế Liên Bang hoặc thuế Trung ương, xu hướng chung trên thế giới hiện nay là cơ quan thuế được

tổ chức theo ngành dọc thống nhất gồm hai hoặc ba cấp Đối với Việt Nam, Hệ thống thuế được tổ chức lại thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến quận, thành phố (từ năm 1990) chịu trách nhiệm quản lý thu tất cả các khoản thu nội địa (không phân biệt thuế Trung ương hay thuế địa phương)

Việc phân cấp quản lý thu trong ngành Thuế thường căn cứ vào người quản lý (không căn cứ vào sắc thuế) Một người có thể nộp nhiều loại thuế khác nhau nhưng hầu hết sẽ chỉ chịu sự quản lý của một cơ quan thuế Điều này tránh được sự phiền

hà cho NNT (chỉ phải liên hệ với một cơ quan thuế) Trong tổng số người nộp thuế hiện nay Chi cục thuế thành phố quản lý : khoảng hơn 1350 doanh nghiệp, gần 4000

hộ kinh doanh cá thể, hơn 65000 hộ nộp thuế nhà đất, hàng trăm nghìn người nộp thuế thu nhập cá nhân và các loại thuế khác, tất yếu phải được phân cấp quản lý cho từng cấp trong ngành thuế một cách phù hợp Có như vậy, mới tạo ra sức mạnh tổng hợp để quản lý thu có hiệu quả

1.2.3.3 Xây dựng, ban hành và thực hiện các qui trình quản lý thu đối với

hộ kinh doanh cá thể

Qui trình quản lý thu thuế qui định trình tự, thủ tục các bước công việc phải làm để quản lý thu thuế

Trang 26

Việc ban hành qui trình quản lý giúp cho cơ quan thuế chỉ đạo, điều hành hoạt động của cả hệ thống một cách thống nhất, khoa học, theo một trình tự hợp lý, đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật thuế, thực hiện dân chủ hóa, công khai minh bạch và rõ ràng để các cán bộ thuế, ĐTNT dễ thực hiện và kiểm soát cơ quan thuế

Việc thực hiện các qui trình quản lý thuế phản ánh chất lượng quản lý của cơ quan thuế và tác động đến kết quả thu thuế

Mỗi loại người nộp thuế có đặc điểm khác nhau, các sắc thuế áp dụng khác nhau Vì vậy qui trình quản lý thuế cũng được qui định cho từng loại người phù hợp với đặc điểm về chính sách thuế và đặc điểm riêng có của từng loại người, như qui trình quản lý đối với doanh nghiệp, qui trình quản lý đối với hộ cá thể kinh doanh, qui trình quản lý phí, lệ phí, qui trình quản lý thuế trước bạ Cùng với cải cách chính sách thuế và yêu cầu quản lý, đòi hỏi các qui trình này cũng phải được bổ sung, sửa đổi hoặc cải cách căn bản qua các giai đoạn

1.3 NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ

1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

1.3.1.1 Bài học từ Trung Quốc

Sự phát triển kinh tế thần kỳ của Trung Quốc làm kinh ngạc cả thế giới Để có

sự phát triển đó, chính sách thuế đóng một vai trò then chốt trong chính sách kinh tế

vĩ mô của Chính phủ Trung Quốc Về kinh tế, xã hội, văn hóa Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc Và vì vậy, những kinh nghiệm của Trung Quốc

là những bài học lớn cho Việt Nam Trung Quốc đã thiết lập bước đầu một hệ thống thuế hợp lý nhằm xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa

Hệ thống thuế hiện tại của Trung Quốc đã trải qua hơn 30 năm xây dựng và phát triển kể từ khi chính phủ Trung Quốc thông qua Chính sách cải cách và mở cửa, đặc biệt là từ cuộc đại cải cách hệ thống thuế năm 1994 Hệ thống thuế chính bao gồm 2 sắc thuế: một là thuế doanh thu đánh trên hàng hóa và dịch vụ; và hai là thuế thu nhập đánh trên thu nhập của các cá nhân và doanh nghiệp Thêm vào đó là một số loại thuế khác đánh lên tài sản, tài nguyên thiên nhiên và các hoạt động biểu diễn, thu nhập từ các loại này thường thuộc về ngân sách của các địa phương Hiện nay có khoảng 20 loại thuế ở Trung Quốc, Cục quản lý thuế quốc gia (SAT) quản lý 18 loại trong số đó, còn lại Tổng cục Hải quan quản lý thuế xuất nhập khẩu (“XNK”) và thuế cước chuyên chở 18 loại thuế do SAT quản lý đó là: thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế môn bài, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế

Trang 27

thu nhập cá nhân, thuế nhà đất, thuế bất động sản tại thành phố, thuế sử dụng đất đô thị, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế chuyển nhượng, thuế tài nguyên, thuế tàu thuyền và xe cơ giới, thuế mua xe cơ giới, thuế tăng giá trị đất đai, thuế trước bạ, thuế xây dựng và bảo trì thành thị, thuế thuốc lá, và thuế sửa đổi hướng đầu tư tài sản cố định (tuy nhiên tạm hoãn áp dụng loại thuế này)

Doanh thu thuế ở Trung Quốc hình thành nên 3 nguồn ngân sách như sau: thu nhập cố định của chính phủ, thu nhập cố định của chính quyền địa phương và thu nhập được chia sẻ giữa chính phủ và địa phương Thu nhập cố định của chính phủ bao gồm các loại thuế thu được từ thuế tiêu thụ đặc biệt (bao gồm cả thuế do Tổng cục Hải quan (“TCHQ”) thu hộ SAT trên hàng hóa nhập khẩu), thuế mua xe cơ giới, thuế XNK, thuế GTGT trên hàng hóa nhập khẩu do TCHQ thu hộ SAT Thu nhập cố định của địa phương bao gồm thuế sử dụng đất đô thị, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tăng giá trị đất đai, thuế nhà đất, thuế bất động sản tại thành phố, thuế tàu thuyền và xe cơ giới, thuế chuyển nhượng và thuế thuốc lá Thuế giá trị gia tăng được phân định như sau, 75% thuộc về ngân sách trung ương, 25% thuộc về ngân sách địa phương; đối với thuế kinh doanh, Trung ương quản lý toàn bộ nguồn thu từ Bộ đường sắt, các trụ sở chính của các ngân hàng và các công

ty bảo hiểm đang nộp thuế theo 1 phương thức chung trên toàn quốc; trong khi đó chính quyền các địa phương thu thuế kinh doanh của các doanh nghiệp khác; đối với thuế thu nhập doanh nghiệp chính phủ sẽ thu từ các doanh nghiệp đường sắt, bưu chính, Ngân hàng thương mại Trung Quốc, Ngân hàng nông nghiệp Trung Quốc, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc, Ngân hàng xây dựng Trung Quốc , Ngân hàng phát triển quốc gia Trung Quốc, Ngân hàng phát triển nông nghiệp Trung Quốc, Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc và các công ty hoạt động trong lĩnh vực khai thác dầu khí, phần còn lại thu được từ thuế TNDN sẽ được phân chia theo tỷ lệ 60%-40% giữa chính phủ và chính quyền địa phương; đối với thuế TNCN

Trang 28

Ngoài ra, pháp luật của Trung Quốc cũng quy định rằng các Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được xây dựng các quy định về thuế tại địa phương nhưng phải nằm trong khuôn khổ của luật thuế quốc gia

1.3.1.2 Luật thuế ở Mỹ

Những lợi tức dễ dàng từ các hoạt động phi pháp, phạm pháp là nguyên do của tham nhũng và phần lớn các loại tội phạm, tệ nạn xã hội ở Mỹ Vì vậy luật thuế thu nhập cá nhân của Mỹ không giới hạn các loại nguồn thu nhập chịu thuế như ở điều

3 Luật Thuế thu nhập cá nhân Việt Nam đã làm

Nói cách khác, luật thuế Mỹ chẳng những không giới hạn mà còn quy định công dân phải kê khai tất cả các nguồn thu nhập, hợp pháp lẫn phi pháp Trong mẫu khai thuế có một dòng ghi “Các khoản thu nhập khác: ” dành cho mục đích này Theo sở thuế (IRS, Internal Revenue Service), người khai thuế thường tìm cách giúp đỡ các thân chủ mình bằng cách thổi phồng các chi phí cá nhân cũng như công việc kinh doanh của thân chủ, khai man các khoản khấu trừ hoặc các khoản tín dụng thuế trong khi khai thuế cuối năm cho thân chủ

Ngoài ra, họ còn biến hóa doanh số và lợi tức của thân chủ để “khai sinh” các khoản tín dụng thuế gian trá nhằm mục đích biến thân chủ thành những người có thu nhập vừa phải Tất cả để cho thân chủ được đóng thuế ít hơn

Có khi chính thân chủ đến khai thuế không biết gì về những chi phí, khoản khấu trừ hay tín dụng gian trá trong tờ khai thuế Nhưng cuối cùng, một khi sở thuế tính toán đến nơi đến chốn, thân chủ sẽ phải đóng thêm thuế cho đủ, cộng thêm tiền lãi, và có thể bị phạt tiền, thậm chí bị truy tố hình sự nếu như tờ khai thuế của bạn bị

sở thuế phát hiện có sự gian dối

Thành ra, điều tối quan trọng khi khai thuế là: khi ký tên vào tờ khai thuế, người đóng thuế phải chịu tất cả trách nhiệm về mọi lời khai cho dù rằng ai đó đã khai giùm Tuy phần lớn các người khai thuế làm ăn lương thiện nhưng sở thuế vẫn khuyên phải rất cẩn thận trong việc chọn người khai thuế Sự lựa chọn này giống như sự lựa chọn bác sĩ gia đình hoặc luật sư riêng

Các thông tư hướng dẫn kê khai thuế Mỹ yêu cầu rõ phải kê khai luôn các khoản thu nhập phi pháp (other illegal income) như hối lộ, biển thủ, cờ bạc, bảo kê,

ma túy, trộm cướp, buôn lậu, tiền giả, lừa đảo

Trang 29

Để tăng cường phòng chống tham nhũng và tội phạm, điều 3 của Luật thuế thu nhập cá nhân Việt Nam cần bổ sung một điều khoản kỹ thuật, đó là loại thu nhập thứ 15: “Các loại thu nhập bất chính hoặc phi pháp”

Nghe thật buồn cười, vì đã là nguồn thu phi pháp thì ai mà dám kê khai Tuy nhiên, đây là điều khoản mang tính kỹ thuật tinh vi của Quốc hội Mỹ Luật thuế ghi như vậy để tránh công dân “né thuế” kiện ngược rằng luật không quy định

Hơn thế nữa, luật thuế bắt buộc phải khai báo luôn cả các thu nhập phi pháp nhằm mục đích “kèm thêm” tội trốn thuế vào các tội hình sự, bởi vì những tội phạm hình sự thường không khai báo các loại thu nhập phi pháp này Kẻ tham nhũng cũng thế

Chính vì thế sở thuế khuyến cáo:

- Tránh xa những người khai thuế nào quảng cáo rằng họ có thể giảm thuế cho thân chủ nhiều hơn so với các người khai thuế khác Luật thuế, nếu được áp dụng đúng đắn, đầy đủ và hợp pháp thì dù bất cứ ai đi nữa khi sử dụng cùng chung những

dữ kiện khai thuế, cũng sẽ mang về cùng một kết quả như nhau

- Tránh xa những người khai thuế nào tính lệ phí của họ trên phần trăm của số tiền mà thân chủ sẽ được sở thuế hoàn trả Lệ phí trả cho người khai thuế kiểu này

sẽ là tỉ lệ thuận với số tiền bạn mang về Điều đó có nghĩa là họ sẽ tìm mọi cách làm sao cho số thuế được hoàn trả càng nhiều càng tốt, bất chấp hậu quả mang đến cho thân chủ của họ sau này

- Xem xét việc cá nhân người khai thuế hoặc văn phòng, công ty thuế của họ

có hoạt động lâu dài hay không nhằm bảo đảm rằng các thắc mắc sau này về tờ khai thuế sẽ được trả lời thỏa đáng bất cứ lúc nào, thậm chí sau vài năm Thân chủ chính

là người chịu trách nhiệm về tất cả các số liệu cũng như dữ kiện trong tờ khai thuế chứ không phải ai khác cho dù về phần người khai thuế, khi gian trá, có thể bị giam giữ đến năm năm tù và bị phạt tiền đến 250.000 USD

Vài trường hợp khai gian thuế đã bị tòa án xét xử trong năm 2004 vừa qua:

Ví dụ: Ngày 4-11-2004 tại Sacramento, Brent Daniel Shaw bị tòa án tuyên

phạt tù giam 21 tháng về việc thiết lập hồ sơ thuế giả mạo nộp cho sở thuế liên bang (IRS) và sở thuế tiểu bang California

Ví dụ: Ngày 21-10-2004 tại thành phố Irving, Texas, Leanne Denice Shrout bị

tòa tuyên phạt 36 tháng tù giam về tội giúp đỡ trong việc khai man thuế Shrout đã

“tư vấn” cho thân chủ khai man các chi phí

Trang 30

Để tránh những hậu quả liên quan đến vấn đề thuế, bạn chỉ cần tìm cho mình một người khai thuế làm ăn đàng hoàng đứng đắn có uy tín và xin bạn nhớ cho rằng hạn chót để nộp hồ sơ thuế là 15-4-2005”

Ví dụ: Trùm mafia Al Capone ở Chicago, Mỹ Tuy các luật sư đã biện hộ cho

Al Capone thoát tội danh cướp của giết người nhưng các nhân viên sở thuế vẫn tìm

ra cách nhốt Al Capone 11 năm tù với tội danh trốn thuế, sau khi chứng minh tài sản của Al Capone đã tăng lên đều đặn hằng năm mà không hề đóng thuế

Việc quy định phải khai báo các khoản thu nhập phi pháp cũng nhằm tạo cơ sở pháp lý để cơ quan điều tra mở rộng phạm vi điều tra, phân tích mức sống xa hoa và tài sản thuộc quyền khống chế và sở hữu của nghi can, nhằm làm sáng tỏ các nghi

án hối lộ và tham nhũng vốn thường đi kèm với các nghi án trốn thuế

1.3.1.3 Quản lý thuế tại Hungary

Hungary là một quốc gia không giáp biển thuộc khu vực Trung Âu Thành phố Budapest là thủ đô của Hungary Nước này là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như OECD, NATO, Liên minh Châu Âu và Hiệp ước Schengen, dân số hơn

10 triệu người Từ năm 1987, Hungary bắt đầu chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường Đặc điểm này khá tương đồng với sự chuyển đổi của nền kinh tế nước ta Việc chuyển đổi đó đã tác động trực tiếp đến việc ban hành chính sách thuế và tổ chức quản lý thuế

Trong đó cải cách thuế được thực hiện từ năm 1988 với việc ban hành hệ thống thuế cơ bản gồm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân Điểm mới của hệ thống thuế đó là áp dụng cơ chế tự khai- tự nộp Năm 1987, ban hành Luật qui trình nộp thuế Đây là bước quan trọng trong việc quản lý thuế đối với nền kinh tế thị trường Tổng cục Thuế được thành lập năm

1987 (cùng với việc ban hành Luật qui trình nộp thuế), với tổng số cán bộ khoảng 10.000 người, trong đó 47% có trình độ đại học và 43% trình độ trung cấp Số thu

do Tổng cục Thuế quản lý là 30,7 tỷ USD năm 2003

Nguồn: Tô Thanh Toàn, “Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường ở các quốc gia Trung - Đông Âu”, NXB Khoa học

Xã hội, Hà Nội, 1999

1.3.1.4 Chi cục thuế Huyện Đông Hưng – Thái Bình

Năm 2013 Chi cục Thuế huyện Đông Hưng – Thái bình đã thu từ khu vực kinh tế hộ kinh doanh cá thể tăng 23% so với dự toán, tăng 7,1% so với cùng kỳ

Trang 31

Tuy nhiên, vẫn còn một số khiếm khuyết cần khắc phục đó là: hiện tượng thất thu thuế ở diện hộ và doanh thu tính thuế Nguyên nhân là do một số cán bộ thuế, cán bộ uỷ nhiệm thu chưa thực hiện tốt các quy trình nghiệp vụ quản lí thuế đối với

hộ kinh doanh, chưa đấu tranh mạnh mẽ với các hành vi chây ỳ không kê khai hoặc

kê khai không đúng thực tế kinh doanh, vẫn còn một số hộ kinh doanh núp bóng các Doanh nghiệp, HTX các tổ chức kinh tế để trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế Số đông các hộ kinh doanh chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ nên phổ biến vẫn áp dụng biện pháp khoán doanh thu

Bước vào năm 2013, Chi cục Thuế Đông Hưng đã đề ra và thực hiện các biện pháp sau:

1- Lập, duyệt bộ thuế môn bài, thuế hộ cá thể và thông báo mức thuế môn bài, thuế khác hàng tháng của quý I tới từng hộ, cá nhân sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tạo điều kiện để hộ các hộ chủ động nộp kịp thời vào NSNN

2- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật thuế, đặc biệt là Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi và Luật thuế thu nhập cá nhân bằng nhiều hình thức, kết hợp với vận động thuyết phục nhân dân thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước

3- Tranh thủ sự lãnh đạo chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền các cấp, của ngành dọc cấp trên Chủ động đề xuất với cấp uỷ chính quyền các biện pháp quản lý thu, chỉ đạo thu nhằm khai thác triệt để các nguồn thu

4- Rà soát nắm vững số hộ thực tế kinh doanh trên địa bàn, quy mô kinh doanh của hộ, đưa hết các hộ đang kinh doanh vào quản lý thuế, đăng ký và cấp mã

số thuế cá nhân cho các hộ cá nhân kinh doanh Tổ chức phân loại hộ kinh doanh theo quy mô và ngành nghề kinh doanh để xác định phương thức mang lại hiệu hiệu quả cao

5- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra Kiên quyết xử lý vi phạm về thuế của hộ kinh doanh theo đúng quy định của luật Quản lý thuế đối với các hộ kinh doanh núp bóng các Doanh nghiệp, các Tổ chức kinh tế nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế

6- Phối hợp chặt chẽ với các ngành hữu quan, với UBND các xã, thị trấn trong công tác quản lý thuế đối với các hộ kinh doanh trên địa bàn; Rút kinh nghiệm công tác mở rộng uỷ nhiệm thu các khoản thuế và phí, lệ phí để tổ chức, chỉ đạo công tác

uỷ nhiệm thu đạt hiệu quả cao

Trang 32

Nguồn: Nguyễn Văn Duẩn – Chi cục trưởng Chi cục Thuế huyện Đông Hưng,

“Báo cáo tổng kết đánh giá công tác Thuế năm 2013 Chi cục Thuế huyện Đông Hưng – Thái Bình”

1.3.2 Những bài học kinh nghiệm về hoàn thiện công tác quản lý thuế đối

hộ kinh doanh cá thể

Từ những kinh nghiệm của một số quốc gia và địa phương ta thấy rằng để tăng cường việc tuân thủ các luật thuế và tăng thu ngân sách Nhà nước, trước sự phát triển nhanh chóng của người nộp thuế cả về số lượng và sự phức tạp của các loại hình kinh doanh do tác động của toàn cầu hoá và những thành tựu của công nghệ thông tin, các nước trên thế giới đều hướng tới việc áp dụng cơ chế quản lý thuế

hiện đại và có hiệu quả Một hệ thống quản lý thuế hiện đại phải đảm bảo được

nguyên tắc quản lý thuế cơ bản, đồng thời cũng là mục tiêu cao nhất của bất kỳ ngành thuế nào - đó là khuyến khích sự tuân thủ tự giác của người nộp thuế Tuân thủ tự giác đi liền với quản lý theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế

- Xu hướng cải cách quản lý thuế nói chung và quản lý thuế đối với hộ kinh

doanh cá thể nói riêng, đó là nâng cao tính tự giác tuân thủ của người nộp thuế bằng các biện pháp tăng cường dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế, tạo thuận lợi và giảm chi phí thực hiện nghĩa vụ thuế cho người nộp thuế; Công tác này được quan tâm và trở thành một ưu tiên của cơ quan thuế, được thực hiện dưới nhiều hình thức; cùng với

nó các biện pháp thanh tra và chế tài xử lý được tăng cường để bảo đảm rằng các người không tuân thủ sẽ bị phát hiện và xử lý nghiêm theo qui định của pháp luật

- Việc thực hiện các dịch vụ điện tử về thuế nói chung và kê khai thuế qua mạng internet được phát triển và ứng dụng mạnh mẽ trong những năm gần đây

- Các điều kiện cơ bản thực hiện tốt cơ chế TK-TN và kê khai điện tử là: một

hệ thống chính sách rõ ràng, đơn giản, minh bạch, đầy đủ; cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại với việc ứng dụng tin học ở mức độ ngày càng cao trong quản lý thuế; hệ thống thông tin trở thành công cụ quan trọng trong cơ chế TK-TN; đội ngũ cán bộ thuế phải được đào tạo để có trình độ năng lực đáp ứng được yêu cầu

- Về công tác tuyên truyền và cung cấp dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp

Việc tuyên truyền thuế đã đạt được bề rộng và đang từng bước đi vào chiều sâu Nhiều phương thức thức phối hợp để phổ biến tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế đã được triển khai; Các hình thức tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế phong phú: báo chí, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, ca nhạc và đưa nội dung giáo dục về

thuế vào chương trình giáo dục phổ thông

Trang 33

Nhiều hình thức cung cấp dịch vụ hỗ trợ hộ kinh doanh cá thể đã được tiến hành: trả lời trực tiếp hoặc qua điện thoại, trả lời bằng văn bản, cung cấp tài liệu, tập huấn, đối thoại với hộ kinh doanh cá thể Đặc biệt cung cấp thông tin qua trang Web trên mạng Internet là một phương thức hiện đại, khoa học, phù hợp với tiến bộ

chung của thế giới

Qua đó hộ kinh doanh cá thể hiểu rõ hơn chính sách thuế, tính thuế, kê khai

thuế chính xác hơn, nộp thuế đầy đủ hơn

- Về cơ chế tự khai - tự nộp (TK-TN)

Kết quả bước đầu trong thực hiện mô hình chức năng với hệ thống các quy trình quản lý theo cơ chế TK-TN đã làm rõ và khẳng định hướng đi này là đúng đắn

để hiện đại hoá ngành thuế, nâng cao năng lực quản lý

Cần nâng cao được tính tuân thủ của hộ kinh doanh cá thể thể hiện ở việc nộp

tờ khai và nộp thuế đúng hạn với tỷ lệ cao hơn, chất lượng tốt hơn

Bắt đầu ứng dụng công nghệ tin học vào tất cả các khâu của qui trình quản lý Xây dựng được bộ máy quản lý thuế theo chức năng với phân bổ nguồn nhân lực hợp lý hơn Xây dựng được các nội dung cơ bản về nghiệp vụ, quy trình quản lý thuế theo yêu cầu của cơ chế TK-TN Kết quả đạt được trong thực hiện tổ chức quản lý theo chức năng và theo các quy trình quản lý mới đã cho thấy chất lượng quản lý thuế đã được nâng lên rõ rệt

- Về kê khai thuế GTGT qua mạng Internet

Việc kê khai điện tử nói chung, và kê khai thuế qua mạng nói riêng, là một phương thức kê khai hiện đại, có nhiều ưu việt hơn so với các phương thức truyền thống và phù hợp với xu thế phát triển chung của khoa học công nghệ, cũng như của

công tác quản lý nhà nước của tất cả các quốc gia trên thế giới

Về mặt công nghệ, giải pháp do nhóm nghiên cứu đề xuất và thử nghiệm là hoàn toàn phù hợp với điều kiện, xu thế phát triển của công nghệ; phù hợp với điều kiện và trình độ tác tác nghiệp của các cơ quản quản lý thuế của Việt Nam; phù hợp với trình độ và điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin của các doanh nghiệp hoạt động ở Việt Nam

Trang 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Qua những phần phân tích ở chương 1 có thể rút ra một số kết luận sau:

Thứ nhất, nêu được khái niệm thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội

Thuế là một trong những biện pháp tài chính bắt buộc nhưng phi hình sự của Nhà nước nhằm động viên một số bộ phận thu nhập từ lao động, từ của cải, từ vốn, từ các chi tiêu hàng hoá và dịch vụ, từ tài sản của các thể nhân và pháp nhân nhằm tập trung vào tay Nhà nước để trang trải các khoản chi phí cho bộ máy nhà nước và các nhu cầu chung của xã hội Các khoản động viên qua thuế được thể chế hoá bằng luật Thứ hai, khái quát hóa nội dung công tác quản lý thuế hiện nay tại Việt nam từ khi Luật Quản lý thuế có hiệu lực; Những bài hoạc kinh nghiệm về công tác quản lý thuế ở một số nước; công tác quản lý thuế được cụ thể hóa trong ba nội dung và được phân tích cụ thể ở chương 2

Thứ ba, Hiện nay số lượng hộ kinh doanh cá thể tại Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, đóng góp một phần không nhỏ cho Ngân sách Nhà nước; Chính vì thế, phải nghiên cứu đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể tác động đến công tác quản lý thuế để có biện pháp nâng cao công tác quản lý

Thứ tư, làm rõ một số nội dung cơ bản về khái niệm, đặc điểm vai trò và phương pháp tính của luật thuế GTGT, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, luật thuế thu nhập cá nhân Việc nêu những nội dung trên làm cơ sở phân tích đánh giá những kết quả đạt được và chỉ ra những tồn tại, hạn chế về công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn Thành phố Nam Định, nhằm đưa ra những giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế và khai thác nguồn thu thuế từ lĩnh vực hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn

Việc quản lý các hộ kinh doanh cá thể tại chi cục thuế Thành Phố Nam Định từ sau khi luật quản lý thuế đi vào thực hiện là khá tốt và được thể hiện trên các chỉ tiêu như: Luôn hoàn thành kế hoạch; sự tuân thủ pháp luật thuế của các hộ kinh doanh cá thể; Sự hài lòng của người nộp thuế Những tiêu chi này được phân tích cụ thể ở chương 2

Trang 35

lợi cho việc giao thông đi lại bằng đường sắt, đường bộ và đường thuỷ

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Thành phố Nam Định là thành phố loại 1 trực thuộc tỉnh Nam Định Có 201

xã 15 phường và 9 thị trấn, các khu công nghiệp và các doanh nghiệp tập trung chủ yếu tại địa bàn thành phố quản lý do thuận lợi và giao thông, cơ sở vật chất, kinh tế-

xã hội hơn các địa điểm khác trong tỉnh Điều này đặt ra vấn đề đối với các cơ quan chức năng của nhà nước về việc quản lý đảm bảo mọi mặt được ổn định, giúp kinh

tế thành phố nói riêng và kinh tế của tỉnh nói chung phát triển hơn

Trong những năm qua kinh tế Nam Định đã đạt được những thành công đáng ghi nhận, giá trị sản xuất đạt được khá cao

Trong năm 2013 vừa qua, KT-XH của tỉnh ổn định và có bước phát triển cao hơn năm 2012; 15 chỉ tiêu KT-XH chủ yếu năm 2013 đều đạt và vượt mức kế hoạch HĐND tỉnh đề ra: Tăng trưởng nền kinh tế 7,5%; thu nhập bình quân 14,5 triệu đồng/người/năm; cơ cấu kinh tế công nghiệp, xây dựng 36,4%, dịch vụ 34,1%, nông, lâm, thuỷ sản 29,5%; thu ngân sách trên địa bàn đạt 1.155 tỷ đồng; giá trị hàng hoá xuất khẩu đạt 248,7 triệu USD Đã huy động được 12 nghìn tỷ đồng cho đầu tư phát triển, tăng 29% cao nhất từ trước đến nay Vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ do tỉnh quản lý là 2.083 tỷ đồng, tăng 978 tỷ đồng so với kế hoạch và chiếm 17,5% vốn đầu tư xã hội

Khu vực ngoài quốc doanh, thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, UBND Tỉnh,

Bộ Tài chính, Tổng cục thuế, Cục Thuế Nam Định đã tích cực triển khai các biện pháp tăng cường quản lý, khai thác triệt để các sắc thuế đối với lĩnh vực ngoài quốc doanh như: Thực hiện phân cấp quản lý thuế các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Trang 36

về Cục thuế quản lý, tiến hành rà soát doanh thu, rà soát các người về quy mô sản xuất và mặt hàng sản xuất, chế độ kế toán, hạch toán, tăng cường chỉ đạo công tác kiểm tra kế toán, hướng dẫn việc hạch toán kế toán và việc kê khai thuế đối với hộ

cá thể

Trong những năm qua, Chi cục Thuế thành phố Nam Định đã thực hiện thành công nhiệm vụ trọng tâm đó là tổ chức chỉ đạo hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN Tổng thu NSNN tăng đều theo các năm, năm sau cao hơn năm trước

2.1.3 Khái quát tình hình hộ kinh doanh cá thể ở thành phố Nam Định

Như trên đã nói, hộ cá thể là một thành phần kinh tế chiếm giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Ở thành phố Nam Định, hộ kinh doanh cá thể giữ

vị trí quan trọng và mang lại số thu không nhỏ cho NSNN Phạm vi hoạt động của

hộ cá thể rất rộng và rải khắp Từ chợ Rồng dọc theo đường Trần Hưng Đạo đến Hồ Tức Mặc, từ đường Trường Chinh lên đến Cầu Tân Đệ, Hàng Cấp, Hàng Tiện Tóm lại, ở đâu có cụm dân cư thì ở đó xuất hiện hộ cá thể kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực như sản xuất, thương mại, dịch vụ, ăn uống Với số lượng đông, phạm vi hoạt động rộng lớn nên đặc điểm hoạt động kinh doanh của hộ cá thể ở thành phố Nam Định là rất đa dạng với nhiều phương thức kinh doanh khác nhau

Trong những năm qua, hộ kinh doanh cá thể ở thành phố Nam Định tiếp tục giữ vững và phát huy những vai trò tích cực của mình Kết quả thu từ hộ kinh doanh

cá thể trong năm 2013 là 18.273 triệu đạt 102% so với dự toán tỉnh và thành phố giao và bằng 109% so với cùng kỳ, trong đó: Thuế môn bài thu 2.002 triệu đạt 100% dự toán, bằng 101% so cùng kỳ; Thuế GTGT+TNCN thu 16.271 triệu đạt 102% dự toán, nếu tính riêng thuế GTGT+TTĐB hàng tháng đạt 91% dự toán, bằng 99% so cùng kỳ đã nói lên rằng hoạt động kinh doanh của hộ cá thể là một hoạt động kinh doanh điển hình của thành phố Nam Định

Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, hộ cá thể hoạt động kinh doanh một cách tự phát, chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận, kinh nghiệm kinh doanh không nhiều, ý thức chấp hành pháp luật còn hạn chế Chính những yếu tố này đã tác động và ảnh hưởng đến đặc điểm hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể ở thành phố Nam Định Đó là quy mô kinh doanh thường nhỏ hẹp, vốn kinh doanh không lớn, hoạt động kinh doanh lẻ tẻ, thiếu sự phối hợp với các ngành các cấp và các đơn vị kinh doanh khác Đây là một đặc điểm ảnh hưởng không ít đến sự phát triển kinh tế ở hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn thành phố Nam Định

Trang 37

Mặc dù như vậy, những kết quả do hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh

cá thể ở thành phố Nam Định đem lại là không thể phủ nhận Nhà nước (thông qua

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền) và các ban ngành chức năng trong thành phố Nam Định cần sớm có biện pháp nhằm khai thác, phát huy những thế mạnh của hộ kinh doanh cá thể, mặt khác khắc phục, cải thiện những gì còn hạn chế để cho hoạt động kinh doanh từ khu vực kinh tế hộ kinh doanh cá thể ngày càng sôi động hơn,

từ đó mang lại số thu cho NSNN nhiều hơn

Bên cạnh các hộ kinh doanh cá thể làm ăn nghiêm chỉnh, kinh doanh tuân thủ pháp luật của Nhà nước thì vẫn còn không ít các hộ kinh doanh cá thể không trung

thực, tính tuân thủ pháp luật Nhà nước về tài chính và kinh tế còn kém Đặc biệt là lợi dụng danh nghĩa doanh nghiệp để trốn thuế

Từ tình hình thực tiễn về sự phát triển của các doanh nghiệp trong thành phố thời gian vừa qua và xu hướng phát triển của nó Điều này cho thấy nguồn thu từ sản xuất kinh doanh ở khu vực này có vị trí quan trọng cần được tăng cường quản lý

và khai thác nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách thành phố Đồng thời phải tăng cường công tác quản lý nhà nước nói chung và quản lý thuế nói riêng để đảm bảo tất cả các đơn vị SXKD đều phải tuân thủ pháp luật Mặt khác, giúp hộ kinh doanh

cá thể phát triển theo định hướng của Nhà nước và quan điểm phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng Vì vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu tình hình quản lý thu thuế đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh ở các hộ kinh doanh cá thể là điều hết sức cần thiết, không chỉ trên phương diện đảm bảo số thu cho ngân sách thành phố, mà còn có ý nghĩa trên phương diện quản lý

2.1.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy chức năng nhiệm vụ Chi cục thuế thành phố Nam Định

2.1.4.1 Cơ cấu tổ chức

Chi Cục Thuế thành phố Nam Định từ khi thành lập cho đến nay, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và công cuộc cải cách hệ thống thuế Việt nam, sắp xếp tổ chức mới; Bộ máy của Chi Cục Thuế cũng được thay đổi theo hướng giảm số đội thuế liên xã, phường, tăng số đội thuế ở văn phòng phù hợp với tình hình thực tiễn gắn liền với nhiệm vụ thu NSNN và công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật thuế, bước đầu xây dựng mô hình tổ chức QLT theo chức năng

Theo quy định tại Quyết định số 729/QĐ-TCT ngày 18/6/2007 Của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế về cơ cấu tổ chức bộ máy của Chi cục thuế như sau:

Trang 38

Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy Chi Cục Thuế thành phố Nam Định

( Nguồn: Chi Cục Thuế thành phố Nam Định)

* Cán bộ công nhân viên

Chi cục trưởng - Đồng chí Nguyễn Văn Chánh: lãnh đạo, chỉ đạo chung và toàn diện các nhiệm vụ công tác của cơ quan Chi cục thuế, chịu trách nhiệm toàn diện trước Cục thuế tỉnh, Thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành phố Nam Định về các mặt công tác thuế trên địa bàn thành phố Nam Định theo chức năng nhiệm vụ được giao, quyết định các vấn đề về thuế theo thẩm quyền, trực tiếp chỉ đạo, điều hành lĩnh vực công tác của Đội Kiểm tra thuế và công tác Nhân sự - tài vụ - quản trị

Chi cục phó – Đồng chí Đặng Ngọc Nghĩa: chỉ đạo và điều hành các công tác của các Đội Nghiệp vụ- dự toán, Đội kê khai- kế toán thuế và tin học, theo dõi

LÃNH ĐẠO CHI CỤC

tin học

Đội Tuyên truyền

hỗ trợ người nộp thuế

Đội Trước

bạ và thu khác

Đội Thuế thu nhập cá nhân

Đội Hành chính Nhân

sự Tài

vụ Ấn chỉ

Đội thuế liên phường,

Đội quản lý

và cưỡng chế nợ thuế

Trang 39

chỉ đạo công tác thu ngân sách của Đội thuế phường Quang Trung, Đội thuế phường Bà Triệu, Đội thế Chợ, và các nhiệm vụ khác

Chi cục phó - Đồng chí Phạm Văn Nghĩa: chỉ đạo và điều hành công tác của các Đội Quản lý thu lệ phí trước bạ và thu khác, Đội Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế; Theo dõi, chỉ đạo công tác thu ngân sách của Đội thuế Liên phường, xã số 1,

số 2, số 3 và các nhiệm vụ khác

Chi cục phó - Đồng chí Lê Bình Hà – Phó Chi cục trưởng: chỉ đạo và điều hành công tác của các Đội Kiểm tra thuế , Đội tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế, số 6, số 7, Đội thuế Đò Quan, và các nhiệm vụ khác

Chi cục phó: Vũ Thị Thúy - Phó Chi cục trưởng chỉ đạo và điều hành công tác của Đội Hành chính – Nhân sự - Tài vụ - Ấn chỉ, theo dõi công tác thu ngân sách của Đội thuế liên phường, xã số 4, số 5 Hiện nay, Chi cục thuế có 147 cán bộ chuyên trách làm việc tại trụ sở và các địa điểm khác nhau trên địa bàn thành phố

* Các đội thuộc chi cục:

1 Đội Tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế

2 Đội Kê khai - Kế toán thuế và Tin học

3 Đội Kiểm tra thuế

4 Đội Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế

5 Đội thuế thu nhập cá nhân

6 Đội Hành chính- Nhân sự- Tài vụ - Ấn chỉ

7 Đội Quản lý thu lệ phí trước bạ và thu khác

8 Đội thuế liên phường, xã

* Một số đội thuế liên xã, phường :

- Đội số 1 : Vị Xuyên, Trần Tế Xương

- Đội số 2 : Hạ Long, Lộc Vượng, Lộc Hạ, Thống Nhất

- Đội số 3 : Vị Hoàng, Nguyễn Du

- Đội số 4 : Trần Hưng Đạo, Phan Đình Phùng

- Đội số 5 : Cửa Bắc, Lộc Hoà

- Đội số 6 : Trần Đăng Ninh, Trường Thi, Văn Miếu, Mỹ Xá

- Đội số 7 : Ngô Quyền, Năng Tĩnh, Trần Quang Khải, Lộc An

- Đội thuế Đò Quan: Cửa Nam, Nam Vân, Nam Phong

- Đội thuế Bà Triệu

- Đội thuế Quang Trung

Trang 40

Trong những năm qua, Chi cục Thuế thành phố Nam Định đã thực hiện thành công nhiệm vụ trọng tâm đó là tổ chức chỉ đạo hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN Tổng thu NSNN tăng đều theo các năm, năm sau cao hơn năm trước

Bảng 2.2: Tình hình thu thuế của Chi cục thuế TP Nam Định

trong 2 năm gần đây

(Đơn vị tính: đồng)

Nhìn chung, ta thấy số thu của Chi cục thuế thành phố Nam Định tương đối ổn định trong 2 năm gần đây, phù hợp với tình hình chung của cả nước Số thu về thuế GTGT là lớn thứ 2 trong tổng thu NSNN của Chi cục, và các loại thuế cũng tăng đều qua các năm chứng tỏ việc quản lý thu thuế của Chi cục trong thời gian qua là rất tốt Với nguồn thu ổn định như trên cho thấy vai trò quan trọng của Chi cục thuế thành phố Nam Định đối với nguồn thu NSNN

+ Giao trách nhiệm cho đội thuế liên xã, phường phối hợp với Hội đồng tư vấn, cán bộ uỷ nhiệm thu rà soát người nộp thuế trên địa bàn, nắm rõ từng hộ kinh doanh( hộ KD thường xuyên, hộ kinh doanh thời vụ, hộ kinh doanh làng nghề v.v.)

để đảm bảo thu có hiệu quả

+ Lập kế hoạch điều chỉnh thuế hộ khoán cố định, tổ chức điều tra, khảo sát doanh thu của các hộ kinh doanh để làm căn cứ lập số thuế, duyệt số thuế cho kỳ cố

Ngày đăng: 21/01/2021, 07:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm