1. Trang chủ
  2. » Lịch sử

ĐÁNH GIÁ RỦI RO THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT THÔNG QUA CHỈ SỐ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG TRONG CANH TÁC LÚA Ở HUYỆN THOẠI SƠN – AN GIANG

8 43 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 4,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó, nghiên cứu được tiến hành với mục đích đánh giá được tình hình sử dụng thuốc BVTV của người dân; Tính toán mức độ rủi ro có thể xảy ra cho con người và môi trường tại 3[r]

Trang 1

canh tác lúa lớn nhất vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long Trong những năm gần đây An Giang

đã áp dụng các phương pháp canh tác lúa tiên tiến cũng như việc xây dựng hệ thống đê bao canh tác lúa 3 vụ để tăng năng suất (Lê Quốc Tuấn và ctv, 2013) Tuy nhiên, cùng với việc thâm canh tăng vụ và sử dụng các biện pháp nâng cao sản lượng lúa thì tình hình sâu bệnh cũng diễn ra ngày càng nhiều và phức tạp hơn, dẫn đến tình trạng người dân gia tăng sử dụng thuốc BVTV để phòng trừ sâu hại, do đó khó tránh khỏi tình trạng lạm dụng thuốc, sử dụng thuốc không đúng cách, gia tăng nồng độ, liều lượng thuốc khi phun xịt (Lê Thị Thuỷ, Lê Quốc Tuấn, 2015) Khi sử dụng thuốc BVTV không đúng sẽ tạo ra nhiều rủi ro cho con người

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trong

nông nghiệp là một trong những biện pháp chủ

đạo trong việc phòng trừ dịch hại, bảo vệ cây

trồng, được sử dụng phổ biến ở các nước trên

thế giới, kể cả Việt Nam

Nước ta là một nước nông nghiệp, nền nông

nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong nền

kinh tế quốc dân (Douglass, 1984) Khi kinh

tế phát triển, đi vào sản xuất thâm canh thì vai

trò của công tác bảo vệ thực vật lại càng trở

nên quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với

giá trị nông sản và bảo vệ môi trường (Rao and

Rogers, 20016) An Giang là một vựa lúa của

miền Tây Nam Bộ nước ta, là tỉnh có diện tích

ĐÁNH GIÁ RỦI RO THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT

THÔNG QUA CHỈ SỐ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG TRONG CANH TÁC LÚA Ở HUYỆN THOẠI SƠN – AN GIANG

RISK ASSESSMENT OF PESTICIDE BY ENVIRONMENTAL IMPACT QUOTIENT IN RICE

CROP CULTIVATION AT THOAI SON DISTRICT, AN GIANG PROVINCE

Lê Quốc Tuấn, Phạm Thị Bích Diễm Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh Email: quoctuan@hcmuaf.edu.vn

TÓM TẮT

Chỉ số tác động môi trường (EIQ) được sử dụng để đo lường và đánh giá rủi ro của thuốc bảo

vệ thực vật (BVTV) Nghiên cứu được thực hiện tại 3 xã Phú Hoà, Phú Thuận và Vĩnh Khánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang Kết quả điều tra và phân tích cho thấy chỉ số tác động môi trường

ở mức cao có khả năng gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và môi trường Các loại thuốc BVTV, hàm lượng và tần suất sử dụng, cũng như thói quen của nông dân có tác động đến chỉ số tác động môi trường và tạo ra rủi ro cao trong hoạt động sản xuất nông nghiệp Dựa vào chỉ số tác động môi trường, chúng ta có thể đánh giá tác động môi trường và mức độ rủi ro gây ra bởi thuốc BVTV Từ đó, có những cảnh báo cần thiết đối với nông dân góp phần vào công tác giảm thiểu và kiểm soát việc sử dụng thuốc BVTV hướng đến sự phát triển bền vững trong nông nghiệp.

Từ khoá: Thuốc BVTV, Chỉ số tác động môi trường (EIQ), Nông nghiệp, Canh tác lúa

ABSTRACT

Environmental Impact Quotient (EIQ) is used to measure and access the risk of pesticide Research was conducted in three communes Phu Hoa, Phu Thuan, and Vinh Khanh, Thoai Son district, An Giang province The surveying and analyzing results indicated that EIQs have been

at high level which was possible to affect on human health and environment Pesticide kinds, amounts and times, as well as farmer’s habit induced the EIQ resulting in high risk in agricultural production activities Relying to EIQ for pesticide, we can access the environmental problem and risk levels derived from pesticide As a result, there are timely warnings sent to farmers who quickly reduce and control pesticide utilization for sustainable development in agriculture.

Keywords: Pesticide, EIQ, Agriculture, Rice cultivation

Trang 2

thu thập được tính toán, phân tích dựa vào phần mềm Excel

Tính toán chỉ số EIQ

EIQ (Environmental Impact Quotient) là một chỉ số dùng để lượng hóa rủi ro tiềm năng môi trường và nguy cơ của thuốc BVTV đối với con người và hệ sinh thái môi trường, được xây dựng và phát triển bởi các nhà khoa học của đại học Cornell (Mỹ) năm 1992 (FAO, 2008).Có hai loại EIQs, EIQ lý thuyết và EIQ thực tế trên đồng ruộng Loại EIQ lý thuyết thể hiện mức độc hại tiềm năng của thuốc BVTV Loại EIQ thực tế phản ánh mức rủi ro có thể xảy ra ở trên đồng ruộng khi nông dân phun thuốc

Theo FAO (2008), EIQ lý thuyết của một loại thuốc BVTV được tính toán dựa theo thành phần công thức của hỗn hợp thuốc BVTV bao gồm 11 chỉ tiêu liên quan đến rủi ro có thể xảy

ra với con người và môi trường trong hệ sinh thái đồng ruộng

Mỗi loại thuốc BVTV đều có những tham số thể hiện độc tính và tác động đến môi trường

và con người Bảng 1 là bảng tiêu chuẩn để phân hạng các khả năng của chỉ số tác động môi trường, mười một tham số (C, DT, D, Z,

B, F, P, S, SY, L, R) được sử dụng để tính toán tám loại chỉ số tác động (EI - Environmental Impact) bằng cách sử dụng phương trình đại số kết hợp với xếp hạng số với khối lượng tương đối được chỉ định cho mỗi tác động đến: người phun, người chăm sóc - thu hái, người tiêu dùng, mạch nước ngầm, cá chim, ong mật và thiên địch Các điểm số này sau đó tiếp tục tổng hợp

để thể hiện các tác động môi trường trên 3 đối tượng: người sản xuất, người tiêu dùng, và môi trường Như vậy, EIQ lý thuyết của hoạt chất là trung bình của 3 tác động đến 3 đối tượng trên

và môi trường (Lê Trường, 1984; Lê Huy Bá

và ctv, 2004; Nguyễn Tuấn Khanh, 2010) Câu

hỏi đặt ra là khi người nông dân sử dụng thuốc

BVTV như vậy thì rủi ro có thể xảy ra cho họ

và môi trường là bao nhiêu? Và giải pháp nào

để hạn chế những rủi ro đó?

Từ đó, nghiên cứu được tiến hành với mục

đích đánh giá được tình hình sử dụng thuốc

BVTV của người dân; Tính toán mức độ rủi ro

có thể xảy ra cho con người và môi trường tại 3

xã Phú Hòa, Phú Thuận và Vĩnh Khánh thuộc

huyện Thoại Sơn, An Giang thông qua chỉ số

tác động môi trường EIQ; Xác định các yếu tố

ảnh hưởng đến chỉ số EIQ, qua đó đưa ra một số

giải pháp giảm thiểu rủi ro từ thuốc BVTV cho

người dân canh tác lúa tại Thoại Sơn, An Giang

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thu thập số liệu

Số liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu

thập từ việc điều tra thực tế, khảo sát trực tiếp

người dân trồng lúa tại 3 xã Phú Hòa, Phú Thuận,

Vĩnh Khánh thuộc huyện Thoại Sơn Đây là 3

xã có diện tích trồng lúa lớn của huyện Thoại

Sơn Đề tài đã khảo sát 300 nông dân trồng lúa

tại 3 xã về cách thức sử dụng thuốc BVTV, loại

thuốc dùng, liều dùng, số lần phun thuốc trong

một vụ, việc sử dụng trang bị bảo hộ lao động

như thế nào, cách xử lý bao bì vỏ chai thuốc

BVTV sau khi sử dụng Lấy mẫu ngẫu nhiên

phân tầng Thời điểm lấy mẫu là đầu và cuối

của mỗi vụ Ngoài ra, đề tài còn áp dụng các

phương pháp thu thập số liệu khác như quan sát

trực tiếp nông dân phun thuốc trên đồng ruộng,

phỏng vấn cán bộ quản lý tại địa phương Kết

quả phân tích được thực hiện trên sản xuất lúa

3 vụ trong vùng đê bao Cơ sở dữ liệu sau khi

Bảng 1 Bảng tiêu chuẩn phân hạng các khả năng của EIQ

Độ độc cấp tính qua da LD50

với chuột/thỏ mg/kg DT > 2000 mg/kg 200 – 2000 mg/kg 0 – 200 mg/kg Độc tính với chim (8 ngày

Trang 3

loại thuốc BVTV cụ thể được tính toán theo công thức sau:

EIQ đồng ruộng = EIQ x %Ai x lượng dùng (kg/ha) (1)

Trong đó:

- EIQ: là giá trị EIQ lý thuyết của hoạt chất

có trong loại thuốc đó

- %Ai: Phần trăm hàm lượng hoạt chất

- Lượng thuốc BVTV được dùng (kg/ha) Nếu nông dân dùng nhiều loại thuốc, thì EIQ đồng ruộng là tổng của EIQ của từng loại thuốc

đã dùng

Độc tính với thiên địch chân đốt B Hậu quả ít Hậu quả trung bình Hậu quả

nghiêm trọng

Thời gian bán phân hủy trên cây

Thời gian bán phân hủy trong

đất (phân hủy 50%) S < 30 ngày 3 – 10 ngày > 100 ngày Khả năng nội hấp trong cây

SY Không nội hấp và tất cả các

thuốc trừ cỏ Nội hấp Khả năng thấm sâu vào nguồn

nước ngầm (thời gian bán phân

hủy trong nước, khả năng hòa

tan, hệ số thấm, tính chất đất)

Khả năng rửa trôi bề mặt đất

(thời gian bán phân hủy trong

nước, khả năng hòa tan, hệ số

thấm, tính chất đất)

Bảng 2 Công thức tính tác động trên các đối tượng, lên môi trường và tính EIQ tổng

EI người phun thuốc: C x (DT x 5) EI người sản xuất = EI người phun

thuốc + EI người chăm sóc, thu hái

EIQ = (EI người sản xuất + EI người tiêu dùng + EI sinh thái học)/3

EI người chăm sóc, thu hái: C x (DT x P)

EI tiêu dùng: C x ((S + P)/2) x SY EI người tiêu dùng = EI tiêu dùng +

EI nguồn nước

EI nguồn nước: L

EI động vật thủy sinh (cá): F x R

EI sinh thái học = EI cá + EI chim + EI ong mật + EI thiên địch

EI chim: D x ((S + P)/2) x 3

EI ong mật: Z x P x 3

EI thiên địch: B x P x 5

Từ công thức tính EIQ, các nhà khoa học

của Đại học Connel (Mỹ) đã xây dựng nên một

danh sách các giá trị EIQ tính sẵn gọi là danh

sách EIQ theo lý thuyết dùng để tính toán EIQ

đồng ruộng Danh sách các giá trị EIQ được

xuất bản và định kỳ cập nhật tại trang web của

trường Đại học Cornell Phiên bản cập nhật mới

nhất được tải xuống ở định dạng PDF tại trang

New York State’s Integrated Pest Management

Program, 2013

Nhằm mục đích cung cấp dấu hiệu nguy cơ

tiềm năng của thuốc BVTV của nông dân khi

sử dụng thuốc, người ta dùng chỉ số EIQ đồng

ruộng EIQ đồng ruộng của việc sử dụng một

Trang 4

sử dụng thuốc sinh học, mà toàn bộ loại thuốc dùng đều có nguồn gốc hóa học Bên cạnh đó, tuy là không có thuốc thuộc nhóm độc I, nhưng

tỷ lệ thuốc thuộc nhóm độc II, III vẫn chiếm tỷ

lệ cao, trên 60%, còn thuốc nhóm IV ít độc hại thì ít được sử dụng hơn Đây chính là nguyên nhân tiềm ẩn tạo ra rủi ro thuốc BVTV rất lớn

Do đó, để giảm thiểu được rủi ro thuốc BVTV cần tạo cho người nông dân biết và lựa chọn

sử dụng nhiều thuốc sinh học và thuốc thuộc nhóm IV

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tình hình sử dụng thuốc BVTV tại địa phương

Trên địa bàn 3 xã đã sử dụng tổng cộng

20 thương phẩm thuốc với 22 hoạt chất khác

nhau Trong các loại thuốc được sử dụng tại

Phú Thuận, tỷ lệ thuốc trừ sâu và trừ bệnh là

ngang nhau, chiếm 40%, nhóm thuốc trừ cỏ và

trừ ốc chiếm tỷ lệ nhỏ Đối với 2 xã Phú Hòa

và Vĩnh Khánh thì tỷ lệ thuốc trừ sâu cao hơn

thuốc trừ bệnh (Bảng 3) Cả 3 xã đều không

Bảng 3 Bảng phân loại các loại thuốc được sử dụng tại vùng nghiên cứu

Diễn giải

Số lượng thuốc

Tỷ lệ (%) Số lượng thuốc Tỷ lệ (%) Số lượng thuốc Tỷ lệ (%)

Phân theo đối

tượng dịch hại

Phân theo tính

Thuộc nhóm độc

theo WHO

Trung bình trong 1 vụ, với những hộ nông

dân có thực hiện theo mô hình “1 phải 5 giảm”

thì họ phun thuốc khoảng từ 6-7 lần, những hộ

canh tác lúa theo phương thức truyền thống thì

phun từ 9-10 lần/vụ Qua đó có thể thấy, trên

cùng 1 đơn vị diện tích sản xuất thì các hộ dân

theo mô hình “1 phải 5 giảm” sử dụng ít thuốc

BVTV hơn những hộ còn lại

Về liều lượng phun, khi được hỏi thì có tới

64,3% các hộ dân trả lời rằng họ không sử dụng

thuốc theo liều lượng khuyến cáo trên bao bì,

mà chủ yếu là phun theo kinh nghiệm cá nhân

hoặc theo hướng dẫn của các đại lý bán thuốc

Giá trị EIQ lý thuyết và đồng ruộng tại 3 xã

vùng nghiên cứu

Trong các loại thuốc sử dụng tại Thoại Sơn,

hoạt chất có giá trị EIQ lý thuyết cao nhất đó

là Fipronil với EIQ tổng là 88,25 (EI người sản

xuất là 60; EI người tiêu dùng là 11; và EI sinh

thái là 193,75); Hoạt chất có EIQ lý thuyết nhỏ nhất là Flubendiamide với EIQ tổng là 19,36 (EI người sản xuất là 10,35; EI người tiêu dùng

là 3,18; và EI sinh thái là 44,55) Đa số các hoạt chất mà người dân sử dụng có EIQ lý thuyết nằm trong khoảng từ 45 – 75 (69,3%) (Bảng 4), đây là giá trị tương đối lớn do người dân sử dụng nhiều thuốc thuộc nhóm độc II và III

Bảng 4 Bảng phân loại các loại thuốc

dựa vào EIQ lý thuyết

Giá trị EIQ

lý thuyết Số lượng thuốc Tỷ lệ (%)

Trang 5

danh mục của hoá chất đã được Tiểu ban New York ban hành và áp dụng (New York State IPM, 1992) và trong danh mục hoá chất được

sử dụng để đánh giá chỉ có 11 loại thuốc được dùng để đánh giá

Sử dụng công thức (1) cùng với số liệu thu

thập được từ quá trình khảo sát ta tính được giá

trị EIQ đồng ruộng trung bình tại 3 xã nghiên

cứu Việc tính toán chỉ số EIQ dựa vào danh

mục các hoạt chất đã được phân hạng trong

Bảng 5 Bảng tính EIQ đồng ruộng tại xã Phú Hòa

EIQ lý thuyết ruộng tb/1hộEIQđồng

2 TILT SUPER 300 EC Propiconazole Difenoconazole 0,56 0,81 6,2 8,9

4 AMISTAR TOP 325SC Azoxystrobin Difenoconazole 0,85 1,09 8,9 11,5

10 Nativo 750WG Tebuconazol Trifloxystrobin 0,24 0,45 6,6 12,4

11 DRAGON 585EC Chlorpyrifos Cypermethrin 1,71 2,10 27,7 34,1

A: hộ sản xuất theo mô hình “1 phải 5 giảm”; B: Hộ không sản xuất theo “1 phải 5 giảm”

Bảng 6 Bảng tính giá trị EIQ đồng ruộng tại xã Phú Thuận

EIQ lý thuyết EIQđr tb/1hộ

2 TILT SUPER 300 EC Propiconazole Difenoconazole 0,67 0,62 7,3 6,8

4 AMISTAR TOP 325SC Azoxystrobin Difenoconazole 0,74 1,40 7,9 14,8

10 NATIVO 750WG Tebuconazol Trifloxystrobin 0,24 0,44 6,6 12,1

11 DRAGON 585EC Chlorpyrifos Cypermethrin 2,07 2,11 33,5 34,3

A: hộ sản xuất theo mô hình “1 phải 5 giảm”; B: Hộ không sản xuất theo “1 phải 5 giảm”

Trang 6

với các hộ dân sản xuất theo mô hình “1 phải 5 giảm”, dùng thuốc theo liều lượng khuyến cáo,

số lần phun thấp nên giá trị EIQ đồng ruộng của những hộ này luôn thấp hơn những hộ canh tác theo phương thức truyền thống, tùy ý gia tăng liều lượng và số lần phun thuốc trên đồng ruộng Giá trị EIQ của các hộ sản xuất theo mô hình “1 phải 5 giảm” tại 3 xã đều nằm ở mức vừa, rủi ro tác động đến con người và môi trường là không cao Ngược lại, với những hộ không sản xuất theo mô hình “1 phải 5 giảm” thì giá trị EIQ luôn ở trên mức 100, ở mức này tác động của thuốc BVTV lên sức khỏe con người và môi trường là rất lớn (Lê Quốc Tuấn và ctv, 2013) Kết quả này cũng đã phản ánh một phần thực

tế đáng lo ngại tại các địa phương Việc tự ý gia tăng nồng độ phun xịt không đúng kỹ thuật không chỉ không hiệu quả, chi phí cao, gây hại cho môi trường, mà trên hết tác động của nó đối với người phun thuốc rất cao (Lê Quốc Tuấn, 2012) Đây là vấn đề mà cán bộ địa phương cần lưu tâm, cần có nhiều hơn nữa các chương trình tuyên truyền, hướng dẫn người dân trong việc lựa chọn và sử dụng thuốc, đi theo nguyên tắc 4 đúng nhằm bảo vệ môi trường và sức khỏe cho người nông dân

Bảng 7 Bảng tính giá trị EIQ đồng ruộng tại xã Vĩnh Khánh

2 TILT SUPER 300 EC Propiconazole Difenoconazole 0,50 0,70 5,5 7,7

4 AMISTAR TOP 325SC Azoxystrobin Difenoconazole 0,78 1,09 8,2 11,5

8 TROBINTOP 325SC Azoxystrobin Difenoconazole 1,20 0,00 12,7 0,0

11 DRAGON 585EC Chlorpyrifos Cypermethrin 1,77 2,04 28,7 33,2

A: hộ sản xuất theo mô hình “1 phải 5 giảm”; B: Hộ không sản xuất theo “1 phải 5 giảm”

Qua kết quả tính toán EIQ ở 3 xã của vùng

nghiên cứu cho thấy, giá trị EIQ trung bình ở 2

xã Phú Hòa và Phú Thuận tương đối cao, đặc

biệt là ở Phú Thuận, EIQ lên tới 124,7 đối với

các hộ dân không sản xuất theo mô hình 1 phải

5 giảm, đây là mức cao theo phân hạng của Đại

học Cornel Ở mức EIQ này thì tác động của

thuốc BVTV lên sức khỏe con người cũng như

môi trường rất lớn, có nguy cơ tiềm ẩn và ảnh

hưởng lâu dài đối với hoạt động sản xuất

Qua bảng số liệu ta cũng thấy được, liều

lượng phun của những hộ không sản xuất theo

mô hình luôn luôn cao hơn những hộ sản xuất

theo mô hình, thường là gấp 1,5 – 2 lần, đó là

lý do tại sao giá trị EIQ đồng ruộng ở những hộ

này luôn cao Khi sử dụng với liều lượng thuốc

BVTV cao có thể gây nên độc tính cấp đối với

con người và vật nuôi Tuy nhiên, đối với với

những vùng được phân tích có giá trị EIQ thấp

cũng không được xem là an toàn Trong trường

hợp này, độc tính mãn tính sẽ diễn ra và có tác

động đối với sức sống của cây con, vật nuôi

cũng như con người, đặc biệt là các thế hệ tiếp

theo (Nguyễn Tuấn Khanh, 2010)

Giá trị EIQ đồng ruộng phụ thuộc chặt chẽ

vào số lần phun thuốc của người dân, loại thuốc

dùng và liều dùng Cùng là loại thuốc đó, nhưng

Trang 7

triển bền vững.

Ruộng lúa không áp dụng mô hình 1 phải 5 giảm có giá trị EIQ cao hơn so với ruộng có áp dụng mô hình 1 phải 5 giảm và thường cao hơn 1.5 – 2 lần Đây có thể là nguy cơ gây ô nhiễm thuốc BVTV trong tương lai không xa nếu nông dân không áp dụng các mô hình giảm sử dụng thuốc BVTV

Để giảm thiểu những tác động gây ra bởi thuốc BVTV, việc quan trọng nhất là phải tiếp tục tăng cường công tác hướng dẫn cho người dân biết cách sử dụng thuốc, tuân theo nguyên tắc 4 đúng, giáo dục nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường (Đặng Xuân Phi, Đỗ Kim Chung, 2012) Khi người dân có được nhận thức đúng đắn, biết được những tác động tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng của ô nhiễm môi trường, thì lúc

đó người nông dân mới thực sự quan tâm đến việc bảo vệ môi trường và sử dụng thuốc đúng

kỹ thuật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Thông

tư số 10/2012/BNNPTNT ngày 22/02/2012

về việc ban hành Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam Hà Nội, 2012

Douglass, G., 1984 The Meanings of Agricultural Sustainability, in G Douglass

(ed.), Agricultural Sustainability in a Changing World Order, pp 3- 29 Boulder:

Westview Press

Đặng Xuân Phi, Đỗ Kim Chung, 2012 Đánh giá rủi ro thuốc BVTV thông qua chỉ số tác động môi trường trong sản xuất súp lơ

ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Đại học Nông nghiệp Hà Nội

FAO, 2008, IPM Impact Assessment Series

Use of Environmental Impact Quotient in IPM Programmes in Asia

Lê Huy Bá, Vũ Văn Quang, Lâm Vĩnh Sơn,

2004 Đánh giá ảnh hưởng của thuốc trừ sâu, phân bón hóa học lên môi trường đất, nước, nông sản và sức khỏe của người nông dân ở Trà Vinh

Le Quoc Tuan, Hiroshi Umakoshi The interaction between pesticide and biological

Một số giải pháp nhằm giảm rủi ro thuốc

BVTV

Để góp phần giảm các rủi ro từ thuốc BVTV

cho người dân, nghiên cứu xin đưa ra một số giải

pháp:

Tăng cường công tác tuyên truyền, hướng

dẫn sử dụng thuốc BVTV cho người dân địa

phương Trong các buổi tập huấn, tuyên truyền

cần giành nhiều thời gian cho việc hướng dẫn

người dân về cách thức sử dụng thuốc, sử dụng

sao cho đúng cách, hiệu quả; Cách phân biệt,

lựa chọn thuốc có nguồn gốc sinh học, thuốc

thuộc nhóm độc thấp (Nhóm III, nhóm IV) và

phải nằm trong danh mục cho phép sử dụng (Bộ

NN&PTNT, 2012)

Đăng tải thông tin tuyên truyền về sử dụng

thuốc BVTV trên các phương tiện thông tin

(Đài phát thanh, tivi…), lồng ghép vào các buổi

họp ấp, thôn…

Liên kết với các hộ nông dân sản xuất giỏi,

có uy tín để truyền đạt kinh nghiệm sản xuất

cho các hộ khác, khuyến khích người dân tham

gia sản xuất theo mô hình “1 phải 5 giảm”, vừa

kinh tế vừa giảm rủi ro cho người nông dân

Các cơ quan có liên quan về BVTV, trên cơ

sở EIQ lý thuyết đã có, lập danh mục tra cứu để

nông dân có có thể áp dụng vào việc lựa chọn

các loại thuốc để trừ được sâu bệnh và giảm

thiểu được rủi ro cho con người và hệ sinh thái

Khi triển khai đồng bộ các giải pháp trên,

thì nông dân có thể giảm được rủi ro do thuốc

BVTV gây nên, giảm các tác nhân gây ô nhiễm

môi trường đất và nước, tăng năng suất, tăng

chất lượng sản phẩm, góp phần tạo nên một nền

nông nghiệp bền vững

KẾT LUẬN

Việc phân tích chỉ số EIQ của thuốc BVTV

sẽ cho ta thấy được các tác động tổng quát của

thuốc BVTV lên con người và môi trường canh

tác, làm cơ sở để từ đó ta đưa ra các khuyến

cáo phù hợp cho người dân trong việc lựa chọn

thuốc sao cho tác động đến con người là nhỏ

nhất Đưa ra các giải pháp quản lý phù hợp đối

với từng vùng canh tác khác nhau để đạt được

sự tối ưu hóa trong quản chất lượng nông sản và

chất lượng môi trường trong định hướng phát

Trang 8

Lê Trường, 1985 Thuốc bảo vệ thực vật và sinh cảnh, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội.

Nguyễn Tuấn Khanh, 2010 Đánh giá ảnh hưởng của sử dụng thuốc BVTV đến sức khỏe người chuyên canh chè tại Thái Nguyên và hiệu quả của các biện pháp can thiệp Thái Nguyên

New York State’s Integrated Pest Management Program, 2013 A Method to Measure the Environmental Impact of Pesticides <http:// www.nysipm.cornell.edu/publications/eiq/ equation.asp>

Rao N.H., Rogers P.P., 2006 Assessment of agricultural sustainability, Current Science,

91, pp 439- 448

membrane Journal of Agriculural Sciences

and Technology, Vol 4/2013, 116 – 119

(2013)

Le Quoc Tuan, Nguyen Thi Dang, Le Cao

Luong Evaluating the efficiency of pesticide

usage reduction in Winter – Spring (2012 –

2013) rice crop in Thoai Son district, An

Giang province Journal of Agriculural

Sciences and Technology, Vol 3/2013, 102

– 107 (2013)

Lê Quốc Tuấn, 2013 Đánh giá tác động của

việc sử dụng nhóm thuốc bảo vệ thực vật khi

canh tác lúa 3 vụ trong vùng đê bao đến môi

trường đất, nước và sản phẩm gạo Báo cáo

tổng kết Đề tài nghiên cứu khoa học tỉnh An

Giang

Le Quoc Tuan Pesticide and orientation for

sustainable development in agriculture

Journal of Agriculural Sciences and

Technology, Vol 4/2012, 101 – 105 (2012)

Le Thi Thuy, Le Quoc Tuan Evaluation

pesticide use habit of farmers in

three-rice-crop cultivation and proposing the

monitoring model for An Giang province

Journal of Science and Technology 53 (3A)

325 – 330 (2015)

Ngày đăng: 21/01/2021, 00:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w