Mục tiêu: Nghiên cứu này mong muốn đánh giá một cách hệ thống tình hình sinh viên tốt nghiệp hệ chính quy khóa 2004-2008, ngành Tiếng Anh, chuyên ngành Phương pháp giảng dạy, Biên-Phiên
Trang 1BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG SINH VIÊN TỐT NGHIỆP
HỆ CHÍNH QUY, NGÀNH TIẾNG ANH CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI TPHCM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI
PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẦU RA
Mã số:
B2010.32.07
Chủ nhiệm đề tài: TS Lê Thị Thanh Thu
Thành phố Hồ Chí Minh, 7/2012
Trang 2BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG SINH VIÊN TỐT NGHIỆP
HỆ CHÍNH QUY, NGÀNH TIẾNG ANH CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI TPHCM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI
PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẦU RA
Mã số: B2010.32.07
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài
TS Lê Thị Thanh Thu
Thành phố Hồ Chí Minh, 7/2012
Trang 3NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
ThS Nguyễn Thúy Nga
ThS Nguyễn Tri Quỳnh Nga
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT vi
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU vii
INFORMATION ON RESEARCH RESULTS viii
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1
1.1- Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2- Mục tiêu đề tài 3
1.3- Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4- Phạm vi nghiên cứu 4
1.5- Bố cục 5
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
2.1- Sứ mạng, mục đích, mục tiêu trường đại học 7
2.2- Chương trình đào tạo 9
2.2.1- Mục tiêu chung của chương trình đào tạo thuộc đối tượng nghiên cứu 10
2.2.2- Mục tiêu cụ thể 11
2.2.3- Nội dung chương trình đào tạo 13
2.3- Chất lượng đầu ra 17
2.3.1- Chất lượng 17
2.3.2- Đánh giá chất lượng giáo dục đại học 19
2.3.3- Chất lượng đầu ra 20
2.4- Chỉ báo 22
2.5- Các chỉ báo phản ánh thực trạng sinh viên tốt nghiệp 23
2.5.1- Chỉ báo về sinh viên tốt nghiệp dựa vào tiêu chí kiểm định chất lượng giáo dục 23
2.5.2- Chỉ báo hoạt động về sinh viên tốt nghiệp dựa vào tiêu chí kiểm định và đánh giá chương trình đào tạo 25
2.5.3- Chỉ báo về sinh viên tốt nghiệp dựa vào tiêu chí xếp hạng trường đại học 29
2.5.4- Chỉ báo hoạt động về sinh viên tốt nghiệp dựa vào đề nghị của học giả 30
Trang 52.5.5- Hệ thống chỉ báo liên quan đến sinh viên tốt nghiệp dùng trong nghiên
cứu 31
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1- Đối tượng nghiên cứu 33
3.1.1- Nhóm 1 33
3.1.2- Nhóm 2 35
3.2- Phương pháp nghiên cứu 35
3.2.1- Phiếu khảo sát 37
3.2.1.1- Phiếu khảo sát dành cho sinh viên tốt nghiệp 37
3.2.1.2- Phiếu khảo sát dành cho nhà tuyển dụng 39
3.2.2- Phỏng vấn 39
3.3 - Trình tự thực hiện nghiên cứu 40
3.4 - Phương pháp phân tích dữ liệu 41
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 42
4.1 - Phương pháp phân tích số liệu 43
4.2 - Mẫu nghiên cứu SVTN 44
4.3 - Tỷ lệ tốt nghiệp/nhập học 46
4.4 - Thời gian trung bình để hoàn thành khóa học 48
4.5 -Tỷ lệ có việc làm (6 tháng và 1 năm sau tốt nghiệp) 50
4.6 - Tỷ lệ tiếp tục học tập (sau đại học hay học thêm 1 ngành khác) 51
4.7 - Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp làm việc đúng ngành đào tạo, tỷ lệ sinh viên làm việc trái ngành 53
4.8 - Thu nhập trung bình của sinh viên tốt nghiệp 55
4.9 - Sự hài lòng của sinh viên tốt nghiệp 57
4.10 - Đánh giá của SVTN về mức độ CTĐT cung cấp kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc 60
4.10.1 - CTĐT cần bổ sung 62
4.10.2 - Rút gọn dữ liệu bằng phân tích nhân tố 63
4.10.3 Phân tích kết quả theo 8 nhân tố 67
4.10.4 - Khác biệt trong đánh giá 69
4.10.5 - Kiến thức chuyên ngành của SVTN 69
4.11 - Sự hài lòng của Nhà tuyển dụng 71
4.11.1- Mẫu nghiên cứu 71
4.11.2 - Sự hài lòng của nhà tuyển dụng 72
4.11.3 - Tỷ lệ sinh viên đáp ứng yêu cầu công việc có thể sử dụng được ngay 74
Trang 64.11.4 - Tỷ lệ sinh viên đáp ứng cơ bản yêu cầu của công việc nhưng phải đào
tạo thêm 75
4.11.5 - Tỷ lệ sinh viên phải đào tạo lại 76
4.12 - Kết luận 76
CHƯƠNG 5 ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ 81
5.1 - Kết luận 81
5.2 - Kiến nghị 82
5.2.1 - Bổ sung kiến thức chuyên ngành 82
5.2.2 - Chú trọng phát triển kỹ năng ngôn ngữ 84
5.2.3 - Chú trọng phát triển kỹ năng mềm 86
5.2.4 - Chú ý đào tạo các tiềm năng để học tập 87
5.2.5 - Chú ý phát triển sự chuyên biệt trong CTĐT của từng trường 88
5.3 - Hướng phát triển đề tài 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 1 96
PHỤ LỤC 2 100
PHỤ LỤC 3 103
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang Hình 2.1: Mô hình chất lƣợng AUN-QA 28Hình 2.2: Mô hình chất lƣợng dạy và học của AUN-QA 29
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang Bảng 3.1: Chuyên ngành đào tạo và số lượng SVTN của các trường nghiên cứu
35
Bảng 4.1: Số lượng SVTN tham gia nghiên cứu 46
Bảng 4.2: Tỷ lệ SVTN theo chuyên ngành 46
Bảng 4.3 Tỷ lệ SVTN đúng hạn 47
Bảng 4.4: Số lượng SVTN có việc làm 51
Bảng 4.5: Dự định tiếp tục theo học 53
Bảng 4.6: Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp làm việc đúng ngành nghề 54
Bảng 4.7: Thu nhập trung bình 55
Bảng 4.8: Trình bày theo giới tính 56
Bảng 4.9: Thành phần cơ quan SVTN làm việc 56
Bảng 4.10: Trình bày theo chuyên ngành 57
Bảng 4.11: Sự hài lòng của SVTN 58
Bảng 4.12: Trình bày theo trường 59
Bảng 4.13: Trình bày theo chuyên ngành 60
Bảng 4.14: CTĐT đã cung cấp kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc 61
Bảng 4.15: Trình bày theo chuyên ngành 61
Bảng 4.16: Giá trị Eigenvalue (Extraction Method: Principal Component Analysis) 64
Bảng 4.17: Phân tích nhân tố 65
Bảng 4.18: Đánh giá của SVTN theo 8 nhân tố 67
Bảng 4.19: Nhận xét về kiến thức chuyên ngành 70
Bảng 4.20: Sự hài lòng của NTD 72
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Bộ Giáo dục & Đào tạo Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 10THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thông tin chung:
Tên đề tài: Thực trạng sinh viên tốt nghiệp hệ chính quy, ngành tiếng Anh
của các trường đại học tại TPHCM
Mã số: B2010.32.07
Chủ nhiệm: TS Lê Thị Thanh Thu
Cơ quan chủ trì: Trường đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh
Thời gian thực hiện: 4/2010-12/2011
2 Mục tiêu:
Nghiên cứu này mong muốn đánh giá một cách hệ thống tình hình sinh viên tốt nghiệp hệ chính quy khóa 2004-2008, ngành Tiếng Anh, chuyên ngành Phương pháp giảng dạy, Biên-Phiên dịch và Tiếng Anh thương mại của các trường đại học tại TPHCM để có được nhận định tổng quát về thực trạng đầu ra của các chương trình đào tạo ngành Tiếng Anh
3 Tính mới và sáng tạo:
Đây là nghiên cứu tổng quát đầu tiên về tình hình sinh viên tốt nghiệp ngành Tiếng Anh của các trường đại học tại TPHCM Các nghiên cứu trước chỉ tập trung vào sinh viên từng trường riêng lẽ
4 Kết quả nghiên cứu:
Nghiên cứu xác định được hệ thống các chỉ báo liên quan đến tình hình tốt nghiệp, tình trạng việc làm, mức độ hài lòng của sinh viên tốt nghiệp về những gì họ được đào tạo và sự hài lòng của nhà tuyển dụng về mức độ đáp ứng công việc của các sinh viên tốt nghiệp này
5 Sản phẩm:
- 1 báo cáo tổng kết kết quả nghiên cứu
- 2 bài báo đăng tại Tạp chí khoa học trường
- 1 hội thảo về định hướng đào tạo ngành Tiếng Anh
6 Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp dụng:
Nghiên cứu đề xuất các bổ sung hay điều chỉnh cần thiết liên quan đến nội dung và hình thức tổ chức đào tạo chương trình đào tạo ngành Tiếng Anh, chuyên ngành Phương pháp giảng dạy, Biên-Phiên dịch và Tiếng Anh thương mại của các
trường đại học tại TPHCM
Trang 11INFORMATION ON RESEARCH RESULTS
1 General information:
Project title: Investigating the status quo of graduates from the English faculties of the universities in HCMC
Code number: B2010.32.07
Main Researcher: Dr Lê Thị Thanh Thu
Implementing institution: Ho Chi Minh City Open University
Duration: 4/2010-12/2011
2 Objective(s):
The study aimed at investigating the graduates (academic year 2004-2008) from the English faculties of the universities in HCMC with three majors: TESOL, Translation and Business English to have a systematic view of the status quo of these curriculum output
3 Creativeness and innovativeness:
This is the first survey of the status quo of graduates from the English faculties
of the universities in HCMC The previous studies just limited themselves in the
graduates of their own institutions
4 Research results:
The survey found out the system of performance indicators related to the graduates: the graduation rate, job opportunities, students' satisfaction about the curriculum and the employers' satisfaction about performance graduates
5 Products:
- 1 report of the study
- 2 articles on the HCMCOU Journal of Science
- 1 workshop on directions in BA programs in TESOL
6 Effects, transfer alternatives of reserach results and applicability:
The study provided the suggestions for the improvement in the contents and management of the BA programs in TESOL with three majors: TESOL, Translation and Business English that the universities in HCMC are operating
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1- Tính cấp thiết của đề tài
Chất lượng giáo dục đại học đang là mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia, trong đó, hoạt động đánh giá chất lượng được xem là một công cụ quản lý quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động của các trường đại học ngày càng hiệu quả và phù hợp với sự phát triển của xã hội Ở Việt Nam, chất lượng giáo dục đại học luôn thu hút được mối quan tâm rất lớn của toàn xã hội, và nhiều trường đại học trên cả nước đang bắt đầu thực hiện những thay đổi trong quản
lý để nâng cao chất lượng đào tạo.Tuy nhiên theo đánh giá của Bộ Giáo dục & Đào tạo, quản lý chất lượng giáo dục là khâu yếu nhất hiện nay, đang còn nhiều bất cập Bộ cho rằng Bộ và các trường chưa thực sự quản lý được chất lượng giáo dục đại học (Nguyễn Thiện Nhân, 2010) Thực trạng là cho đến 2007 chưa có trường nào công bố chuẩn sinh viên tốt nghiệp của trường mình: sinh viên tốt nghiệp có hiểu biết gì, có kỹ năng gì, có năng lực hành vi thế nào, có thể làm được ở các vị trí gì trong xã hội?
Tháng 4, 2010, Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành văn bản hướng dẫn xây dựng và công bố chuẩn đầu ra của các ngành đào tạo trình độ đại học, cao đẳng đồng thời yêu cầu các trường tổ chức triển khai xây dựng và công bố chuẩn đầu
ra cho từng ngành ngay trong học kỳ II năm học 2009-2010 (Hướng dẫn xây dựng và công bố chuẩn đầu ra ngành đào tạo, 2010) Tuy nhiên theo nhận định của Tuổi trẻ Online (Minh Giảng & Hà Bình, 2009), ở nhiều trường, chuẩn đầu
ra mà nhiều trường công bố có những yếu tố kỳ vọng và những yếu tố định lượng giúp xã hội, người học biết được trình độ tối thiểu phải có là những gì
Có những yếu tố định lượng và những yếu tố định tính cần có thời gian để định lượng hóa Do đó Bộ và các trường chưa có đủ cơ sở để đánh giá chất lượng giáo dục của các trường một cách khách quan, toàn diện
Trang 13Năm 1987, khi nước ta bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới, cả nước có
101 trường đại học và cao đẳng với tổng số 133.136 sinh viên, trong đó có 19.900 người đã tốt nghiệp Năm 2009, cả nước có 376 trường đại học và cao đẳng (tăng 3,7 lần), với tổng số 1.719.499 sinh viên (tăng 13 lần), số người tốt nghiệp là 222.665 (tăng 11 lần) Tuy nhiên hạn chế lớn nhất của giáo dục đại học nước ta hiện nay là chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được đòi hỏi của sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và nếu không có giải pháp khắc phục quyết liệt, hiệu quả thì đất nước sẽ mất đi lợi thế cạnh tranh quan trọng về chất lượng và số lượng nguồn nhân lực (Đổi mới quản lý hệ thống giáo dục đại học 2010-2012, 2010) Năm 2010 được xem như năm mở đầu của kế hoạch 3 năm, 2010-2012 mà Chính phủ, Bộ Giáo dục & đào tạo kiên quyết thực hiện đổi mới về chất lượng quản lý giáo dục đại học
Chất lượng và số lượng nguồn nhân lực nêu lên ở đề án Đổi mới quản lý hệ thống giáo dục đại học 2010-2012, hay chuẩn đầu ra của sinh viên tốt nghiệp nêu trong Sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học, các giải pháp đảm bảo
và nâng cao chất lượng đào tạo (Đổi mới quản lý hệ thống giáo dục đại học 2010-2012, 2010) là một trong những thành tố của chất lượng giáo dục và là vấn đề bức bách các cơ sở giáo dục đại học phải quan tâm nghiên cứu Như thế việc tìm hiểu, xác định tổng quan và đánh giá một cách hệ thống sinh viên tốt nghiệp là cần thiết Các trường cần nhận biết thực trạng sinh viên tốt nghiệp của mình vì sinh viên tốt nghiệp là sản phẩm của quá trình đào tạo, là đầu ra của quá trình đào tạo, để có thể cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục đại học một cách toàn diện, mạnh mẽ nhằm hạn chế việc tụt hậu trong đáp ứng nhu cầu nhân lực có chất lượng cao cho việc phát triển đất nước, bảo vệ lợi ích chính đáng của người học và xác định những cải tiến cần thiết để nâng cao chất lượng đầu ra
TP.HCM có 67 trường đại học và cao đẳng Trong đó gần phân nửa số trường đại học (49%, 19/39 trường) có tổ chức chương trình đào tạo cử nhân đại học liên quan đến tiếng Anh, với 3 hướng chuyên ngành chính là Phương
Trang 14pháp giảng dạy (PPGD), Biên phiên dịch tiếng Anh (BPD) và Tiếng Anh thương mại (TATM) Có thể nhận thấy, đây là ngành đào tạo có nhu cầu lớn trong xã hội Trong khi đó "chưa có đánh giá chính thức về chất lượng đào tạo của các hệ đào tạo chuyên ngoại ngữ, tuy nhiên có thể nói chất lượng đào tạo không đồng đều" (Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020, 2008) Trong xu thế thúc đẩy mạnh mẽ các trường lưu tâm nâng cao chất lượng đào tạo phân tích ở trên, việc nghiên cứu sinh viên tốt nghiệp hay sản phẩm của các chương trình đào tạo ngành Tiếng Anh là cần thiết vì 3 lý do: (1) Các trường hay cụ thể là Khoa đào tạo cần có được nhận định tổng quát và hệ thống tình hình sinh viên tốt nghiệp ngành Tiếng Anh, chuyên ngành PPGD, BPD và TATM để nhận biết thực trạng sản phẩm đào tạo của mình, có sự đánh giá so sánh liên quan, hệ thống, để có thể cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục của mình và (2) có minh chứng để thực hiện một số bổ sung hay chỉnh sửa về chương trình, nội dung và cách quản lý nhằm nâng cao chất lượng sinh viên tốt nghiệp ngành Tiếng Anh cũng như chuẩn bị cho đánh giá chương trình đào tạo, (3) có cơ sở dữ liệu thể hoàn chỉnh được hệ thống chuẩn đầu ra mà Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo đã yêu cầu các trường thực hiện
1.2- Mục tiêu đề tài
Đề tài đánh giá một cách hệ thống tình hình sinh viên tốt nghiệp hệ chính quy, ngành Tiếng Anh, chuyên ngành PPGD, BPD và TATM của các trường đại học tại TPHCM để có được nhận định tổng quát về thực trạng đầu ra của các chương trình đào tạo ngành Tiếng Anh Dựa vào kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất các bổ sung hay điều chỉnh cần thiết liên quan đến nội dung chương trình đào tạo và hình thức tổ chức đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đầu ra, cũng như đề xuất một số gợi ý xây dựng hệ thống chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo ngành Tiếng Anh
Trang 151.3- Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu chính của đề tài là: Thực trạng sinh viên tốt nghiệp ngành Tiếng Anh hiện tại như thế nào?
Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu chính này, nhóm tác giả sẽ tìm hiểu thông qua 3 câu hỏi phụ sau:
(1)- Tình trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp như thế nào?
(2)- Sinh viên tốt nghiệp đánh giá như thế nào về tính hữu dụng của kiến thức, kỹ năng, thái độ mà họ được trang bị trong chương trình đào tạo
cử nhân tiếng Anh?
(3)- Nhà tuyển dụng đánh giá như thế nào về tính hữu dụng của kiến thức, kỹ năng, thái độ mà sinh viên tốt nghiệp được trang bị trong chương trình đào tạo cử nhân tiếng Anh?
đề tài ở chương trình đào tạo cử nhân tiếng Anh có phân chuyên ngành Chương trình đào tạo như thế thể hiện rõ định hướng nghề nghiệp, sinh viên theo học cũng ý thức rõ về yêu cầu nghề nghiệp và công việc khi tốt nghiệp (như thế CTĐT tiếng Anh không phân chuyên ngành sẽ không là đối tượng nghiên cứu) Đề tài giới hạn nghiên cứu chỉ 03 chuyên ngành vì các chuyên
Trang 16ngành các trường phổ biến đào tạo là Phương pháp giảng dạy hoặc/và Phiên dịch hoặc/và Tiếng Anh thương mại Chuyên ngành Nghiệp vụ hành chính văn phòng chỉ được duy nhất một đại học giảng dạy (ĐH Ngoại ngữ-Tin học) nên không đưa vào nghiên cứu
Biên-Sinh viên tốt nghiệp thuộc các trường đại học sau không thuộc phạm vi nghiên cứu:
+ Các trường đại học có đào tạo ngành Tiếng Anh nhưng không phân chuyên ngành vào năm học 2004: ĐHDL Hùng Vương, ĐH Nông Lâm TP.HCM, ĐH Khoa học xã hội & Nhân văn TP.HCM
+ Các trường đại học tuy có ngành Tiếng Anh, nhưng chính thức tổ chức đào tạo sau năm 2004: ĐH Ngân hàng, ĐH Tài chính- Marketing, ĐH Quốc tế Sài Gòn, ĐH Công nghệ thông tin Gia Định, ĐH Hoa Sen, ĐH Sư phạm kỹ thuật, ĐH Công nghiệp TP.HCM, ĐH Sài Gòn Các trường này đến thời điểm nghiên cứu chưa có sinh viên tốt nghiệp thuộc đối tượng nghiên cứu (được hiểu
là sinh viên tốt nghiệp đã tốt nghiệp tối thiểu 12 tháng từ khi nhận bằng tốt nghiệp)
Như vậy chỉ còn lại 8/19 trường tại TPHCM đáp ứng các yêu cầu nghiên cứu, đó là: Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng (ĐHDL Hồng Bàng vào thời điểm
2004 – 2008), ĐH Kỹ thuật Công nghệ, ĐH Mở, ĐH Ngoại ngữ-Tin học, ĐH
Sư phạm, ĐH Tôn Đức Thắng, ĐHDL Văn Hiến và ĐHDL Văn Lang
Kết quả nghiên cứu này vì thế sẽ được hiểu chỉ khái quát hóa được tình trạng SVTN ngành tiếng Anh ở 8 trường có đào tạo chuyên ngành nêu trên
1.5- Bố cục
Báo cáo đề tài gồm 5 chương Chương 1 giới thiệu tổng quan về bối cảnh
và tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu, câu hỏi cũng như phạm vi nghiên cứu Chương 2 trình bày cơ sở lý luận trên cơ sở phân tích lý thuyết để hình thành nên hệ thống chỉ báo về sinh viên tốt nghiệp để có thể phân tích thực trạng sinh
Trang 17viên tốt nghiệp Chương 3 mô tả phương pháp nghiên cứu mà nhóm tác giả đã thực hiện Trong Chương 4 nhóm tác giả trình bày và phân tích dữ liệu thu thập được nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu Chương 5 là chương về các giải pháp, kiến nghị Nhóm tác giả sẽ đề xuất các bổ sung, điều chỉnh cần thiết liên quan đến chương trình đào tạo và tổ chức đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đầu ra
Trang 18CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Trong Chương 1 nhóm tác giả đã giới thiệu tổng quan về đề tài, về mục tiêu cũng như phạm vi, ý nghĩa thực tiễn của đề tài Chương 2 trình bày các lý thuyết nền tảng bao gồm khái niệm liên quan đến sứ mạng, mục đích và mục tiêu của trường đại học, chương trình đào tạo, cũng như khái niệm về chất lượng, chất lượng giáo dục đại học, đánh giá chất lượng giáo dục và đầu ra một chương trình đào tạo Chương 2 cũng phân tích các chỉ báo (performance indicators) liên quan đến sinh viên tốt nghiệp để làm cơ sở tổng hợp nên hệ thống các chỉ báo phục vụ đề tài nghiên cứu
2.1- Sứ mạng, mục đích, mục tiêu trường đại học
Mỗi trường đại học trong quá trình hình thành và phát triển đều mang những trọng trách, những quyết tâm thực hiện các nhiệm vụ do xã hội yêu cầu Một số định nghĩa được nêu lại nhằm làm rõ hơn các trọng trách này Sứ mạng được định nghĩa như hướng nhà trường mong muốn đạt được trong quá trình phát triển Mục đích cũng như mục tiêu là việc cụ thể hóa sứ mạng đó (Bùi Mạnh Nhị & Nguyễn Kim Dung, 2006) Mục đích là tuyên bố về mong đợi từ trường đại học, thể hiện định hướng đào tạo, diễn đạt bằng các thuật ngữ chung, không có thang đo cụ thể Mục tiêu là tuyên bố về các việc cần được thực hiện, thể hiện những yêu cầu mà người học phải đạt được sau khi theo học, có thể đo lường và quan sát được
Theo UNESCO (Cabal, 1993), trường đại học có 3 sứ mạng chính, nó cũng
là mục tiêu và mục đích của nhà trường, đó là nghiên cứu, giảng dạy và phục
vụ Những mục tiêu này có thể đạt được thông qua những hoạt động của trường
UNESCO nêu rõ giảng dạy và nghiên cứu là nhiệm vụ tri thức của trường đại học Nó liên quan đến sứ mạng giáo dục hay nhiệm vụ giáo dục, bao gồm trao dồi trí tuệ và chuyển giao các ý tưởng và khái niệm cơ bản Trường đại học
Trang 19có nhiệm vụ truyền bá và phổ biến kiến thức, và trên hết, trường đại học sáng tạo, nâng cao nghiên cứu khoa học, phát minh, sáng kiến Ngoài ra, phục vụ là nhiệm vụ xã hội hay vai trò xã hội của trường đại học tạo nên cầu nối giữa một bên là vai trò giáo dục và phát triển tri thức và một bên là sự phát triển xã hội Trường đại học không những phục vụ bộ phận sản xuất của xã hội mà còn đóng góp vào sự phát triền kinh tế và xã hội, bảo tồn và chuyển giao di sản văn hóa, bảo vệ môi trường, cải tiến toàn thể hệ thống giáo dục, theo đuổi sự công bằng
và vượt trội, khuyến khích sự thông hiểu và hợp tác quốc tế
Từ 3 sứ mạng đó, Seidel (1991) đề nghị 5 mục đích của cơ sở giáo dục đại học được UNESCO thừa nhận là: (1) cung cấp hoạt động giáo dục và đào tạo trong một khuôn khổ vừa giảng dạy vừa nghiên cứu; (2) cung cấp giáo dục nghề nghiệp; (3) là cơ sở nghiên cứu, chịu trách nhiệm tiến hành nghiên cứu ở mọi lãnh vực, tăng cường phát triển các lãnh vực liên ngành Liên kết 3 nhiệm
vụ trên, trường là nơi cung cấp liên tục nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng tất
cả nhu cầu các lãnh vực công việc; (4) tham gia đóng góp vào việc phát triển địa phương và quốc tế và (5) thúc đẩy phát triển tri thức và phát triển xã hội
Cụ thể hóa thành mục tiêu của trường đại học, UNESCO cho rằng, trường đại học (1) đào tạo ở bậc cao những công dân làm nhiệm vụ và công việc của mình một cách hiệu quả, có hiệu suất, bao gồm cả những việc đa dạng, mới và chuyên biệt nhất; (2) phục vụ việc học tập trung và học suốt đời của tất cả công dân nào mong muốn phát triển và cập nhật kiến thức; (3) đào tạo giáo viên; (4) phát hiện và giải quyết những vấn đề trọng đại quốc gia; (5) đóng góp vào việc phân tích và tìm ra giải pháp cho những vấn đề cơ bản ảnh hưởng và liên quan đến toàn cầu; (6) kết hợp với kỹ nghệ và khu vực dịch vụ nhằm phát triển đất nước; (7) hình thành nên sự hiểu biết và thông cảm; (8) để cung cấp cho chính quyền những thông tin khoa học đáng tin cậy để ra quyết định những vấn đề quan trọng
Ở nước ta, Luật giáo dục 2005, Điều 39 (cũng như Luật giáo dục 2010), chỉ
ra rằng mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính
Trang 20trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Mục tiêu của giáo dục đại học nước ta khá đồng nhất với sứ mạng, mục đích và mục tiêu giáo dục đại học UNESCO công nhận và nó gần với mục tiêu chung thể hiện ở chương trình khung do Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành của một chương trình đào tạo của 1 ngành bất kỳ Nó biểu hiện 3 sứ mạng của giáo dục đại học và 5 mục đích của một cơ sở giáo dục đại học Mục tiêu của giáo dục đại học nước ta có thêm phần giáo dục phẩm chất chính trị, sức khỏe, nhưng lại không đề cập đến khuynh hướng toàn cầu hóa: hướng sự phục vụ đến không những cộng đồng trong nước mà còn cộng đồng toàn cầu
2.2- Chương trình đào tạo
Theo thuật ngữ giáo dục, chương trình đào tạo (curriculum) là một bản thiết
kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo, cho ta biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, đầu ra của người học, phác họa ra các qui trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, các phương pháp đào tạo và cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập, và các yếu tố này được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ (Wentling 1993; Wiles & Bondi, 1989) Chương trình đào tạo là hệ thống của đầu ra, hoặc các nhiệm vụ mà các nhà giáo dục gọi là mục tiêu và mục đích, trang bị cho sinh viên các kỹ năng giúp sinh viên thành công trong xã hội và nghề nghiệp
Trong Điều 6, Luật Giáo dục Việt Nam 2005, chương trình đào tạo thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo Như thế chúng ta có thể hiểu rằng chương trình giáo dục nêu trong Luật giáo dục chính là chương trình đào tạo nêu ở trên
Trang 21Ngoài ra chương trình đào tạo còn có một nghĩa thứ hai, (program), là một chương trình học riêng biệt Nó bao gồm nội dung, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và các hoạt động học thuật của một đơn vị đào tạo (thường là cấp khoa hay bộ môn tùy theo cơ cấu tổ chức của từng đơn vị) đang triển khai để đào tạo một ngành học trong một bậc học nhất định, thường được ký hiệu bằng
mã ngành (Nguyễn Kim Dung, 2003) Đề tài này đi sâu phân tích các chương trình đào tạo cử nhân ngành tiếng Anh thuộc các trường nêu ở Chương 1, nên tiếp cận chương trình đào tạo theo nghĩa thứ hai
2.2.1- Mục tiêu chung của chương trình đào tạo thuộc đối tượng nghiên cứu
Các chương trình đào tạo cử nhân chính quy Tiếng Anh (CTĐT tiếng Anh) thuộc 8 đại học tại TPHCM thuộc đối tượng nghiên cứu đều xác nhận lại mục tiêu giáo dục đại học nêu trong Luật giáo dục ở mục tiêu chung của các chương trình đào tạo tiếng Anh Đây cũng chính là mục tiêu chung của chương trình khung cử nhân tiếng Anh do Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành (2004) Điều cần lưu ý trong nghiên cứu là các chương trình đào tạo ngành tiếng Anh thuộc bất kỳ đại học Việt Nam nào đều phải dựa và chương trình khung khi xây dựng chương trình, nên việc giống nhau giữa các chương trình đào tạo của các trường có thể lý giải được Nội dung mục tiêu chương trình đào tạo đều hướng đến bao gồm 3 phần chính là kiến thức, kỹ năng và thái độ (bao gồm năng lực
và phẩm chất đề cập trong chương trình đào tạo Như thế khi xem xét đánh giá những gì liên quan đến chương trình đào tạo, nhóm đề tài cũng sẽ dựa vào ba thành phần này
Chúng ta có thể lấy 1 ví dụ minh họa ĐH Tôn Đức Thắng và Ngoại Tin học gần như xác nhận hoàn toàn mục tiêu chung của chương trình khung này tại chương trình đào tạo của họ Theo chương trình khung, mục tiêu chung
ngữ-là đào tạo cử nhân ngành Tiếng Anh có đủ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp phẩm chất chính trị, đạo đức, tác phong nghề nghiệp và sức khỏe tốt để có thể
Trang 22làm việc có hiệu quả trong các lĩnh vực chuyên môn có sử dụng tiếng Anh, đáp ứng được yêu cầu của xã hội và của nền kinh tế trong quá trình hội nhập quốc
tế
ĐH Tôn Đức Thắng đào tạo cử nhân ngành tiếng Anh có đủ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất chính trị, đạo đức, tác phong nghề nghiệp và sức khỏe tốt để có thể làm việc có hiệu quả trong các lĩnh vực chuyên môn có sử dụng tiếng Anh, đáp ứng yêu cầu của xã hội và của nền kinh tế trong quá trình hội nhập quốc tế
ngu-anh&catid=36:dai-hoc-chinh-quy&Itemid=62)
(http://pdt.tdt.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=158:dh-ngon-ĐH Ngoại ngữ-Tin học đào tạo cử nhân ngành tiếng Anh bậc đại học có kiến thức nền và kỹ năng nghề nghiệp vững chắc; có phẩm chất chính trị, có tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa; có đạo đức, tác phong nghề nghiệp để có thể làm việc hiệu quả trong các lĩnh vực chuyên môn có sử dụng tiếng Anh, đáp ứng được yêu cầu của xã hội và của nền kinh tế trong quá trình hội nhập quốc tế
- Bảo đảm cho sinh viên đạt được trình độ nghiệp vụ đủ để hoạt động và công tác có hiệu quả trong các lĩnh vực chuyên môn như giảng dạy, công tác biên – phiên dịch, các lĩnh vực hoạt động nghiệp vụ, kinh doanh, kinh tế và xã hội …;
Trang 23- Trang bị cho sinh viên kỹ năng học tập hiệu quả để có thể tự học tập nhằm tiếp tục nâng cao kiến thức và năng lực thực hành tiếng, bước đầu hình thành tư duy và năng lực nghiên cứu khoa học về các vấn đề ngôn ngữ, văn học hoặc văn hóa – văn minh của các nước Cộng đồng Anh ngữ
Tất cả chương trình đào tạo của các đại học trong phạm vi nghiên cứu: cũng
có mục tiêu cụ thể tương tự CTĐT Tiếng Anh của ĐH Tôn Đức Thắng nhằm giúp sinh viên:
- Đạt được khối lượng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn cần thiết đối với một chuyên gia ngôn ngữ;
- Có khả năng sử dụng thành thạo các kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh (nghe, nói, đọc, viết);
- Nắm vững những kiến thức và kỹ năng cần thiết để công tác có hiệu quả trong các ngành sư phạm, thương mại;
- Trang bị các kiến thức và kỹ năng cần thiết về biên phiên dịch
- Đạt được những kỹ năng cơ bản về phương pháp học tập và nghiên cứu
ở đại học, tạo cơ sở cho sinh viên tiếp tục học cao hơn với các chương trình sau đại học
CTĐT Tiếng Anh của ĐH Văn Lang đặt mục tiêu cung cấp cho sinh viên kiến thức tương đối rộng về ngôn ngữ Anh, văn hoá, xã hội và văn học Anh - Mỹ; rèn luyện và phát triển các kỹ năng giao tiếp tiếng Anh ở mức độ tương đối thành thạo trong giao tiếp và chuyên môn; bảo đảm trình độ nghiệp vụ trong các lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh, các lĩnh vực hoạt động nghiệp vụ, kinh doanh, kinh tế và xã hội
(http://www.vanlanguni.edu.vn/%c4%90%c3%a0ot%e1%ba%a1o/Ch%c6%b0%c6%a1ngtr%c3%acnh/Ch%c6%b0%c6%a1ngtr%c3%acnhkhung/tabid/170/cate/NN/Default.aspx)
- Sinh viên được trang bị kỹ năng học tập hiệu quả để có thể tiếp tục tự học tập nâng cao kiến thức, thực hành tiếng Anh, hình thành tư duy và năng lực nghiên cứu khoa học
Trang 24- Chuyên ngành Sư phạm: đào tạo giáo viên Anh ngữ, có khả năng đứng lớp giảng dạy tiếng Anh cho các trường phổ thông Trung học và các Trung tâm ngoại ngữ
- Chuyên ngành Thương mại: đào tạo ra những cử nhân có thể đảm nhiệm những công tác biên phiên dịch các văn bản và tài liệu thương mại tiếng Anh, một số công tác văn phòng của các đơn vị thường xuyên sử dụng tiếng Anh trong giao dịch thương mại
Trên cơ sở mục tiêu đào tạo cụ thể nêu ra ở chương trình khung (yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và thái độ mà sinh viên tốt nghiệp phải có): sinh viên có kiến thức đại cương về xã hội và nhân văn, có kiến thức ngôn ngữ và kỹ năng
sử dụng thành thạo tiếng Anh, có kiến thức và kỹ năng chuyên môn liên quan đến chuyên ngành đào tạo, các trường đã chi tiết hóa mục tiêu đào tạo cụ thể của mình Nhưng mục tiêu cụ thể của 2 trường trên chỉ đề cập chủ yếu kiến thức và kỹ năng của sinh viên tốt nghiệp Chỉ có phần mục tiêu chung mới đề cập một cách toàn diện hơn về đạo đức, phẩm chất chính trị, cũng như các yêu cầu khác như sinh viên tốt nghiệp phải có kỹ năng học tập, năng lực tư duy và nghiên cứu khoa học
Khi phân tích các CTĐT tiếng Anh của 8 đại học tại TPHCM thuộc phạm
vi nghiên cứu, đề tài xem xét mục tiêu của chương trình đào tạo bao gồm cả mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể vì mục tiêu chung bổ sung những gì mà mục tiêu cụ thể của chương trình đào tạo không đề cập đến
2.2.3- Nội dung chương trình đào tạo
Theo Tài liệu về công tác kiểm định chất lượng trường đại học do Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành (2008), nội dung đào tạo gồm 4 thành tố:
(1) Khối lượng, nội dung và trình độ kiến thức được quy định trong chương trình đào tạo phải bảo đảm (2) Kỹ năng hay năng lực vận hành được đào tạo bao gồm: bắt chước, thao tác, chuẩn hóa, phối hợp, tự động Kiến thức và kỹ
Trang 25năng chuyên môn cần được cung cấp đủ để người học có thể hoạt động, đảm đương được các công việc thuộc chuyên môn của mình
Trước thời kỳ đổi mới, chương trình đào tạo đại học theo mẫu Liên xô được cấu trúc từ các nhóm môn học: khoa học cơ bản, cơ sở, ngành và chuyên ngành Nhằm đáp ứng yêu cầu nhân lực cho một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chương trình đào tạo thường định hướng nghề nghiệp ngay từ đầu, do đó thường chỉ chứa những môn học liên quan trực tiếp tới nghề nghiệp, còn ngành đào tạo được thiết kế khá hẹp Để thích nghi với việc chuyển đổi nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chương trình đào tạo cấp đại học của Việt Nam sau này được thiết kế lại gồm 2 phần: kiến thức giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp
Kiến thức giáo dục đại cương gồm 6 lãnh vực: khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và toán, ngoại ngữ, giáo dục quốc phòng và thể chất Các môn học này tạo cho người học tầm nhìn rộng, thế giới quan và nhân sinh quan đúng đắn, hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người (kể cả bản thân), nắm vững phương pháp tư duy khoa học, biết trân trọng các di sản văn hóa, yêu tổ quốc và có năng lực tham gia bảo vệ tổ quốc, trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa Kiến thức giáo dục đại cương còn cung cấp cho người học tiềm lực vững vàng để một mặt họ có thể học tốt các kiến thức nghề nghiệp ở giai đoạn sau cũng như có thể cập nhật và nâng cao nghề nghiệp suốt đời; mặc khác khi cần thiết họ có thể đổi hướng nghề nghiệp cho phù hợp với các biến động của thị trường lao động
Kiến thức giáo dục chuyên nghiệp bao gồm 3 bộ phận: kiến thức cơ sở của ngành hay liên ngành, chuyên môn chính và bổ trợ nhằm cung cấp cho người học những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp ban đầu
(3) Năng lực nhận thức và năng lực tư duy được đào tạo bao gồm: biết, hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá, chuyển giao và sáng tạo Năng lực
tư duy bao gồm: tư duy logic, trừu tượng, phê phán và sáng tạo Năng lực nhận
Trang 26thức và năng lực tư duy để người học có thể tự học, tự nâng cao và tự hoàn thiện suốt đời
(4) Phẩm chất nhân văn được đào tạo bao gồm: năng lực giao tiếp, hợp tác, thuyết phục và quản lý
Khi xem xét nội dung CTĐT của các trường nghiên cứu, các CTĐT đều có
đề cập đến 4 thành tố nêu trên, và khá giống nhau giữa các trường Các CTĐT chỉ khác nhau chủ yếu ở thời lượng học nhưng cũng không quá đáng kể Nhóm
đề tài phải dựa thêm vào chuẩn đầu ra mà các tường công bố vào năm 2009,
2010 để xác định cụ thể hơn thành phần kiến thức, kỹ năng và thái độ ở người sinh viên mà CTĐT mong muốn hướng đến với chi tiết sau:
Kiến thức, kỹ năng chung
- Kiến thức về nghiên cứu khoa học
- Kiến thức cơ bản về xã hội, nhân văn
- Kiến thức cơ bản về xã hội, nhân văn
- Kiến thức tiếng: Nghe, Nói, Đọc, Viết tiếng Anh
- Kiến thức văn hóa Anh, Mỹ
- Kỹ năng viết rõ ràng và hiệu quả
- Nói và diễn đạt rõ rang và hiệu quả
- Sử dụng vi tính để phục vụ công việc
- Sử dụng ngoại ngữ hai để phục vụ công việc
Kiến thức, kỹ năng chuyên ngành
o Chuyên ngành Phương pháp giảng dạy
- Nắm vững cách giảng dạy các lĩnh vực ngôn ngữ: Ngữ âm, ngữ
pháp, từ vựng
- Nắm vững cách giảng dạy các kỹ năng ngôn ngữ: Nghe, Nói, Đọc,
Viết
- Nắm vững các kiến thức về tâm lý giáo dục, kiểm tra đánh giá
- Nắm vững cách thiết kế bài giảng
Trang 27o Chuyên ngành Tiếng Anh thương mại
- Nắm vững kiến thức giao dịch thương mại cơ bản
- Nắm vững kiến thức về soạn thảo văn bản thương mại
- Nắm vững kiến thức cơ bản về quản trị
- Biết cách áp dụng kiến thức vào thực tiễn
o Chuyên ngành Biên phiên dịch
- Khả năng thích ứng môi trường làm việc
- Chấp nhận sự đa dạng trong cuộc sống
Trang 28- Tinh thần cầu tiến
Chất lượng nghĩa là những điều khác nhau đối với mỗi người khác nhau và
là lãnh vực rộng Nhà tuyển dụng khi nói đến chất lượng, chỉ quan tâm đến kiến thức, kỹ năng và đạo đức mà sinh viên tốt nghiệp có được Sinh viên tốt nghiệp xem chất lượng của chương trình đào tạo liên quan đến việc phát triển nhân cách, kiến thức, kỹ năng và sự chuẩn bị cho họ khi làm việc để có chỗ đứng trong xã hội Chính quyền và nhà quản lý quan tâm đến tỷ lệ đậu/rớt, thời gian học tập để lấy bằng, tổ chức đào tạo sao cho sinh viên có thể kết thúc học đúng thời gian quy định Giảng viên và giới học thuật quan tâm đến hệ thống chuyển giao tri thức và điều kiện đảm bảo
Theo Tổ chức đảm bảo chất lượng (INQAA- International Network for Quality Asurance Agencies) chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu Như thế
Trang 29các quan niệm về chất lượng tuy khác nhau, nhưng đều có chung một ý tưởng: chất lượng là sự thỏa mãn một yêu cầu nào đó Trong sản xuất, chất lượng của một sản phẩm được đánh giá qua mức độ đạt các tiêu chuẩn chất lượng đã đề ra của sản phẩm Trong giáo dục, chất lượng được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đã đề ra của chương trình đào tạo
Tài liệu về công tác kiểm định chất lượng trường đại học của Bộ Giáo dục
& Đào tạo (2008) đã sử dụng khái niệm chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu, đáp ứng việc nghiên cứu về đảm bảo về giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Sự phù hợp với mục tiêu có thể bao gồm việc đáp ứng đòi hỏi của những người quan tâm như các nhà quản lý, nhà giáo hay các nhà nghiên cứu giáo dục đại học Sự phù hợp với mục tiêu còn bao gồm cả sự đáp ứng hay vượt qua các chuẩn mực đã được đặt ra trong giáo dục và đào tạo Sự phù hợp với mục tiêu cũng đề cập đến những yêu cầu về sự hoàn thiện của đầu ra, hiệu quả của đầu tư Mỗi một trường đại học cần xác định nội dung của sự phù hợp với mục tiêu trên cơ sở bối cảnh cụ thể của nhà trường tại thời điểm xác định mục tiêu đào tạo của mình Sau đó chất lượng là vấn đề làm sao để đạt được các mục tiêu đó
Trong phạm vi đề tài này, nhóm thực hiện thống nhất xác định chất lượng là
sự đạt được các mục tiêu chung và cụ thể của chương trình đào tạo đặt ra Chúng ta nghiên cứu để đánh giá để xem sinh viên tốt nghiệp có thực hiện được mục tiêu đào tạo của chương trình đào tạo đặt ra Mục tiêu của chương trình đào tạo là tạo ra những sinh viên tốt nghiệp có kiến thức, kỹ năng, năng lực, thái độ nêu ở mục 2.2.2 và 2.2.3 Nói cách khác sinh viên tốt nghiệp là sản phẩm của những chương trình đào tạo, là sản phẩm của những mục tiêu giáo dục của từng trường đại học riêng biệt
Trang 302.3.2- Đánh giá chất lượng giáo dục đại học
Trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau khi đánh giá chất lượng giáo dục (Mai Trọng Nhuận & Nguyễn Phương Nga, 2006) Chất lượng được đánh giá bằng đầu vào: Chất lượng một trường đại học phụ thuộc vào chất lượng hay
số lượng đầu vào của trường đó Chất lượng được đánh giá bằng đầu ra: Đầu ra chính là sản phẩm của giáo dục đại học được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của sinh viên tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của trường đó Chất lượng được đánh giá bằng giá trị gia tăng: Quan điểm thứ ba về chất lượng giáo dục đại học cho rằng một trường đại học được coi là
có tác động tích cực tới sinh viên nếu nó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát triển về trí tuệ và cá nhân của sinh viên Chất lượng được đánh giá bằng giá trị học thuật: Chủ yếu dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ cán bộ giảng dạy trong từng trường trong quá trình thẩm định công nhận chất lượng đào tạo đại học
Ngoài các định nghĩa trên, Tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc tế (INQAHE – International Network of Quality Assurance in Higher Education) đã đưa ra hai định nghĩa về chất lượng giáo dục đại học là (1) Tuân theo các chuẩn qui định; (2) Đạt được mục tiêu đề ra
(http://www.inqaahe.org/admin/files/assets/subsites/1/documenten/1236866920_statement-on-eqa.pdf)
Cần có bộ chuẩn quy định cho giáo dục đại học về tất cả các lĩnh vực và việc kiểm định chất lượng một trường đại học sẽ dựa vào Bộ tiêu chí chuẩn đó Khi không có bộ tiêu chí chuẩn, việc thẩm định chất lượng sẽ dựa trên mục tiêu của từng lĩnh vực để đánh giá Những mục tiêu này sẽ được xác lập trên cơ sở trình độ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và những điều kiện đặc thù của trường đó
Ở đây nhóm tác giả không tham vọng đánh giá chất lượng giáo dục đại học của trường thuộc đối tượng nghiên cứu hay của CTĐT tiếng Anh bằng việc
Trang 31đánh giá đầu ra Nhóm đề tài chỉ thừa nhận quan điểm chất lượng giáo dục đại học hay chất lượng CTĐT tiếng Anh liên quan mật thiết với chất lượng đầu ra
Vì vậy khi đo lường đầu ra phải phản ánh được chất lượng của đầu ra Al Turki và Duffuaa (2002) ủng hộ 3 yếu tố thành tố tạo ra đầu ra nêu trên: sinh viên tốt nghiệp, các hoạt động nghiên cứu và phục vụ cộng đồng
- Chất lượng của sinh viên tốt nghiệp Đó là đánh giá sinh viên tốt nghiệp khi ra trường có thực hiện được mục tiêu đào tạo
- Chất lượng của hoạt động nghiên cứu và học bổng: Đó là đánh giá hoạt động nghiên cứu bao gồm bài viết trên tạp chí, hội nghị, dự án nghiên cứu
- Chất lượng phục vụ cộng đồng: Đó là đánh giá khả năng nhà trường phục vụ cộng đồng, được đo lường bởi số dự án được doanh nghiệp tài trợ, số công việc tư vấn, số khóa học ngắn hạn trường tổ chức…
Quan điểm về 3 thành tố của đầu ra cũng được mô hình các yếu tố tổ chức (OEM) xác nhận Quá trình đào tạo bao gồm 5 yếu tố Đầu vào gồm giảng viên, sinh viên, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, quy chế, tài chính Quá trình đào tạo bao gồm phương pháp và quy trình đào tạo, quản lý đào tạo Kết quả đào tạo là mức độ hoàn thành khoá học, năng lực đạt được và khả năng
Trang 32thích ứng của học viên Đầu ra là học viên tốt nghiệp, kết quả nghiên cứu và các dịch vụ khác đáp ứng nhu cầu kinh tế xã hội Hiệu quả là kết quả của giáo dục và ảnh hưởng của nó đối với xã hội (Bộ Giáo dục & Đào tạo, 2008)
Tuy nhiên cũng có các ý kiến khác về thành tố tạo nên đầu ra Mô hình phân tích giáo dục đại học trong TRACER Studies (Schomburg, 2003) hay mô hình của Đại học Hoa Kỳ (Hulsebosch, 2009) giới thiệu bao gồm đầu vào, hoạt động, đầu ra và kết quả của chương trình đào tạo ấy Đầu vào bao gồm các yếu
tố liên quan đến người học, lực lượng giảng viên, cơ sở vật chất, giáo trình, kinh phí đào tạo Hoạt động gồm kế hoạch tổ chức đào tạo, các dịch vụ hỗ trợ học tập, nghiên cứu khoa học Đầu ra là sự tiếp thu của người học đến khi tốt nghiệp (kiến thức, kỹ năng và thái độ); tỷ lệ tốt nghiệp Kết quả (outcomes) là mức độ tham gia xã hội, mức độ đáp ứng trong công việc, mức thu nhập Theo định nghĩa từ vựng về phân tích chất lượng (www.Wikipedia), kết quả
là viết tắt của sản phẩm của một cơ sở đào tạo bao gồm sự phát triển kỹ năng
và học vấn của sinh viên, kết quả nghiên cứu và đóng góp vào cộng đồng địa phương và quốc tế Như thế, kết quả, với nghĩa hẹp, đó là sự đạt đến đầu ra mong muốn, và nghĩa rộng hơn là kết quả hay tác động
Như vậy các cách phân tích hệ thống giáo dục đều có đầu vào, quá trình đào tạo, và đầu ra Đầu ra được hiểu bao gồm sinh viên tốt nghiệp, các hoạt động nghiên cứu và phục vụ cộng đồng Đối với một chương trình đào tạo thì đầu ra chỉ là sinh viên tốt nghiệp nghiên cứu này cũng chỉ giới hạn ở đầu ra của CTĐT tiếng Anh hay SVTN ngành tiếng Anh Tuy nhiên đề tài không chỉ duy nhất hướng đến đánh giá chất lượng SVTN Đánh giá sinh viên tốt nghiệp đó là đánh giá sinh viên tốt nghiệp khi ra trường có thực hiện được mục tiêu đào tạo
về kiến thức, kỹ năng và thái độ; tỷ lệ tốt nghiệp; mức độ tham gia xã hội; mức
độ đáp ứng trong công việc; mức thu nhập Nghiên cứu này muốn xem xét SVTN một cách tổng quan nhất bao gồm mọi khía cạnh liên quan Như vậy việc đánh giá SVTN thực hiện được mục tiêu đào tạo của CTĐT tiếng Anh chỉ
là 1 phần của việc xác định thực trạng Vì thế, rất cần xây dựng 1 hệ thống các
Trang 33chỉ báo khá toàn diện về SVTN để làm cơ sở cho việc tìm hiểu thực trạng SVTN
2.4- Chỉ báo
Chất lượng giáo dục đại học, như đã trình bày ở phần trên, là một khái niệm động, đa chiều, và gắn với các yếu tố chủ quan thông qua quan hệ giữa người với người Do vậy không thể dùng một phép đo đơn giản để đánh giá và đo lường chất lượng trong giáo dục đại học Trong giáo dục đại học người ta thường dùng một bộ thước đo bao gồm các chuẩn so sánh và các chỉ báo ứng với các lĩnh vực trong quá trình đào tạo, nghiên cứu khoa học và dịch vụ cộng đồng của các trường đại học Bộ thước đo này có thể dùng để đánh giá đo lường bản thân chất lượng đào tạo của một trường đại học hay một chương trình đào tạo Các chỉ báo đó có thể là chỉ số định lượng, tức là đánh giá và đo được bằng điểm số Cũng có thể có các chỉ báo định tính, tức là đánh giá bằng nhận xét chủ quan của người đánh giá
Theo định nghĩa từ vựng về phân tích chất lượng, chuẩn so sánh là điểm tham chiếu để dựa vào đó mà đo lường một sự việc Trong bối cảnh thông thường của giáo dục đại học, chuẩn so sánh thông thường là (1) mức thực hiện, nguồn lực hay kết quả mà dựa vào đó để so sánh 1 đơn vị đào tạo hay (2) yêu cầu chi tiết của những quá trình có khả năng so sánh Đưa ra chuẩn so sánh là một trong những bước cần thiết của toàn thể tiến trình đánh giá giữa đầu vào, quá trình, kết quả giữa các cơ sở đào tạo hay giữa các khoa trong trường ở cùng thời điểm hay ở những thời điểm khác nhau
UNESCO định nghĩa (Vlasceanu & Grunberg, 2004) chỉ báo hoạt động hay chỉ báo là chuỗi chỉ báo thống kê đại diện cho một chuẩn để đánh giá mức độ
mà một cơ sở đào tạo hay một chương trình đào tạo đạt được tại một bối cảnh nhất định Chúng có thể là chuẩn để đánh giá định tính hay định lượng đầu ra (chuẩn đánh giá kết quả ngắn hạn) hay kết quả (chuẩn đánh giá mang tính dài hạn và tác động) của một hệ thống hay một chương trình đào tạo Chỉ báo cho
Trang 34phép đơn vị đào tạo nhận định xem hoạt động của mình có đạt chuẩn hay so sánh hoạt động của mình với các trường khác
Chỉ báo chỉ phát huy tác dụng chỉ khi chúng được dùng như là một phần của hệ thống liên kết với nhau của chỉ báo đầu vào, quá trình và đầu ra Các cơ
sở đào tạo đại học thực hiện nhiều hoạt động và nhắm vào nhiều mục tiêu khác nhau, việc xác định và sử dụng nhiều chỉ báo hoạt động là rất cần thiết để đảm bảo thể hiện các hoạt động đa dạng của cơ sở đào tạo Có thể nêu ví dụ của các chỉ báo phổ biến của các cơ sở đào tạo là số sinh viên theo học mỗi khóa, điểm đầu vào của sinh viên, khối lượng công việc mà giảng viên đảm nhận, khả năng
có việc làm của sinh viên tốt nghiệp, tài trợ nghiên cứu và hợp đồng nghiên cứu, số bài báo hay nghiên cứu xuất bản, tỷ lệ giảng viên/sinh viên, số thu và chi của cơ sở đào tạo (Vlasceanu & Grunberg, 2004)
Đề tài này không nhằm mục đích so sách chất lượng đầu ra hay sinh viên tốt nghiệp giữa các trường nên chỉ tập trung vào các chỉ báo liên quan đến sinh viên tốt nghiệp để nghiên cứu thực trạng này
2.5- Các chỉ báo phản ánh thực trạng sinh viên tốt nghiệp
Khi nói về đầu ra của chương trình đào tạo hay sinh viên tốt nghiệp, nhóm tác giả tìm đến nhiều nguồn đề xuất các chỉ báo liên quan từ: (1) các tiêu chí kiểm định chất lượng giáo dục; (2) kiểm định và đánh giá chương trình; (3) xếp hạng trường đại học và (4) tiêu chí do một số học giả đề nghị
2.5.1- Chỉ báo về sinh viên tốt nghiệp dựa vào tiêu chí kiểm định chất lượng giáo dục
Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học của Bộ Giáo dục & Đào tạo (2008) đã đề cập đến mười tiêu chuẩn sau: (1) Sứ mạng và mục tiêu của trường đại học, (2) Tổ chức và quản lý, (3) Chương trình giáo dục, (4) Hoạt động đào tạo, (5) Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên, (6) Người học, (7) Nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển
Trang 35giao công nghệ, (8) Hoạt động hợp tác quốc tế, (9) Thư viện, trang thiết bị học tập và các cơ sở vật chất khác và (10) Tài chính và quản lý tài chính
Trong tiêu chuẩn người học, có 2 chỉ báo hoạt động đến sinh viên tốt nghiệp
là (1) tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp và (2) tỷ lệ người có việc làm đúng ngành đào tạo
Trong mẫu báo cáo tự đánh giá kiểm định chất lượng giáo dục trường đại học (Bộ Giáo dục & Đào tạo, 2008) cũng như mẫu báo cáo về thực trạng cơ sở giáo dục, Bộ Giáo dục & Đào tạo yêu cầu các trường đại học báo cáo về sinh viên tốt nghiệp, hệ chính quy theo các chỉ báo sau:
Số lượng sinh viên tốt nghiệp
Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp so với số tuyển vào
Đánh giá của sinh viên tốt nghiệp về chất lượng đào tạo của nhà trường
Tỷ lệ sinh viên trả lời đã học được những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho công việc theo ngành tốt nghiệp
Tỷ lệ sinh viên trả lời chỉ học được một phần kiến thức và kỹ năng cần thiết
Tỷ lệ sinh viên trả lời không học được
Sinh viên có việc làm trong năm đầu tiên sau khi tốt nghiệp
Tỷ lệ sinh viên có việc làm đúng ngành đào tạo (- Sau 6 tháng tốt nghiệp
Tỷ lệ sinh viên đáp ứng yêu cầu công việc có thể sử dụng được ngay
Đáp ứng cơ bản yêu cầu của công việc nhưng phải đào tạo thêm
Tỷ lệ sinh viên phải đào tạo lại hoặc đào tạo bổ sung
Trang 36Theo hội đồng tài trợ giáo dục đại học Anh (HEFCE), hệ thống chỉ báo liên quan đến sinh viên tốt nghiệp như sau:
Tỷ lệ sinh viên bỏ học
Tỷ lệ tốt nghiệp
Tỷ lệ có việc làm sau khi ra trường
Tỷ lệ sinh viên tiếp tục theo đuổi việc học sau 6 tháng từ khi ra trường
2.5.2- Chỉ báo hoạt động về sinh viên tốt nghiệp dựa vào tiêu chí kiểm định và đánh giá chương trình đào tạo
Trong Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng đơn vị đào tạo do Đại học Quốc gia Hà Nội ban hành (2005) có tiêu chí người tốt nghiệp có năng lực đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong bối cảnh toàn cầu hóa với 4 mức sau
- Mức 1: Người tốt nghiệp có các kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp theo các chuẩn mực đào tạo của chương trình
- Mức 2: Người tốt nghiệp có năng lực tác nghiệp và thích ứng được trong môi trường làm việc đa văn hóa
- Mức 3: Người tốt nghiệp có năng lực tác nghiệp đáp ứng được những yêu cầu của thị trường lao động trong khu vực ASEAN
- Mức 4: Người tốt nghiệp có năng lực tác nghiệp đáp ứng được những yêu cầu của thị trường lao động của các nước phát triển
Riêng Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng đơn vị đào tạo do Đại học Quốc gia Hà Nội ban hành (2010) có bổ sung các chỉ báo sau
Tỷ lệ thôi học ở mức chấp nhận được
Tỷ lệ tốt nghiệp ở mức phù hợp
Thời gian trung bình tốt nghiệp ở mức phù hợp
Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm ở mức phù hợp
Các bên liên quan đều hài lòng với chương trình và chất lượng SVTN
Trang 37Đại học Thương Mại cũng ban hành Bộ tiêu chí đánh giá kiểm định chất lượng chương trình đào tạo với tiêu chí chất lượng sinh viên tốt nghiệp với 2 mức sau:
- Mức 1: Có từ trên 70% sinh viên tốt nghiệp có việc làm sau 1 năm ra trường
- Mức 2: Có trên 80% sinh viên tốt nghiệp có việc làm, trong đó 40% sinh viên có việc làm phù hợp với chuyên ngành đào tạo sau 1 năm tốt nghiệp (www.vcu.edu.vn/ 3/ /TCKD%20ch%20nganh%2026-3-08.doc)
Theo CHE (CHE, 2003), chỉ báo của đầu ra như sau:
Tỷ lệ lưu ban và tốt nghiệp
Số liệu về việc làm/Sự nhìn nhận của bên bên ngoài
Ngoài ra việc tìm các chỉ báo liên quan đến SVTN có thể dựa vào các mô hình đánh giá Việc đánh giá chương trình dựa vào mô hình CIPP của Stufflebeam (2003) được sử dụng khá phổ biến trên thế giới, nó cung cấp kiến thức và giá trị nền tảng để ra quyết định Mô hình bao gồm bối cảnh, đầu vào, quá trình và đầu ra, một mô hình toàn diện để đánh giá một cách hệ thống hiệu quả của chương trình đào tạo Mục tiêu, kế hoạch, hành động và kết quả là những tiêu điểm để thực hiện việc đánh giá bối cảnh, đầu vào, quá trình và đầu
ra Các loại đánh giá này có mục tiêu khác nhau, đạt được thông qua các phương pháp khác nhau để giúp ích cho quá trình ra quyết định Đầu vào bao gồm những tiêu chuẩn liên quan đến sinh viên được nhận vào học tại cơ sở đào tạo Quá trình bao gồm đội ngũ giảng viên, giảng dạy, cơ sở vật chất cho học tập, nghiên cứu khoa học, cơ sở hạ tầng và dịch vụ dành cho giảng dạy và nghiên cứu Đầu ra là những tiêu chuẩn phản ánh sinh viên tốt nghiệp Suhayada (2008) trong kế hoạch đánh giá của Đại học Rush cho rằng đầu ra là thành quả của cơ sở đào tạo, biểu hiện thông qua các tiêu chí đánh giá sau:
Sự đa dạng của giảng viên và sinh viên
Tỷ lệ ghi danh, tốt nghiệp và bỏ học
Trang 38 Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm
Nghiên cứu, thành tựu trong nghề nghiệp và phục vụ cộng đồng của giảng viên, sinh viên và học bổng của cựu học viên
Tỷ lệ thỏa mãn của Giảng viên, sinh viên, nhân viên và nhà tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp từ Đại học Rush
Ngoài mô hình CIPP, các trường đại học Việt Nam cũng như các nước Đông Nam dựa vào mô hình do Tổ chức Đảm bảo chất lượng mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (AUN-QA) xây dựng mà các trường đại học Đông Nam Á dựa vào để xây dựng nên hệ thống các tiêu chuẩn đánh giá chương trình đào tạo
Hoạt động đào tạo của một trường đại học được thể hiện qua mô hình (AUN-QA Manual for the implementation of the guidelines, 2006, tr.16) Hình 2.1 Theo đó, cột 1 bao gồm sứ mạng và mục tiêu đào tạo Cột 2 biểu hiện những gì nhà trường thực hiện để đạt được mục tiêu đề ra bao gồm diễn giải các mục tiêu thông qua chính sách chiến lược; cấu trúc quản lý và cách thức quản lý của trường; cách quản lý nguồn nhân lực: nguồn giảng viên; cơ sở vật chất Cột 3 là hoạt động cốt lõi của nhà trường: hoạt động dạy và học; hoạt động nghiên cứu; đóng góp cho xã hội và cho việc hỗ trợ và phát triển cộng đồng Cột chót liên quan đến thành tựu Nhà trường đã đạt được điều gì, những thành tựu đấy có tương thích với sứ mạng và mục tiêu đề ra hay không? Khung trên cùng của mô hình xem xét đến sự thỏa mãn của các bên liên quan và nó gắn với tất cả các cột
Tuy nhiên hoạt động cốt lõi của trường đại học Việt Nam hiện nay là dạy và học, vì thế mô hình chi tiết của hoạt động dạy và học được đặt ra ở Hình 2.2 (AUN-QA Manual for the implementation of the guidelines, 2006, tr.17)
Trang 39Hình 2.1: Mô hình chất lượng AUN-QA
Trong cột 1 là mục tiêu và chuẩn đầu ra dự kiến Kế đến là 4 dòng ở giữa
mô hình Dòng 1 liên quan đến việc chương trình đào tạo, chương trình đào tạo
tổ chức như thế nào để đạt được chuẩn đầu ra công bố Dòng thứ 2 liên quan đến đầu vào của quá trình đào tạo: như giảng viên, trợ giảng, cố vấn học tập, sinh viên Dòng thứ 3 liên quan đến làm thế nào để đảm bảo chất lượng đào tạo Dòng thứ 4 liên quan đến kết quả của quá trình học, sinh viên tốt nghiệp: hình ảnh sinh viên tốt nghiệp, tỷ lệ đậu và bỏ học, thời gian học trung bình để nhận bằng và khả năng tìm việc làm của sinh viên tốt nghiệp Cột cuối cùng xem trường có đạt được những gì trường muốn đạt và khung trên cùng của mô hình xem xét đến sự thỏa mãn những người liên quan và nó gắn với tất cả các cột
SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI LIÊN QUAN
QUẢN LÝ
NGUỒN NHÂN SỰ
NGUỒN
DỰ TRỮ
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
NGHIÊN CỨU
DỊCH VỤ CỘNG ĐỒNG
Trang 40Hình 2.2: Mô hình chất lượng dạy và học của AUN-QA
Mặc dù AUN-QA không đưa ra tiêu chí về đầu ra, họ đưa ra một số hướng dẫn sau: Về đầu ra, sinh viên tốt nghiệp có đạt được chuẩn mong muốn không?
Họ có kiến thức, kỹ năng, thái độ mong muốn không? Kết quả đạt được của họ
có tương đương với kết quả mong muốn? Tiêu chí của AUNQA gồm có: hình ảnh sinh viên tốt nghiệp, tỷ lệ trượt tốt nghiệp, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp, thời gian học
để tốt nghiệp, khả năng được tuyển dụng
2.5.3- Chỉ báo về sinh viên tốt nghiệp dựa vào tiêu chí xếp hạng trường đại học
Nguyễn Phương Nga (2008) trong tham luận “Phương pháp và các tiêu chí xếp hạng các trường đại học Việt nam” nêu lên 2 tiêu chí xếp hạng:
SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI LIÊN QUAN
TỔ CHƯC CHƯƠNG TRÌNH
HỒ SƠ SINH VIÊN
CHẤT LƯỢNG GIẢNG VIÊN
TƯ VẤN SINH VIÊN
CƠ SỞ VẬT CHẤT
ĐÁNH GIÁ SINH VIÊN
THIẾT KẾ CHƯƠNG TRÌNH
ĐẢM BẢO
CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY/
HỌC TẬP
CÁC HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN GIẢNG VIÊN
PHẢN HỒI
TỪ NGƯỜI LIÊN QUAN
TỶ LỆ SINH VIÊN TỐT NGHIỆP
TỶ LỆ SINH VIÊN CHƯA TỐT NGHIỆP
HÌNH ẢNH
SINH VIÊN
TỐT NGHIỆP
THỜI GIAN TỐT NGHIỆP
KHẢ NĂNG TUYỂN DỤNG