=> Cảnh đợi tàu được miêu tả tỉ mỉ, kĩ lưỡng, cụ thể theo trình tự thời gian, theo diễn biến tâm trạng của chị em Liên và những người dân phố huyện. Tất cả đều thấy vui trong tâm t[r]
Trang 1Trường THCS-THPT Đinh Tiên Hoàng ĐỀ CƯƠNG ÔN THI HỌC KÌ I Năm học 2020-2021 Môn Ngữ văn lớp 11
A/Phần đọc hiểu:
- Ôn các phong cách ngôn ngữ đã học (phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, phong cách ngôn ngữ báo chí), các phương thức biểu đạt, các biện pháp tu từ đã học, cách xác định nội dung văn bản (đoạn trích)
- Kĩ năng trả lời câu hỏi: đủ, đúng và trúng ý
B/ Phần làm văn:
Câu 1: Viết đoạn nghị luận xã hội:
- Mở đoạn: Nêu vấn đề nghị luận
- Thân đoạn: + GIải thích:
+ Bàn luận vấn đề (phân tích, chứng minh, bình luận…)
- Kết đoạn: Rút bài học cho bản thân
Câu 2: Viết bài nghị luận văn học:
- Kiểu đề: Phân tích nhân vật hoặc một khía cạnh nội dung của tác phẩm
- Nội dung ôn:
1) Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” củaThạch Lam: Tác giả, xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, chủ đề tác phẩm Diễn biến tâm trạng nhân vật Liên
*/Mở bài:
Thạch Lam là một trong những nhà văn có đóng góp đáng kể cho nền văn xuôi hiện đại Việt Nam Ngòi bút của ông giàu cảm xúc nhẹ nhàng, tinh tế khi nói về những kiếp người nghèo khổ Những tuyện ngắn tài hoa của ông đậm chất nhân văn.“Hai đứa trẻ” rút từ tập “ Nắng trong vườn”(1938) là một trong những truyện ngắn đặc sắc tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Thạch Lam Truyện dường như không có cốt truyện vì cốt truyện dựa trên diễn biến tâm trạng của nhân vật Liên
*/ Thân bài:
1)Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Liên khi chiều tà và lúc chờ đợi đoàn tàu chạy qua phố huyện
a.Tâm trạng buồn man mác của Liên khi chứng kiến cảnh phố huyện nghèo lúc chiều
muộn:
- Bằng nghệ thuật đối lập tương phản nhà văn làm rõ bức tranh thiên nhiên và bức tranh đời sống xã hội nơi phố huyện nghèo Cảnh vật và tâm trạng hòa vào nhau một cách tự nhiên
Trang 2Câu chuyện mở đầu bằng những câu văn êm dịu với những âm thanh và h/ảnh báo hiệu một ngày tàn Nhịp điệu câu văn chậm rãi, cô đọng mà súc tích đầy sức gợi làm cho người đọc như nhìn thấy, nghe thấy cảnh vật, cuộc sống và khơi gợi cảm xúc ở người đọc đối với những cảnh vật rất đỗi gần gũi, bình dị
+ Cảnh ngày tàn: “ Tiếng trống thu không… từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn Dãy tre làng trước mặt đen lại…Tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng… muỗi đã bắt đầu
vo ve”
=> Âm thanh tiếng trống báo hiệu trời sắp tối, mặt trời lặn chỉ còn ráng chiều đỏ rực phía tây, dãy tre làng chỉ còn đường nét đen một màu in trên nền trời , tiếng ếch nhái,
tiếng muỗi,…Tất cả đều gợi buồn Trong khung cảnh ấy, Liên ngồi yên lặng cảm nhận nỗi buồn lan tỏa trong không gian “Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen; đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị…chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn” Nỗi
buồn của Liên là do tác động của ngoại cảnh
+ Cảnh chợ tàn:
“Chợ họp giữa phố vãn từ lâu Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía” Câu văn gợi buồn bởi cảnh vắng vẻ, xác
xơ, tiêu điều của chợ quê nghèo chứ không phải cảnh chợ sầm uất đông vui, nó càng khiến tâm trạng Liên buồn thêm Tuy nhiên, chị em Liên vẫn yêu thương, gắn bó với
mảnh đất nghèo đó: “Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này
Nhìn “Mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi lom khom trên mặt đất…đi lại tìm tòi, nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre hay bất cứ cái gì đó có thể dùng được của các người bán hàng để lại, Liên…động lòng thương nhưng chính chị cũng không có tiền để mà cho
chúng nó” Điều đó cho thấy ở Liên có một tấm lòng nhân hậu, thuần khiết và rất mực trong sáng
+ Cảnh sinh hoạt của những kiếp người tàn tạ trong nghèo khó bên những đồ vật tàn: cái chõng ọp ẹp, cây đàn cũ nát, chiếc bát sứt, manh chiếu rách…
T/giả kể chuyện ở ngôi thứ ba - đặt vào n/vật Liên Có lẽ ông muốn câu chuyện này khách quan, bình thường như bao câu chuyện đời thường khác mà ông đã chứng kiến, ông vốn là người kín dáo và nhỏ nhẹ
Cảnh mẹ con chị Tí dọn hàng: hàng đã đơn sơ lại vắng khách Biết vậy mà chiều nào cũng phải dọn hàng với hi vọng may ra hôm nay khá hơn => Những câu nói rời rạc của chị với Liên, những động tác lặp lại nhất là h/ảnh ngọn đèn dầu leo lét trên chõng
Trang 3hàng của chị mang ý nghĩa biểu chưng và đối sánh với h/ảnh bóng tối cứ lan dần, đậm dần khắp phố huyện như cuộc sống lay lắt, vật vờ của g/đình chị và những người nghèo cùng cảnh ngộ trong bóng đêm của xã hội cũ
Chị em Liên buồn buồn lặng lẽ dọn hàng, buồn vì ngày phiên (ngày họp chợ chính theo định kì hàng tháng) mà cũng chẳng ăn thua gì
Bà cụ Thi hơi điên, nghiện rượu với tiếng cười khanh khách tan trong đêm tối gợi niềm thương cảm và ái ngại nơi người đọc
=> Mỗi người một cảnh, mỗi nhà một cảnh nhưng họ đều chung cái nghèo túng, cái buồn chán, mỏi mòn Đó là cuộc sống đơn điệu, quẩn quanh và tẻ nhạt trong cái ao đời bằng lặng
Như vậy, tất cả những người nhỏ bé đã hiện ra trong cái nhìn xót thương của Liên - của nhà văn với những cảm nhận rất đỗi tinh tế và nhân hậu Tuy nhiên, họ vẫn le lói hi vọng , hi vọng mơ hồ vào một ngày mai có thể sẽ tốt đẹp hơn Niềm hi vọng đó đã được nhà văn đồng cảm và thể hiện ở đoạn cuối truyện
b Tâm trạng Liên trong cảnh chờ tàu:
- Niềm vui chờ tàu:
+ Lí do đợi tàu không phải để đưa đón ai, không phải hi vọng bán được thêm hàng…
mà chỉ vì đó là hoạt động sôi nổi huyên náo cuối cùng trong ngày của những con người vất vả không chỉ nghèo về vật chất mà còn nghèo nàn về đời sống tinh thần, nhất là chị
em Liên giàu mơ mộng, tưởng tượng, nhạy cảm đã từng có những tháng ngày hạnh phúc
ở Hà Nội
+ Con tàu với chị em Liên và những người dân phố huyện là như giấc mơ, một thứ thiêng liêng Cn tàu như giúp họ thoát khỏi cuộc sống quẩn quanh, bế tắc của phố huyện nghèo
+ Tàu đến mang theo âm thanh rộn ràng, ánh sáng rực rỡ, không khí náo nhiệt “Tiếng còi đã rít lên và tàu rầm rộ đi tới…các toa đèn sáng trưng…những toa hạng trên sang trọng…đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng…”
=> Cảnh đợi tàu được miêu tả tỉ mỉ, kĩ lưỡng, cụ thể theo trình tự thời gian, theo diễn biến tâm trạng của chị em Liên và những người dân phố huyện Tất cả đều thấy vui trong tâm trạng mong chờ bởi con tàu với họ thật thiêng liêng, nó như giấc mơ đẹp đem đến
âm thanh, ánh sáng, không khí sôi động giúp họ thoát khỏi cuộc sống quẩn quanh bế tắc trong chốc lát Với chị em Liên, con tàu còn đem theo kỉ niệm đẹp về “ Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo” Như vậy, niềm vui của Liên và mọi người nơi đây không xuất phát
từ nhu cầu vật chất mà xuất phát từ nhu cầu tinh thần Nó phản ánh một hiện thực: Cuộc sống quá nghèo khổ, quá ít niềm vui, người ta phải chắt chiu niềm vui nhỏ nhoi để sống
Trang 4- Nỗi buồn khi tàu đi:
+ Con tàu đi vào đêm tối, những đốm than đỏ bay tung, chiếc đèn xanh treo ở đầu toa cuối đem theo một thế giới khác hẳn với bóng đêm đen kịt nơi này đi qua Liên và mọi người trở lại với thực tế cuộc sống nhàm chán để mà lại chờ đợi một cái gì đó sáng sủa hơn
+ Phố huyện ồn ào, sáng bừng trong chốc lát rồi lại chìm sâu trong bóng đêm yên tĩnh
“Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ”
=> Cách miêu tả của Thạch Lam nhẹ nhàng mà thanh thoát, một lần nữa thể hiện niềm trân trọng, thương xót đối với những kiếp người nghèo khổ sống tăm tối, mỏi mòn nơi phố huyện nghèo trước CM8 Nhà văn muốn lay tỉnh những con người này hãy cố vươn
ra ánh sáng Nó bộc lộ khát vọng hướng tới cuộc sống tốt đẹp, tươi sáng của những con người nghèo khổ Đó là giá trị nhân văn của truyện ngắn này
=> Tác phẩm là bức tranh quê bình dị, thơ mộng, dịu dàng, đầy chất thơ với những con người nghèo khổ nhưng sống chan hòa ấm áp tình người
- Qua cảm nhận của hai đứa trẻ ngây thơ, trong sáng, con người và thiên nhiên giao hòa thân mật mơ hồ mà cụ thể, gợi cảm
=> Đó chính là tình yêu quê hương đất nước, tình yêu thiên nhiên được nhà văn gợi ra bằng những dòng văn nhẹ nhàng, thấm thía Đó là chất thơ của thiên nhiên Việt Nam, chất thơ của cuộc sống đời thường
2) Đánh giá chung:
Với sự kết hợp hài hòa yếu tố hiện thực và trữ tình, ngôn ngữ trong sáng, câu văn giàu chất thơ, Thạch Lam đã xây dựng thành công nhân vật cô bé Liên vừa hồn nhiên ngây thơ vừa già dặn hiểu chuyện, ngoan hiền, chăm chỉ, thương người Chủ đề tư tưởng của tác phẩm cũng được toát lên từ nhân vật này
*/ Kết bài:
“Hai đứa trẻ” là truyện ngắn trữ tình xuất sắc của Thạch Lam, cốt tuyện đơn giản,
cách kể theo trình tự thời gian Nhân vật được khai thác chủ yếu ở tâm trạng, cảm xúc – một tâm hồn phong phú và nhạy cảm Giọng điệu lời văn nhẹ nhàng, trầm tĩnh, cảm xúc tinh tế, hình ảnh đẹp, có chọn lọc vừa hiện thực, vừa có ý nghĩa biểu trưng ( bóng tối, ngọn đèn, đoàn tàu,…), điểm nhìn đặt vào hai đứa trẻ vừa hồn nhiên, thơ ngây vừa khách quan, thuyết phục
2) Truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân: Tác giả, xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, chủ đề tác phẩm Hình tượng nhân vật Huấn Cao
Gợi ý:
Trang 5*/ Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật
Nguyễn Tuân là nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại Ông có lòng yêu nước
và tinh thần dân tộc Trước và sau Cách mạng tháng Tám ông đều có những tác phẩm văn học xuất sắc in đậm phong cách tài hoa uyên bác của ông “Chữ người tử tù” là một truyện ngắn đặc sắc trong tập “Vang bóng một thời”(1940) lúc đầu có tên là “Dòng chữ cuối cùng” Truyện thể hiện thành công hình tượng nhân vật Huấn Cao – một anh hùng, một nghệ sĩ, dù chí lớn không thành nhưng luôn hiên ngang bất khuất
*/ Thân bài:
1) Phân tích hình tượng Huấn Cao:
Bằng bút pháp lãng mạn, lí tưởng hoá và thủ pháp đối lập, tương phản, Nguyễn Tuân đặt nhân vật Huấn Cao trong một tình huống đặc biệt: Do chống lại triều đình thối nát, Huấn Cao bị kết án chém Những ngày cuối đời ở nhà lao tỉnh Sơn trước khi bị đưa vào kinh thi hành án, Huấn Cao và viên quản ngục có một cuộc kì ngộ đầy éo le và trớ trêu Trong hoàn cảnh ấy, vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ, khí phách anh hùng và nhân cách trong sáng của Huấn Cao bộc lộ đậm nét
a.Vẻ đẹp của một nghệ sĩ chân chính rất mực tài hoa:
- Huấn Cao là người có tài viết chữ nhanh và đẹp đạt tới trình độ nghệ thuật thư pháp Điều đó trước hết được thể hiện gián tiếp qua những lời nói, thái độ và hành động của viên quản ngục và thầy thơ lại: “Huấn Cao? Hay là cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp đó không?”, “Chữ ông Huấn đẹp lắm, vuông lắm”, “Có được chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật trên đời” Viết chữ nhanh phải là người có học vấn uyên thâm Viết chữ đẹp phải là người có tài năng Chữ Hán, chữ Nho là thứ chữ tượng hình, chứa đựng tư tưởng, hoài bão, tâm hồn, khí phách của người viết
- Qua thái độ và lời nhận xét, thán phục của viên quản ngục và thầy thơ lại, ta hiểu rằng cái tài của Huấn Cao được nhiều người biết đến và ngưỡng mộ Ngay như viên quản ngục, kẻ chỉ “biết đọc vỡ nghĩa chữ thánh hiền” mà từ ngày nào đã có “cái sở nguyện… có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay ông
Huấn Cao viết”
- Tài thư pháp của Huấn Cao còn được thể hiện trực tiếp qua lời nói của chính ông:
“Chữ thì quý thực… Đời ta cũng mới viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân…” Điều đó chứng tỏ chữ Huấn Cao rất quý, rất hiếm Nó không chỉ đẹp ở đường nét mềm mại mà cứng cỏi, bay bướm mà uy nghi, điều quan trọng hơn
là “Những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên cái hoài bão tung hoành của một đời con
Trang 6người” Nghĩa là qua nét chữ, Huấn Cao thể hiện được tư tưởng, tâm hồn, ước nguyện của mình Chữ Huấn Cao là nhân cách cao khiết, phi thường của ông
- Ca ngợi tài hoa của Huấn Cao, Nguyễn Tuân bộc lộ tư tưởng và quan điểm nghệ thuật của mình là kính trọng, ngưỡng mộ những bậc tài hoa, trân trọng nghệ thuật thư pháp cổ truyền của dân tộc
b Vẻ đẹp của một trang anh hùng dũng liệt:
- Trước khi tới nhà ngục tỉnh Sơn, Huấn Cao đã được biết đến không chỉ bởi có tài
“viết chữ rất nhanh và rất đẹp mà còn được biết đến như một người anh hùng dám đứng lên chống lại triều đình Ông vừa là thủ xướng, vừa là thủ lĩnh của một cuộc khởi nghĩa
“ngoài cái tài viết chữ đẹp còn có tài bẻ khoá vượt ngục”
- Khí phách anh hùng của Huấn Cao trước hết được thể hiện gián tiếp qua sự thán phục chân thành của viên quản ngục và thầy thơ lại: “…những người chọc trời quấy nước đến trên đầu người ta, người ta cũng còn chẳng biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù” Quản ngục tự thấy thân phận hèn kém của mình, càng trân trọng, kính phục tài năng và nghĩa khí của Huấn Cao
- Khí phách hiên ngang bất khuất của Huấn Cao còn thể hiện trực tiếp ở tinh thần, thái độ, lời nói, bản lĩnh của ông:
+ Ông coi thường cái chết, khinh bỉ bọn tiểu nhân đắc chí Ông lạnh lùng “dỗ gông trừ rệp” không thèm để ý đến sự láo xược của tên lính áp giải Ông coi chúng cũng chỉ như lũ rệp mà ông vừa trừ khử Hành động đó của ông là hành động của một người tự
do
+ Ông thản nhiên nhận rượu thịt của viên quản ngục và “coi như đó là một việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình lúc chưa bị giam cầm”
+ Ông cố ý tỏ thái độ khing bạc đối với viên quản ngục: “Ngươi hỏi ta muốn gỉ? Ta chỉ muốn có một điều Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây” Và ông “đã đợi một trận lôi đình báo thù” vì “đến cái chết chém ông còn chẳng sợ nữa là những trò tiểu nhân thị oai này”
+ Ông Huấn không vì quyền lực hay tiền bạc mà ép mình viết câu đối bao giờ Chính
vì thế mà viên quản ngục đã phải đau khổ vì có được ông Huấn trong tay mà không biết phải làm sao để có được chữ của ông
- Khí phách anh hùng của ông Huấn Cao là khí phách của một nhà nho tiết tháo, uy
vũ bất năng khuất Đó cũng chính là mẫu hình nhân vật lịch sử Cao Bá Quát mà Nguyễn Tuân ngưỡng mộ
c Vẻ đẹp của một nhân cách cao thượng, thiên lương trong sáng:
Trang 7- Huấn Cao luôn đặt chữ “tâm” trên chữ “tài”, trên tiền bạc, địa vị: “Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ” Tính ông vốn
“khoảnh”, ít khi chịu cho chữ, trừ vài người bạn tri kỉ, bởi ông hiểu không phải bất cứ
ai cũng hiểu và đánh giá đúng cái đẹp, cái cao cả
- Ông trân trọng, cảm thông với người biết yêu quý cái đẹp:
+ Khi biết viên quản ngục là người có sở thích cao quý, Huấn Cao đã đồng ý cho chữ vì “cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của con người này Ông tỏ ra vừa ngạc nhiên vừa cảm động vì: “Nào ta biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có những
sở thích cao quý như vậy Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ” Lời nói cho thấy lẽ sống của Huấn Cao Sống là phải xứng đáng với những tấm lòng Chính điều này làm cho hình tượng Huấn Cao trở nên hoàn hảo
+ Huấn Cao còn khuyên viên quản ngục giữ “thiên lương” cho “lành vững” rồi hãy nghĩ đến việc chơi chữ: “Tôi bảo thực đấy, thầy quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ Ở đây khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cả cái đời lương thiện đi” Hành động và lời khuyên của ông đã cảm hoá được viên quản ngục, khiến “ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”
- Có thể nói Huấn Cao là nhân vật đẹp nhất trong đời văn của Nguyễn Tuân Nhân vật Huấn Cao đã bộc lộ rõ quan điểm thẩm mĩ của nhà văn: cái đẹp phải gắn liền với cái thiện, chữ tài phải gắn liền với chữ tâm
*/ Đánh giá chung:
Nhân vật Huấn Cao là một hình tượng mang vẻ đẹp độc đáo, kết tinh của tài hoa, khí phách và thiên lương Qua nhân vật, nhà văn thể hiện niềm tin mãnh liệt vào sự bất diệt của cái đẹp, đồng thời đề cao vẻ đẹp của nhân cách, tài hoa, khí phách của những người anh hùng hi sinh vì dân vì nước
*/ Kết bài:
Truyện ngắn Chữ người tử tù đã xây dựng được tình huống truyện giàu kịch tính, độc đáo và hấp dẫn Ngôn ngữ đậm chất tạo hình, gợi không khí cổ xưa phù hợp để nói
về “một thời vang bóng” Tác giả sử dụng thành công thủ pháp tương phản đối lập, nhịp điệu và kết cấu câu văn cân đối tạo nên chất nhạc, chất hoạ cho tác phẩm thêm đậm nét cổ kính
-