Tính truyền miệng và tính tập thể là hai đặc trưng cơ bản, thể hiện sự gắn bó mật thiết của văn học dân gian với các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng.. + Trong sinh hoạt lao [r]
Trang 2Khái niệm văn học dân gian:
- Là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng
- Được tập thể sáng tạo.
- Nhằm mục đích phục vụ cho những sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng.
Trang 4Phù điêu Phật Bà Quan Âm bằng vàng lá Tranh Đông Hồ “Đàn lợn âm dương”
Lỡ Hẹn Sáng tác: Hồng Xương Long
-Tất cả có phải là tác phẩm văn học dân gian không?
Trang 5Phù điêu Phật Bà Quan Âm bằng vàng lá Tranh Đông Hồ “Đàn lợn âm dương”
Trang 7I Đặc trưng cơ bản của văn học dân gian:
- Xây dựng bằng chất liệu ngôn từ
- Ngôn từ trong văn học dân gian: giàu hìnhảnh và cảm xúc
Trang 8b Văn học dân gian tồn tại và phát triển nhờ truyền miệng:
- Truyền miệng: ghi nhớ theo kiểu nhập tâm
và phổ biến bằng lời nói hoặc trình diễn
cho người khác nghe, xem
- Con đường truyền miệng :
từ người này sang người khác, từ địaphương này sang địa phương khác, từ đờinày sang đời khác
- Quá trình truyền miệng luôn được thực hiệnqua diễn xướng dân gian (nói, kể, hát, biểudiễn)
Trang 9Các bài đồng dao hát trong sinh hoạt thiếu nhi
Dung dăng dung dẻ:
Dung dăng dung dẻ
Dắt dế đi chơi Đến ngõ nhà Trời Lạy Cậu lạy Mợ Cho chó về quê Cho dê đi học Cho cóc ở nhà Cho gà bới bếp
Xì xà xì xụp.
Một số bài khác:
Qh
Trang 102 Đặc trưng thứ hai:
Văn học dân gian là sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể (Tính tập thể):
- Tập thể:
+ Theo nghĩa hẹp: một nhóm người
+ Theo nghĩa rộng: một cộng đồng dân cư
Trang 11- Quá trình sáng tác tập thể :
+ Ban đầu: có thể do một cá nhân
sáng tác
+ Sau đó: do truyền miệng, tác phẩm
được sửa chữa, bổ sung cho hoàn chỉnh.
+ Cuối cùng: tác phẩm thành tài sản
chung, không thể nhớ và không cần nhớ ai từng là tác giả.
Trang 12=> Kết luận chung:
Tính truyền miệng và tính tập thể là hai đặc trưng cơ bản, thể hiện sự gắn bó mật thiết của văn học dân gian với các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng.
+ Trong sinh hoạt lao động, văn học dân gian đóng vai trò phối hợp với nhịp điệu của các hoạt động thực tiễn
Ví dụ: hò chèo thuyền, kéo gỗ, hò giã gạo,…
+ Văn học dân gian gây không khí để kích thích lao động, gợi cảm hứng cho người trong cuộc.
Trang 13III Hệ thống thể loại của VDHG: (SGK).
Trang 14III Những giá trị cơ bản của văn học dân gian Việt Nam:
1 Văn học dân gian là kho tri thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc: (Chức năng nhận thức)
- VHDG cung cấp tri thức về mọi lĩnh vựcđời sống: tự nhiên, xã hội, con người
- Những kinh nghiệm lâu đời: được đúc kếtlại bằng ngôn ngữ nghệ thuật
Trang 16- Ca dao:
Ở đâu năm cửa, nàng ơi !
Sông nào sáu khúc nước chảy xuôi một dòng ?
Sông nào bên đục bên trong ?
Núi nào thắt cổ bồng mà có thánh sinh ?
Đền nào thiêng nhất tỉnh Thanh ?
Ở đâu lại có cái thành tiên xây ?
…
- Thành Hà-nội năm cửa, chàng ơi !
Sông Lục-đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng Nước sông Thương bên đục bên trong,
Núi đức thánh Tản thắt cổ bồng mà lại có thánh sinh.
Đền Sòng thiêng nhất tỉnh Thanh,
Ở trên tỉnh Lạng, có thành tiên xây.
Trang 17- Thể hiện trình độ và nhận thức của nhân dân khác nhận thức của giai cấp thống trị (vấn đề lịch
sử, xã hội) Ví dụ:
- Kho tàng văn học dân gian của
54 dân tộc góp phần làm phong phú vốn tri thức của văn học dân gian Việt Nam.
Trang 18o Giai cấp thống trị quan niệm:
“Trứng rồng lại nở ra rồng, Liu điu lại đẻ ra dòng liu điu.”
o Nhân dân lao động lại quan niệm:
“Con vua thì lại làm vua, Con sãi ở chùa thì quét lá đa.
Bao giờ dân nổi can qua, Con vua thất thế lại ra quét chùa.”
Hoặc:
“Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống.”
Ví dụ:
Trang 19III Những giá trị cơ bản của văn học dân gian Việt Nam:
2 Văn học dân gian có giá trị giáo dục sâu sắc về đạo lý làm người: (Chức năng giáo dục)
- Giáo dục tinh thần nhân đạo và niềm lạc quan: yêu thương đồng loại, đấu tranhgiải phóng con người khỏi bất công, niềmtin: thiện thắng ác
- Hình thành những phẩm chất tốt đẹp cho con người: yêu nước, chống ngoại
xâm, vị tha, cần kiệm, óc thực tiễn…
Trang 20III Những giá trị cơ bản của văn học dân gian Việt Nam:
3 Văn học dân gian có giá trị thẩm mỹ to lớn, góp phần tạo nên bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc: (Chức năng thẩm mĩ)
- Văn học dân gian là nơi xây dựng và màigiũa cho ngôn ngữ văn học dân tộc
- Nhiều tác phẩm trở thành mẫu mực vềnghệ thuật để ta học tập
- Nó trở thành nguồn nuôi dưỡng cho sựphát triển của văn học viết
Trang 21 Ghi nhớ (SGK)
Trang 22Cám ơn Thầy cô
và các bạn đã chú ý theo dõi