1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của một số dòng Song mật thu thập từ các tỉnh phía Bắc sử dụng kỹ thuật RAPD

44 1,1K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Tính Đa Dạng Di Truyền Của Một Số Dòng Song Mật Thu Thập Từ Các Tỉnh Phía Bắc Sử Dụng Kỹ Thuật RAPD
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp
Chuyên ngành Nông Nghiệp
Thể loại đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 628,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của một số dòng Song mật thu thập từ các tỉnh phía Bắc sử dụng kỹ thuật RAPD

Trang 1

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nên tài nguyên thực vật rất dồi dào, với diện tích rừng của Việt Nam chúng ta thấy được sự đa dạng các loài trong hệ sinh thái thực vật là vô cùng phong phú Với mục tiêu trồng rừng phát triển kinh tế, tạo nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp cũng như các làng nghề thì sản phNm từ rừng của chúng ta phải ngày càng được nâng cao cả về chất lượng và sản lượng

Song mật (Calamus platyacanthus Warb Ex Becc) là một trong những

loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế cao Song mật có đường kính lớn, dài, bền, dẻo, dễ uốn và chịu lực tốt nên đây là nguyên liệu sử dụng trong các làng nghề mây tre đan trên cả nước

Với sự quan tâm đầu tư của nhà nước cho các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp thì số lượng sản phNm từ các làng nghề mây tre đan ngày càng tăng nhưng tỷ lệ nghịch với sự gia tăng này chính là sự giảm sút nghiêm trọng của nguyên liệu đầu vào Theo thống kê, khoảng 35 – 42% các cơ sở mây tre đan đang phải sản xuất cầm chừng và có nguy cơ đóng cửa vì thiếu và không chủ động được nguyên liệu Việc thiết lập những vùng nguyên liệu chuyên canh tập trung Song mật là một nhu cầu bức bách đối với nước ta hiện nay Trên cả nước đã có nhiều tỉnh triển khai việc nhân giống Song mật nhưng công tác nhân giống chỉ mang tính gây trồng và bằng hình thức gieo ươm hạt tạo cây con rồi đưa vào trồng rừng sản xuất nhưng với song mây trong giai đoạn phát triển của chúng luôn phải trải qua giai đoạn cỏ Đây là giai đoạn mà cây con tạo nhiều chồi, thời gian để các chồi phát triển là rất lâu, điều này kéo theo sự chậm phát triển của cây trồng Để khắc phục giai đoạn

cỏ này hiện nay chỉ có thể bằng các phương pháp nuôi cấy invitro

Giải quyết vấn đề thiếu nguồn nguyên liệu và suy giảm nhanh chóng nguồn tài nguyên thực vật này ngày 12 tháng 5 năm 2008 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ra quyết định số 1462/QĐ/BNN-KHCN về

việc: “Nghiên cứu tạo cây con Song mật bằng kỹ thuật nuôi cấy invitro”

Trang 2

phục vụ công tác bảo tồn nguồn gen và nhân giống Song mật đưa nhanh vào trồng rừng sản xuất

Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nguyên liệu đưa vào nhân giống sản xuất Để có nguồn nguyên liệu tốt cho công tác nhân giống thì việc đánh giá, kiểm tra chất lượng nguồn giống là vô cùng quan trọng Một trong những phương pháp đem lại hiệu quả, độ chính xác cao, rút ngắn được thời gian và công sức là dùng các chỉ thị phân tử để nghiên cứu sự đa dạng di truyền bởi nó cho chúng ta biết về thành phần gen giữa các cá thể trong cùng

1 loài và giữa các loài khác nhau Đến nay các nghiên cứu về tính đa hình cũng như tính đa dạng di truyền của Song mật để phục vụ công tác chọn giống ở Việt Nam vẫn còn bỏ ngỏ

Vì vậy, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của một số dòng Song mật thu thập từ các tỉnh phía Bắc sử dụng kỹ thuật RAPD.”

Đề tài đặt mục tiêu là đánh giá mối quan hệ di truyền giữa các mẫu nghiên cứu từ đó làm cơ sở cho việc xác định xuất xứ, giúp các nhà chọn giống có kết luận chính xác về tính di truyền của các tính trạng mang phNm chất tốt của đối tượng Phục vụ cho công tác tuyển chọn và nhân giống các dòng Song mật có thời gian nuôi trồng ngắn, phNm chất tốt, sản lượng cao đáp ứng nhu cầu sản xuất và chất lượng sản phNm đầu ra

Trang 3

3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Vấn đề chung về sinh học phân tử trong phân tích đa dạng di truyền

Sự ra đời và phát triển của sinh học hiện đại đã cung cấp những công

cụ thích hợp cho phân tích, nghiên cứu di truyền một cách nhanh chóng và hiệu quả Đánh dấu bằng sự ra đời của các kỹ thuật sinh học phân tử, nhờ đó

mà sự biến đổi di truyền được nghiên cứu trực tiếp ở cấp độ ADN và có thể phát hiện ra lượng lớn tính đa hình tạo ra do đột biến Vì vậy, làm cho kết quả của việc sử dụng kỹ thuật sinh học phân tử phong phú, chính xác hơn so với chỉ thị hình thái

Một số kỹ thuật ADN hiện đang được sử dụng phổ biến là đa hình độ dài các đoạn cắt hạn chế (Restriction Fragment Length Polymorphism – RFLP) và các kỹ thuật dựa vào chuỗi phản ứng Polymerase Chain Reaction (PCR) như: đa hình các đoạn ADN nhân ngẫu nhiên (Random Amplified Polymorphism ADN – RAPD); Microsatellite hay còn gọi là đa hình các đoạn lặp lại đơn giản (Simple Sequence Repeat – SSR); Đa hình độ dài các đoạn nhân chọn lọc (Amplified Fragment Length Polymorphism – AFLP); Tuy nhiên, không có kỹ thuật sinh học phân tử lý tưởng nào đáp ứng được tất cả các chỉ tiêu, mỗi loại đều có những thế mạnh và hạn chế riêng

1.1.1 Đa hình độ dài các đoạn cắt hạn chế (Restriction Fragment Length Polymorphism – RFLP)

Kỹ thuật RFLP (Bot Stein, et al., 1980), dùng các cADN hoặc ADN

ngẫu nhiên trong hệ gen như các mẫu dò, các mẫu dò này được đánh dấu bằng phóng xạ hoặc enzyme tiếp hợp để phát hiện các đoạn ADN có độ dài khác nhau được tạo ra khi sử dụng các enzyme hạn chế để cắt ADN hệ gen và phân tách bằng phương pháp điện di trên gel [26] Nếu trình tự nhận biết có mặt ở một vị trí trên hệ gen của một cá thể nhưng không có mặt ở cá thể khác, enzyme sẽ tạo ra các đoạn hạn chế có kích thước khác nhau ở vị trí này Kết quả làm phát sinh hàng ngàn đoạn ADN có kích thước khác nhau

Trang 4

RFLP là chỉ thị đồng hợp trội, các đoạn ADN từ tất cả các nhiễm sắc thể (NST) đồng dạng đều được phát hiện Vì vậy, RFLP là chỉ thị rất đáng tin cậy trong phân tích liên kết và chọn giống RFLP có thể xác định một đặc điểm liên kết ở trạng thái đồng hợp tử hay dị hợp tử của một cá thể, đây là điều đặc biệt lý tưởng đối với các tính trạng lặn RFLP được ứng dụng có hiệu quả trong nghiên cứu biến dị di truyền, phân tích liên kết, chọn giống, lập bản

đồ phân tử

Mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng ứng dụng của chỉ thị RFLP lại tốn kém về kinh tế và thời gian Phương pháp này cần sử dụng lượng lớn ADN nên đòi hỏi sự thành thạo về kỹ thuật và các điều kiện phòng thí ngiệm đặc biệt

1.1.2 Các kỹ thuật sinh học phân tử dựa trên cơ sở phản ứng Polymerase Chain Reaction (PCR)

Phản ứng PCR được Mullis và cộng sự đưa ra năm 1986 Đây là phản

ứng tổng hợp ADN invitro nhờ ADN polymerase của vi khuNn với một mồi

đặc trưng như một điểm xuất phát cho sự nhân lên của ADN khuôn Quá trình tổng hợp diễn ra trên một máy điều chỉnh nhiệt, quy trình chạy PCR gồm 25 –

40 chu kỳ Sản phNm ADN đặc trưng được nhân lên theo cấp số nhân với

Trong đó:

n: số chu kỳ chạy phản ứng

2n: số phân tử có chiều dài không xác định

x: số phân tử khuôn ban đầu

N: số sợi tổng hợp được trong phản ứng

Kỹ thuật sinh học phân tử dựa trên cơ sở là các đoạn nucleotide với kỹ thuật PCR để phát hiện các locus đơn gen hoặc đa gen trong hệ gen sinh vật,

có thể đòi hỏi hoặc không đòi hỏi không trình tự, có thể khác nhau về mức độ

Trang 5

đa dạng di truyền bởi nó cho phép chúng ta hiểu biết về thành phần gen giữa các cá thể trong cùng một loài và giữa các loài khác nhau làm cơ sở cho việc xác định xuất xứ [1, 4]

Sự ra đời của PCR đã làm thay đổi lớn trong sinh học phân tử, đánh dấu sự ra đời của hàng loạt chỉ thị phân tử: RAPD, AFLP, SSR

1.1.2.1 Đa hình độ dài các đoạn nhân chọn lọc (Amplified Fragment Length Polymorphism – AFLP)

AFLP được phát triển bởi Zabeau và Vos (1993) [30] và được mô tả chi tiết bởi Vos và cộng sự (1995) [28] AFLP là kỹ thuật di truyền mới dựa trên cơ sở PCR, AFLP đã phối hợp được sự tin cậy của RFLP và sự thuận lợi của kỹ thuật PCR Kỹ thuật này gồm ba bước:

(1) : Cắt ADN hệ gen bằng enzym giới hạn và gắn các đoạn oligonucleotide tiếp hợp (adapter)

(2) : Nhân một cách chọn lọc các đoạn giới hạn

(3) : Phân tích trên gel các đoạn ADN được nhân lên

Đây là kỹ thuật có nhiều ưu điểm trong nghiên cứu đa dạng di truyền ở nhiều đối tượng khác nhau: đậu tương [24], lập bản đồ hệ gen và định vị các gen, phát triển chỉ thị chuNn ở khoai tây [8], ở lúa mỳ, xác định các gen kháng virus ở đậu tương [28], ở khoai tây [11], ở lạc [13]

Trang 6

AFLP là một kỹ thuật có độ nhạy cao để phát hiện đa hình trong toàn

bộ hệ gen AFLP cho phép phân tích nhanh, ổn định, đáng tin cậy, có khả năng ứng dụng trong lập bản đồ hệ gen và chọn giống có sự trợ giúp của chỉ thị [10, 21] Tuy nhiên, phân tích AFLP trước đây có giá thành cao, đòi hỏi có

kỹ thuật phòng thí nghiệm thành thạo vì AFLP thường dùng đồng vị phóng xạ

để phát hiện các đoạn ADN được nhân lên trong phản ứng PCR, song điều này đã được khắc phục khi sử dụng các kỹ thuật nhuộm huỳnh quang và nhuộm bạc thay cho việc sử dụng đồng vị phóng xạ Sự thay thế này giúp cho giá thành khi sử dụng kỹ thuật giảm đi rất nhiều, không đòi hỏi những thiết bị quá đắt, các thao tác kỹ thuật đơn giản hơn mà vẫn đảm bảo độ nhạy và tính chính xác của kết quả Với việc thay thế bằng nhuộm huỳnh quang và nhuộm bạc AFLP đã trở thành một kỹ thuật được sử dụng phổ biến hiện nay trong nghiên cứu di truyền và lập bản đồ liên kết phân tử

1.1.2.2 Trình tự vị trí đánh dấu (STS - Sequence Tagged Sites)

STS được tạo ra đầu tiên bởi Olson và cộng sự (1989) dựa vào một loại locus đã biết (gen, cADN, hoặc gen tách dòng) được nhân lên bởi mồi PCR thiết kế dựa vào trình tự đầu cuối của những locus đặc trưng này

Dựa trên cơ sở PCR nó phát hiện một điểm có trình tự xác định, nó không đòi hỏi sự phân lập nhưng đòi hỏi trình tự Mồi có 18 – 20bp được thiết

kế để nhân đoạn ADN ngắn, duy nhất trên ADN đã biết trình tự (có thể là trình tự của sản phNm PCR với chỉ thị RAPD hoặc RFLP) sự đa hình nói chung được xác định như sự khác nhau về kích thước của sản phNm PCR trên gel agarose

EST (Expressed Sequence Tag) là một chỉ thị dựa trên cơ sở PCR với mồi dài 18 – 20 nucleotide được thiết kế từ những phần trình tự đã biết trên hệ gen như các đoạn cADN, nó không đòi hỏi sự phân lập nhưng đòi hỏi trình tự

và phát hiện vùng biểu hiện duy nhất của hệ gen nên thích hợp đối với lập bản

đồ Sự đa hình nói chung được phát hiện bởi sự khác nhau về kích thước của

Trang 7

bộ hơn RAPD là các kết quả có khả năng lặp lại (dùng mồi dài hơn) và là các chỉ thị đồng trội

Chỉ thị CAPS hay "Cleaved Amplified Polymorphic Sequences" [15] cũng là một ví dụ của STS, được tạo ra bằng cách cắt các sản phNm PCR với một enzym hạn chế Chỉ thị ADN này vẫn mang những ưu điểm cơ bản của PCR là chỉ cần một lượng nhỏ nanogram (ng) ADN và phát hiện dễ dàng nhờ kết quả huỳnh quang Các mồi PCR dài hơn (15 – 25 nucleotide) dùng cho CAPS có xu hướng tạo ra những sản phNm ổn định hơn RAPD hoặc các kỹ thuật mồi ngẫu nhiên khác

Tuy nhiên, CAPS cũng có mặt hạn chế là các cá thể có liên hệ gần gũi thường chứa các alen giống nhau Điều này gây trở ngại nghiêm trọng trong việc tạo cặp lai giữa các dạng khác nhau

1.1.2.3 Chỉ thị đoạn lặp đơn giản (Simple sequence reapeats – SSR)

SSR còn gọi là Microsatillite được Litt và Luty (1989) [20] phát triển thành một kỹ thuật chỉ thị phân tử Microsatellite là đơn vị lặp lại rất ngắn 1 – 5bp, chúng xuất hiện và phân bố ở gần tâm động hoặc đầu mút của các NST,

có vai trò giữ tính ổn định của bộ NST ở các quá trình phân bào trong hệ gen của tất cả sinh vật nhân thực [5, 26]

Kỹ thuật SSR dựa trên nguyên lý PCR dùng các cặp mồi đặc hiệu để nhân các đoạn trình tự SSR Sự khác nhau trong cấu trúc đơn vị lặp lại dẫn

Trang 8

đến thay đổi độ dài đoạn lặp lại được nhân lên và xác định khi chạy điện di trên gel agarose hoặc gel polyacrylamide

Đa hình về độ dài các đoạn microsatellite cũng có thể được phát hiện khi lai với ADN trên gel hoặc có thể được nhân bằng PCR để tách dòng, đọc trình tự với mồi là các đoạn oligonucleotide phụ cận Các vị trí microsatellite

là các chỉ thị đồng trội vì vậy chứa đựng thông tin cao Microsatellite cũng là một chỉ thị trong lập bản đồ và xác định chỉ thị chuNn

Ở động vật microsatelllite với trình tự CA/GT lặp lại là phổ biến nhất, trình tự này ít thấy ở nhiều thực vật vì ở thực vật trình tự lặp lại AT/TA phổ biến hơn nhiều, tiếp đó là trình tự GA/CT Trong hệ gen lúa (GA)n lặp lại cứ 225kb một lần và (GT)n lặp lại cứ 480kb một lần

Sự phân tích trình tự lặp lại là hết sức quan trọng đối với phân tích hệ gen thực vật vì trình tự lặp lại đặc trưng cho ADN hệ gen của cá thể Perry Creengam đã sử dụng kỹ thuật SSR để phát hiện ra sự khác nhau giữa các thứ

đỗ mà không phân biệt được bằng kỹ thuật RADP

Hầu hết các locus SSR ở thực vật có sự đa hình cao hơn các chỉ thị khác Trong phân tích SSR không dùng phóng xạ, sử dụng một lượng ADN

và ít tốn thời gian vì vậy kỹ thuật SSR có nhiều ứng dụng trong việc lập bản

đồ phân tử Kochert đã sử dụng chỉ thị SSR để lập bản đồ liên kết di truyền ở lúa [29] Đánh dấu các gen quan trọng, sử dụng trong nghiên cứu ở một vài thực vật bao gồm: Lúa [29] và đậu tương [7], kỹ thuật in dấu ADN và được dùng cho xác định các dòng lai từ các loài hoang dại trong cải biến giống cây trồng

Hạn chế của các chỉ thị SSR là tốn kém về tiền của và công sức trong việc xây dựng cặp mồi đặc hiệu cho mỗi locus đa hình Để xây dựng các cặp mồi đặc hiệu cần tách dòng và đọc trình tự một lượng lớn các đoạn ADN hệ gen chứa SSR [16] Tuy nhiên dựa vào các ngân hàng gen đã có hiện nay có thể thiết kế các tổ hợp mồi cho SSR ở nhiều loài cây khắc phục được phần nào hạn chế này

Trang 9

9

1.1.2.4 Đa hình các đoạn ADN nhân ngẫu nhiên (Random Amplified Polymorphism ADN – RAPD)

1.1.2.4.1 Nguyên lý của kỹ thuật RAPD

Đây là một kỹ thuật phân tử dựa trên cơ sở của phản ứng PCR do Welsh và Mc ClellADN, 1990; Williams và cộng sự, 1990 đề xuất Kỹ thuật RAPD sử dụng các mồi đơn có trình tự nucleotide ngẫu nhiên dài từ 9 – 12 nucleotide các mồi này thường có hơn 60%(G +C) để đạt được liên kết với mẫu đủ mạnh Các mồi ngẫu nhiên là ngắn nên khả năng nó tìm được những điểm gắn theo nguyên tắc bổ sung trên ADN là không quá khó khăn Điện di kết quả nhân gen thu được điện di đồ gồm những băng, vạch ADN ở những vị trí giống nhau trên bản gel Khi bộ gen của các mẫu kiểm tra có sự khác nhau (có đa dạng sinh học) cho kết quả khác nhau trên điện di đồ Kết quả của phản ứng RAPD sẽ tạo ra nhiều đoạn ADN khác nhau về độ dài và trình tự Một mồi ngẫu nhiên có thể cho kết quả là có băng nhân bản với ADN từ nguồn này nhưng lại không xuất hiện băng nhân bản với ADN từ nguồn khác [5, 12] Sản phNm PCR gồm nhiều đoạn ADN có kích thước từ 200bp đến hơn 3kb Sự khác nhau của các đoạn ADN được phát hiện khi điện di sản phNm PCR trên gel agarose Sự khác nhau của các đoạn nói chung là do đột biến ở

vị trí gắn mồi ngăn trở việc bắt cặp của mồi Các đoạn này được ghi nhận như các yếu tố di truyền Mendel trội trong một cơ thể lưỡng bội

1.1.2.4.2 Ưu điểm và hạn chế của kỹ thuật RAPD

RAPD là một phương pháp nhanh để phát hiện đa hình vì kỹ thuật này không đòi hỏi việc phân lập và đọc trình tự, có thể phát hiện nhiều locus cùng một lúc

Đây là một kỹ thuật có giá thành thấp, đơn giản, sử dụng lượng nhỏ ADN khuôn, không dùng kỹ thuật lai và mẫu dò phóng xạ nên không đòi hỏi

kỹ thuật phức tạp Vì vậy, trong những năm gần đây phân tích RAPD trở thành phương pháp phổ biến để đánh giá đa dạng di truyền và phân loại thực vật, xác định các đặc điểm quan trọng và nguồn gốc

Trang 10

Mỗi mồi cung cấp số liệu từ nhiều vị trí trong hệ gen vì vậy những đa hình hiếm giữa các mẫu có quan hệ gần gũi có thể được phát hiện nhanh hơn với phân tích locus đơn

Tuy vậy, RAPD là chỉ thị trội nên không phân biệt được cá thể đồng hợp và dị hợp nên RAPD không được sử dụng rộng rãi trong xây dựng bản đồ

và do mồi ngắn (10 nucleotide) nên khi chạy phản ứng PCR sẽ chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố [6] Mồi ngắn dễ dàng bị ảnh hưởng của điều kiện gắn mồi nên kết quả có hệ số an toàn không cao, sự nhạy cảm cao với điều kiện phản ứng như: chất lượng, nồng độ ADN khuôn; nồng độ dung dịch đệm (đặc

C) là những hạn chế chính của kỹ thuật Do thiếu sự ổn định, kỹ thuật RAPD

bị hạn chế sử dụng trong lập bản đồ QTL các quần thể lai và ít được dùng trong những trường hợp lập bản đồ so sánh

Bên cạnh đó là sự phát sinh đa hình giả ảnh hưởng đến sự thể hiện của các đoạn RAPD do không chắc chắn các đoạn cùng kích thước từ hai mẫu ADN khác nhau có thực sự được tạo ra từ cùng một vị trí trên hệ gen hay không

Tuy nhiên, kỹ thuật với mồi ngẫu nhiên có nhiều ứng dụng trong các thí nghiệm đòi hỏi một số lượng lớn bản sao để kiểm tra độ tin cậy nên kỹ thuật RAPD vẫn là lựa chọn thích hợp cho công tác đánh giá đa dạng di truyền

1.1.2.4.3 Ứng dụng của kỹ thuật RAPD

RAPD thường được dùng trong nghiên cứu phát sinh loài và dùng trong phân tích sự phân ly các dòng gần đồng gen (near isogenic lines - NIL) [22], RAPD được dùng nhiều nhất trong xác định các trạng thái khác nhau, xác định quan hệ di truyền và nghiên cứu đa dạng di truyền ở nhiều loài cây như lúa, đậu tương, lúa mạch đen, kiều mạch, đậu Hà Lan, hoa hồng [23, 18, 24, 25] Cùng với RFLP hoặc SSR, RAPD được dùng để xây dựng bản đồ liên

Trang 11

1.2 Tình hình nghiên cứu về Song mật

Song mật (Calamus platyacanthus Warb Ex Becc) thuộc họ cau

(Arecaceae), nằm trong nhóm gỗ trung bình Với giá trị sử dụng cao và được người dân sử dụng từ rất lâu nên đã có nhiều nghiên cứu về Song mật

1.2.1 Phân bố, đặc điểm hình thái Song mật

Song mật là loài cây ưa sáng và Nm, luôn vươn lên tầng cao nhất của tán rừng Mọc trên đất feralit vàng, trên núi đá và các loại đất phong hóa trên phiến thạch, sa thạch, granit hoặc đá vôi Cây thường mọc ven thung lũng núi,

thấy Song mật Song mật mọc xen lẫn rừng Tre, Vầu ở độ cao 100 – 1,500m, tập trung nhiều ở độ cao 400 – 900m Trên thế giới, Song mật chủ yếu tập trung nhiều ở Trung Quốc, Việt Nam và một số nước khác Ở Trung Quốc Song mật chủ yếu phân bố ở tỉnh Vân Nam, mọc trên núi cao hơn 900m thành từng cụm lớn Ở Việt Nam đây là loài cây cận đặc hữu thường gặp ở ở các tỉnh từ Đồng Nai (Nam Cát Tiên) trở ra nhưng tập trung nhất ở các tỉnh: Quảng Nam, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá, Ninh Bình, Hòa Bình, Hà Nội, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai,Tuyên Quang, Bắc Kạn, Lai Châu [2]

Cây Song mật có thân ngầm là phần phình lên của gốc thân khí sinh, có dạng giống như củ hành ta và được bao bọc bởi nhiều bẹ lá dày, màu trắng hay vàng nhạt Các bẹ lá ngoài cùng chết dần và có màu nâu, phía giữa thân

Trang 12

ngầm là đỉnh sinh trưởng, mềm màu trắng Ở cây non, thân được bao bọc bởi

bẹ lá hình ống, màu xanh lá cây, trên mặt có nhiều gai dẹt màu vàng Khi già,

bẹ ở gốc thân chuyển thành màu vàng, màu nâu rồi rụng đi, để lộ thân khí sinh màu xanh rêu Cây một năm tuổi đường kính thân ngầm đạt 1cm, cây trưởng thành đường kính thân ngầm tới 4 – 6cm hay hơn Thân khí sinh mọc thành bụi nhưng thường rất thưa Ở cây trên ba tuổi giữa các gốc rễ lớn xuất hiện chồi mầm đầu tiên, chồi cong và hướng lên phía trên sát với thân cây mẹ; quanh gốc thân ngầm mọc ra các rễ dài, cứng; đôi khi ta gặp bụi Song mật chỉ

có một thân khí sinh Thân cây trưởng thành rất dài, có thể đến 40m, trong rừng già có thể đạt 100m Thân non màu trắng ngà, sau chuyển sang màu xanh; lóng dài 8 – 25cm, đốt hơi nổi, đường kính trung bình đạt 2,3 – 2,8cm; cây to đạt 4 – 5cm Nếu tính cả bẹ lá bao bọc, đường kính thân phần ngọn đạt

8 – 10cm [2]

Lá Song mật là dạng lá đơn, xẻ gân lông chim, gần giống lá Dừa, gồm:

bẹ lá, cuống lá, phiến là và thìa lìa nằm giữa bẹ và cuống lá Bẹ lá rất dài, bao bọc kín thân khí sinh.Trên bẹ lá có nhiều gai dẹt, dài 8 – 10cm, gai mọc lật ngược về phía gốc; Thường khi cây cao 2 – 3m, từ lá thứ 6 – 7 trở lên xuất hiện roi (flagelle) trên đỉnh cuống lá; roi dài 1,5m hay hơn [2]

Hoa đơn tính khác gốc Cụm hoa hình bông mo, dài hơn 1m, mọc ở gần nách các lá phía ngọn; mỗi thân thường mang 5 – 10 bông mo Mỗi bông mo mang nhiều bông nhỏ dài 2 – 2,5cm với 14 – 17 hoa Hoa đực xếp sát nhau thành 2 dãy, lá đài 3, cánh hoa 3, nhị 6 Hoa cái tập trung 14 – 32 hoa trong một bông nhỏ Thường chỉ 17 – 20 hoa cái phát triển thành quả Chồi hoa xuất hiện vào tháng 9 – 10, hoa nở vào tháng 4 – 5 năm sau Quả chín tháng

10 – 11 dương lịch Thời gian chín của quả kéo dài khoảng một tháng [2] Quả hình trứng, dài 15 – 22mm, rộng 9 – 14mm, cuống mập màu xanh vàng, dài 6mm, đỉnh có mũi hình nón dài 4mm; vỏ quả mang 18 hàng vảy dọc, mỗi hàng 8 vảy dẹp, có rãnh kích thước 3 × 3,5mm mép màu nâu Khi

Trang 13

1.2.2 Giá trị và hiện trạng khai thác Song mật trên cả nước

Thân Song mật dài, rất dẻo, chịu uốn và bền, nên được dùng làm bàn ghế, hàng mây tre đan và cuốn bè Hiện nay, Song mật là loại nguyên liệu quan trọng trong nhiều cơ sở sản xuất mây tre đan ở các tỉnh phía Bắc Trên thị trường giá Song mật đắt hơn giá các loài song mây khác từ 2 – 3 lần Hiện nguồn Song mật dùng cho chế biến, sử dụng vẫn chủ yếu dựa vào việc khai thác từ rừng tự nhiên

Theo đánh giá của các chuyên gia lâm nghiệp, từ những năm 1985 Song mật đã bị khai thác mạnh để làm hàng xuất khNu khiến cho nhiều khu phân bố thu hẹp dần số cá thể và có nguy cơ bị mất nguồn giống Nguồn tài nguyên Song mật đang cạn kiệt, vì vậy trên cả nước cần xây dựng những rừng giống và khoanh vùng một số khu vực còn nhiều cá thể để khai thác hợp lý, đảm bảo sản lượng ổn định, lâu dài Song mật rất thích hợp phát triển trong các rừng của Việt Nam nên phải có kế hoạch bảo vệ, khai thác, đNy mạnh công tác gieo trồng và sử dụng bền vững Trước tiên cần có kế hoạch tích cực bảo vệ cây Song mật trong các khu bảo tồn để làm nguồn giống; đặc biệt cần bảo vệ các cây Song mật đã được trồng ở Trạm nghiên cứu Lâm nghiệp Bình Thanh, tỉnh Hoà Bình và vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ để lấy giống nghiên cứu và phát triển trong giai đoạn đầu Sớm đưa Song mật vào gây trồng trong các rừng đặc dụng và rừng đầu nguồn

1.2.3 Những nghiên cứu về Song mật trên Thế giới và Việt Nam

Đối với các đối tượng nghiên cứu khác như: mây nếp, xoan, bông, dâu tằm và các loài cây trồng nông nghiệp: đậu tương, đậu xanh, Với kỹ

Trang 14

thuật sinh học phân tử, các cơ sở nghiên cứu đã đánh giá được tính đa dạng di truyền ở nhiều đối tượng trên quy mô cả nước cũng như trên thế giới, phục vụ công tác tuyển chọn giống cây nông lâm nghiệp để có nguồn giống chất lượng (kháng sâu, bệnh hại; chịu hạn ) và năng suất cao đưa vào sản xuất

Nhận thức rõ vai trò quan trọng của loài cây có giá trị kinh tế cao này, tại nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt các nước trong khu vực Đông Nam Á

đã tiến hành nghiên cứu: phân loại, kỹ thuật gây trồng, phân tích lợi ích kinh

tế của việc gây trồng Song mật (Yin Guangtian, et al., 1998) Các nghiên cứu

về nguồn tài nguyên di truyền, xác định những loài có giá trị thương mại đã được tiến hành ở: Bangladesh, Trung Quốc, ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia,

Myanma, Nepal, Philippines và Thái Lan (Ramanatha Rao, et al., 1999) nhằm

mục đích xác định số lượng, khu vực phân bố, vùng gây trồng phù hợp Ngoài

ra, còn có một số nghiên cứu ở Thái Lan về phân tích đa dạng di truyền bằng các phương pháp phân tích phân tử (isozyme, RAPD, RFLP, AFLP (L.T

Hong, et al., 2002)

Với nguy cơ đang mất đi một nguồn gen quý cũng như mất dần nguồn liệu trong sản xuất nên trong những năm qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng các tỉnh đã và đang xây dựng nhiều dự án trồng, bảo vệ Song mật trong tự nhiên; nhiều dự án trồng vùng nguyên liệu sản xuất và vùng bảo tồn nguồn gen tự nhiên ở nhiều tỉnh

Nguồn giống trong công tác trồng vùng nguyên liệu và bảo tồn nguồn gen trong tự nhiên ở nước ta hiện nay chủ yếu dựa vào hình thái và rất xô bồ,

chưa được quan tâm đúng mức Nhận thấy những tồn tại đó đề tài: “Nghiên cứu tạo cây con Song mật bằng kỹ thuật nuôi cấy invitro” đã đặt công tác

đánh giá chất lượng nguồn giống nuôi trồng là giai đoạn đầu tiên để kết quả, chất lượng đề tài cũng như nguồn giống đạt được là cao nhất Đối với công tác nhân giống ở Việt Nam, đặc biệt với đối tượng là Song mật thì đây là vấn

đề đang được khuyến khích và triển khai trên mọi đối tượng là cây trồng sản xuất cũng như trong bảo tồn nguồn gen thực vật trên cả nước

Trang 16

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

˗ Xác định mối quan hệ di truyền giữa các xuất xứ Song mật thu thập tại 4 tỉnh phía Bắc

˗ Cơ sở phân tử cho công tác chọn tạo, nhân giống và bảo tồn các giống Song mật quý, có giá trị cao trong sản xuất kinh tế

2.2 Nội dung nghiên cứu

˗ Tách chiết ADN tổng số của các dòng Song mật ở 4 xuất xứ khác nhau

˗ Sử dụng kỹ thuật RAPD phân tích các mẫu ADN tổng số thu được với

20 đoạn mồi ngẫu nhiên

˗ Xây dựng biểu đồ biểu diễn mối tương quan di truyền của Song mật với các xuất xứ bằng phần mềm NTSYSpc version 2.02h (Applied Biostatistics Inc., USA., 1998)

2.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Vật liệu nghiên cứu

* Vật liệu thực vật:

Mẫu nghiên cứu là lá Song mật sạch bệnh, thu thập từ 4 tỉnh phía Bắc: Hòa Bình, Bắc Giang, Tuyên Quang, Hà Giang

Gồm 15 mẫu Song mật, theo đánh giá của cán bộ điều tra thì đây là 15

cá thể trội trong số 4 xuất xứ được thu thập (bảng 2.1) do Trung tâm Giống và Công nghệ Sinh học Trường Đại học Lâm nghiệp cung cấp

Trang 17

17

Bảng 2.1 Ký hiệu các mẫu Song mật sử dụng nghiên cứu

Ký hiệu Giống Song mật Ký hiệu Giống Song mật

Bảng 2.2 Tên và trình tự 20 mồi RAPD sử dụng nghiên cứu

TT Tên

mồi Trình tự nucleotide TT

Tên mồi Trình tự nucleotide

Trang 18

˗ Hóa chất tách chiết ADN tổng số được mua từ hãng Sigma:

+ Đệm ( dung dịch) Cetyl Trimethyl Ammonium Bromide (CTAB)

Hydrochloride (Tris – HCl) 1M, pH 8.0; 28ml Clorua natri (NaCl) 5M; 4ml Ethylene diamine tetra acetate (EDTA) 0.5M, pH 8.0; 1g Polyvilyn polydon (PVP)

+ Đệm TE 10ml gồm: 10mM Tris - HCl pH 8.0; 1mM EDTA 8.0 + Isopropanol

+ Hỗn hợp Phenol/ Chlorofom/ isoamylalcohol (25:24:1)

+ Agarose

+ Ethidium Bromide (EtBr)

+ Loading buffer 6X (Bromophenol blue 10%; Glycerin 100%; H2O) + Đệm TAE (Tris acetate EDTA) 1X (Tris – acetate; EDTA pH 8.3;

- Các thiết bị sử dụng để tách chiết ADN và chạy phản ứng PCR gồm:

+ Nồi khử trùng: auto clever, HVE – 50 hãng Hirayama, Japan

+ Cân phân tích: TE 612 của hãng Satorius, Mỹ

+ Pipetman: 1000µl, 200µl, 100µl, 20µl, 10µl hãng Biotit

+ Máy ổn nhiệt: BW – 05G của Lab Companion, Korea

+ Máy PCR: 9800 Fast Thermal Cycler hãng Applied Biosystems, USA + Máy chạy điện di: Fill line, Power station 300 hãng CLP

+ Máy soi, chụp gel: Dolphin – doc hãng Wealtec

Trang 19

19

+ Máy đo quang phổ: 8452 Hewllet – Packart hãng Hp, USA

+ Máy hút chân không: Centrifuge for vancuum Modulspin – Bistron + Máy ly tâm lạnh: Mikro 22R Hettich zentrifugen

2.3.2 Phương pháp phân tích RAPD

2.3.2.1 Phương pháp tách ADN hệ gen

Trong nghiên cứu này tôi sử dụng phương pháp tách chiết ADN của Shagai Maroof và cộng sự (1984) có cải tiến cho phù hợp với việc tách chiết ADN hệ gen của các dòng Song mật Quy trình bao gồm các bước:

Bước 1: Nghiền 0,2g lá Song mật trong nitơ lỏng bằng chày cối sứ Bột đã

trong 10 phút

Bước 2: Ủ các ống ở điều kiện 65oC trong 60 phút, lắc nhẹ nhàng nhưng dứt khoát 15 phút một lần để việc tách có hiệu quả

Bước 3: Chuyển các ống từ tủ ấm ra, để nguội ở nhiệt độ phòng 15 phút Sau

đó ly tâm trong 10 phút với tốc độ 12.000 vòng/ phút

Bước 4: Chuyển phần dịch phía trên sang ống ly tâm mới Thêm 500µl dung

dịch phenol/ Chloroform/ isoamy alcohol (25:24:1) Trộn đều dung dịch bằng máy Vortex

Bước 5: Ly tâm 5 phút tốc độ 12.000 vòng/phút ở 4oC

Bước 6: Chuyển lớp trên cùng vào ống ly tâm mới (1,5ml) Thêm 500µl

Chloroform/ isoamy alcohol (24:1), xoay ống nhẹ nhàng 10 phút

Bước 7: Ly tâm 13.000 vòng / phút trong 5 phút ở nhiệt độ là 4oC

Bước 8: Dùng Pipetman hút lớp trên cùng (500µl) sang ống ly tâm mới

(1,5ml) thêm 1ml isopropanol lạnh, xoay ống nhẹ vài phút và ủ ở nhiệt độ

Bước 9: Ly tâm 15 phút tốc độ 3.000 vòng/phút ở nhiệt độ 4oC để thu tủa

Bước 10: Rửa ADN kết tủa bằng 500µl cồn 70%, lắc nhẹ nhàng Ly tâm 5

phút tốc độ 12.000 vòng/phút

Trang 20

Bước 11: Sau đó đổ cồn ra, úp ống ly tâm trên giấy thấm khô

Bước 12: Bổ sung 50µl TE vào ống ly tâm có chứa ADN, bảo quản -20oC

2.3.2.2 Phương pháp định lượng ADN bằng quang phổ kế

Nguyên lý:

Dựa vào sự hấp thụ mạnh ánh sáng ở bước sóng 260nm của các base purine và pyrimidine, sẽ đo được giá trị mật độ quang ở bước sóng 260nm (OD260nm – Optical Density 260nm) của các mẫu và cho phép xác định nồng

độ ADN trong mẫu dựa vào tương quan sau: một đơn vị OD260nm tương ứng

độ ADN trong mẫu được tính theo công thức sau:

Để kiểm tra độ sạch của dung dịch, người ta đo thêm giá trị OD ở bước

thụ cao nhất, nhưng các protein cũng hấp thụ ánh sáng ở bước sóng 260nm như các axit nucleic và do đó làm sai lệch giá trị thật của nồng độ axit nucleic Một dung dịch axit nucleic được xem là sạch (không tạp nhiễm protein) khi tỉ

˗ Từ kết quả thu được ta tính nồng độ ADN và độ tinh sạch của ADN theo công thức trên

Phương pháp định lượng ADN được đo trên máy quang phổ 8452 Hewllet – Packart và dựa vào nồng độ để pha loãng ADN ra nồng độ 25(ng/ml) bằng nước cất 3 lần để chuNn bị chạy PCR với các mồi RAPD

Trang 21

Việc chọn nồng độ gel tùy thuộc vào kích thước trung bình của các đoạn ADN cần phân tách Ðoạn ADN có kích thước càng nhỏ đòi hỏi hàm lượng agarose trong gel càng lớn và ngược lại Bảng 2.3 cho thấy mối tương quan giữa nồng độ agarose cần sử dụng để phân tách các trình tự ADN có kích thước xác định

Bảng 2.3 Tương quan nồng độ gel agarose và kích thước ADN phân tách

Hàm lượng agarose trong gel

Trang 22

Trong điện di trên gel agarose, các đoạn ADN được hiện hình dưới tia

tử ngoại (UV) nhờ Ethidium bromide (EtBr) có khả năng gắn xen giữa các base của ADN phát huỳnh quang dưới tác dụng của tia UV Sau điện di, gel được chiếu sáng bằng tia UV, các đoạn ADN hiện thành vạch sáng màu trên bản gel Để ước lượng kích thước các trình tự ADN trong gel agarose, người

ta dùng “yếu tố đánh dấu trọng lượng phân tử” (molecular weight marker – MWM) Đó là một tập hợp trình tự ADN có kích thước đã biết (thang ADN –

khay điện di đã cài sẵn lược, sau đó chờ 20 – 30 phút cho gel agarose đông cứng Gỡ khay gel và đặt vào bể điện di, đổ dung dịch đệm 1X TAE ngập gel

độ 0,5cm, tháo lược ra khỏi bản gel

Bước 2: Tra mẫu ADN

Trộn mẫu ADN cần điện di với dung dịch đệm màu - Loading buffer theo tỷ lệ: 1 thể tích dịch đệm + 2 thể tích mẫu ADN

Tra mẫu vào các giếng điện di (chú ý thứ tự mẫu) và thêm thang ADN chuNn (marker) để giúp xác định độ dài của các băng ADN

Bước 3: Chạy điện di

Với hiệu điện thế từ 60 – 80V, ADN sẽ di chuyển từ cực âm sang cực dương của điện trường Quan sát sự di chuyển bằng vạch màu Bromophenol blue để ngừng quá trình điện di

Ngày đăng: 02/11/2012, 11:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Các bộ phận: thân, bẹ, đốt, gai, hoa, quả   của Song mật (nguồn Internet). -  Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của một số dòng Song mật thu thập từ các tỉnh phía Bắc sử dụng kỹ thuật RAPD
Hình 1.1. Các bộ phận: thân, bẹ, đốt, gai, hoa, quả của Song mật (nguồn Internet) (Trang 15)
Bảng 2.1. Ký hiệu các mẫu Song mật sử dụng nghiên cứu -  Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của một số dòng Song mật thu thập từ các tỉnh phía Bắc sử dụng kỹ thuật RAPD
Bảng 2.1. Ký hiệu các mẫu Song mật sử dụng nghiên cứu (Trang 17)
Bảng 2.3. Tương quan nồng độ gel agarose và kích thước ADN phân tách  Hàm lượng agarose trong gel -  Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của một số dòng Song mật thu thập từ các tỉnh phía Bắc sử dụng kỹ thuật RAPD
Bảng 2.3. Tương quan nồng độ gel agarose và kích thước ADN phân tách Hàm lượng agarose trong gel (Trang 21)
Bảng 2.4. Thành phần các chất phản ứng PCR - RAPD  TT  Hóa chất  1 phản ứng -  Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của một số dòng Song mật thu thập từ các tỉnh phía Bắc sử dụng kỹ thuật RAPD
Bảng 2.4. Thành phần các chất phản ứng PCR - RAPD TT Hóa chất 1 phản ứng (Trang 23)
Hình 2.1. Chế độ nhiệt và thời gian chạy phản ứng PCR. -  Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của một số dòng Song mật thu thập từ các tỉnh phía Bắc sử dụng kỹ thuật RAPD
Hình 2.1. Chế độ nhiệt và thời gian chạy phản ứng PCR (Trang 24)
Hình 3.1. ADN tổng số 15 mẫu Song mật điện di trên gel agarose 1%. -  Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của một số dòng Song mật thu thập từ các tỉnh phía Bắc sử dụng kỹ thuật RAPD
Hình 3.1. ADN tổng số 15 mẫu Song mật điện di trên gel agarose 1% (Trang 26)
Bảng 3.1. Độ hấp thụ bước sóng 260nm, 280nm và nồng độ ADN tổng số          Độ hấp phụ -  Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của một số dòng Song mật thu thập từ các tỉnh phía Bắc sử dụng kỹ thuật RAPD
Bảng 3.1. Độ hấp thụ bước sóng 260nm, 280nm và nồng độ ADN tổng số Độ hấp phụ (Trang 27)
Hình 3.2. Sản ph-m PCR – RAPD với mồi PC 09; M: Marker 1Kb; -  Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của một số dòng Song mật thu thập từ các tỉnh phía Bắc sử dụng kỹ thuật RAPD
Hình 3.2. Sản ph-m PCR – RAPD với mồi PC 09; M: Marker 1Kb; (Trang 29)
Bảng 3.2. Bảng số liệu mã hóa các băng vạch ADN của mồi PC 09    S1  S2  S3  S4  S5  S6  S7  S8  S9  S10  S11  S12  S13  S14  S15 -  Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của một số dòng Song mật thu thập từ các tỉnh phía Bắc sử dụng kỹ thuật RAPD
Bảng 3.2. Bảng số liệu mã hóa các băng vạch ADN của mồi PC 09 S1 S2 S3 S4 S5 S6 S7 S8 S9 S10 S11 S12 S13 S14 S15 (Trang 30)
Hình 3.3. Sản ph-m PCR – RAPD với mồi PC 14; M: Marker 1Kb; -  Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của một số dòng Song mật thu thập từ các tỉnh phía Bắc sử dụng kỹ thuật RAPD
Hình 3.3. Sản ph-m PCR – RAPD với mồi PC 14; M: Marker 1Kb; (Trang 31)
Hình 3.4. Sản ph-m PCR – RAPD với mồi PC 16; M: Marker 1Kb; -  Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của một số dòng Song mật thu thập từ các tỉnh phía Bắc sử dụng kỹ thuật RAPD
Hình 3.4. Sản ph-m PCR – RAPD với mồi PC 16; M: Marker 1Kb; (Trang 31)
Hình 3.5. Sản ph-m PCR – RAPD với mồi PC 20; M: Marker 1Kb; -  Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của một số dòng Song mật thu thập từ các tỉnh phía Bắc sử dụng kỹ thuật RAPD
Hình 3.5. Sản ph-m PCR – RAPD với mồi PC 20; M: Marker 1Kb; (Trang 32)
Bảng 3.3. Số phân đoạn ADN xuất hiện và số phân đoạn ADN đa hình với  mỗi mồi -  Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của một số dòng Song mật thu thập từ các tỉnh phía Bắc sử dụng kỹ thuật RAPD
Bảng 3.3. Số phân đoạn ADN xuất hiện và số phân đoạn ADN đa hình với mỗi mồi (Trang 33)
Bảng 3.5. Số băng đa hình của các mẫu, xuất xứ Song mật   TT  Tên -  Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của một số dòng Song mật thu thập từ các tỉnh phía Bắc sử dụng kỹ thuật RAPD
Bảng 3.5. Số băng đa hình của các mẫu, xuất xứ Song mật TT Tên (Trang 36)
Ảng 3.6. Bảng hệ số tươngđồng di truyền của 15 mẫu Song mật  S1S2S3S4S5S6S7S8S9S10S11S12S13S14S15 11,0000 20,81631,0000 30,82650,96941,0000 40,68370,72450,71431,0000 50,73470,79590,80610,76531,0000 60,70410,64290,63270,67350,78571,0000 70,64290,66330,6735 -  Nghiên cứu tính đa dạng di truyền của một số dòng Song mật thu thập từ các tỉnh phía Bắc sử dụng kỹ thuật RAPD
ng 3.6. Bảng hệ số tươngđồng di truyền của 15 mẫu Song mật S1S2S3S4S5S6S7S8S9S10S11S12S13S14S15 11,0000 20,81631,0000 30,82650,96941,0000 40,68370,72450,71431,0000 50,73470,79590,80610,76531,0000 60,70410,64290,63270,67350,78571,0000 70,64290,66330,6735 (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w