Tóm lại, kết quả phân tích đặc điểm hình thái cơ quan tiêu hóa, xác định RLG và khảo sát thành phần thức ăn cho thấy các đặc điểm dinh dưỡng cơ bản của cá bống cát là cá dữ, ăn động vật [r]
Trang 1NGHIÊN CỨU TÍNH ĂN VÀ PHỔ THỨC ĂN CÁ BỐNG CÁT
Nguyễn Minh Tuấn1, Trần Đắc Định2
STUDY ON FEEDING HABIT AND FEED SPECTRUM OF
GOLDEN TANK GOBY Glossogobius aureus Akihito & Meguro, 1975
Nguyen Minh Tuan1, Tran Dac Dinh2
Tóm tắt – Cá bống cát Glossogobius aureus
Akihito & Meguro, 1975 (G aureus) là loài cá
có thịt thơm ngon được nhiều người ưa thích và
có giá trị kinh tế Nghiên cứu tính ăn và phổ thức
ăn của cá bống cát được thực hiện từ tháng 01
đến tháng 12 năm 2013 tại vùng ven biển tỉnh
Bến Tre Kết quả nghiên cứu cho thấy cá bống
cát thuộc nhóm cá miệng trên, miệng rộng, lưỡi
phát triển, phần tự do của lưỡi dài, phần cuối
lưỡi xẻ thùy và chia làm đôi, răng lớn, nhọn, răng
hầu phát triển, lược mang có dạng núm hoặc gai
nhọn, thực quản và ruột ngắn, thành dạ dày và
thành ruột dày Cá bống cát có tỉ lệ chiều dài
ruột/chiều dài cơ thể (RLG) < 1, thức ăn chủ
yếu là cá (46,3%) và giáp xác (40,5%) Kết quả
nghiên cứu đặc điểm hình thái cơ quan tiêu hóa
và phổ thức ăn cho thấy cá bống cát là cá dữ ăn
động vật.
Từ khóa: Cá bống cát, Glossogobius aureus,
phổ thức ăn, tính ăn.
Abstract – Glossogobius aureus Akihito &
Meguro, 1975 is a fish with good flesh, which
has brought about high economic value The
study on feeding habit and feed spectrum of G.
1
Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bến Tre
2 Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ
Ngày nhận bài: 07/3/2018; Ngày nhận kết quả bình duyệt:
13/3/2018; Ngày chấp nhận đăng: 21/3/2018
Email: nmtuan.snn@bentre.gov.vn
1
Ben Tre Department of Agriculture and Rural
Develop-ment
2
College of Aquaculture and Fisheries, Can Tho
Univer-sity
Received date: 07th March 2018; Revised date: 13th
March 2018; Accepted date: 21thMarch 2018
aureus was conducted from January to December
2013 at the coastal area of Ben Tre province The results have showed that the mouth of this fish is wide, tongue is bilobate, teeth on faws develop well The gill rakers are sparse, short and hard The esophagus and the intestine are short, the stomach and intestinal walls are thick The Relative Length Gut index (RLG) of G aureus was less than 1 The results also indicated that
G Aureus are fed mainly on small fish (46.3%) and crustaceans (40.5%) The result showed that
G aureus is the carnivorous species
Keywords: Golden tank goby, Glossogobius aureus, feed spectrum, feeding habit.
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá bống cát Glossogobius aureus Akihito &
Meguro , 1975 thuộc giống Glossogobius, họ cá
bống trắng (Gobiidae), bộ cá vược (Perciformes) [1]; phân bố vùng Tây Thái Bình Dương, Nam Phi, Châu Á và Châu Đại Dương: Nhật Bản đến Úc; sông Mekong và sông Chao Phraya [1], [2] Loài này sống được ở cả 3 môi trường ngọt, lợ
và mặn Cá bống cát có chiều dài thân đến 26,9
cm (chiều dài chuẩn) [2] Cá có chiều dài thành thục đầu tiên là 13,02 cm (chiều dài chuẩn) [3]
Cá bống cát G aureus có thịt ngon, giá trị kinh
tế cao [4] Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận
được 3 loài cá bống cát thuộc giống Glossogobius
là Glossogobius aureus, Glossogobius giuris và
Glossogobius sparsipappllus[2] Về hình thái, ba loài này rất giống nhau Đặc điểm để phân biệt ba loài này là các hàng nốt cảm giác của cá trên má
và nắp mang (Hình 1) [2], [5], [6] Tuy nhiên, các nghiên cứu về đặc điểm dinh dưỡng, sinh trưởng
Trang 2và sinh sản của cá bống cát đa số tập trung cho
loài G giuris, còn loài G aureus ở vùng bãi bồi
ven biển vùng ĐBSCL nói chung và ở Bến Tre
nói riêng cho đến nay vẫn còn hạn chế Do đó,
việc xác định được tính ăn và phổ thức ăn của cá
bống cát G aureus sẽ làm cơ sở cho sự phát triển
nghề nuôi và bảo vệ nguồn lợi của loài cá này
Với lí do trên, đề tài “Nghiên cứu tính ăn và
phổ thức ăn cá bống cát Glossogobius aureus
Akihito & Meguro, 1975” đã được thực hiện.
Hình 1: Ba loài cá bống cát giống Glossogobius.
(Nguồn: Trần Đắc Định và ctv., 2013) [2]
(a) G aureus, (b) G sparsipappllus và
(c) G giuris.
Thức ăn của cá được chia làm 3 loại, thức ăn
chính (thức ăn tự nhiên) là loại thức ăn cá ưa
thích nhất, giúp cá sẽ phát triển tốt nhất; thức ăn
phụ được cá sử dụng một khi chúng xuất hiện;
thức ăn bắt buộc là loại thức ăn mà cá bắt buộc
sử dụng khi không có loại thức ăn khác [7] Thức
ăn tự nhiên của cá được chia thành 4 nhóm: sinh
vật phù du, sinh vật tự bơi, sinh vật đáy và chất
vẩn Có 2 loại chất vẩn là chất vẩn lơ lững và
chất vẩn lắng đọng dưới nền đáy [8]
Nikolsky [9] phân chia thức ăn của cá ra thành
4 loại: thức ăn cơ bản, thức ăn thứ cấp, thức ăn
ngẫu nhiên và thức ăn cưỡng bức Tùy vào khối
lượng của các loại thức ăn được cá sử dụng, chia
tập tính dinh dưỡng của cá ra thành các nhóm
như: cá ăn đơn, chúng chỉ ăn một loại thức ăn duy nhất; cá có phổ dinh dưỡng hẹp, chúng ăn được một số loại thức ăn khác nhau; và cá có phổ dinh dưỡng rộng, chúng ăn được nhiều loại thức ăn khác nhau
Tập tính dinh dưỡng của cá cũng có thể được phân chia theo vị trí của chuỗi thức ăn (hay loại thức ăn) sẵn có hoặc nơi mà loại thức ăn ưa thích của cá xuất hiện nhiều nhất Theo đó, cá được chia thành: cá ăn tầng mặt (surface feeder), cá ăn tầng giữa (mid feeder), cá ăn đáy (bottom feeder) hoặc cá ăn ven bờ (marginal feeder)
Bên cạnh các cách phân chia như trên, Das and Moitra [10] cho rằng có thể chia tính ăn của
cá dựa vào loại thức ăn tự nhiên mà cá ưa thích như cá ăn sinh vật nổi hay cá ăn chất vẩn Nhóm
cá ăn tạp được chia thành 2 nhóm phụ: cá ăn tạp thiên về thực vật và cá ăn tạp thiên về động vật Riêng nhóm cá ăn động vật thì được chia:
cá ăn côn trùng (insectivorous), cá ăn giáp xác (carciniphagus), cá ăn thân mềm (malacophagus),
cá ăn các loài cá nhỏ khác (piscivorous), cá ăn ấu trùng của các loại côn trùng và cá (larvivorous),
cá ăn thịt lẫn nhau (cannibalistic)
Theo Nguyễn Bạch Loan [11], có thể dựa vào đặc điểm hình thái ống tiêu hóa để dự đoán tính
ăn của cá Cá hiền thường có miệng nhỏ, hẹp như
cá sặc rằn, cá linh Cá dữ thường có miệng rộng lớn như cá lóc, cá chẽm, cá bống tượng, cá bống cát Cá ăn lọc thường không có răng; cá ăn động vật kích thước nhỏ có răng nhỏ, mịn; cá ăn động vật kích thước lớn có răng to, bén, thường có răng chó Lược mang cũng khác nhau tùy theo tính ăn của mỗi loại cá Cá ăn lọc lược mang dài, mảnh, xếp khít nhau; cá ăn động vật kích thước nhỏ lược mang dài, mảnh, xếp thưa; cá ăn mùn bã hoặc động vật đáy lược mang ngắn, to thô, xếp thưa; cá ăn động vật kích thước lớn trên cung mang có nhiều gai bén hoặc lược mang biến thành những núm có nhiều gai Độ dài của ruột cũng quan hệ chặt chẽ với tính ăn: cá ăn động vật thì ruột ngắn, cá ăn thực vật thì ruột dài, cá
ăn tạp thì ruột trung bình [12] Trong thủy sản thường chia tính ăn của cá làm 3 nhóm: nhóm cá
ăn động vật, nhóm cá ăn thực vật, nhóm cá ăn tạp [10]
Hệ tiêu hóa của cá có chức năng lấy thức ăn từ môi trường bên ngoài, chuyển hóa thức ăn thành chất dinh dưỡng và hấp thụ chúng để cung cấp
Trang 3cho các hoạt động sống của cơ thể cá Mỗi loại
cá thích nghi với việc dinh dưỡng bằng những
loại thức ăn nhất định và phù hợp với đặc tính
dinh dưỡng của cá, các cơ quan mà cá dùng để
tìm thức ăn cũng khác nhau [13] Theo Phạm
Thanh Liêm và Trần Đắc Định [7], nghiên cứu
cấu trúc của cơ thể cá như vị trí miệng, răng,
kích cỡ miệng, sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn
về loại thức ăn tự nhiên và tập tính bắt mồi của
cá Cá có miệng dưới hay miệng nằm ở mặt bụng
chính là loài cá ăn đáy
Cá bống cũng có loài có tính ăn thiên về thực
vật như cá bống kèo vảy nhỏ (Pseudapocryptes
elongatus), thức ăn chủ yếu là tảo khuê, tảo
lam và mùn bã hữu cơ Các động vật phù du
(Copepoda, Cladocera) cũng thấy hiện diện trong
thức ăn của cá nhưng không nhiều [13]
Cá bống Pomatoschistus minutus và những loài
cá bống thường có chung mồi là động vật giáp
xác, copepoda và polychaeta [14]–[16] Theo kết
quả phân tích tần số xuất hiện của thức ăn trong
dạ dày cá, cá Platichthys flesus ăn Polychaeta
trong những giờ buổi sáng và Neomysis integer
vào buổi tối [17]
Nghiên cứu của Borek et al [18], trong tháng 8
năm 2001, ghi nhận tất cả các nhóm chiều dài của
cá bống Pomatoschistus minutus (Pallas, 1770)
đều có calanoida chiếm ưu thế trong chế độ ăn
của cá Trứng của Copepoda, Chironomus và cá
bống P minutus con thường được tìm thấy nhiều
nhất trong thành phần thức ăn của tất cả các nhóm
chiều dài của cá bống P minutus Trong chế độ
ăn của cá bống P minutus ở nhóm chiều dài 30 –
49 mm, amphipoda trội về sinh khối, nhưng trong
dạ dày của nhóm cá có chiều dài lớn nhất thì con
mồi bao gồm cá con của chúng Đối với cá bống
P minutus nhỏ hơn (chiều dài các nhóm từ 30 –
39 và 40 – 49 mm), con mồi quan trọng nhất là
calanoida, trong khi những con lớn nhất (trên 50
mm) có các đối tượng con mồi quan trọng nhất
là P minutus.
Ravi [19] cho rằng cá bống sao (B boddarti) ở
rừng ngặp mặn Pichavaram, Ấn Độ là loài có tính
ăn thiên về thực vật và tảo khuê là thành phần chủ
yếu [20] Nhìn chung, đa số các loài có hình thái
tương tự cá bống sao thuộc giống Periophthalmus
và Periophthalmodon là loài ăn động vật, trong
khi những loài thuộc giống Boleophthamus là loài
có tính ăn thiên về thực vật, đặc biệt tảo khuê là
thành phần chủ yếu [21], [22] Cá bống sao lấy thức ăn bằng cách di chuyển trên bãi bùn và cạp một lớp bùn mỏng từ bề mặt [20] Fenchel [23] cho rằng tảo khuê đáy tạo thành một nguồn thức
ăn quan trọng cho sinh vật đáy, trong khi Heald
và Odum [24] giải thích rằng tảo khuê đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập các chuỗi thức
ăn và mối quan hệ giữa các nhóm khác nhau của các sinh vật trong các hệ sinh thái
Họ cá bống trắng (Gobiidae) là nhóm cá rộng muối và ăn động vật nhỏ; đồng thời cũng là loài
có giá trị kinh tế cao góp phần đáng kể vào sản lượng khai thác và thu nhập của người dân trong vùng đầm Ô Loan, tỉnh Bình Định [25]
Thức ăn của cá bống rất đa dạng, có nghĩa là chúng cũng thích nghi với những thay đổi sinh học trong môi trường và dễ dàng chuyển sang các loại thức ăn phù hợp Ngay cả trong điều kiện thiếu thức ăn, chúng có một thời gian giới hạn chờ có được nguồn thức ăn phong phú cung cấp để đẻ trứng Ngoài ra, còn có các giá trị khác có tính linh động, chẳng hạn sinh sản giảm, tăng trưởng giảm Khi nguồn cung cấp thức ăn
có sự thay đổi lớn, như trong trường hợp vùng ven biển, cá có thể bị buộc phải lưu trữ chất béo
để sử dụng sau Vì vậy, tính ăn linh động dự kiến
sẽ tăng với môi trường biến đổi [26]
Một số nghiên cứu cho thấy thức ăn của các loài cá bống rất đa dạng và tùy theo loài, có loài
ăn chủ yếu là thực vật như cá bống kèo, có loài
ăn chủ yếu là động vật như cá bống tượng và có loài ăn cả động vật và thực vật Do vậy, trong quá trình nghiên cứu, tác giả luôn lưu ý điều này
để xác định thức ăn của đối tượng nghiên cứu
Do không phải tất cả thành phần có trong dạ dày của cá đều là thức ăn của cá, có thể trong quá trình ăn mồi vô tình các thức ăn này theo nước
đi vào dạ dày của cá
A Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu này được tiến hành từ tháng 1 năm
2013 đến tháng 12 năm 2013 tại vùng ven biển tỉnh Bến Tre (Hình 2)
Địa điểm phân tích mẫu: phân tích hình thái
cơ quan tiêu hóa tại hiện trường khu vực thu mẫu
và phân tích phổ thức ăn tại Phòng Thí nghiệm Nguồn lợi Thủy sản, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ
Trang 4Hình 2: Bản đồ khu vực nghiên cứu
B Phương pháp thu và cố định mẫu
Số mẫu phân tích tương quan chiều dài ruột
và chiều dài tổng của cá là 411 cá thể, phân tích
phổ thức ăn là 35 cá thể
Mẫu cá được thu bằng lưới đáy (có kích thước
mắt lưới phần đục là 2a = 15mm) và thu định
kì hàng tháng trong suốt 12 tháng Mẫu cá phân
tích phổ thức ăn sau khi thu được gây mê bằng
nước đá, sau đó cố định ngay trong dung dịch
formol 10%, chọn cá thể no và tiến hành phân
tích tại Phòng Thí nghiệm Nguồn lợi Thủy sản,
Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ
C Phương pháp phân tích đặc điểm hình thái
cấu tạo cơ quan tiêu hóa
Quan sát cấu tạo răng, miệng, lược mang, đo
chiều dài ruột và chiều dài tổng của cá Tính
tương quan giữa chiều dài ruột và chiều dài tổng
của cá (RLG) theo Al-Hussainy [12]
RLG = Chiều dài ruột (cm)
Chiều dài tổng (cm)
D Phương pháp phân tích phổ thức ăn của cá
Cách lấy thức ăn ra khỏi ống tiêu hóa để phân
tích: mẫu dạ dày cá no được đặt trên khai mổ có
trải tấm nhựa mỏng, dùng kéo mổ dạ dày cá rồi
chuyển hết phần thức ăn có trong dạ dày ra tấm
nhựa để phân tích
Cá bống cát có thành phần thức ăn là cá và
giáp xác có kích thước và khối lượng lớn nên
nghiên cứu này phân tích phổ thức ăn của cá theo phương pháp tần số xuất hiện và phương pháp khối lượng
* Phương pháp tần số xuất hiện (TSXH) Phương pháp này được tiến hành theo hai bước:
- Tất cả các loại thức ăn trong các mẫu quan sát sẽ được liệt kê thành một danh sách, sau đó ghi nhận lại sự hiện diện của mỗi loại thức ăn trong từng dạ dày và tính ra % trên tổng số dạ dày quan sát
- Tính % xuất hiện của mỗi loại thức ăn:
T = Số lượng dạ dày hiện diện thức ăn (a)
Tổng số cá thể quan sát ×100 T: TSXH thức ăn loại a (%)
Cách tính tương tự cho tất cả các loại thức ăn khác còn lại
* Phương pháp khối lượng Trước tiên sử dụng cân điện tử (3 chữ số lẻ) cân tổng khối lượng thức ăn có trong dạ dày cá, sau đó cân khối lượng của từng loại thức ăn có trong dạ dày cá Khối lượng của mỗi loại thức ăn được tính thành phần trăm trên tổng khối lượng thức ăn có trong dạ dày cá
Phổ thức ăn của cá được xác định bằng tích
số giữa tỉ lệ tần số xuất hiện và tỉ lệ khối lượng thức ăn, sau đó tính ra tỉ lệ % trên tổng tích số [8]
E Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu ghi nhận được phân tích giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, tần số phần trăm bởi phần mềm Excel 2007
A Đặc điểm hình thái cơ quan tiêu hóa của cá bống cát G aureus
Kết quả quan sát cấu tạo hệ tiêu hóa cá bống cát được ghi nhận như sau:
Miệng: cá bống cát có hàm dưới nhô ra và dài hơn hàm trên (Hình 3), rạch miệng kéo dài đến
bờ trước của ổ mắt Như thế, chúng thuộc nhóm
cá miệng trên, miệng khá rộng
Răng: cá có hai hàng răng trên mỗi hàm, cả hai hàng răng bên trong và bên ngoài đều có răng lớn và nhọn (Hình 3) Tuy nhiên, hàng răng ngoài lớn và nhọn hơn so với hàng trong Có răng hầu nhỏ, nhọn và xếp thành đám hình bầu dục ở vùng
Trang 5hầu (Hình 4 [1]) Kết quả quan sát răng của cá
bống cát ở nghiên cứu này cũng phù hợp với mô
tả của Akihito and Meguro [5] Đối chiếu với tài
liệu Nguyễn Bạch Loan [11], cá bống cát có đặc
điểm về răng như thế thì có thể dự đoán được cá
bống cát là loài cá dữ
Lưỡi: rất phát triển, phần tự do của lưỡi dài,
phần cuối xẻ thùy và chia làm đôi (Hình 3)
Hình 3: Hình thái miệng, răng và lưỡi cá bống
cát G aureus
Mang: Cá bống cát có khe mang rộng, gồm
có 4 đôi cung mang kích thước lớn dần từ dưới
lên trên (Hình 4) Lược mang cá bống cát nằm
trên xương cung mang và đối xứng với tia mang,
hướng vào xoang miệng hầu Trên mỗi xương
cung mang, lược mang có màu trắng ngà xếp
thành một hàng thưa, dạng núm gai nhọn và bén
Cấu tạo lược mang cá bống cát phù hợp với đặc
điểm của nhóm cá ăn động vật có kích thước lớn
Mỗi cung mang có khoảng 7 đến 10 lược mang
Hình 4: Hình thái cung mang của cá bống cát
(G aureus) [1] Răng hầu; [2] Tia mang;
[3] Xương cung mang; [4] Lược mang
Thực quản: tương đối ngắn, nằm tiếp xoang
hầu Thực quản có thành dày, gấp nếp ở mặt
trong Cấu tạo thực quản như trên chứng tỏ cá
bống cát thích hợp với thức ăn là các loài động
vật kích thước lớn (Hình 5-6)
Hình 5: Hệ tiêu hóa cá bống cát (G aureus)
[1] Thực quản; [2] Gan; [3] Mật; [4] Dạ dày; [5] Ruột
Hình 6: Cấu tạo ống tiêu hóa cá bống cát
(G aureus) (a) Cấu tạo ngoài ống tiêu hóa.
(b) Cấu tạo mặt trong ống tiêu hóa
Dạ dày cá bống cát rất phát triển, có dạng túi hình chữ J phình to và vách dày (Hình 5-6), cấu tạo của dạ dày vách dày đã thể hiện được thức
ăn của cá bống cát có kích thước lớn
Ruột ngắn, thành ruột cá tương đối dày, bên trong bề mặt gấp nếp để tăng diện tích hấp thu chất dinh dưỡng
Để xác định chính xác hơn tính ăn của cá bống cát thì chỉ số tương quan giữa chiều dài ruột và chiều dài cơ thể (RLG) được khảo sát Tương quan giữa chiều dài ruột (Lr) và chiều dài tổng (L) của cá bống cát được phân tích trên 411 mẫu, chỉ số này dao động trong khoảng 0,08–0,57 với giá trị trung bình 0,26 (Bảng 1)
Theo Nikolsky [9], khi chỉ số RLG < 1 cá
Trang 6Bảng 1: Các thông số về chiều dài ruột và chiều
dài tổng cá bống cát (G aureus) (n = 411)
Các chỉ tiêu đo Trung bình Min Max
Chiều dài tổng (cm) 18,5 9,30 30,1
Chiều dài ruột (cm) 4,85 1,60 12,0
Tương quan chiều dài
ruột/chiều dài tổng (RLG) 0,26 0,08 0,57
thuộc nhóm ăn động vật, cá bống cát có RLG
= 0,26 < 1 thì thức ăn của chúng là động vật
Đồng thời, kết quả phân tích giải phẫu thể hiện
mối tương quan giữa chiều dài ruột và chiều dài
cơ thể cho thấy kích thước ruột rất ngắn so với
chiều dài cơ thể cá
Qua kết quả phân tích đặc điểm hình thái cơ
quan tiêu hóa cá bống cát và chỉ số RLG, có thể
dự đoán đây là loài cá dữ
B Phổ thức ăn cá bống cát (G aureus)
* Thành phần thức ăn trong dạ dày theo
phương pháp tần số xuất hiện
Kết quả phân tích thức ăn trong ống tiêu hóa
của cá bống cát theo phương pháp tần số xuất
hiện với 35 mẫu cá cho thấy thành phần thức
ăn của cá có 4 nhóm thức ăn: mùn bã hữu cơ
(85,71%), giáp xác (51,43%), cá (57,14%) và
thức ăn khác (28,57%) (Bảng 2) Trong đó thức
ăn khác là các loại tảo như tảo khuê, tảo lam, tảo
lục, tảo mắt
Bảng 2: Tần số xuất hiện các loại thức ăn trong
dạ dày cá bống cát (G aureus) (n=35)
Loại thức ăn Số lần
xuất hiện
Tần số xuất hiện (%)
* Thành phần thức ăn trong dạ dày theo
phương pháp khối lượng.
Kết quả ở Bảng 3 cho thấy cá chiếm tỉ lệ cao
nhất (46,04%), kế đến là giáp xác (44,70%), mùn
bã hữu cơ (8,53%) và thấp nhất là thức ăn khác (0,73%) Điều này cho thấy cá và giáp xác là loại thức ăn quan trọng của cá bống cát
Bảng 3: Thành phần thức ăn trong dạ dày theo phương pháp khối lượng
Loại thức ăn Khối lượng
trung bình % Khối lượng
* Phổ thức ăn Thành phần thức ăn của cá bống cát (n = 35 mẫu) theo phương pháp chỉ số ưu thế (phương pháp tần số xuất hiện kết hợp với phương pháp khối lượng) ghi nhận được kết quả như sau: cá
và giáp xác chiếm tỉ lệ cao (46,3% và 40,46%), mùn bã hữu cơ chiếm tỉ lệ thấp hơn (12,87%)
và thức ăn khác chiếm tỉ lệ rất thấp (0,37%) (Bảng 4)
Bảng 4: Phổ dinh dưỡng của cá bống cát
(G aureus) (n = 35)
Loại thức ăn TSXH
(%)
Khối lượng (%)
Tích số %
Tích số
Mùn bã hữu cơ 85,71 8,53 731,1 12,87
Ghi chú: Thức ăn khác gồm tảo silic, tảo lục, tảo mắt, tảo lam và các thành phần khác Das and Moitra [10] cho rằng cá ăn động vật
sẽ có thành phần thức ăn là động vật chiếm hơn 80% Kết hợp thành phần thức ăn, cấu tạo hệ tiêu hóa và RLG cung cấp thông tin về tính ăn của
cá bống cát là loài cá dữ ăn động vật, chủ yếu
là cá và giáp xác, hai thành phần này chiếm tỉ lệ khá cao (86,76%) trong thành phần thức ăn ống tiêu hóa
Cá bống cát (G giuris) có thành phần thức ăn
chính là cá và giáp xác [27]–[31], điều này cho thấy thành phần thức ăn chính của hai loài cá
Trang 7Hình 7: Phổ thức ăn cá bống cát G aureus
bống cát (G giuris) và cá bống cát (G aureus)
là giống nhau Ngoài ra, trong thành phần thức
ăn của G giuris còn có côn trùng thủy sinh [30],
[32] và thức ăn này được phát hiện trong dạ
dày của cá con Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa
phát hiện được côn trùng trong dạ dày của cá G.
aureus, có thể do chưa phân tích được dạ dày của
cá con Mặc dù hai loài khác nhau nhưng chúng
cùng thuộc một giống, đều là cá dữ
Tóm lại, kết quả phân tích đặc điểm hình thái
cơ quan tiêu hóa, xác định RLG và khảo sát thành
phần thức ăn cho thấy các đặc điểm dinh dưỡng
cơ bản của cá bống cát là cá dữ, ăn động vật
(RLG < 1), thức ăn chủ yếu là cá và giáp xác
A Kết luận
Cá bống cát (G aureus) thuộc nhóm cá dữ với
thành phần thức ăn chủ yếu là cá nhỏ và giáp xác
(86,8%)
B Đề xuất
Nghiên cứu về sự chọn lựa thức ăn của cá bống
cát, nhu cầu dinh dưỡng của cá ở các giai đoạn
khác nhau và nghiên cứu khả năng nuôi thương
phẩm loài cá này để có thể phát triển thêm đối
tượng nuôi mới
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Froese R, D Pauly. FishBase; World Wide Web electronic publication; 2018 Available from: http://www.fishbase.org [Accessed 28th February 2018].
[2] Trần Đắc Định, Shibukawa Koichi, Nguyễn Thanh Phương, Hà Phước Hùng, Trần Xuân Lợi,
Mai Văn Hiếu, et al Mô tả định loại cá ĐBSCL,
Việt Nam McGraw-Hill, New York, USA; 2013; tr.
174 Đại học Cần Thơ.
[3] Nguyễn Minh Tuấn, Huỳnh Thị Ngọc Lành, Nguyễn Thanh Phương, Trần Đắc Định Một số đặc điểm sinh học sinh sản của cá bống cát (Glossogobius aureus Akihito & amp; Meguro, 1975) phân bố ở vùng ven
biển tỉnh Bến Tre Tạp chí Khoa học Trường Đại học
Cần Thơ 2014;Số chuyên đề (2014):169–176 [4] Nguyễn Minh Tuấn Thành phần loài và đặc điểm
sinh học của một số loài cá kinh tế của hai họ cá bống Gobiidae và Eleotridae phân bố ở vùng ven biển tỉnh Bến Tre[Luận án Tiến sĩ] Trường Đại học Cần Thơ; 2015.
[5] Akihito P, K Meguro Description of a New Gobiid Fish Glossogobius aureus, with Notes on Related
Species of the Genus Japanese Journal of
Ichthy-ology 1975;22(3):127–142.
[6] Rainboth W J Fishes of the Cambodian Mekong;
1996;p 256 FAO species identification field guide for fishery purposes FAO Rome.
[7] Phạm Thanh Liêm, Trần Đắc Định. Giáo trình Phương pháp nghiên cứu sinh học cá; 2004;tr 80 Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ.
[8] Biswas S P Manual of Methods in Fish Biology.
Pvt Ltd., New Delhi: South Asian Publishers; 1993;p 157.
[9] Nikolsky G V Ecology of fishes London: Academic
press; 1963;p 352.
[10] Das S M, S K Moitra Studies on the food and feeding
habits of some freshwater fisher of India
Ichthyolog-ical 1963;2(1-2):107–115 Part IV A review on the food and feeding habits with general conclusions [11] Nguyễn Bạch Loan Giáo trình Ngư loại I; 2003;tr.
91 Đại học Cần Thơ.
[12] Al-Hussainy A H On the Functional Morphology
of the Alimentary Tract of Some Fishes in Relation
to Differences in their Feeding Habits: Anatomy and
Histology Ichthyological 1949;90:109–139 Part IV.
A review on the food and feeding habits with general conclusions.
[13] Phạm Minh Thành, Nguyễn Văn Kiểm Cơ sở khoa
học và kỹ thuật sản xuất cá giống Nhà xuất bản nông nghiệp; 2009; tr.216.
[14] Aarnio K, E Bonsdorff Seasonal variation in abun-dance and diet of the sand goby Pomatoschistus minutus (Pallas) in a northern Baltic archipelago.
Ophelia 1993;37(1):19–30.
[15] Evans S Production, predation and food niche seg-regation in a marine shallow soft-bottom community.
Mar Ecol Prog 1983;10:147–157.
Trang 8[16] Hampel H, A Cattrijsse Temporal variation in feeding
rhythms in a tidal marsh population of the common
goby Pomatoschistus microps (Kroyer, 1838) Aquat
Sci 2004;66:315–326.
[17] Złoch I, S Mariusz, F Monikas Diel food
ompo-sition and changes in the diel and seasonal feeding
activity of common goby, sand goby and young
flounder inhabiting the inshore waters of the gulf of
gda´nsk, poland Oceanological and hydrobiological
studies. Institute of oceanography, University of
Gda´nsk 2005;34(3):69–84.
[18] Borek K W, I Złoch, S R Mariusz, F Monika,
F Karolina Does food quality affect the conditions
of the sand and common gobies from the gulf of
gda´nsk, poland Oceanological and hydrobiological
studies. Insstitute of oceanography, University of
Gda´nsk 2005;34(3):39–55.
[19] Ravi V Food and Feeding Habits of the
Mud-skipper, Boleophthalmus boddarti (Pallas, 1770)
from Pichavaram Mangroves, Southeast Coast of
India. International Journal of Marine Science.
2013;3(12):98–104.
[20] Macnae W A general account of the fauna and
flora of angroveswamps and forests in the
Indo-West Pacific region. Advances in MarineBiology.
1968;6:73–270.
[21] Clayton D A Mudskippers In: Oceanography and
Marine Biology: An Annual Review vol 31; 1993 p.
507–577.
[22] Rathod D Sudesh, N N Patil Feeding habits of
Boleophthalmus Dussumieri (Cuv and Val.) from
ulhas river estuary near Thane city, Maharashtra State.
J AquaBiol 2009;24(2):1–7.
[23] Fenchel T The ecology of marine microbenthos IV.
Structure and function of the benthic ecosystem, its
chemical and physical factors and the microfaunal
communities with special reference to ciliated
pro-tozoa Ophelia 1969;6:1–182.
[24] Heald E J, W E Odum The contribution of the
man-grove swamps to Florida fishes, Limnol Oceanogr.
1970;3:353–361.
[25] Võ Văn Phúc, Nguyễn Thị Phi Loan, Hồ Thị Hồng.
Về đa dạng sinh học thành phần loài cá ở đầm Ô
Loan, tỉnh Phú Yên Kỉ yếu những vấn đề cơ bản
trong khoa học sự sống, Trường đại học Khoa học,
Đại học Huế; 2003; tr 702-705.
[26] Komers P E Behavioural plasticity in variable
environments Can J Zool 1997;75:161–169.
[27] Phạm Thị Mỹ Xuân Một số đặc điểm sinh sản của
cá bống cát (Glossogobius giuris Hamilton, 1822) ở
Thành phố Cần Thơ Tạp chí Khoa học Trường Đại
học Cần Thơ 2013;27:161–168.
[28] Achakzai W M, S Saddozai, W A Baloch, Z
Mas-sod, H U Rehman, Musarrat-ul Ain Food and
Feeding Habits of Glossogobius giuris (Hamilton
and Buchannan, 1822) Collected from Manchar Lake
distt Jamshoro, Sindh, Pakistan Global Veterinaria.
2015;14(4):613–618.
[29] Rao L M, P S Rao Food and feeding habits of
Glossogobius giuris from Gosthani estuary Indian
J Fish 2002;49(1):35–40.
[30] Hora S L Ecology and bionomics of the gobioid fishes of Gangetic delta Comptes Rendus DN 12 C
Congr Inter National de Zoologie 1935;p 841–863.
[31] Mookerjee H K On the food of Glossogobius giuris
(Hamilton) Science and Culture 1935;13:162–163.
[32] Alikunhi K H, G L Rao, P K Jacob Bionomics and development of Glossogobius giuris (Hamlton).
J Madras Univ 1951;21(B):238–248.