1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Câu hỏi đúng sai luật tố tụng hình sự

32 126 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 75,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu nhận định môn Luật tố tụng hình sự năm 2015 có đáp án tham khảo được cập nhật liên tục. Bạn có câu nhận định nào cần hỏi, vui lòng để lại bình luận phía cuối bài viết để được giải đáp nhéNgười dưới 14 tuổi không được làm chứng.Nhận định Sai.Giải thích: Theo quy định tại khoản 2, Điều 66 BLTTHS năm 2015 quy định về các trường hợp không được làm người làm chứng thì không có quy định nào cấm người dưới 14 tuổi trở thành người làm chứng. Vì vậy, nếu người dưới 14 tuổi không phải là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn, thì vẫn có thể làm chứng.Căn cứ pháp lý: Khoản 2, Điều 66 BLTTHS 2015.

Trang 1

Nội dung

CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM CHUNG, NHIỆM VỤ VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CỦA

LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1

CHƯƠNG II: CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG, NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG VÀ NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG 1

CHƯƠNG III: CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 5

CHƯƠNG IV: NHỮNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 7

CHƯƠNG V: KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 13

CHƯƠNG VI ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 15

CHƯƠNG VII XÉT XỬ SƠ THẨM 19

CHƯƠNG VIII: XÉT XỬ PHÚC THẨM, TÁI THẨM, GIÁM ĐỐC THẨM, THỦ TỤC RÚT GỌN 23

CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM CHUNG, NHIỆM VỤ VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1 Chỉ có quan hệ pháp luật tố tụng hình sự mới mang tính quyền lực nhà nước.

Sai, quan hệ pháp luật hành chính

2 Quan hệ pháp luật mang tính quyền lực nhà nước là QHPL TTHS.

Sai, phải thỏa các điều kiện khác (chủ thể: người THHT, CQ THTT, người tham gia tố tụng; khách thể: các QH giữa các chủ thể của luật TTHS, đối tượng điều chỉnh: QH TTHS); ngoài ra QHPL mang tính QTLNN có thể là QHPL khác (QHPL TTHC, HS…)

3 Phương pháp phối hợp chế ước chỉ điều chỉnh các mối quan hệ giữa các CQTHTT.

Đúng

4 Nguyên tắc “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” là nguyên tắc đặc thù mà chỉ Luật TTHS mới có.

Đúng, điều 11 định nghĩa bị can, bị cáo… chỉ có luật TTHS có

4 Người THTT và người TGTT có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trong các phiên tòa xét

xử VAHS.

Đúng, điều 11 định nghĩa bị can, bị cáo… chỉ có luật TTHS có

Trang 2

5 Người THTT và người TGTT có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trong các phiên tòa xét xử VAHS.

Sai, chỉ người tham gia tố tụng only (điều 24)

6 Nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật” là nguyên tắc đặc thù của luật TTHS?

vụ án hình sự Tuy nhiên, về thẩm quyền khởi tố bị can, theoĐiều 126 BLTTHS thì Tòa án không có quyền khởi tố bị can

Như vậy, không phải tất cả các cơ quan tiến hành tố tụng đều

có quyền khởi tố bị can

2 Tất cả những người có quyền giải quyết VAHS đều là những người tiến hành tố tụng.

=> Nhận định này sai, vì: Những cơ quan khác không phải cơquan tiến hành tố tụng như: Bộ đội biên phòng, Kiểm lâm, Hảiquan, Cảnh sát biển và những cơ quan khác trong CAND vàQĐND được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điềutra được quy định tại Đ164 BLTTHS 2015 cũng có quyền thamgia giải quyết vụ án hình sự theo những trường hợp luật định

3 Tất cả những người tham gia tố tụng có quyền

và nghĩa vụ pháp lý trong VAHS đều có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng.

=> Nhận định này sai,

tại vì: Căn cứ vào Đ50 BLTTHS 2016 quy định những người cóquyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng bao gồm: Kiểmsát viên; bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn

Trang 3

dân sự và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của haị; ngườibào chữa, người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơndân sự, bị đơn dân sự Theo quy định trên thì những người thamgia tố tụng khác như người làm chứng, người giám định, ngườiphiên dịch…không có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tốtụng.

Như vậy, không phải tất cả những người tham gia tố tụng cóquyền và nghĩa vụ pháp lý trong vụ án hình sự đều có quyền đềnghị thay đổi người tiến hành tố tụng

4 Trong mọi trường hợp người bào chữa phải bị thay đổi nếu là người thân thích của người tiến hành tố tụng.

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào mục 1, phần II NQ 03 thìcăn cứ vào thời điểm mà người bào chữa tham gia để quyếtđịnh thay đổi hoặc không thay đổi Nếu người bào chữa khôngtham gia trong các giai đoạn tố tụng ngay từ đầu mà có quan

hệ thân thích với người đã và đang tiến hành tố tụng thì sẽ từchối cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho người được nhờbào chữa đó Còn nếu người bào chữa tham gia trong các giaiđoạn tố tụng ngay từ đầu thì sẽ được cấp giấy chứng nhậnngười bào chữa và người bị thay đổi trong trường hợp này làngười tiến hành tố tụng có mối quan hệ thân thích với ngườibào chữa

Như vậy, không phải trong mọi trường hợp, người bào chữa phải

bị thay đổi nếu là người thân thích của người tiến hành tố tụng

5 Một người khi thực hiện tội phạm là người chưa thành niên, nhưng khi khởi tố vụ án hình sự đã đủ 18 tuổi thì

họ không thuộc trường hợp quy định tại Đ76 BLTTHS 2015

=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ vào điểm a mục 3 phần II

NQ 03 quy định thì trường hợp khi phạm tội người phạm tội làngười chưa thành niên, nhưng khi khởi tố, truy tố, xét xử họ đã

đủ 18 tuổi thì họ không thuộc trường hợp quy định tại điểm b,k1 điều 76 BLTTHS

6 Trong trường hợp bào chữa bắt buộc quy định tại điểm b K1 Đ76 BLTTHS, khi bị can, bị cáo và người đại

Trang 4

diện hợp pháp của họ yêu cầu thay đổi người bào chữa thì yêu cầu đó luôn được chấp nhận.

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Điểm c.1 mục 3 phần IINQ03 quy định trường hợp yêu cầu thay đổi người bào chữa thìthẩm phán được phân công làm chủ tòa phiên tòa căn cứ vàokhoản 2 và khoản 3 Điều 56 BLTTHS, hướng dẫn tại mục 1 phần

II nghị quyết để xem xét, quyết định chấp nhận hoặc khôngchấp nhận

7 Người làm chứng có thể là người thân thích của bị can,

bị cáo.

=> Nhận định này đúng, vì: Theo quy định tại K2 Đ66 BLTTHSquy định về những người không được làm chứng không liệt kêngười thân thích của bị can bị cáo Căn cứ theo khoản 1 Đ66BLTTHS, nếu người thân thích của bị can bị cáo biết được tìnhtiết liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làmchứng

8 Người dưới 14 tuổi không được làm chứng.

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào K2 Đ66 BLTTHS không liệt

kê người dưới 14 tuổi không được làm chứng Và căn cứ theoKhoản 1 Điều 66 BLTTHS nếu người dưới 14 tuổi biết được tìnhtiết liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến lànchứng

9 Người giám định có thể là người thân thích của bị can

bị cáo.

=> Nhận định này sai, vì: Điểm a Khoản 5 Điều 68 và căn cứvào Khoản 1 Điều 49 BLTTHS thì khi người giám định là ngườithân thích của bị can, bị cáo thì người giám định phải từ chốihoặc bị thay đổi

10 Người phiên dịch có thể là người thân thích của bị can, bị cáo.

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Điểm a Khoản 4 Điều 70

và Khoản 1 Điều 49 BLTTHS thì khi người phiên dịch là ngườithân thích của bị can, bị cáo thì phải từ chối hoặc bị thay đổi

11 Trong mọi trường hợp, thẩm phán, hội thẩm phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu đã được

Trang 5

phân công tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm vụ

án, hoãn phiên tòa thì vẫn được tiếp tục giải quyết vụ án

12 Những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích pháp lý trong vụ án đều có quyền nhờ luật sư bào chữa cho mình.

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại chương IV BLTTHS

về người tham gia tố tụng, thì chỉ có người bị tạm giữ, bị can, bịcáo mới có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữabởi họ là người bị buộc tội, còn những người tham gia tố tụngkhác không có quyền này

13 Khai báo là quyền của người làm chứng.

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Điểm b, Khoản 4 Điều 66BLTTHS quy định: khai báo là nghĩa vụ của người làm chứng

14 Người thân thích của thẩm phán không thể tham gia

tố tụng với tu cách là người làm chứng trong vụ án đó.

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 66BLTTHS về những người không được làm chứng đã không liệt kê

về người thân thích của thẩm phán Do đó căn cứ vào Khoản 1Điều 66 BLTTHS nếu người than thích của thẩm phán biết đượctình tiết liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làmchứng

15 Thẩm phán và hội thẩm đều phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu là người thân thích với nhau trong cùng một vụ án.

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại điểm b, khoản 1Điều 53 BLTTHS nếu thẩm phán, hội thẩm trong cùng một hộiđồng xét xử là người thân thích với nhau thì phải từ chối tham

Trang 6

gia xét xử hoặc bị thay đổi Và theo hướng dẫn tại điểm a, mục

6 phần I NQ03 thì khi có hai người thân thích với nhau thì chỉ cómột ngừơi phải từ chối hoặc bị thay đổi

16 Chỉ có kiểm sát viên viện kiểm sát thực hành quyền công tố mới có quyền trình bày lời buộc tội tại phiên tòa.

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Khoản 3 Điều 62 BLTTHS,trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bịhại quy định tại Điều 155 BLTTHS thì bị hại hoặc đại diện hợppháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa

17 Người biết được các tình tiết liên quan đến vụ án sẽ không được làm chứng nếu là người bảo vệ quyền lợi ích của người bị hại.

=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 66BLTTHS quy định về những người không được làm chứng khôngliệt kê người bảo vệ quyền lợi ích của người bị hại.Tuy nhiênđây là một điểm thiếu sót trong phần quy định về người khôngđược làm chứng của BLTTHS Bởi nếu cho phép người bảo vệquyền lợi ích của người bị hại làm chứng thì khi họ đưa ranhững tình tiết sự thật mà tình tiết đó có thể không có lợi chốnglại người bị hại thì không phù hợp với chức năng công việc của

họ Theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao về người bảo

vệ quyền lợi của đương sự thì người làm chứng trong vụ ánkhông được chấp nhận làm người bảo vệ quyền lợi của đươngsự

Như vậy, người biết các tình tiết liên quan đến vụ án sẽ khôngđược làm chứng nếu là người bảo vệ quyền lợi ích của người bịhại

CHƯƠNG III: CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1 Mọi sự vật tồn tại khách quan mà có liên quan đến VAHS thì là chứng cứ.

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Khoản 1Điều 86 BLTTHS:

“chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủtục do bộ luật này quy định mà CQĐT, Viện kiểm sát và Tòa ándung làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội,

Trang 7

người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết kháccần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án” Như vậy, theoquy định trên thì chứng cứ phải bao gồm tính khách quan, tínhliên quan và tính hợp pháp Nếu một sự vật tồn tại khách quan

có liên quan đến vụ án hình sự nhưng không được thu thập theotrình tự, thủ tục luật định (tính hợp pháp) thì không được coi làchứng cứ

2 Kết quả thu được từ hoạt động nghiệp vụ (trinh sát, đặc tình, sổ đen) là chứng cứ.

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 86 BLTTHSthì chứng cứ phải có đầy đủ các đặc điểm: phải tồn tại kháchquan, có tính liên quan và tính hợp pháp Đối với kết quả thuđược từ hoạt động nghiệp vụ ( trinh sát, đặc tình, sổ đen), đặcđiểm của hoạt động nghiệp vụ này là bí mật, lén lút nên khôngthỏa mãn được tính hợp pháp (được thu thập theo trình tự thủtục luật định) Do vậy, kết quả thu được tù hoạt động nghiệp vụ( trinh sát, đặc tình, sổ đen) không được sử dụng làm chứng cứ

mà chỉ là căn cứ để định hướng giải quyết vụ án

3 Tất cả những người THTT đều là những người có nghĩa

vụ chứng minh VAHS.

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 34BLTTHS những người tiến hành tố tụng gồm có: Thủ trưởng, phóthủ trưởng cơ quan điều tra, điều tra viên; viện trưởng, phó việntrưởng viện kiểm sát, kiểm sát viên; chánh án, phó chánh

án tòa án, thẩm phán, hội thẩm, thư ký tòa án Nhưng khôngphải tất cả những người trên đều có nghĩa vụ chứng minh vụ ánhình sự, như thư ký tòa án, theo quy định tại Điều 47 BLTTHS vềnhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của thư ký tòa án khôngquy định về nghĩa vụ chứng minh vụ án hình sự

4 Kết luận giám định là nguồn chứng cứ có thể thay thế được.

=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ Khoản 2 Điều 100 và Điều

210 BLTTHS thì cơ quan THTT có thể quyết định giám định bổsung hoặc giám định lại theo thủ tục chung nếu kết luận giámđịnh chưa rõ hoặc chưa đầy đủ Do đó, kết luận giám định lànguồn chứng cứ có thể thay thế được

Trang 8

5 Kết luận giám định là chứng cứ trong tố tụng hình sự.

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ Điểm d, Khoản 1, Điều 87BLTTHS thì kết luận giám định là nguồn dùng để xác địnhchứng cứ chứ không phải là chứng cứ Kết luận chỉ được coi làchứng cứ khi: thông tin trong kết luận là có thật, được tiến hànhtheo trình tự thủ tục theo pháp luật quy định và được cơ quan

có thẩm quyền dùng làm căn cứ để xác định có hay không cóhành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng nhưnhững tình tiết cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án

6 Lời khai của người bào chữa không phải là nguồn chứng cứ trong TTHS.

=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ Khoản 1 Điều 87 BLTTHSquy định về nguồn của chứng cứ không liệt kê lời khai củangười bào chữa Do vậy, lời khai của người bào chữa không phải

là nguồn của chứng cứ trong TTHS

7 Lời khai của người tham gia tố tụng là nguồn chứng cứ

có thể thay thế được.

=> Nhận định này sai, vì: Lời khai của người tham gia tố tụng

có thể xem là duy nhất, chính họ là người biết tình tiết sự thậtcủa vụ án do đó không thể lấy lời khai của người này thay thếcho lời khai của người khác Do đó, lời khai của người tham gia

tố tụng là nguồn chứng cứ không thể thay thế được Và theoquy định của BLTTHS thì chỉ có một nguồn chúng cứ duy nhất

có thể thay thế được đó là kết quả giám định

8 Vật chứng là nguồn chứng cứ không thể thay thế được.

=> Nhận định này đúng, vì: Theo quy định tại Điều 89 BLTTHSthì “vật chứng: là vật được dùng làm công cụ, phương tiệnphạm tội; vật mang dấu hiệu tội phạm, vật là đối tượng của tộiphạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tộiphạm và người phạm tội” Như vậy, vật chứng chứa đựng sựthật của vụ án do đó không thể thay thế được

9 Vật chứng chỉ có thể trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp khi vụ án đã được giải quyết xong.

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ theo Khoản 3, Điều 106

BLTTHS thì trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có

Trang 9

thẩm quyền có quyền quyết định trả lại những vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

Như vậy, vật chứng không chỉ có thể trả lại cho chủ sở hữu

hoặc người quản lý hợp pháp khi vụ án đã được giải quyết xong

mà có thể trả lại trong qua trình điều tra, truy tố, xét xử

10 Thư ký tòa án có quyền chứng minh trong vụ án hình sự.

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ Điều 47 BLTTHS quy định vềnhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của thư ký tòa án khôngquy định về quyền chứng minh của thư ký trong VAHS và căn

cứ vào Điều 108 BLTTHS quy định về đánh giá chứng cứ, mộthoạt động quan trọng trong quá trình chứng minh VAHS cũngkhông quy định về quyền của thư ký tòa án trong hoạt độngnày

CHƯƠNG IV: NHỮNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1 Biện pháp ngăn chặn chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo.

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ Điều 109 BLTTHS các BPNCđược áp dụng để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn

cứ chứng tỏ bị can bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra,truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như cần đảmbảo thi hành án

Theo quy định này thì trường hợp áp dụng BPNC để kịp thờingăn chặn tội phạm thì đối tượng bị áp dụng BPNC không phải

là bị can, bị cáo Cụ thể, đối với BPNC bắt người trong trườnghợp khẩn cấp thì đối tượng bị áp dụng không phải là bị can, bịcáo mà khi các chủ thể thực hiện các hành vi quy định tạiKhoản 1 Điều 110 BLTTHS thì có thể bị áp dụng BPNC này Vàđối với các BPNC khác như : bắt người phạm tội quả tang, biệnpháp tạm giữ cũng có thể áp dụng đối với người chưa phải là bịcan, bị cáo

2 VKS có quyền áp dụng tất cả các biện pháp ngăn chặn trong TTHS.

Trang 10

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Đ109 BLTTHS thìBPNC bao gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cưtrú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Trongtất cả các biện pháp ngăn chặn trên không phải biện pháp nàoVKS cũng có quyền áp dụng Theo quy định tại K2 Đ110BLTTHS quy định về thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trườnghợp khẩn cấp thì VKS không có quyền áp dụng biện pháp ngănchặn này Và căn cứ vào k2 Đ117 BLTTHS quy định về thẩmquyền áp dụng biện pháp tạm giữ thì VKS cũng không có quyền

áp dụng biện pháp này

3 VKS không có quyền hủy bỏ BPNC trái pháp luật của Tòa án.

=> Nhận định này đúng, vì: Theo quy định tại Khoản 2 Điều

125 BLTTHS thì đối với những BPNC do VKS phê chuẩn thì việchủy bỏ hoặc thay thế phải do VKS quyết định Theo quy định vềthủ tục áp dụng trong các BPNC được quy định tại chương VIBLTTHS thì các BPNC do Tòa án áp dụng không cần có sự phêchuẩn của VKS Do vậy VKS không có quyền hủy bỏ BPNC tráipháp luật của Tòa án

4 Biện pháp tạm giữ vẫn có thể áp dụng đối với bị can,

bị cáo.

=> Nhận định này đúng, vì:Căn cứ K1 Đ117 BLTTHS thì biệnpháp tạm giữ có thể được áp dụng đối với những người bị bắttrong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tộiđầu thú, tự thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy

nã Đối với trường hợp người phạm tội đã có quyết định khởi tốVAHS hoặc bị tòa án quyết định đưa ra xét xử nhưng bỏ trốnsau đó cơ quan có thẩm quyền quyết định ra lệnh truy nã và bịbắt thì có thể bị áp dụng biện pháp tạm giữ Như vậy, đối tượng

bị áp dụng biện pháp tạm giữ trong trường hợp này là bị can, bịcáo Do đó, biện pháp tạm giữ có thể áp dụng đối với bị can, bịcáo

5 Biện pháp tạm giữ là biện pháp ngăn chặn duy nhất

có thể được áp dụng ngay sau khi bắt được người đang

bị truy nã.

=> Nhận định này sai, tại vì: Căn cứ vào điểm a K4 Đ119BLTTHS thì bị can bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã thì

Trang 11

cũng có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam Và căn cứ vào K4Đ119 thì biện pháp tạm giam có thể được áp dụng ngay sau khibắt được người đang bị truy nã Cụ thể là sau khi nhậnđược thông báo, cơ quan đã ra quyết định truy nã có thẩmquyền bắt để tạm giam phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi ngaylệnh tạm giam đã được VKS cùng cấp phê chuẩn cho CQĐTnhận người bị bắt Sau khi nhận được lệnh tạm giam, CQĐTnhận người bị bắt có trách nhiệm giải ngay người đó đến trạitạm giam nơi gần nhất.

Như vậy, biện pháp tạm giữ không phải là biện pháp ngăn chặnduy nhất có thể được áp dụng ngay sau khi bắt được ngườiđang bị truy nã

6 Thời hạn tạm giữ không được tính vào thời hạn tạm giam.

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ K4 Đ118 BLTTHS thì thời hạntạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam Một ngày tạm giữ đượctính bằng một ngày tạm giam

7 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp có quyền

ra quyết định tạm giữ.

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ Khoản 2 Điều 117 BLTTHS quyđịnh về những chủ thể có quyền ra quyết định tạm giữ baogồm: những người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp quy định tạik2 Đ110 BLTTHS, chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển Và trongcác chủ thể quy định tại k2 Đ110 BLTTHS không quy định thẩmquyền của VTVKSND các cấp

8 Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú không áp dụng đối với người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam.

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại K1 Đ123 BLTTHSthì biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú có thể được áp dụng đối với

bị can bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nhằm đảm bảo sự có mặt của

họ theo giấy triệu tập của CQĐT, VKS, Tòa án Như vậy, việc ápdụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú không căn cứ vào bị can,

bị cáo là người Việt Nam hay là người nước ngoài Do đó, nếungười nước ngoài phạm tội mà có nơi cư trú rõ ràng thì cũng cóthể áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

9 Biện pháp bảo lĩnh chỉ áp dụng cho bị cáo là người chưa thành niên.

Trang 12

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại K1 Đ121 BLTTHSthì biện pháp bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn được áp dụngthay thế cho biện pháp tạm giam Và căn cứ vào Đ119 BLTTHSthì biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can bịcáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng; bị can bịcáo phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng mà BLHS quyđịnh hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó

có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc cóthể tiếp tục phạm tội

Như vậy, biện pháp bảo lĩnh có thể áp dụng đối với bị can, bịcáo nêu trên chứ không phải chỉ áp dụng cho bị cáo là ngườichưa thành niên

10 Biện pháp bảo lĩnh chỉ áp dụng cho bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng.

=> Nhận định này sai, vì: Giải thích tương tự câu 9

11 Không được áp dụng biện pháp bảo lĩnh đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

=> Nhận định này sai, vì: Giải thích tương tự câu 9

12 Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản để đảm bảo được áp dụng không phụ thuộc vào việc bị can, bị cáo phạm loại tội gì.

=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ K1 Đ122 BLTTHS thì biệnpháp đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm được áp dụng để thaythế biện pháp tạm giam mà căn cứ vào K1 Đ119 BLTTHS thìbiện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với mọi loại tộiphạm Do đó biện pháp đặt tiền hoặc tài sản để đảm bảo được

áp dụng không phụ thuộc vào việc bị can, bị cáo phạm loại tộigì

13 Mọi quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị

để bảo đảm đều phải được Viện trưởng VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

=> Nhận định này sai, vì: Theo k2 Đ BLTTHS thì có nhiều chủthể có quyền quyết định việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị đểbảo đảm, bao gồm những người quy định tại K1 Đ80 BLTTHS,thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa Tuy nhiên, chỉ có

Trang 13

quyết định của những người quy định tại Điểm d, K1 Đ80BLTTHS bao gồm: thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT mới phảiđược VKS cùng cấp phê chuẩn.

Do đó, không phải mọi quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản

có giá trị để bảo đảm đều phải được Viện trưởng VKS cùng cấpphê chuẩn trước khi thi hành

14 Biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với tất

cả các loại tội phạm.

=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ Đ119 BLTTHS thì biện pháptạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tộiđặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng; bị can, bịcáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng màbộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứcho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra truy tố,xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội Mặt khác, theo quy địnhcủa BLHS thì tất cả các loại tội phạm (ít nghiêm trọng, nghiêmtrọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng) đều có khunghình phạt trên hai năm Do đó đối với loại tội nghiêm trọng ítnghiêm trọng mà có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặccản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạmtội thì có thể áp dụng biện pháp tạm giam

Do đó, biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với tất cảcác loại tội phạm

15 Lệnh bắt người của CQĐT trong tất cả các trường hợp đều phải có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp trước khi thi hành.

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Đ110 BLTTHS thìlệnh bắt người của cơ quan điều tra trong trường hợp khẩn cấpthì không cần có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp trước khi thihành

16 Lệnh bắt người của CQĐT trong tất cả các trường hợp đều phải có sự phê chuẩn của Viện trưởng VKS cùng cấp.

=> Nhận định này đúng, vì: Theo quy định của BLTTHS thì cóhai trường hợp bắt người CQĐT phải ra lệnh bắt người đó là: Bắt

bị can, bị cáo để tạm giam được quy định tại Điểm d K1 Đ113BLTTHS và bắt người trong trường hợp khẩn cấp được quy định

Trang 14

tại Điểm a K2 Đ110 BLTTHS Và cả hai trường hợp này đều phải

có sự phê chuẩn của Viện trưởng VKS cùng cấp (bắt bị can, bịcáo để tạm giam thì phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trướckhi thi hành còn bắt người trong trường hợp khẩn cấp thì phảithông báo ngay cho VKS và phê chuẩn sau khi thi hành)

17 Tất cả các trường hợp bắt người đều phải có lệnh.

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Đ111 BLTTHS

về bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì bất kỳngười nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan có thẩmquyền Do đó trong trường hợp bắt người này không cần phải cólệnh

18 Tất cả các lệnh tạm giam đều phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 119BLTTHS thì những người có thẩm quyền ra lệnh bắt được quyđịnh tại Điều 113 BLTTHS thì có quyền ra lệnh tạm giam Tuynhiên, không phải tất cả các lệnh tạm giam do những người cóthẩm quyền trên ra lệnh đều phải được VKS phê chuẩn trướckhi thi hành mà chỉ lệnh tạm giam của những người được quyđịnh tại Điểm a K1 Đ113 BLTTHS mới phải được VKS cùng cấpphê chuẩn trước khi thi hành

19 Biện pháp tạm giam không được áp dụng đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên.

=> Nhận định này sai, vì: Bị can, bị cáo là người chưa thành niên vẫn có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam nếu có đủ căn

cứ quy định tại Đ419 và Đ119 BLTTHS, cụ thể là:

– Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị tạm giam nếu

có đủ căn cứ quy định tại Đ119 BLTTHS nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

– Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giam nếu

có đủ căn cứ quy định tại Đ119 BLTTHS nhưng chỉ trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

Trang 15

20 Biện pháp tạm giam không được áp dụng đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng.

=> Nhận định này đúng, vì: Căn cứ vào Đ419 BLTTHS thì không

có trường hợp nào người chưa thành niên phạm tội ít nghiêmtrọng bị áp dụng biện pháp tạm giam

21 Biện pháp tạm giam không được áp dụng đối với bị can, bị cáo là phụ nữ đang mang thai, người già yếu.

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào K4 Đ119 BLTTHS thì bị can, bị cáo là phụ nữ có thai, người già yếu mà có nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng BPNS khác ngoại trừ

những trường hợp :

– bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã ;

– Bị can, bị cáo được áp dụng BPNC khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy

tố, xét xử

– Bị can, bị cáo phạm tội an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia

Như vậy, biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo là phụ nữ đang mang thai, người già yếu

22 Biện pháp tạm giam được áp dụng đối với mọi loại tội phạm.

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại Đ119 BLTTHS thìđối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng ; phạm tộirất nghiêm trọng thì có thể được áp dụng trong mọi trường hợp.Còn đối với bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ítnghiêm trọng thì chỉ có thể được áp dụng khi thỏa mãn điềukiện : phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng màBộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứcho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy

tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội

Như vậy, không phải biện pháp tạm giam được áp dụng đối vớimọi loại tội phạm mà đối với loại tội nghiêm trọng, ít nghiêmtrọng phải thỏa mãn được các điều kiện trên mới được áp dụng.Lưu ý : Nếu biện pháp tạm giam có thể được áp dụng đối vớimọi loại tội phạm thì nhận định này là đúng

Trang 16

23 Người chưa thành niên chỉ bị tạm giam khi họ phạm tội rất nghiêm trọng.

=> Nhận định này sai, vì: Căn cứ vào Đ419 BLTTHS thì người chưa thành niên cũng có thể bị tạm giam khi phạm tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, cụ thể :

– Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị tạm giam nếu

có đủ căn cứ quy định tại Đ119 BLTTHS nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

– Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giam nếu

có đủ căn cứ quy định tại Điều 119 BLTTHS nhưng chỉ trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất

nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

24 Tất cả các trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang đều phải ra quyết định tạm giữ.

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tại k1 Đ114 BLTTHSsau khi bắt hoặc nhận người bị bắt trong trường hợp khẩn cấphoặc phạm tội quả tang không phải trong mọi trường hợp cơquan điều tra đều phải ra quyết định tạm giữ mà còn có thể trả

tự do cho người bị bắt

25 Trong mọi trường hợp việc hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng đều phải do viện kiểm sát quyết định.

=> Nhận định này sai, vì: Theo quy định tai K2 Đ125 BLTTHSthì chỉ đối với những biện pháp ngăn chặn do viện kiểm sát phêchuẩn thì việc hủy bỏ hoặc thay thế mới phải do viện kiểm sátquyết định

Như vậy, không phải trong mọi trường hợp việc hủy bỏ hoặcthay thế biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng đều phải doviện kiểm sát quyết định như trường hợp biện pháp ngăn chặn (bắt bị can, bị cáo để tam giam ; tạm giam ; cấm đi khỏi nơi cưtrú ) do tòa án áp dụng không cần có sự phê chuẩn của việnkiểm sát thì khi hủy bỏ hoặc thay thế không do viện kiểm sátquyết định mà do tòa án quyết định

CHƯƠNG V: KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

1 Tố giác của công dân là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự.

Ngày đăng: 20/01/2021, 15:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w