Mục tiêu của đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả dài hạn của các dạng phân hữu cơ trong cải thiện đặc tính đất liếp vườn và năng suất trái chôm chôm.. Thí nghiệm được thực hiện qu[r]
Trang 1ẢNH HƯỞNG DÀI HẠN CỦA PHÂN HỮU CƠ TRONG CẢI THIỆN ĐỘ PHÌ NHIÊU ĐẤT
VÀ NĂNG SUẤT TRÁI CHÔM CHÔM (NEPHELIUM LAPPACEUM L.)
TẠI CHỢ LÁCH - BẾN TRE
Võ Văn Bình1, Võ Thị Gương1, Hồ Văn Thiệt1 và Lê Văn Hòa1
1 Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ
Thông tin chung:
Ngày nhận: 26/9/2014
Ngày chấp nhận: 07/11/2014
Title:
Long term effects of
organic fertilizers in
improvement of soil fertility
and fruit yield of rambutan
(Nephelium lappaceum L.)
orchard at Cho Lach - Ben
Tre
Từ khóa:
Bón phân hữu cơ, độ phì
nhiêu đất liếp vườn, năng
suất trái chôm chôm, phân
vô cơ
Keywords:
Organic compost
amendment, soil fertility,
rambutan fruit yield,
inorganic fertilizer
ABSTRACT
Application of inorganic fertilizers with high dose and unbalances has led to the decline of soil fertility in-terms of physicochemical, biological properties of fruit orchards The objective of this experiment was to determine the long-term effect
of organic compost amendment in improving soil properties and fruit yield The experiment was conducted in six crops of rambutan with three different composts including sugarcane filter mud, biogas sludge and vermi-compost Compost was amended at a rate of 18 kg.plant -1 combined with a low dose of inorganic fertilizers in comparison with farmer’s practice The results showed that application of three kinds of compost with low and balanced nutrients of inorganic fertilizers resulted in significant increase of soil pH, soil organic matter content, soil available nitrogen and phosphorus, exchangeable K and calcium, base saturation percentage, soil structure stability, bulk density, soil respiration in comparison to farmers’ practice (p < 0.05) From the third crops after organic amendment, fruit yield was significantly increased, 60 – 136% compared with those in farmers’ practice Fruit weight was higher by measuring the number of fruit per kg in treatments supplied with biogas sludge and sugarcane fillter mud The results need to be recommended to farmers for using compost and reducing inorganic fertilizers to improve soil fertility and to enhance rambutan fruit yield and to increase income for farmers
TÓM TẮT
Sử dụng phân bón vô cơ với lượng cao, không cân đối đưa đến sự suy giảm về mặt hóa lý, sinh học đất liếp vườn cây ăn trái Mục tiêu của đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả dài hạn của các dạng phân hữu cơ trong cải thiện đặc tính đất liếp vườn và năng suất trái chôm chôm Thí nghiệm được thực hiện qua
6 vụ canh tác với 3 loại phân hữu cơ gồm bã bùn mía, cặn hầm ủ biogas, phân trùn quế với lượng 18 kg.cây -1 kết hợp với lượng phân vô cơ theo khuyến cáo so với lượng phân bón vô cơ như nông dân Kết quả phân tích đất sau 6 vụ bón phân hữu cơ cho thấy pH đất, chất hữu cơ, đạm (N) hữu dụng, lân (P) hữu dụng, kali (K) trao đổi, canxi (Ca) trao đổi, phần trăm baze bão hòa trong đất, độ bền cấu trúc đất, hô hấp đất được cải thiện tốt, khác biệt có ý nghĩa (P < 0,05) so với nghiệm thức đối chứng Sau 6 vụ bón phân hữu cơ kết hợp bã bùn mía, cặn hầm ủ biogas và phân trùn quế, năng suất trái tăng 60 – 136% so với nghiệm thức chỉ sử dụng phân vô cơ như nông dân Trọng lượng trái, số trái.kg -1 được cải thiện hiệu quả nhất ở nghiệm thức bón phân bã bùn mía và cặn hầm ủ biogas Kết quả nghiên cứu cần thiết được khuyến cáo giảm phân vô cơ, bón phân hữu cơ nhằm giúp tăng cường độ phì nhiêu đất liếp vườn chôm chôm và tăng thu nhập cho nông dân
Trang 21 ĐẶT VẤN ĐỀ
Việc sử dụng phân bón vô cơ với lượng cao,
mất cân đối đưa đến suy giảm độ phì nhiêu đất và
giảm hoạt động của vi sinh vật đất (Rayner et al.,
1996) Đất liếp vườn cây ăn trái có thời gian lên
liếp lâu năm đưa đến suy giảm độ phì nhiêu về hoá,
lý và sinh học đất (Võ Thị Gương và ctv., 2010)
Phế phẩm thực vật, phân hữu cơ ủ hoai bón vào đất
giúp cải thiện sự bạc màu đất và giúp cải thiện
năng suất cây trồng (Võ Thị Gương và ctv., 2010;
McGeehan, 2012; Dương Minh Viễn và ctv., 2011;
Ngô Thị Hồng Liên và Võ Thị Gương, 2007)
Nguyên nhân chính của suy thoái đất là sự nén dẽ,
xói mòn đất, mất chất hữu cơ, mặn hóa, suy kiệt
dinh dưỡng và ô nhiễm đất (Oldeman, 1994; Syers,
1997; Fageria, 2012) Biện pháp cải thiện suy thoái
đất ở tầng mặt và tầng đất bên dưới cần có thời
gian lâu dài (Dexter and Zoebisch, 2005; Pham
Van Quang and Vo Thi Guong, 2011; Pham Van
Quang et al., 2012) Thêm vào đó, tập quán sử
dụng phân bón của nông dân thường sử dụng phân
N vô cơ cao trong khi phân P, K, vôi, vi lượng và
hữu cơ rất ít
Hàm lượng chất hữu cơ trong đất liếp vườn cây
ăn trái một số tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL) là khá thấp, có nơi chỉ khoảng từ 1,6 –
2,8%, đất nghèo dinh dưỡng, bị nén dẽ, độ bền cấu
trúc đất kém, hoạt động của vi sinh vật trong đất rất
thấp, đưa đến tiến trình chuyển hóa dinh dưỡng
trong đất thấp (Võ Thị Gương và ctv., 2010; Pham
Van Quang and Vo Thi Guong, 2011; Pham Van
Quang et al., 2012) Đất liếp vườn có thời gian lên
liếp lâu năm làm suy giảm về phì nhiêu đất, giảm
hoạt động của vi sinh vật đất (Rayner et al., 1996;
Võ Thị Gương và ctv., 2010) Chất hữu cơ đóng
vai trò quan trọng trong cải thiện các tính chất vật
lý đất, hóa học, sinh học và đồng thời giúp duy trì
tính ổn định của năng suất (Revees, 1997; Võ Thị
Gương, 2010; Châu Minh Khôi và ctv., 2012;
Fageria, 2012) và là một trong những chỉ tiêu để
đánh giá mức độ bền vững của đất (Chenu et al.,
2000; McGeehan, 2012) Vì thế, mục tiêu nghiên
cứu của đề tài nhằm đánh giá dài hạn ảnh hưởng
của các dạng phân hữu cơ trong cải thiện một số
tính chất hóa, lý đất liếp vườn và năng suất trái
chôm chôm tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành trên vườn của nông dân tại xã Phú Phụng, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre Vườn trồng chuyên canh cây chôm chôm (Nephelium lappaceum L.) có độ tuổi liếp là
17 năm, tuổi cây 15 năm và đất thuộc nhóm đất Endo Protho Thionic Gleysol (Theo hệ thống phân loại FAO-UNESCO) Thí nghiệm được thực hiện trong 1 vụ thuộc chương trình SANSED, đề tài nghiên cứu được thực hiện tiếp 5 vụ bón phân hữu
cơ Như vậy, kết quả thí nghiệm trình bày năng suất qua 6 vụ bón phân hữu cơ vào đất liếp vườn chôm chôm
Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 4 nghiệm thức và 3 lần lặp lại
và 3 lần lặp lại với lượng phân N-P-K bón theo
khuyến cáo (Diczbalis, 2002; Võ Thị Gương và
ctv., 2009) với lượng 1,5 kg N + 1,0 kg P2O5 + 1,7
các nghiệm thức 2, 3, 4 và được chia làm 4 lần bón,
đương lượng phân hữu cơ 12 tấn.ha-1 Phân hữu cơ được bón tập trung một lần ngay sau cuối vụ thu hoạch trái Các dạng phân hữu cơ đều được tưới nấm Trichoderma
Các nghiệm thức bố trí cụ thể như sau:
NT1: bón theo nông dân (2,2 kg N, 1,5 kg
cơ theo khuyến cáo
NT3: bón cặn hầm ủ biogas 18 kg.cây-1 + phân vô cơ theo khuyến cáo
cơ theo khuyến cáo
Đặc tính đất trước khi bố trí thí nghiệm ở vụ
Bảng 1: Hàm lượng dinh dưỡng của phân hữu cơ sử dụng trong thí nghiệm
Trang 3Chỉ tiêu theo dõi: mẫu đất được thu vào ba thời
điểm sau khi bón phân hữu cơ là vào 3, 6 và 12
tháng để phân tích các chỉ tiêu: pH đất, chất hữu
cơ, N hữu dụng, P hữu dụng, K trao đổi, Ca trao
đổi, độ bền cấu trúc đất, hô hấp vi sinh vật đất Số
liệu phân tích đất ở vụ thứ 4, 5 và 6 trong luận án
chưa công bố
pH đất: trích bằng nước cất, tỷ lệ ly trích 1:2,5
theo phương pháp của Gianello và Bremner (1986)
Lân dễ tiêu trong đất: dung dịch trích sodium
hydrogen carbonate (theo phương pháp Olsen,
1954) Chất hữu cơ trong đất: được xác định theo
phương pháp Walkley- Black Kali và canxi trao
đổi trong đất: được đo ở dung dịch trích mẫu đất
với BaCl2 0,1 M không đệm trên máy hấp thu
nguyên tử Hô hấp đất: dựa theo phương pháp của
(Anderson, 1982) Phương pháp phân tích độ bền
cấu trúc đất: được xác định bằng phương pháp rây
khô và rây ướt (Leenheer and Boodt, 1982) Ghi
nhận năng suất: cân trọng lượng trái của mỗi cây
trong mỗi lần thu hoạch Số liệu thí nghiệm thu
thập được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel,
được tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn,
phân tích ANOVA và phép thử LSD (0,05) bằng
phần mềm thống kê MSTAT-C so sánh sự khác
biệt giữa các nghiệm thức trong thí nghiệm
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hiệu quả của phân hữu cơ trong cải thiện pH đất
Kết quả trình bày ở Hình 1 cho thấy pH đất có khuynh hướng tăng và biến động theo thời gian sau
ba năm bón phân hữu cơ so với pH đất đầu vụ chỉ đạt khoảng 3,3, đất có pH thấp theo thang đánh giá của Brady (1990)
Sau ba năm bón phân hữu cơ pH đất được cải thiện có ý nghĩa (p < 0,05) Ở thời điểm 6 tháng đến 1 năm sau bón hữu cơ, pH đất đạt 4,2-4,5, so với nghiệm thức chỉ bón phân vô cơ, pH đất 3,2 Ở chu kỳ bón phân hữu cơ vào năm thứ ba, sau 3 tháng pH đất cũng được cải thiện ở các nghiệm thức bón phân hữu cơ có ý nghĩa (p < 0,05) so với nghiệm thức chỉ sử dụng phân vô cơ Ở thời điểm 6 tháng sau bón phân hữu cơ, pH đất có khuynh hướng gia tăng ở tất cả các nghiệm thức, pH đất đạt 4,2-5,3 Kết quả này phù hợp với các nghiên
cứu trước đây (Bulluck et al., 2002; Diczbalis, 2002; Võ Thị Gương và ctv., 2010), việc cung cấp
phân hữu cơ trong thời gian đầu chưa có hiệu quả cao trong cải thiện pH đất Theo Paull và Duarte (2012) cây chôm chôm có thể phát triển tốt trên nhiều vùng đất khác nhau, nhưng pH đất thích hợp
từ 5 – 6,5 Dù tất cả các nghiệm thức đều được bón
hữu cơ các dạng giúp pH đất cải thiện tốt hơn so với chỉ bón phân vô cơ
0,0 1,0 2,0 3,0 4,0 5,0 6,0
Thời gian sau khi bón phân hữu cơ (tháng)
Hình 1: Hiệu quả của phân hữu cơ đến pH đất trên vườn chôm chôm
Ghi chú: +, bón phân hữu cơ chu kỳ 2; ++, bón phân hữu cơ chu kỳ 3
Trang 43.2 Hiệu quả của phân hữu cơ trong cải
thiện chất hữu cơ trong đất
Hàm lượng chất hữu cơ trong đất đầu vụ vào vụ
bình so với thang đánh giá của Chiurin (1972) Sau
ba tháng bón phân hữu cơ ở vụ đầu tiên, hàm lượng chất hữu trong đất ở các nghiệm thức bón phân hữu
đất) và cao nhất ở nghiệm thức bón phân bã bùn
mía đã được ủ hoai, khác biệt có ý nghĩa (p <
0,05), được trình bày ở Hình 2
0 10
20
30
40
50
60
-1đất)
Thời gian sau khi bón phân hữu cơ (tháng)
Hình 2: Hàm lượng chất hữu cơ trong đất vườn chôm chôm
Ghi chú: +, bón phân hữu cơ chu kỳ 2; ++, bón phân hữu cơ chu kỳ 3
Thời điểm 6 tháng đến 1 năm hàm lượng chất
hữu cơ trong đất có khuynh hướng gia tăng ở tất cả
các nghiệm thức có bón phân hữu cơ và cao nhất
vẫn là nghiệm thức bón bã bùn mía, chất hữu cơ
ý nghĩa (p < 0,05) so với nghiệm thức chỉ bón phân
vô cơ theo tập quán của nông dân Sau ba năm bón
phân hữu cơ thì hàm lượng chất hữu cơ trong đất
khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05) so với nghiệm thức
nghiên cứu của Leu (2005) và Monaco et al
(2008) cho thấy trên vườn cây ăn trái thì chất hữu
cơ tăng cao khi sử dụng phân hữu cơ liên tục trong
11 năm
3.3 Hiệu quả của phân hữu cơ trong cải thiện đạm hữu dụng trong đất
Kết quả trình bày ở Bảng 2 cho thấy, theo thời gian, N hữu dụng trong đất tăng so với hàm lượng N trong đất đầu vụ Sau 6 tháng bón phân hữu cơ cả ba chu kỳ bón phân, hàm lượng đạm hữu dụng trong đất ở các nghiệm thức bón phân hữu cơ đều cao hơn so với nghiệm thức bón phân vô cơ
nghiệm thức bón phân bã bùn mía kết hợp với lượng vô cơ theo khuyến cáo Có thể giai đoạn này
sự khoáng hóa N cao nhất đưa đến tăng lượng N
hữu dụng trong đất Theo Goyal et al (1999) và Monaco et al (2008) chất hữu cơ được phân hủy,
phóng thích đạm hữu dụng cao cho cây trồng
Trang 5Bảng 2: Hàm lượng đạm hữu dụng (mg.kg -1 đất) trong đất vườn chôm chôm
Nghiệm thức 3 6 Thời gian sau bón phân hữu cơ (tháng) 12 3+ 6+ 12+ 3++ 6++ 12++
Ghi chú: +, bón phân hữu cơ chu kỳ 2; ++, bón phân hữu cơ chu kỳ 3 Trong cùng một cột các số có chữ số theo sau giống nhau khác biệt không có ý nghĩa thống kê qua phép thử LSD
3.4 Hiệu quả của phân hữu cơ trong tăng
lân hữu dụng trong đất
Kết quả trình bày ở Hình 3 cho thấy, đất
đầu vụ có hàm lượng lân hữu dụng trong đất cao
đánh giá lân hữu dụng của Olsen (1954) Hàm
lượng lân hữu dụng trong đất tăng cao khi bón
phân hữu cơ Kết quả thí nghiệm cho thấy, sau 3
tháng của năm đầu tiên bón phân hữu cơ, hàm
lượng lân hữu dụng trong đất ở nghiệm thức bón
khác biệt ý nghĩa (p < 0,05) so với nghiệm thức chỉ
bón phân vô cơ Theo thời gian bón phân đến năm thứ 3, bón các dạng phân hữu cơ đều giúp tăng hàm lượng lân trong đất có ý nghĩa Theo Brady và Weil (1996) thì sự tích lũy lân trong đất qua nhiều năm từ phân bón đưa đến bão hòa khả năng cố định lân trong đất, do đó lượng lân hữu dụng rất cao
0 100
200
300
400
500
600
P hữ
-1đất)
Thời gian sau khi bón phân hữu cơ (tháng)
Hình 3: Hàm lượng lân hữu dụng trong đất vườn chôm chôm
Ghi chú: +, bón phân hữu cơ chu kỳ 2; ++, bón phân hữu cơ chu kỳ 3
3.5 Hiệu quả của phân hữu cơ trong cải
thiện kali trao đổi trong đất
Hàm lượng kali trao đổi trong đất (Hình 4) vào
với thang đánh giá kali trao đổi trong đất của
Kyuma (1976) Bón phân bã bùn mía và các dạng
phân hữu cơ khác kết hợp với phân vô cơ cân đối giúp tăng K trao đổi trong đất, cao nhất đến 1,4
hợp với nghiên cứu của Dương Minh Viễn và ctv
kết hợp với phân vô cơ theo khuyến cáo giúp cải
Trang 6thiện kali trao đổi trong đất (0,55 cmol.kg-1 đất)
cao hơn có ý nghĩa so với chỉ bón phân vô cơ Như
vậy, so với chỉ sử dụng phân vô cơ như nông dân,
với lượng đạm, lân cao và thiếu kali, K trao đổi được cải thiện rất hiệu quả
0 0,2 0,4 0,6 0,8 1 1,2 1,4 1,6
Ktrao đổi
-1đất)
Thời gian sau khi bón phân hữu cơ (tháng)
Hình 4: Hàm lượng kali trao đổi trong đất vườn chôm chôm
Ghi chú: +, bón phân hữu cơ chu kỳ 2; ++, bón phân hữu cơ chu kỳ 3
3.6 Hiệu quả của phân hữu cơ trong cải
thiện độ bền cấu trúc đất
Chỉ số độ bền cấu trúc đất gia tăng có ý nghĩa ở
các nghiệm thức có bón phân hữu cơ trên đất liếp
vườn trồng chôm chôm Nghiệm thức bón phân bã
bùn mía có độ bền cấu trúc đất 107,4 cao nhất có
khác biệt ý nghĩa (p < 0,05) so với bón hai dạng
phân hữu cơ cặn hầm ủ biogas và phân trùn quế
tương ứng là 71,9 và 57,4 (Hình 5) Kết quả cho
thấy chất hữu cơ trong đất ảnh hưởng đến lý tính
đất qua tác dụng gắn kết các hạt đất lại với nhau tạo thành hạt đất lớn hơn, tăng kích thước tế khổng đất, giúp tăng sự thấm nước và thoát nước, cấu trúc đất bền hơn, tăng sự thoáng khí và giúp làm giảm lực cản của đất, giảm sự đóng váng bề mặt
(Scholes et al., 1994; Mahmoud et al., 2009) Kết
quả này phù hợp với nghiên cứu của Châu Thị Anh
Thy và ctv (2013), bón phân bã bùn mía qua 2 vụ
liên tiếp giúp tăng độ bền cấu trúc đất vườn chôm chôm, khác biệt có ý nghĩa so với đối chứng chỉ sử dụng phân vô cơ
Hình 5: Hiệu quả của phân hữu cơ trong cải thiện độ bền cấu trúc đất
Ghi chú: a, b, c, d là thể hiện mức độ khác biệt có ý nghĩa thống kê
Trang 73.7 Hiệu quả của phân hữu cơ trong cải
thiện hô hấp đất
Hô hấp đất giúp đánh giá hoạt động của vi sinh
trình bày ở Bảng 3 cho thấy, ở cả hai tầng đất (0 –
10 cm) và (10 – 20 cm) hô hấp đất tăng cao ở
nghiệm thức bón phân hữu cơ bã bùn mía, khác
biệt ý nghĩa (p < 0,05) so với hai dạng phân hữu cơ
là cặn hầm ủ biogas, phân trùn quế và nghiệm thức chỉ sử dụng phân vô cơ Kết quả này phù hợp với
nghiên cứu của Shibistova et al (2009) bón phân
hữu cơ bã bùn mía, cặn hầm ủ biogas, phân trùn quế trong hai vụ liên tiếp giúp tăng sinh khối vi sinh vật đất vườn chôm chôm có ý nghĩa so với đối chứng không bón hữu cơ
Bảng 3: Hiệu quả của phân hữu cơ trong cải thiện hô hấp đất liếp vườn chôm chôm (mg.kg -1 đất) Nghiệm thức
Thời gian (tuần)
Tầng đất (0 – 10 cm) Tầng đất (10 – 20 cm)
Ghi chú: Trong cùng một cột các số có chữ số theo sau giống nhau khác biệt không có ý nghĩa qua phép thử LSD
3.8 Hiệu quả của phân hữu cơ trong cải
thiện năng suất trái chôm chôm
Qua kết quả trình bày ở Hình 6 cho thấy năng
suất trái biến động qua các mùa vụ Có thể yếu tố
thời tiết thuận lợi góp phần quan trọng cho năng
suất trái trong mỗi mùa vụ Bón các dạng phân hữu
cơ kết hợp với phân vô cơ cân đối chưa giúp tăng
trọng lượng trái trên mỗi cây ở vụ đầu tiên, có thể
một số đặc tính hóa lý đất chưa được cải thiện (Vo
Thi Guong et al., 2009) Đến vụ thứ hai, bón phân
có khác biệt ý nghĩa (p < 0,05) so với các nghiệm
thức còn lại Hai dạng phân hữu cơ khác là cặn
hầm ủ biogas và phân trùn quế vẫn chưa có hiệu
quả trong cải thiện năng suất trái Tuy nhiên trong
đều thấp hơn so với vụ đầu tiên Vì vụ mùa này là
vụ xử lý ra hoa nghịch vụ, phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết Mùa mưa kéo dài và vũ lượng cao là lý do đưa đến năng suất trái giảm (Paull and Duarte, 2012) Trong vụ thứ ba bón phân hữu cơ, trọng
tăng 60% năng suất so với nghiệm thức chỉ sử
dụng phân vô cơ theo tập quán của nông dân (p <
0,05), chỉ đạt 38 kg.cây-1 Năng suất ở vụ thứ tư, thứ năm và thứ sáu thể hiện rõ hiệu quả của bón các dạng phân hữu cơ, trong đó phân hầm ủ biogas đạt hiệu quả cao nhất Trong vụ thứ tư, năng suất trái tăng khoảng 60% so với nghiệm thức đối chứng Đến vụ thu hoạch thứ 5, phân hầm ủ biogas giúp tăng năng suất trái đến 136% Ở vụ thứ sáu sau bón phân hữu cơ, năng suất trái tiếp tục tăng rất có ý nghĩa ở nghiệm thức bón phân hữu cơ các dạng
Trang 8Hình 6: Năng suất trái chôm chôm
Ghi chú: a, b, c, d thể hiện mức độ khác biệt có ý nghĩa theo vụ; ns, không khác biệt có ý nghĩa
4 KẾT LUẬN
Bón phân hữu cơ qua 6 năm kết hợp phân vô cơ
cân đối giúp tăng pH đất, chất hữu cơ trong đất,
đạm hữu dụng, lân hữu dụng, kali trao đổi, độ bền
cấu trúc đất và hoạt động vi sinh vật đất Hiệu quả
thể hiện rõ sau 3 vụ bón phân hữu cơ
Hiệu quả dài hạn của phân hữu cơ, với lượng
qua 6 vụ bón phân giúp tăng năng suất có ý nghĩa
nhất từ vụ thứ ba, năng suất đạt cao từ vụ thứ tư,
tăng từ 60 – 136% năng suất trái so với chỉ
bón phân vô cơ với lượng cao và mất cân đối như
nông dân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Brady, N.C and R.R Weil, 1996 The Nature
and Properties of Soils, 11 ed pp: 446-471
2 Bulluck L R., M Browsuis, G.K Evanylo
and J.B Ristaino, 2002 Organic and
synthetic fertility amendments influence soil
microbial, physical and chemical properties
on organic and conventional farms Applied
Soil Ecology, 19: 147-160
3 Châu Minh Khôi, Phan Văn Tâm và Võ Thị
Gương, 2012 Hiệu quả của phân hữu cơ bã
bùn mía trong cải thiện một số đặc tính hóa,
lý đất trồng Gấc (Momordica
cochinchinensis (Lour) Spreng) tại huyện
Tri Tôn, tỉnh An Giang Tạp chí Khoa học -
4 Châu Thị Anh Thy, Hồ Văn Thiệt, Nguyễn Minh Phượng và Võ Thị Gương 2013 Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến một số đặc tính vật lý đất vườn cây ăn trái tại huyện Chợ Lách, Bến Tre Tạp chí Khoa học Đất Việt Nam, ISSN 0868-3743 Số 41: 17-20
5 Chenu, C., Y Le Bissonnais and D
Arrouays, 2000 Organic matter influence
on clay wettability and soil aggregate stability Soil Science Society of America Journal, 64 (4): 1479-1486
6 Dauda, S.N., F.A Ajayi and E.N Dor,
2008 Growth and yield of watermelon (Citrullus lunatus) as affected by poultry manure application J Agric & Social Sci.,
4 (3): 121-124
7 Davies, F.S and L.G Albrigo, 1994 Citrus CAB International, Wallingford, U.K
8 Dexter, A.R and M.A Zoebisch, 2005 Degradation: Critical Limits of Soil Properties and Irreversible Degradation In:
R Lal (ed), Encyclopedia of Soil Science, 2nd Edition, ISBN: 9780849338304 CRC Press, pp: 411-418
9 Diczbalis, Y., 2002 Rambutan improving yield and quality A report for the Rural Industries Research and Development Corporation RIRDC, pp: 9-69
10 Dương Minh Viễn, Trần Kim Tính và Võ Thị Gương, 2011 Ủ phân hữu cơ vi sinh và hiệu
Trang 911 Fageria, N.K., 2012 Role of Soil Organic
Matter in Maintaining Sustainability of
Cropping Systems National Rice and Bean
Research Center of EMBRAPA, Santo
Antonio de Goiás, Brazil pp: 2063-2096
12 Goyal, S., K Chandler, M.C Mundra and
K.K Kapoor, 1999 Influence of inorganic
fertilizers and organic amendments on soil
organic matter and soil microbial properties
under tropical condition Biol Fertil Soils,
29: 196-200
13 Leu, A.F., 2005 Organic lychee and
rambutan production Acta Hort (ISHS),
665: 241-248
14 Mahmoud, E., N Abd El-Kader, P Robin,
N Akkal-Corfini and L Abd El-Rahman,
2009 Effects of Different Organic and
Inorganic Fertilizers on Cucumber Yield
and Some Soil Properties World Journal of
Agriculture Sciences, 5 (4): 408-414
15 McGeehan, S.L., 2012 Impact of Waste
Materials and Organic Amendments on Soil
Properties and Vegetative Performance
Hindawi Publishing Corporation, Applied
and Environmental Soil Science, Volume
2012, Article ID 907831, 11 pages
16 Monacoa, S., D.J Hatchb, D Saccoa, C
Bertoraa and C Grignania, 2008 Changes
in chemical and biochemical soil properties
induced by 11-yr repeated additions of
different organic materials in maize-based
forage systems Soil Biology &
Biochemistry, 40: 608-615
17 Ngô Thị Hồng Liên và Võ Thị Gương,
2007 Ảnh hưởng của phân hữu cơ và phân
xanh trong cải thiện một số tính chất hóa
học và sinh học đất Tạp chí Khoa học Đất
Việt Nam, ISSN 0868-3743 Số 27: 68-72
18 Olderman, L.R., 1994 The global extent of
soil degradation In: D.J Greenland and I
Szabolcs (eds), Soil Resilience and
Sustainable Land Use CAB International,
Wallingford, Oxon, UK pp 99-118
19 Paull, R.E and O Duarte, 2012 Tropical
fruits, 2nd Edition, Vol II CAB
International, Wallingford, Oxfordshire,
UK pp: 139-160
20 Pham Van Quang and Vo Thi Guong, 2011
Chemical properties during different stages of
fruit orchards in the Mekong delta, Vietnam
Agricultural Science, 2 (3): 375-381
21 Pham Van Quang, Per-Erik Jansson and Vo Thi Guong, 2012 Soil physical properties during different development stage of fruit orchards Journal of Soil Science and Environmental Management, 3: 308-319
22 Rayner, D., M Coates and R Newby, 1996 Consequences of pesticide use on spider communities in mango orchards Revue Suisse de Zoologie, aout 1996 Hors serie, Vol 1, No 6, pp: 537-542
23 Reeves, D.W., 1997 The role of soil organic matter in maintaining soil quality in continuous cropping system Soil and Tillage Research, 43: 131-167
24 Scholes, R J., R Dalal and S Singer, 1994 Soil physics and fertility: the effects of water, temperature and texture In: P.L Woomer and M.J Swift (eds), The Biological Management of Soil Fertility John Wiley and Sons, Chichester pp: 117-136
25 Shibistova, O., S Tischer, Vo Van Binh, Duong Minh Vien, Vo Thi Guong and G Guggenberger, 2009 Effect of substrate application to alluvial soils on soil microbial parameters in Rambutan orchard In: U Arnold and F Gresens (eds), Closing Nutrien Cycle in Decentralised Water Treatment Systems in the Mekong Delta SANSED Project - Final report ISBN: 3-937941-14-2, pp: 186-194
26 Syers, J.K., 1997 Managing soils for long-term productivity Philosophical
Transactions of the Royal Society B: Biol Sci., 352: 1011-1021
27 Võ Thị Gương, Ngô Xuân Hiền, Hồ Văn Thiệt và Dương Minh, 2010 Cải thiện sự suy giảm độ phì nhiêu hóa lý và sinh học đất vườn cây ăn trái ở Đồng bằng sông Cửu Long Nhà xuất bản Đại học Cần Thơ
28 Vo Thi Guong, Vo Van Binh, U Arnold, G Guggenberger and M Becker, 2009
Shorterm effect of organic material amendments effect on soil properties and plant performance of rambutan (Nephelium lappaceum L.) orchard In: U Arnold and
F Gresens (eds), Closing Nutrien Cycle in Decentralised Water Treatment Systems in the Mekong Delta SANSED Project - Final report ISBN: 3-937941-14-2, pp: 178-185