1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN LẬP VÀ ĐỊNH DANH MỘT SỐ DÒNG VI KHUẨN BẢN ĐỊA PHÂN HỦY CHUYÊN BIỆT HOẠT CHẤT PROPOXUR TỪ NỀN ĐẤT BẢO QUẢN HÀNH TÍM TẠI THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

8 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 472,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu: Phân lập, tuyển chọn và định danh một số dòng vi khuẩn bản địa có khả năng phân hủy hoạt chất Propoxur từ nền đất bảo quả[r]

Trang 1

PHÂN LẬP VÀ ĐỊNH DANH MỘT SỐ DÒNG VI KHUẨN BẢN ĐỊA

PHÂN HỦY CHUYÊN BIỆT HOẠT CHẤT PROPOXUR

TỪ NỀN ĐẤT BẢO QUẢN HÀNH TÍM

TẠI THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

Đỗ Hoàng Sang1, Đỗ Thị Xuân1, Dương Minh Viễn1, Võ Thị Gương1 và Nguyễn Khởi Nghĩa1

1 Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ

Thông tin chung:

Ngày nhận: 17/06/2014

Ngày chấp nhận: 30/10/2014

Title:

Isolation and identification

of specifically Propoxur

degrading bacteria from

soil samples in onion

storage sites at the Vinh

Chau town, Soc Trang

Province

Từ khóa:

Propoxur, phân hủy,

Paracoccus sp., vi khuẩn,

Vĩnh Châu

Keywords:

Propoxur, degradation,

Paracoccus sp., bacteria,

Vinh Chau

ABSTRACT

Three soil samples from onion fields which had a history of intensive application of Propoxur at Vinh Chau, Soc Trang were collected for isolating bacteria being capable to degrade specifically Propoxur Soil bacteria were enriched in mineral salt medium solution containing 30 ppm Propoxur as the only carbon source for bacterial growth The whole procedure of isolation was established under the laboratory conditions on the shaker in dark with a total of 5 repeated generations The results showed that two microbial communities coded as P1-2 and P2-3 degraded well Propoxur (90% of the initial Propoxur concentration was degraded after 10 experimental days) Seventy-eight bacterial strains were isolated in total from these 2 potentially applicable microbial communities Two out of four selected strains which were coded as P23-7 and P23-26 degraded 100% initial Propoxur concentration in the liquid solution after 4 incubation days According to the sequencing of gene 16S rRNA, these 2 Propoxur degrading bacterial strains were identified as a species specy of Paracoccus sp P23-7 and Paracoccus sp P23-26, respectively

TÓM TẮT

Ba mẫu đất có lịch sử sử dụng hoạt chất Propoxur trong canh tác và bảo quản hành tím lâu năm tại khu vực trồng hành tím tại Vĩnh Châu, Sóc Trăng được thu thập để phân lập một số dòng vi khuẩn có khả năng phân hủy chuyên biệt Propoxur Vi khuẩn được làm giàu mật số trong môi trường khoáng tối thiểu lỏng có bổ sung 30 ppm Propoxur như là nguồn carbon duy nhất Toàn bộ tiến trình phân lập được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm, trên máy lắc và trong tối với tổng số 5 lần cấy chuyển liên tục Kết quả nghiên cứu cho thấy hai hệ vi sinh vật ký hiệu P1-2 và P2-3 thể hiện khả năng phân hủy cao Propoxur (90% Propoxur sau 10 ngày nuôi cấy) Tổng cộng có 78 dòng vi khuẩn được phân lập từ hai hệ vi sinh vật này Hai trong

số bốn dòng vi khuẩn được chọn để đánh giá khả năng phân hủy Propoxur trong môi trường khoáng tối thiểu lỏng có bổ sung 45 ppm trong 18 ngày ký hiệu P23-7 và P23-6 phân hủy 100% Propxur sau 4 ngày thí nghiệm Dựa vào trình tự gen 16S rRNA giải mã cho thấy hai dòng vi khuẩn này thuộc lớp Prokaryote, Bacteria, Paracoccus và được định danh lần lượt như loài Paracoccus sp P23-7 và Paracoccus sp P23-26.

Trang 2

1 GIỚI THIỆU

Thị xã Vĩnh Châu tỉnh Sóc Trăng được biết đến

với nghề trồng hành tím và củ hành tím cung cấp

không chỉ cho Đồng bằng sông Cửu Long mà còn

cho cả nước Sản lượng hàng năm khoảng 20.749

tấn năm 1994; đạt 83.603 tấn trong năm 2004 và

khoảng 130.000 tấn vào năm 2012 Hiện nay, năng

suất bình quân của củ hành tím là 14-15 tấn/ha

Diện tích trồng hành tím được qui hoạch giai đoạn

2016 – 2020 là 7.500 ha (Dương Vĩnh Hảo, 2013)

Trong quá trình canh tác và bảo quản hành giống

người dân thường sử dụng nhiều loại thuốc bảo vệ

thực vật với liều cao để phòng trừ sâu bệnh trong

đó có hoạt chất Propoxur (tên thương mại là

Mipcin) Nông dân tại khu vực này thường bảo

quản hành giống sau thu hoạch bằng cách trộn hỗn

hợp bột Talc (Mg3(SiO10)(OH)2) và Mipcin hoặc

Sherpa với liều lượng trung bình 60 kg Talc + 3-4

kg Mipcin hoặc 300-400 cc Sherpa để xử lý

(Nguyễn Đức Thắng, 1999)

Hoạt chất Propoxur độc cho con người và động

vật, hoà tan mạnh trong nước, khả năng hấp phụ

trên keo đất là yếu và khả năng phân hủy của thuốc

trong đất bởi vi sinh vật trong đất chậm (25 %

trong vòng 100 ngày trong đất cát) Propoxur làm

bất hoạt các enzyme acetylcholinesterase và làm tê

liệt hệ thần kinh của côn trùng (Hayes, 1982; Berg,

1986) Các thí nghiệm nghiên cứu trên động vật

cho thấy Propoxur gây giảm số lượng con và trọng

lượng thai trên chó, một số có hiện tượng quái thai,

gây ra khối u ở bàng quang và tử cung trên chuột

khi nhiễm mãn tính ở liều cao (NCEA, 1999)

Trong đất, Propoxur có thể bị phân hủy bởi một

số vi sinh vật như: Arthrobacter sp (Nkedi-Kizza

và ctv., 1992), Pseudomonas sp (Karmanavalli và

Ninnerkar 2000), Streptomyces spp (Rahmansyah

và ctv., 2012) Mặc dù, việc ứng dụng công nghệ vi

sinh trong xử lý độc chất ô nhiễm môi trường đặc biệt trong xử lý đất ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật được ứng dụng rộng rãi trên thế giới, nhưng ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu này còn hạn chế Ở ĐBSCL một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực nghiên cứu này đã được công bố gồm: nghiên cứu

về phân lập vi khuẩn phân hủy hoạt chất trừ cỏ

2,4-D (Nguyễn Thị Phi Oanh và ctv., 2011), hoạt chất

thuốc trừ sâu Chlorpyriphos ethyl (Nguyễn Thị Lan Hương, 2012), hoạt chất thuốc trừ cỏ Pretilachlor (Nguyễn Thị Tố Quyên, 2013) và hoạt chất kích thích ra hoa cây ăn trái Paclobutrazol (Đặng Phạm

Thu Thảo và ctv., 2014) Tuy nhiên, chưa có

nghiên cứu nào về phân lập và tuyển chọn một số dòng vi khuẩn có khả năng phân hủy hoạt chất Propoxur Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu: Phân lập, tuyển chọn và định danh một số dòng vi khuẩn bản địa có khả năng phân hủy hoạt chất Propoxur từ nền đất bảo quản hành tím tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nguồn vi khuẩn

Ba mẫu đất ký hiệu P1-2, P2-3 và VH-4 được thu thập từ nền đất canh tác và kho bảo quản hành tím tại Phường 1, Phường 2, xã Vĩnh Hải của thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng dùng để phân lập một

số dòng vi khuẩn có khả năng phân hủy chuyên biệt Propoxur vì nông dân tại ba điểm lấy mẫu này

sử dụng hoạt chất Propoxur mỗi năm để trồng và bảo quản hành tím Mẫu đất được lấy với độ sâu

0-20 cm Một số thông tin về 3 địa điểm thu mẫu đất được trình bày trong Bảng 1

Bảng 1: Một số đặc điểm mô tả của 3 mẫu đất thí nghiệm

Mẫu

Thời gian sử dụng Propoxur (năm)

P12 Bảo quản hành tím giống Phường 1, Vĩnh Châu, Sóc Trăng 40

P23 Bảo quản hành tím giống Phường 2, Vĩnh Châu, Sóc Trăng Lâu năm

2.2 Phân lập các dòng vi khuẩn bản địa có

tiềm năng phân hủy hoạt chất Propoxur từ 3

mẫu đất thu thập

Mật số vi sinh vật ban đầu trong các mẫu đất

được xác định theo phương pháp hòa loãng của Ian

và Charles (2004) Sau khi đã trải dịch vi khuẩn lên

bề mặt, các đĩa môi trường nuôi cấy được đặt vào

túi nylon và ủ ở nhiệt độ phòng Số khuẩn lạc đếm

theo hệ số pha loãng và thể tích để xác định mật số

vi khuẩn ban đầu của các mẫu đất

Cân 1 g đất (trọng lượng khô kiệt) cho vào bình tam giác tiệt trùng chứa 24 mL dung dịch khoáng tối thiểu có bổ sung 30 ppm Propoxur Thành phần của môi trường khoáng tối thiểu trong 1 L dung dịch như sau: 3,75 g K2HPO4, 1 g KH2PO4, 0,25 g

Trang 3

nồi hấp tiệt trùng sau đó bổ sung 10 mL dung dịch

vi lượng Thành phần vi lượng trong 1 L dung dịch

như sau: 10 mg Na2MoO4.H2O, 25 mg H2BO3, 15

mg ZnCl2, 5 mg CuCl2, 10 mg FeCl3 Các mẫu

nuôi cấy được đặt trên máy lắc với tốc độ 90 rpm

(nhằm tạo khả năng trao đổi oxy tốt cho dung dịch)

ở điều kiện nhiệt độ phòng thí nghiệm và trong tối

Đây được xem là thế hệ nuôi cấy đầu tiên Sau

7-10 ngày nuôi cấy, hút 1 mL dung dịch nuôi cấy và

lọc qua màng lọc tiệt trùng, sau đó, xác định nồng

độ Propoxur trong mẫu trên hệ thống HPLC

(Shimazu-LC20A) với các thông số như sau: sử

dụng cột C18, tỉ lệ pha động acetonitrile : nước

tương ứng là 45:55, bước sóng 214 nm, lưu lượng

của pha động 1 ml/phút, thời gian xác định phổ

Propoxur là phút thứ 7,5 Việc nuôi và chuyển sang

thế hệ mới chỉ thực hiện khi nồng độ Propoxur

trong mẫu giảm hơn 50% Toàn bộ qui trình nuôi

cấy được lặp lại trong 5 lần liên tục Sau lần nuôi

cấy thứ 5, 100 µL môi trường nuôi cấy vi khuẩn

với các nồng độ pha loãng khác nhau được trải lên

trên bề mặt môi trường agar TSB (gồm 30g

Tryptone soya broth và 15g agar cho 1 L nước cất)

để phân lập các dòng thuần và tiến hành khảo sát

các đặc tính về hình thái khuẩn lạc và hình dạng tế

bào, Gram và đặc tính oxidase

2.3 Đánh giá khả năng phân hủy hoạt chất

Propoxur của 2 hệ vi sinh vật ký hiệu P1-2 và

P2-3 trong môi trường khoáng tối thiểu lỏng

Trong quá trình phân lập ở mục 2.2 qua quan

sát cho thấy hệ vi sinh vật ký hiệu VH-4 đã không

thể hiện khả năng phân hủy tốt hoạt chất Propoxur

nên hệ vi sinh vật này đã được loại ra và chỉ còn lại

2 hệ vi sinh vật ký hiệu: P1-2 và P2-3 được sử

dụng cho việc phân lập các dòng vi khuẩn có tiềm

năng phân hủy Propoxur Khả năng phân hủy

Propoxur của 2 hệ này được đánh giá trước khi tiến

hành phân lập dòng vi khuẩn trên đĩa agar Thí

nghiệm được thực hiện như sau: hút 1 mL dịch vi

khuẩn ở thế hệ nuôi cấy thứ năm cho vào bình tam

giác 100 mL có chứa 24 mL dung dịch khoáng tối

thiểu bổ sung 30 ppm Propoxur Thí nghiệm được

tiến hành với 3 lần lặp lại cho mỗi hệ vi sinh vật và

nghiệm thức đối chứng được tiến hành tương tự

nhưng không chủng hệ vi sinh vật Các mẫu được

lắc trên máy lắc với tốc độ 90 rpm, ở nhiệt độ

phòng thí nghiệm, trong tối và trong 10 ngày

Các chỉ tiêu theo dõi trong thời gian bố trí thí

nghiệm bao gồm: 1) Nồng độ Propoxur vào các

thời điểm: 0, 1, 5 và 10 ngày sau bố trí thí nghiệm;

2) Mật số vi khuẩn trong dung dịch môi trường nuôi cấy vào các thời điểm: 1, 5 và 10 ngày sau khi

bố trí thí nghiệm Mật số vi khuẩn được xác định bằng phương pháp nhỏ giọt trên môi trường TSB Đĩa chứa vi khuẩn được đặt vào túi nylon và ủ trong tủ ủ với nhiệt độ 30oC trong ba ngày Sau đó, đếm mật số khuẩn lạc hiện diện trên bề mặt đĩa và tính mật số vi khuẩn vào các thời điểm thu mẫu

2.4 Đánh giá và so sánh khả năng phân hủy Propoxur của 4 dòng vi khuẩn tuyển chọn trong môi trường khoáng tối thiểu lỏng

Bốn trong tổng số 78 dòng vi khuẩn phân lập

ký hiệu: P12-3; P23-7; P23-19 và P23-26 được tuyển chọn để tiến hành đánh giá khả năng phân hủy Propoxur của chúng Bốn dòng vi khuẩn này được làm giàu mật số trong môi trường GYE (glucose yeast extract) trong 3 ngày trên máy lắc Thành phần của môi trường GYM trong 1 L dung địch bao gồm: 10 g glucose và 10 g yeast extract Sau đó, sinh khối vi khuẩn được thu hoạch Hiệu chỉnh độ đục của dung dịch chứa vi khuẩn với nước khử khoáng tiệt trùng bằng máy đo quang phổ về OD 600 nm = 0,7 Hút 1mL dịch vi khuẩn

đã hiệu chỉnh độ đục cho vào bình tam giác 100

mL chứa 24 mL dung dịch khoáng tối thiểu có bổ sung 45 ppm Propoxur Thí nghiệm được tiến hành với 4 lặp lại Các mẫu được lắc trên máy lắc với tốc độ 90 rpm, ở nhiệt độ phòng thí nghiệm, trong tối và trong 18 ngày

Các chỉ tiêu theo dõi trong thời gian bố trí thí nghiệm bao gồm: nồng độ Propoxur và mật số dòng vi khuẩn vào các thời điểm: 0; 1; 4 và 18 ngày bố trí thí nghiệm (tham khảo mục 2.2 và 2.3 cho phương pháp xác định nồng độ Propoxur trong mẫu nuôi cấy và xác định mật số vi khuẩn)

2.5 Giải mã trình tự gen 16S rRNA và xác định ở mức độ loài của hai dòng vi khuẩn ký hiệu P23-7 và P23-26

DNA của 2 dòng vi khuẩn ký hiệu P23-7 và P23-26 thể hiện phân hủy cao hoạt chất Propoxur

trong môi trường khoáng tối thiểu lỏng (mục 2.4)

được trích theo quy trình của Ihrmark và ctv.,

2012 Sau đó, sản phẩm trích DNA được khuếch đại bằng phản ứng PCR với với bộ mồi 27F-907R

(Xuan và ctv., 2012) có trình tự như sau:

27F 5' AGA GTT TGA TCC TGG CTC AG 3' 907R 5' CCG TCA ATT CCT TTR AGT TT 3' Hai đoạn mồi này nhắm vào đoạn gene 16S

Trang 4

rRNA của vi khuẩn Chu trình nhiệt cho phản ứng

PCR: giai đoạn sơ khởi 94°C (3 phút), 25 chu kì:

92°C (30s)-50°C (45s)-72°C (30s), 72°C (7 phút);

trữ sản phẩm ở 4°C (Xuan và ctv., 2012) Sản

phẩm PCR được kiểm tra trên gel agarose 1,5%

trước khi giải trình tự

Các hóa chất để thực hiện phản ứng PCR bao

gồm (thể tích/1 phản ứng): 4µL Dream taq buffer

(5x); 0,4 µL mồi xuôi 27F (10 µM); 0,4 µL mồi

ngược 907R (10 µM); 6 – 10 µL DNA tinh sạch;

2,5 µL mQ-H2O, 0,4 µL dNTP (10mM); 2,2 µL

MgCl2 (25 mM); 0,1 µL Dream taq (5 U/µL) Kết

quả giải trình tự được so sánh và dò tìm trên

ngân hàng gene thế giới trên trang web

http://blast.ncbi.nlm.nih.gov/Blast.cgi để xác định

mức độ loài của hai dòng vi khuẩn khảo sát

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Phân lập các dòng vi khuẩn có tiềm

năng phân hủy Propoxur từ 2 hệ vi sinh vật thể

hiện khả năng phân hủy tốt Propoxur

Kết quả mật số vi khuẩn ban đầu của 3 mẫu đất

thí nghiệm được trình bày trong Bảng 2 Có sự

khác nhau về mật số vi khuẩn ban đầu của 3 mẫu

đất thu thập Mật số vi khuẩn cao nhất ở mẫu đất

P1-2, kế đến là P2-3 và thấp nhất ở mẫu VH-4

Bảng 2: Mật số ban đầu của 3 mẫu đất thí nghiệm

Sau thời gian làm giàu mật số và phân lập vi khuẩn có tiềm năng phân hủy Propoxur trong môi trường lỏng và agar từ 2 hệ vi sinh vật ký hiệu P1-2

và P2-3, tổng cộng 78 dòng vi khuẩn đã được phân lập Trong tổng số 78 dòng vi khuẩn được phân lập

có 38 dòng từ hệ vi sinh vật kí hiệu P12 và 40 dòng

từ hệ vi sinh vật kí hiệu P23 Từ 78 dòng vi khuẩn phân lập, được nhóm lại thành 15 nhóm dựa trên đặc điểm hình thái khuẩn lạc Hình dạng tế bào của

15 dòng vi khuẩn đại diện cho 78 dòng phân lập được quan sát dưới kính hiển vi và kết quả ghi nhận có 3 dạng hình như sau: que ngắn, que dài và hình cầu (Hình 1) Nhóm 1: dạng tế bào hình que ngắn gồm có 8 dòng ký hiệu: 7, 17,

P12-27, P12-37, P23-7, P23-20, P23-26 và P23-29 (8/15 dòng, chiếm 53%) Nhóm 2: dạng tế bào hình que dài gồm 2 dòng ký hiệu: P12-24b’ và P23-18 (2/15 dòng, chiếm 13%) và Nhóm 3: dạng tế bào hình cầu gồm có 5 dòng ký hiệu: P12-3, P12-34, P23-25, P23-27 và P23-35 (5/15 dòng, chiếm 34%)

(A) (B) (C)

Hình 1: Ba hình dạng tế bào vi khuẩn điển hình được quan sát trên kính hiển vi (A): Hình cầu;

(B): Hình que ngắn và (C): Hình que dài (quan sát ở E100)

Kết quả kiểm tra về gram vi khuẩn cho thấy

như sau: 9 trên tổng số 15 dòng vi khuẩn được

phân loại như là vi khuẩn gram dương (60%), còn

lại 6/15 dòng vi khuẩn được phân loại như là gram

âm (40%) Cuối cùng, kiểm tra khả năng oxidase

của vi khuẩn để xác định vi khuẩn có enzyme

cytochrome oxidase hay không Vi khuẩn thể hiện

phản ứng dương tính (positive) khi test oxidase có

thể sử dụng oxi tham gia vào chuỗi dẫn truyền điện

tử, sinh ATP trong quá trình hô hấp, kết quả kiểm

tra khả năng oxidase của 15 dòng vi khuẩn đại diện

dòng vi khuẩn thể hiệm âm tính với phản ứng oxidase

3.2 Đánh giá khả năng phân hủy Propoxur trong dung dịch khoáng tối thiểu của 2 hệ vi sinh vật ký hiệu: P1-2 và P2-3

Kết quả về khả năng phân hủy Propoxur của 2

hệ vi sinh vật ký hiệu P1-2 và P2-3 trong môi trường khoáng tối thiểu lỏng được trình bày trong Hình 2 Nhìn chung, nồng độ Propoxur ở các nghiệm thức, bao gồm cả nghiệm thức đối chứng giảm dần theo thời gian nuôi cấy Khả năng phân

Trang 5

không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) tại các thời

điểm thu mẫu Tuy nhiên, nồng độ Propoxur trong

cả 2 hệ vi sinh vật thấp hơn và khác biệt có ý nghĩa

thống kê so với nghiệm thức đối chứng (p<0.05)

Nồng độ Propoxur giảm nhanh vào thời điểm 5

ngày sau khi nuôi cấy, từ 30 ppm xuống còn 7 ppm

ở cả 2 hệ vi sinh vật Sau 10 ngày nuôi cấy, nồng

độ Propoxur ở cả 2 hệ vi sinh vật giảm xuống dưới

5 ppm Sự giảm nồng độ Propoxur trong nghiệm thức đối chứng được giải thích là do Propoxur có thể bị thủy phân (1,5%/ngày) trong môi trường nước có pH trung tính (pH=7.0) (Hartley và Kidd, 1983)

Hình 2: Khả năng phân hủy hoạt chất Propoxur của 2 hệ vi sinh vật ký hiệu: P1-2 và P2-3 trong dung dịch khoáng tối thiểu bổ sung 30 ppm Propoxur sau 10 ngày nuôi cấy (n=3 và sai số chuẩn)

Kết quả thể hiện sự phát triển mật số vi khuẩn

theo thời gian nuôi cấy được trình bày trong Hình

3 Nhìn chung, mật số vi khuẩn có xu hướng tăng

dần theo thời gian nuôi cấy Giai đoạn từ 1 đến 5

ngày mật số vi khuẩn tăng nhanh nhất, sau đó ổn

định về sau Không có sự khác biệt thống kê về

mật số vi khuẩn giữa 2 hệ vi sinh vật kí hiệu P1-2

và P2-3 ở tất cả các thời điểm thu mẫu Sự không

khác biệt về mật số vi khuẩn giữa 2 hệ vi sinh vật

vào các thời lấy mẫu là cơ sở phù hợp để giải thích

cho hiện tượng không khác biệt về khả năng phân

hủy Propoxur của 2 hệ vi sinh vật vào các thời điểm thu mẫu Giai đoạn 1-5 ngày sau khi bố trí thí nghiệm mật số vi khuẩn tăng lên rất mạnh, đồng thời, nồng độ Propoxur trong môi trường nuôi cấy cũng giảm một lượng rất đáng kể, điều này chứng

tỏ, vi sinh vật đã sử dụng nguồn carbon từ Propoxur cho sinh trưởng và phát triển mật số Ở nghiệm thức đối chứng không có bất cứ vi khuẩn nào tìm thấy trên đĩa agar, điều này cho thấy các thao tác về tiệt trùng trong quá trình bố trí thí nghiệm đã được bảo đảm và đáng tin cậy

Hình 3: Sự phát triển mật số vi khuẩn trong dung dịch khoáng tối thiểu bổ sung 30 ppm Propoxur

trong 10 ngày nuôi cấy (n=3 và sai số chuẩn)

Trang 6

3.3 Đánh giá khả năng phân hủy Propoxur

trong môi trường khoáng tối thiểu lỏng của 4

dòng vi khuẩn được tuyển chọn

Kết quả đánh giá khả năng phân hủy Propoxur

trong môi trường lỏng sau 18 ngày thí nghiệm của

4 dòng vi khuẩn ký hiệu: P12-3, P23-7, P23-19 và

P23-26 được trình bày ở Hình 4 Kết quả cho thấy

trong 4 dòng vi khuẩn thử nghiệm thì chỉ có 2 dòng

ký hiệu: P23-7 và P23-26 là thể hiện khả năng

phân hủy rất tốt Propoxur trong dung dịch khoáng

tối thiểu khi so sánh với nghiệm thức đối chứng,

trong khi đó các dòng vi khuẩn còn lại khả năng phân hủy Propoxur kém hơn hai dòng này và phân hủy Propoxur không đáng kể so với nghiệm thức đối chứng Dòng vi khuẩn ký hiệu P23-7 phân hủy được 30 ppm Propoxur trong môi trường lỏng sau

1 ngày thí nghiệm và sau 4 ngày nuôi cấy nồng độ Propoxur trong môi trường đã bị phân hủy hoàn toàn Trong khi đó, dòng vi khuẩn ký hiệu P23-26 chỉ phân hủy 10 ppm Propoxur sau 1 ngày nuôi cấy Tuy nhiên, vào ngày thứ 4 dòng vi khuẩn này

đã phân hủy hoàn toàn Propoxur

Hình 4: Khả năng phân hủy Propoxur của 4 dòng vi khuẩn tuyển chọn trong dung dịch khoáng tối

thiểu bổ sung 45 ppm Propoxur sau 18 ngày nuôi cấy (n=4 và sai số chuẩn)

Kết quả về sự phát triển mật số của 4 dòng vi

khuẩn thử nghiệm trong môi trường nuôi cấy

khoáng tối thiểu lỏng bổ sung 45 ppm Propoxur

trong 18 ngày được trình bày trong Hình 5 Kết quả

cho thấy như sau: Mật số của tất cả các dòng vi

khuẩn thử nghiệm đều có xu hướng tăng theo thời

gian Mật số vi khuẩn dòng P23-26 ở ngày thứ nhất

thấp hơn so với dòng P23-7 Đồng thời, khả năng

phân hủy thuốc Propoxur của dòng P23-26 cũng

thấp hơn rất nhiều so với dòng P23-7 vào ngày 1

Tuy nhiên, ở ngày thứ 4, mật số vi khuẩn dòng

P23-26 tăng lên mạnh và không khác biệt thống kê

so với mật số dòng P23-7 Bên cạnh đó, kết quả phân tích nồng độ Propoxur trong môi trường lỏng của 2 dòng vi khuẩn này đều bằng 0 ppm vào ngày thứ 4 Điều này rõ ràng cho thấy, sự gia tăng mật

số của 2 dòng này là nguyên nhân dẫn đến sự giảm nồng độ thuốc Propoxur trong môi trường nuôi cấy

và 2 dòng vi khuẩn này đã sử dụng Propoxur như

là nguồn carbon cho việc tăng mật số, sinh trưởng

và phát triển

Trang 7

Tóm lại, kết quả thí nghiệm cho thấy 2 dòng vi

khuẩn phân lập trong nghiên cứu này ký hiệu

P23-7 và P23-26 thể hiện khả năng phân hủy chuyên

biệt Propoxur trong môi trường khoáng tối thiểu

lỏng và cả 2 dòng này có tiềm năng ứng dụng cao

trong việc xử lý đất bị ô nhiễm với Propoxur và

nên được chọn cho những nghiên cứu tiếp theo

3.4 Giải mã trình tự gen 16S rRNA và xác

định ở mức độ loài của hai dòng vi khuẩn ký

hiệu P23-7 và P23-26

Hai dòng vi khuẩn ký hiệu P23-7 và P23-26 29

được giải mã trình tự và so sánh trình tự đoạn gene

16S rRNA với cơ sở dữ liệu trên ngân hàng gene thế giới Kết quả cho thấy trình tự đoạn gen của vi khuẩn P23-7 và P23-26 lần lượt tương đồng với

đoạn gene 16S rRNA của loài Paracoccus sp dòng Y3B-1 (số đăng kí: HM018693.1) và Paracoccus

sp SMIC-4 (số đăng kí: FJ877155.1) với độ tương đồng lần lượt là 100% và 99% Như vậy, 2 dòng vi khuẩn ký hiệu: P23-7 và P23-26 được sắp xếp theo bậc phân loại như sau: Prokaryote, Bacteria, Proteobacteria, Alphaproteobacteria, Rhodobacterales,

Rhodobacteraceae, Paracoccus, Paracoccus sp

(Bảng 3)

Bảng 3: Định danh các dòng vi khuẩn thể hiện sự phân hủy Propoxur theo độ tương đồng của đoạn

gen 16S rRNA

STT Dòng Nguồn gốc Độ tương đồng (%) Vi khuẩn Các dòng vi khuẩn trên cơ sở dữ liệu Số đăng kí Định danh

1 P23-7 Vĩnh Châu, Phường 2,

Paracoccus sp

Paracoccus

sp P23-7

2 P23-26 Vĩnh Châu, Phường 2,

Sóc Trăng

99% Paracoccus sp SMIC-4 FJ877155.1 Paracoccus sp P23-26

4 KẾT LUẬN

Hai mẫu đất ký hiệu: P1-2 và P2-3 thu thập

từ nền đất trong kho bảo quản hành tím tại thị

xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng có chứa nguồn vi

khuẩn có khả năng phân hủy rất cao và chuyên

biệt Propoxur Hai dòng vi khuẩn ký hiệu P23-7 và

P23-26 thể hiện khả năng phân hủy rất hữu

hiệu Propoxur trong dung dịch khoáng tối thiểu và

được xem như là 2 dòng có tiềm năng ứng

dụng cao nhất trong việc xử lý đất ô nhiễm với

hoạt chất Propoxur và cả 2 được định danh lần lượt

như là loài Paracoccus sp P23-7 và Paracoccus

sp P23-26

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Berg, G L., 1986 Farm Chemicals

Handbook Willoughby, Ohio: Meister

Publishing Co

2 Dương Vĩnh Hảo., 2013 Trồng và tiêu thụ

củ hành tím Vĩnh Châu

(http://www.soctrang.gov.vn/wps/wcm/con

nect/ed00168040ca0aa0bc7cfd66b90c36b8/

03-2013_Bai 7)

3 Đặng Phạm Thu Thảo, Đỗ Thị Xuân, Dương

Minh Viễn và Nguyễn Khởi Nghĩa, 2014

Phân lập và đỊnh danh các dòng vi khuẩn bản

địa có khả năng phân hủy thuốc kích thích ra

hoa Paclobutrazol từ đất vườn trồng cây ăn

trái ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Tạp chí khoa học Trường đại học Cần Thơ, phần A: Khoa học Tự nhiên, Công nghệ và Môi trường: 32 (2014): 80-86

4 Hayes, W J 1982 Pesticides studied in

man Baltimore, MD: Williams and Wilkins

5 Hartley, D; Kidd, H., 1983 The Agrochemicals Handbook Nottingham, England: Royal Society of Chemistry

6 Ian, L.P; Charles, P.G., 2004

Environmental microbiology Elsevier Academic Press

7 Ihrmark, K; Inga, T.M; Bödeker, K.C.M; Hanna, F; Ariana, K; Jessica, S; Ylva, S; Jan S; Mikael, B.D; Karina, E.C; Björn, D.L, 2012 New primers to amplify the fungal ITS2 region – evaluation by 454-sequencing of artificial and natural communities Article first published online:

27 JUL 2012.DOI: 10.1111/j.1574-6941.2012.01437.x

8 Kamanavalli, C.V., and Ninnekar, H.Z.,

2000 Biodegradation of Propoxur by

Pseudomonas sp C.M Department of

biochemistry, Karnatak University Dharwad, India

9 Nkedi-Kizza, P; Ou, L.T ; Cisar, J.L ; Snyder, G.H., 1992 Microbial degradation

Trang 8

of Propoxur in turfgrass soil J Environ

Sci Health B Soil Science Department,

University of Florida

10 Nguyễn Thị Lan Hương., 2012 Khảo sát lưu

tồn và phân lập vi khuẩn có khả năng phân

hủy Chlorpyriphos ethyl trên mô hình canh

tác màu Luận văn Thạc Sĩ chuyên ngành

Sinh thái học Trường Đại học Cần Thơ

11 Nguyễn Thị Phi Oanh., 2011 Vi khuẩn

phân hủy 2,4-D trong đất lúa ở Tiền Giang

và Sóc Trăng Tạp chí khoa học 2011:18a

65-70 Trường Đại học Cần Thơ

12 Nguyễn Thị Tố Quyên., 2013 Khảo sát lưu

tồn và phân hủy sinh học Pretilachlor trên

một số ruộng chuyên canh lúa tại đồng bằng

sông Cửu Long Luận văn thạc sĩ chuyên

ngành Công nghệ sinh học Trường đại học

Cần Thơ

13 Nguyễn Đức Thắng., 1999 Điều tra hiện

trạng canh tác, cách tồn trữ và bước đầu thử

nghiệm hiệu quả một số nông dược trong

việc bảo quản hành tím (Allium cepa group

aggregatum) tại Sóc Trăng Luận văn Thạc

sĩ chuyên ngành Nông học Trường Đại học Cần Thơ

14 Rahmansyah, M; Dwi, A; Heddy, J; Tirta, K.D., 2012 Growth and adaptation of four

Streptomyces isolates in the media

containing Propoxur Research Center for Biology, Indonesian Institute of Sciences Cibinong Science Center, Jalan Raya Jakarta Bogor, Cibinong, Indonesia

15 U.S Environmental Protection Agency (NCEA)., 1999 Integrated Risk Information System (IRIS) on Baygon National Center for Environmental Assessment, Office of

Research and Development, Washington, DC

16 Xuan, D.T; Guong, V.T; Rosling, A;

Alström, S; Chai, B; Högberg, N., 2012 Different crop rotation systems as drivers of change in soil bacterial community structure

and yield of rice, Oryza sativa Biology and Fertility of Soils 48 (2): 217- 225.

Ngày đăng: 20/01/2021, 15:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w