Phạm Thị Mỹ, Hoàng Thị Mai, Vi Đại Lâm, Dương Mạnh Cường - Thử nghiệm điều kiện ảnh hưởng đến sinh trưởng của dòng vi khuẩn phân giải nitơ phân lập từ một số mẫu nướ[r]
Trang 1Tập 164, số 04, 2017
Trang 2T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ
CHUYÊN SAN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP - LÂM NGHIỆP - Y DƯỢC
Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Thị Lân - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại cây trồng xen đến sinh trưởng và
Nguyễn Viết Hưng, Lê Thị Kiều Oanh, Hoàng Kim Diệu, Nguyễn Thị Trang - Nghiên cứu khả năng sinh
Lê Thị Kiều Oanh, Trần Văn Điền, Trần Đình Hà, Trần Trung Kiên - Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát
Hà Đình Nghiêm, Nguyễn Thanh Hải, Đỗ Thị Lan, Nguyễn Thị Huệ - Quản lý cây trinh nữ móc (Mimosa
diplotricha) bằng mô hình dự đoán phân bố, mức độ xâm lấn và sử dụng sinh khối để trồng nấm 21
Nguyễn Thị Lân, Nguyễn Thế Hùng - So sánh, lựa chọn giống lúa năng suất cao, chất lượng tốt cho vụ mùa tại
Nguyễn Thị Tuyên, Nguyễn Việt Hưng - Phương pháp phòng trừ mối hại gỗ trong các công trình xây dựng
Nguyễn Hải Hòa, Trần Thị Phương Thúy, Dương Trung Hiếu, Nguyễn Thị Thu Hiền - Sử dụng ảnh SPOT 6
xây dựng bản đồ sinh khối và trữ lượng các bon rừng trồng thông thuần loài tại xã Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia,
Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Thị Tuyên - Nghiên cứu sử dụng chế phẩm sinh học từ lá xoan trong bảo quản gỗ 47
Đặng Minh Tơn, Đặng Văn Minh, Nguyễn Văn Toàn - Các loại đất chính, phân bố và tính chất trên địa bàn
Nông Thị Huyền Chanh, Hoàng Hữu Chiến - Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động khai thác cát sỏi đến biến
Triệu Mùi Chản, Chu Văn Trung , Đỗ Sơn Tùng, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Thảo Yến, Bùi Thị Hường,
Hoàng Đông Quang - Xây dựng hệ thống lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất bán tự động 67
Nguyễn Văn Lợi - Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự biến đổi chất lượng của quả vải thiều sau thu hoạch 75
Phạm Thị Phương, Nguyễn Thị Đoàn, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Thị Nhung, Lưu Hồng Sơn - Nghiên cứu hiệu
quả bảo quản của compozit của chitosan khối lương phân tử thấp với axit oleic ứng dụng trong bảo quản đào Pháp 81
Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Ngân, Nguyễn Văn Quang, Phan Thị Hồng Phúc, Lê Minh, Phạm Diệu
Thùy, Trần Nhật Thắng, Dương Thị Hồng Duyên - Xác định serotype, độc lực và tính kháng kháng sinh của 3
Nguyễn Thị Thúy Mỵ, Trần Thanh Vân, Đỗ Thị Kiều Duyên - Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm Mfeed+
Từ Trung Kiên, Trần Thị Hoan, Nguyễn Văn Sơn- Ảnh hưởng của bổ sung dầu hạt lanh vào khẩu phần đến
Trương Hữu Dũng, Nguyễn Thị Hằng, Phùng Đức Hoàn - Đánh giá khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn
của 3 tổ hợp lợn lai thương phẩm (DP x CA); (PD x CA) VÀ (LP x CA) giai đoạn sơ sinh đến 56 ngày tuổi 109
Sử Thanh Long, Nguyễn Công Toản, Trần Văn Vũ - Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới thời gian mang
Trần Thị Hoan, Từ Trung Kiên, Nguyễn Thị Hiền - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc thay thế thức ăn viên
hỗn hợp bằng cỏ Ghinê (panicum maximum) trong khẩu phần đến hiệu quả sử dụng thức ăn và năng suất của
Hoàng Đình Hòa, Nguyễn Văn Lợi - Xác định các cấu tử hóa học và hoạt tính sinh học của tinh dầu cây kinh
Journal of Science and Technology
Trang 3Vũ Khánh Linh, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Thị Quỳnh Lâm, Lương Hùng Tiến - Phân lập và tuyển chọn một
số chủng vi sinh vật phân giải cellulose hướng tới tạo ra chế phẩm xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp 133
Vũ Hoài Nam, Dương Văn Cường - Tăng cường sinh tổng hợp β-carotene trong Escherichia coli tái tổ hợp được
Nguyễn Thị Thu Ngà, Sỹ Danh Thường, Cao Thị Phương Thảo - Sử dụng mã vạch DNA để định loại loài Màn
Trịnh Đình Khá, Lý A Hù, Đặng Duy Phong, Nguyễn Hữu Quyền, Hoàng Thị Thiên Hương - Tổng hợp nano
Nguyễn Thị Thu Hà, Chu Thị Na, Cao Thị Phương Thảo - Nghiên cứu đặc điểm hình thái và giải phẫu một số
Phạm Thị Mỹ, Hoàng Thị Mai, Vi Đại Lâm, Dương Mạnh Cường - Thử nghiệm điều kiện ảnh hưởng đến sinh trưởng của dòng vi khuẩn phân giải nitơ phân lập từ một số mẫu nước tại Trường Đại học Nông Lâm – ĐH Thái Nguyên 165 Hoàng Thị Lan Anh, Dương Thị Minh Hòa - Nghiên cứu ứng dụng mô hình lọc tái tuần hoàn nước thải khu ký
túc xá Trường Đại học Nông Lâm bằng sét Kabenlis 3 171
Dương Hữu Lộc, Nguyễn Xuân Vũ, Vũ Thị Thu Thủy, Nguyễn Thị Tâm - Đặc điểm nông sinh học và mối
quan hệ di truyền của một số giống quýt (Citrus Recutilata Blanco) tại khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam 177
Đinh Thị Huyền Chuyên, Sỹ Danh Thường, Trịnh Đình Khá, NguyễnThị Yến - Nghiên cứu đặc điểm hình
La Việt Hồng, Trần Hồng Thu, Phạm Thị Quy, Đinh Phương Thảo, Nguyễn Thị Thanh, Phạm Ngọc Khánh
- Xác định chỉ thị phân tử và tái sinh chồi in vitro của loài Hoàng tinh hoa đỏ (Polygonatum kingianum Coll ex
Nguyễn Hải Linh, Ma Diệu Quỳnh, Ma Thị Thu Lệ, Bùi Thị Thu Thủy, Vũ Thị Minh Hồng, Nguyễn Thị Hồng
Hạnh - Cao cây sương sáo (Mesona chinensis Benth.) có tác dụng hỗ trợ điều trị béo phì trên chuột nhắt trắng 195
Lê Phong Thu, Nguyễn Thu Thủy, Tạ Văn Tờ - Tổng quan đáp ứng mô bệnh học ung thư vú sau điều trị hóa
Hà Trọng Quỳnh - Lượng giá thiệt hại sức khỏe cộng đồng do ô nhiễm không khí tại phường Tân Long, thành
Nguyễn Thị Trung - Nghiên cứu khả năng nhận biết đặc hiệu các kháng nguyên của Listeria monocytogenes của
Trang 4La Việt Hồng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 164(04): 189 - 193
XÁC ĐỊNH CHỈ THỊ PHÂN TỬ VÀ TÁI SINH CHỒI IN VITRO
CỦA LOÀI HOÀNG TINH HOA ĐỎ (Polygonatum kingianum Coll ex Hemsl.)
THU TẠI SA PA - LÀO CAI
1 Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2,
2 Trạm Nghiên cứu trồng cây thuốc Sa Pa, Viện Dược liệu
TÓM TẮT
Cây Hoàng tinh hoa đỏ là một trong những dược liệu trong y học cổ truyền Trong nghiên cứu này, mẫu Hoàng tinh hoa đỏ thu tại Sa Pa - Lào Cai được phân loại ở mức độ loài qua đặc điểm hình thái
và xác định hai trình tự psbA-trnH và rpoC1của loài này để làm chỉ thị phân tử Tiếp đó, quy trình tạo vật liệu khởi đầu và tái sinh chồi in vitro Hoàng tinh hoa đỏ đã được xây dựng nhằm bảo tồn loài này Kết quả cho thấy trên đối tượng loài Hoàng tinh hoa đỏ, trình tự psbA-trnH có chiều dài 616 bp dùng để phân loại và nhận dạng ở mức độ loài, trình tự rpoC1 có chiều dài 542 bp dùng để phân loại
và nhận dạng đến mức độ Chi Trong quá trình tạo mẫu sạch in vitro, chồi non được khử trùng bề mặt bằng cồn 70% (v/v)/15 phút và javen 10% (v/v)/15 phút Môi trường MS, 30 g/l đường saccharose, 7 g/l agar có bổ sung 5 mg/l BAP và 0,2 mg/l IAA là thích hợp nhất để tái sinh chồi in vitro của cây Hoàng tinh hoa đỏ Đây là lần đầu tiên cây Hoàng tinh hoa đỏ được tái sinh chồi in vitro, kết quả này hứa hẹn để bảo tồn cây thuốc này trong tương lai bằng kỹ thuật nuôi cấy mô
Từ khóa: Chỉ thị, Phân tử, Hoàng tinh hoa đỏ, in vitro, SaPa
MỞ ĐẦU *
Loài Hoàng tinh hoa đỏ (Polygonatum
kingianum Coll Et Hemsl.) là loại cây thuốc
quý được sử dụng phổ biến trong Y học cổ
truyền phương Đông với tên vị thuốc “Thục
hoàng” [14] Loài Hoàng tinh hoa đỏ thuộc
(Convallariaceae) Trên thế giới, chi
Polygonatum có 60 loài, phân bố chủ yếu ở
khu vực ôn đới từ dãy Himalaya đến Nhật
Bản, Bangladesh, Myanmar, Trung Quốc, Ấn
Độ, Thái Lan và Malaysia Ở Anh có 3 loài
đặc hữu; ở Trung Quốc có 32 loài, trong đó
có 20 loài là đặc hữu có ở Trung Quốc trong
đó có loài Hoàng tinh hoa đỏ Ở Nước ta, cây
Hoàng tinh hoa đỏ (tên gọi khác củ cơm nếp,
Hoàng tinh vòng) được ghi nhận chủ yếu ở
Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Sơn La, Hà
Giang, Yên Bái, Cao Bằng [6] Hoàng tinh
hoa đỏ thuộc nhóm EN A1c,d [6], hạn chế
khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại
[5] Tuy nhiên, trong những năm qua, nguồn
dược liệu Hoàng tinh trong nước đứng trước
*Tel: 0973.376.668; Email: laviethong.sp2@gmail.com
nguy cơ cạn kiệt do bị khai thác bừa bãi, hiện chưa có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu Do
đó, nhiều nguồn gen dược liệu có nguy cơ cạn kiệt, tuyệt chủng trong hệ thực vật Việt Nam, trong đó có các loại Hoàng tinh Hiện nay, kỹ thuật DNA barcoding là một trong những công cụ phục vụ định danh loài chính xác, nhanh chóng, tự động hóa Kỹ thuật này thường sử dụng các đoạn trình tự đặc trưng
như psbA-trnH,ITS, rpoC1, matK… [8], [10],
[11] Việc xác định loài bằng kỹ thuật này có hiệu quả cao trong việc phân biệt các loài thực vật trong khi những quan sát hình thái, sinh trưởng và phát triển chưa đủ cơ sở để định danh hoặc phân biệt loài [9] Xuất phát
lý do trên, chúng tiến hành nghiên cứu chỉ thị
phân loại phân tử bổ sung và tái sinh chồi in
vitro cây Hoàng tinh hoa đỏ Polygonatum kingianum Coll Et Hemsl góp phần bảo tồn
nguồn gen loài này
VẬT LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vật liệu thực vật
Mẫu được thu tại Trạm Nghiên cứu Trồng cây thuốc Sa Pa - Lào Cai (Viện Dược liệu)
Trang 5La Việt Hồng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 164(04): 189 - 193
190
Phương pháp nghiên cứu
Thu thập mẫu và nhận dạng loài
Mô tả đặc điểm hình thái của mẫu nghiên cứu
để xác định loài, tên khoa học dựa vào các tài
liệu phân loại thực vật
Xác định hai trình tự psbA-trnH và rpoC1:
DNA từ lá Hoàng tinh hoa đỏ được tách chiết
bằng phương pháp CTAB và tinh sạch DNA
được sử dụng làm khuôn cho phản ứng PCR,
các cặp mồi được sử dụng để khuếch đại hai
trình tự psbA-trnH và rpoC1 này lần lượt là:
01_F:5’-
GTTATGCATGAACGTAATGCTC-3’,
01_R:5’-CGCGCATGGTGGATTCACAATCC-3’;
02_F:5’-GTGGATACACTTCTTGATAATGG-3’;
02_R:5’CCATAAGCATATCTTGAGTTGG-3’
Chu trình nhiệt: 94oC/ 4 phút; 30 chu kỳ x
(94oC/ 30 giây; 54oC/ 30 giây; 72oC/ 45 giây);
72oC/ 10 phút Sản phẩm PCR được tinh sạch
bằng kit AccuPrep Gel Purification Kit
(Bioneer, Hàn Quốc) và được xác định trình
tự tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công
nghệ gen, Viện Công nghệ Sinh học, Viện
Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Trình tự DNA được xử lý và phân tích bằng
phần mềm Bioedit, DNA star và BLAST của
NCBI [13]
Tái sinh chồi in vitro cây Hoàng tinh hoa đỏ
Tạo vật liệu khởi đầu: Củ Hoàng tinh hoa đỏ
chứa chồi non được rửa sạch, ngâm trong
nước xà phòng loãng 20 - 30 phút và rửa kỹ
dưới vòi nước chảy Sau đó khử trùng bề mặt
bằng cồn 700 trong 15 - 30 phút, tiếp đến khử
trùng bằng dung dịch javen 3 - 40% (v/v)
trong 15 - 30 phút Cuối cùng, mẫu được rửa
lại 4 lần bằng nước cất khử trùng Chồi non
Hoàng tinh hoa đỏ được cấy lên môi trường
cơ bản gồm MS, 30 g/l saccharose, 8 g/l agar
Theo dõi tỉ lệ mẫu nhiễm, tỉ lệ mẫu sạch -
sống, tỉ lệ mẫu sạch - chết sau 5-7 ngày
Tái sinh chồi in vitro: Các chồi sạch được
chuyển sang môi trường MS có bổ sung BAP
(6-benzylaminopurine), BAP kết hợp với IAA
(Idol acid acetic) Cụ thể: BAP (1; 2; 3; 5; 8
mg/l); BAP (1;2; 3; 5 mg/l) kết hợp IAA nồng
độ 0,2 mg/l Các chỉ tiêu theo dõi: Tỉ lệ mẫu phát sinh chồi (%), số chồi/mẫu (chồi), chiều cao chồi (cm), số lá/chồi (lá) và đặc điểm chồi tái sinh sau 6 tháng nuôi cấy
Phân tích thống kê: Số liệu được thu thập và
xử lí thống kê bằng chương trình Excel 2010 [4] Sai khác giữa các công thức được kiểm tra bằng phương pháp giới hạn sai khác nhỏ nhất - LSD0,05 với α = 0,05 Giá trị thể hiện trong các bảng số liệu là giá trị trung bình KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Đặc điểm phân loại loài Hoàng tinh hoa đỏ thu tại Sa Pa (Lào Cai)
Đặc điểm hình thái
Loài Hoàng tinh hoa đỏ (Polygonatum
kingianum Coll et Hemls.) thuộc loại cây thân
rễ sống lâu năm Thân rễ mọc ngang, phình lên thành củ màu vàng hay trắng, trên củ có các vết sẹo của thân khí sinh Thân cây mọc đứng, cao 50 – 80 cm Lá không có cuống, mọc vòng trên các đốt thân; phiến lá hình mác, dài 7 – 12 cm, rộng 0,5 - 1,2 cm; chóp lá nhọn và quăn Hoa mọc ở kẽ lá, cuống hoa dài 1,5 – 2 cm, mỗi cuống mang hai hoa hình ống, dài 8 – 15 mm, màu đỏ tím Quả mọng, hình cầu đường kính 7 – 10 mm, khi chín màu tím đen [1], [2], [3], [7], [12]
Hình 1 Mẫu cây thu tại Sa Pa-Lào Cai
(A): Toàn bộ cây, (B): Lá cây mọc vòng, hoa màu đỏ
Trong nghiên cứu này, mẫu được thu tại Sa
Pa (Lào Cai) được thể hiện ở Hình 1 Dựa trên đặc điểm hình thái so sánh cho thấy mẫu thu tại Sa Pa (Lào Cai) chính là loài Hoàng
tinh hoa đỏ, có tên khoa học Polygonatum
kingianum Coll ex Hemsl
Trang 6La Việt Hồng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 164(04): 189 - 193
Chỉ thị phân loại phân tử
Kết quả phân lập và xác định trình tự psbA-trnH được thể hiện ở Hình 2
Hình 2 So sánh trình tự psbA-trnH (kí hiệu HTHD_Sapa_01) thu từ cây Hoàng tinh hoa đỏ thu tại Sa Pa
và của loài P.kingianum (Mã số trên Genbank: KJ745828.1)
Phân tích Hình 2 cho thấy, trình tự psbA-trnH
của loài P.kingianum thu tại Sa Pa - Lào Cai
có chiều dài là 616 bp, có độ tương đồng 99%
với trình tự psbA-trnH (Mã số: KJ745828.1)
của loài P.kingianumvới chiều dài 622 bp đã
công bố trên Genbank Như vậy, trình tự
psbA-trnH phân lập được là đặc trưng cho
loài P.kingianum, có thể dùng để phân loại và
nhận dạng loài này Tiến hành phân tích
tương tự đối với trình tự rpoC1, kết quả cho
thấy trình tự rpoC1 phân lập được từ loài
Hoàng tinh hoa đỏ thu tại Sa Pa - Lào Cai có chiều dài 542 bp và có độ tương đồng 99%
với trình tự rpoC1của nhiều loài thuộc chi
Polygonatum như P.sibiricum (KT695605.1), P.verticillatum (KT722981.1), P.cyrtonema
(KT630835.1)… Như vậy, trình tự rpoC1của các loài thuộc Chi Polygonatum không có sự
khác biệt, do đó chỉ sử dụng trình tự này để nhận dạng cho Chi này
Hình 3 Tạo vật liệu khởi đầu và tái sinh chồi in vitro cây Hoàng tinh hoa đỏ
(A): Củ cây Hoàng tinh hoa đỏ chứa chồi non (B): Mẫu chồi sạch-vô trùng
(C-H): Chồi in vitrosau 6 tháng nuôi cấy, C: BAP 1,0 mg/l, D: D: BAP 2,0 mg/l, E: BAP 5,0 mg/l,
F: BAP 2 mg/l+IAA 0,2 mg/l, G: BAP 3 mg/l+IAA 0,2 mg/l MS, H: BAP 5 mg/l+IAA 0,2 mg/l
Trang 7La Việt Hồng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 164(04): 189 - 193
192
Tái sinh chồi in vitro cây Hoàng tinh hoa đỏ
Tạo vật liệu khởi đầu
Chồi non thu từ củ Hoàng tinh hoa đỏ (Hình 3A) được sử dụng làm nguồn mẫu Kết quả cho thấy nồng độ thích hợp nhất để khử trùng bề mặt chồi non là cồn 70% trong thời gian 15 phút, dung dịch javen 10% trong thời gian 15 phút, cho tỉ lệ mẫu sạch cao nhất là 50% (Hình 3B) Các mẫu này được nuôi cấy để tái sinh chồi
Tái sinh chồi in vitro
Kết quả tái sinh chồi cây Hoàng tinh hoa đỏ in vitro được thể hiện ở Hình 3 (C-H) và Bảng 1 và
Bảng 2
Ảnh hưởng của BAP đến khả năng phát sinh chồi in vitro
Bảng 1 Ảnh hưởng của BAP đến khả năng tạo chồi (sau 6 tháng nuôi cấy)
sinh chồi (%)
Số chồi/mẫu (chồi)
Chiều cao chồi
Đặc điểm chồi tái sinh (*)
ĐC-0 33,3 1,00a 2,32a 2,50a Kém
1 100 1,25a 4,11d 3,75b Tốt
2 100 3,00b 3,55c 2,75ab Tốt
3 100 1,75a 2,95b 2,00a Trung bình
5 100 1,25a 3,20b 1,75a Trung bình
(*) Tốt: chồi mập, lá xanh; Trung bình: chồi bình thường, lá xanh nhạt; Kém: chồi gầy, lá xanh nhạt, (-) Không có phản ứng, các chữ cái khác nhau trong cùng một cột thể hiện sự khác biệt với mức ý nghĩa α
= 0,05 Kí hiệu dùng cho các bảng
Kết quả nghiên cứu trong Bảng 2 cho thấy môi trường có nồng độ 2 mg/l BAP có ảnh hưởng tốt nhất đến khả năng tạo chồi, số chồi đạt được là 3 chồi/mẫu, số lá đạt được là 2,75lá/chồi, chiều cao chồi đạt 3,55cm
Ảnh hưởng của BAP và IAA đến khả năng nhân chồi in vitro
Bảng 2 Ảnh hưởng của BAP và IAA đến khả năng tạo chồi (sau 6 tháng nuôi cấy)
sinh chồi (%)
Số chồi/mẫu (chồi)
Chiều cao chồi (cm)
Số lá/chồi (lá)
Đặc điểm chồi tái sinh (*)
ĐC 0,0 33,3 1,00a 2,32a 2,50a Kém
2 0,2 100 1,25ab 3,13b 2,00a Kém
3 0,2 100 2,25bc 3,35b 2,75a Trung bình
5 0,2 100 3,00c 4,20c 4,75b Tốt Kết quả tại Bảng 2 cho thấy ở công thức BAP
5 mg/l + IAA 0,2 mg/l cho chiều cao chồi, số
lá/chồi lần lượt là 4,2 cm và 4,75 lá/chồi, và
cao hơn rõ rệt so với thí nghiệm chỉ dùng
BAP đơn lẻ chỉ đạt 3,55 cm và 2,75 lá/chồi
KẾT LUẬN
Loài Hoàng tinh hoa đỏ (Polygonatum
kingianum Coll Et Hemsl.) thu tại Sa Pa-Lào
Cai được bổ sung thêm hai chỉ thị phân loại
phân tử là psbA-trnH vàrpoC1 có chiều dài
lần lượt 616 bp và 542 bp, có thể sử dụng
trình tự psbA-trnH để nhận dạng loài này trong khi trình tự rpoC1 để nhận dạng mức độ Chi Polygonatum Chồi non trên thân rễ cây
Hoàng tinh hoa đỏ được khử trùng bằng cách rửa bằng nước sạch, khử trùng trong cồn 70% (v/v)/15 phút và javen 10% (v/v)/15 phút Môi trường tái sinh chồi MS, 3% đường saccharose, 0,7% agar có bổ sung 5 mg/l BAP
và 0,2 mg/l IAA thích hợp nhất để tái sinh và
nhân nhanh chồi in vitro
Trang 8La Việt Hồng và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 164(04): 189 - 193
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Võ Văn Chi, (2012), Từ điển cây thuốc Việt
Nam, Nxb Y học, Hà Nội, tập I, tr 1119-1120
2 Phạm Hoàng Hộ, (2006), Cây có vị thuốc ở Việt
Nam, Nxb Trẻ, tr 483-484
3 Đỗ Tất Lợi (1996), Những cây thuốc và vị thuốc
Việt Nam, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội,
4 Nguyễn Văn Mã, La Việt Hồng, Ong Xuân
Phong (2013), Phương pháp nghiên cứu sinh lý
học thực vật, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội tr
179-194
5 Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006
của Chính phủ
6 Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (2007),
Sách đỏ Việt Nam, phần II Thực vật – tr 388
(Vietnam red data book, Part II Plants), Nxb
Khoa học Tự nhiên và Công nghệ
7 Viện Dược liệu (2006), Cây thuốc và động vật
làm thuốc ở Việt Nam, Nxb Khoa học Kỹ thuật,
Hà Nội, tr 960-963
8 Chase M W., Cowan R S., Hollingsworth P
M., et al (2007), “A proposal for a standard
protocol to barcode all land plants”, Taxon, 56, pp
295-299
9 Gonzalez M A., Baraloto C., Engel J., Mori S A., Pétronelli P (2009), “Identification of
Amazonian trees with DNA barcodes”, PLoS ONE
4(10), p 7483
10 Kress W J., Wurdack K J., Zimmer E A., Weigt L A., Janzen D H (2005a), “Use of DNA
barcodes to identify flowering plants”, Proc Natl Acad Sci., USA, 102, pp 8369-8374
11 Kress W J., Wurdack K J., Zimmer E A., Weigt L A., Janzen D H., (2005b), “Use of DNA
barcodes to identify flowering plants”, Proc Natl Acad Sci., USA, 102(23), pp 8369–8374
12 Zheng-Yi W., Raven P H (2003),
“Flagellariaceae through Marantaceae”, Flora of China, Science Press, Beijing, and Missouri
Botanical Garden Press, St Louis, 24, pp 223 – 233
13 http://www.ncbi.nlm.nih.gov/
14 http://www.vncreatures.net
SUMMARY
DETERMINATION OF MOLECULAR MARKERS AND REGENERATION
OF IN VITRO SHOOTS OF Polygonatum kingianum Coll ex Hemsl
1 Hanoi Pedagogical University N 0 2
2 Sapa Center for planting medicinal plant, National Institute of Medicinal materials
Polygonatum kingianum Coll Et Hemsl is an important medicinal material in traditional medicine In this study, Explants of Polygonatum kingianum Coll Et Hemsl were collected from SaPa-Lao Cai and classified at species level through anatomical characteristics and two molecular markers of this species including psbA-trnH and rpoC1 were sequenced After that, in vitro shoots
of P kingianum were regenerated from young shoots of rhizome for multiplication to conserve this species The result showed that the first sequence, psbA-trnH, had 616 bp and was a good marker for identification at species level The second sequence, rpoC1, had 542 bp and was useful to classify Polygonatum genus Young shoots of rhizome were suface sterilized in 70% (v/v) ethanol for 15 minutes, in 10% (v/v) javel (Sodium hypochlorite) solution for 15 minutes The medium including MS, 30 g/l saccharose, 7 g/l agar and supplemented with 5 mg/l BAP and 0.2 mg/l IAA was suitable for in vitro shoots regeneration For the first time, in vitro shoots regeneration of Polygonatum kingianum Coll Et Hemsl was established, this result is potential for the convervation of medicinal material in the future
Keywords: Marker, Molecular, Polygonatum kingianum, in vitro, Sapa
Ngày nhận bài: 07/4/2017; Ngày phản biện: 10/4/2017; Ngày duyệt đăng: 27/4/2017
*Tel: 0973.376.668; Email: laviethong.sp2@gmail.com