1. Trang chủ
  2. » Ngữ Văn

Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi một số tỉnh của Việt Nam

125 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 14,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nhiều tỉnh có có người Thái cư trú không chấp nhận chữ Latinh này, không quyết định đưa nó vào giảng dạy là... vậy là rât quan trọng..[r]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XẢ HỘI VẢ NHẢN VÁN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯ Ờ NG Đ Ạ I HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

L Ờ I NÓI ĐẦU

1 V ù n g dân tộc miền núi nước ta là một khu vực dân c ư với thành phần chú y ếu là đồng bào các dân tộc thiểu sô Địa bàn này trải rộng trên lãnh thỏ cùa khoàng 40 tỉnh trong cà nước, trong

đó có 14 tỉnh hoàn toàn là miền núi dàn tộc Với diện tích tự nh iên là 2 3 ngàn km 2, bằng 75% đất đai của T ồ quốc, với sô' dân khoảng 24 triệu người, chiếm 30% sô dán chun g của cả nước, với gần 4.000km đường biên giới với các nước T rung Quốc, Lào và Cam puchia vùng dân tộc miền núi nước ta là một địa bàn trọng y ếu về chính trị, kinh tế, an ninh,

quốc p h ò n g; văn hoá và xã hội.

Tuy là m ột vùng có tầm quan trọng đặc biệt

n h ư vậy n h ư n g nơi đây lại là một địa bàn hết sức đặc thù Trước h ết, vùng dân tộc m iền n ú i là một vùng có điều kiện tự nhiên hết sức khó khản, nơi

có địa hìn h p h ứ c tạp, chia cắt bởi các dãy núi cao

và sô n g suôi Địa hình này khiến cho giao thông

đi lại rấ t khó khản, tạo nên n h ữ n g tiểu vùng sinh thái - k h í h ậ u đặc thù, gây ra n h ữ n g khó khăn cho s ự p h ắ t triển kinh t ế không dễ vượt qua C ùng

với sự khó khăn về điều kiện tự nhiên ấy là những

Trang 4

khó khăn về đời sống xả hội Ớ đây, cư trú chú yếu là đồng bào dân tộc thiểu sô' nên đời sống xã hội của họ đang ở điểm xuất phát thấp, thấp ở tất cả các mặt n h ư kinh tế, đời sống, vàn hoá xã hội và hhất là về trình độ dân trí Do điều kiện

tự nhiên khiến kết cấu hạ tầng thấp k ém, do đời sông kinh t ế nghèo nàn khiên đời sống xã hội nói chung lạc hậu ở m ức đảng lo ngại, dân tộc m iền núi "vẫn trong t h ế bị bao vây của h à n g rào lảnh thổ [20 ; 33] Vấn đề giáo dục, trong đó có giáo dục ngôn n g ữ cũng bị n h ữ n g khó khăn đó chi phôi Trong một tình hình n h ư vậy, đ ể phát triển kinh

t ế xã hội của nước ta trong n h ữ n g thập kỷ tới chún g

ta không th ể không phát triển kinh t ế xã hội của vùng dân tộc miền núi đ ể nơi đây hoà nhập vào cộng đồng dân tộc Việt Nam Chính vì vậy "đường lôi, quan điểm của Đảng, luật pháp chính sách của Nhà nước ta là nhất quán : Bình đẳng dân tộc,

đại đoàn kết dân tộc, tạo điều kiện giúp nhau cù n g phát triển, thống nhất trong đại gia đình dân tộc Việt N a m " [20 ; 34 - 35] Trong m ục tiêu phát triển toàn diện dân tộc m iền núi ấy, không th ể không nói tới nhiệm vụ và cúng là m ục tiêu giáo dục ở địa bàn này Bởi ìẽ giáo dục, một mặt là thước

đô của trình độ phát triển kinh tê, vãn hoá xã hội, một mặt là công cụ, là động lực đ ể thực hiện nhiệm

vụ phát triển ấy Trong các vân đ ề của giáo dục, người ta cúng không th ể không bàn tới giáo dục ngôn ngữ Ở địa bàn dân tộc m iền núi, nơi mà

Trang 5

dàn sinh sông s ử dụng nhiều ngôn n g ữ khác nhau,

giáo dục ngôn n g ữ có vai trò quan trọng đặc biệt trong m ục tiêu phát triển đổng đều và bình đẳng giữa các dân tộc Ngôn ngữ; với tư cách là ph ư ơ n g tiện giao tiếp, đảm bảo cho các dân tộc m iền núi giao lưu, thống nhất và bình đắng với nhau Ngôn

n gữ; với tư cách là công cụ của tư duy, nó giúp cho các dân tộc có điều kiện đ ể vươn lên hoà m inh vào khôi thông nhất giữa các dân tộc.

Chính vì Iìhững lý do n h ư vậy, có th ể nói giáo dục ngôn n g ữ ở vùng dân tộc miền núi là một vấn

đề h ết sứ c quan trọng Nó là môi quan tâm lớn cúa Đ ảng, Nhà nước ta, của các ngành, các tỉnh

có đồng bào dân tộc thiểu sô' cư trú đ ể phát triển

xã hội kinh t ế m iền núi dân tộc N ói một cách khác, k h i đề cập đến vấn đề này, cũ n g có nghĩa

là ch ú n g ta đang hướng tới một vân đề vừa thiết thực, do giá trị thực tiễn bức xúc của nó, vừa có

ý nghĩa lý luận, do n h ững bài học được rú t ra từ

n h ữ n g giá trị thực tiễn ấy đ ể thực hiện m ột cách tốt hơn vàn đ ề giáo dục ngôn n g ữ tro n g v ù n g dân tộc m iền n ú i trong nh ững năm tới.

2 Giáo dục ngôn n g ữ là một vấn đ ề bao hàm nhiều công việc khác nhau Giáo dục ngôn n g ữ ở vùng dân tộc m iền núi lại càng có nh iều vấn đề hơn nữa ơ đây chúng tôi không có ý định (và không

th ể làm được trong phạm vi nhiệm vụ của m ình) bàn tới tất cả n h ử n g vấn đề đó C húng tôi chỉ hạn chê cho m inh ở n h ững vàn đề là : s J Tinh trạng

Trang 6

giáo dục song rígử ở một sỏ vùng ỉãnh thỏ và liên quan đến vấn đề này là tình hình giáo dục tiếng Việt ở đây ; b/ Phàn tích thực trạng giáo dục tiếng

và ch ữ viết dàn tộc của một sô' dàn tộc trước đây

và hiện nay ỉ c/ Thực trạng ý kiến về giáo dục ch ữ viết truyền thông của dân tộc chẳng hạn n h ư dân tộc Thái ở nước ta và d/ N hận xét cùa chúng tỏi

về n h ữ n g vấn đề đó.

Trong các vân đề mà chúng tôi đặt ra ở trên,

ch ú n g tôi cúng không th ể đề cập đến tất cả n h ữ n g khía cạnh có ỉiên quan đến từng vấn để, cụ thể

Vì rằng, chẳng hạn n h ư vân đề giáo dục tiếng Việt

ở một vùng lãnh thổ dân tộc, sẽ là n h ững công việc n h ư chương trình, sàch giáo khoa, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, n h ữ n g ■ phương tiện phụ trợ v.v và v.v Đ ề cập đến khía cạnh này chúng tỏi chỉ muốn phân tích nó ở góc độy chẳng hạn, tại sao ở một sô' địa bàn dân tộc cụ thê người ta đã không và không đòi hỏi phải dạy song ngừ, trong khi ở một địa bàn khác lại không n h ư vậy Hay

n h ư ở vấn đề thứ hai, chúng tôi muốn qua bài học

đã có này, rút ra được một bài học gì khấc cho công việc tiếp theo N h ư vậy, tuỳ từng khía cạnh lựa chọn, ở tnổi một vấn đề cụ thê, chúng tôi đều

h ư ớ n g tới m ục đích tìm xem : Cách giáo dục ngôn

n g ữ nào đ ể hữu ích nhất cho m ục tiêu phát triển vùng dàn tộc và miền núi trong muôn vàn các công việc phải làm.

Đ ể thực hiện được n h ữ n g m ục tiêu mà chúng tôi

Trang 7

tự đặt ra đó, cách tiếp cận vân đ ề có một vai trò quan trọng đặc biệt Điều trước tiên đỏi vói chúng tôi là không xa ròi thực tế Thực t ế ở đây là thực

t ế được phản ánh qua n h ữ n g thực trạng giáo dục ngôn n g ữ ở n h ữ n g thời gian lịch s ử khác nhau Điều này h ết sức quan trọng, bởi vì, n h ư chúng tôi đả nói ở trên, m ục tiêu của công việc này là nêu ra

n h ững lý do đ ể đề xuất cách lựa chọn biện pháp giáo dục ngôn n g ữ nào đó có lợi nhất cho s ự phát triến dán tộc m iền núi Muốn làm được điều này không th ể không xuất phát từ s ự thực lịch sử Ở đây về thực chất ch ú n g tôi coi điều tra tổng họp

là ưu tiên hàng đâu của công việc.

Cùng với công việc điều tra tổng họp, chúng tôi

sẽ tiến hành phân tích - tổng họp đ ể từ đó có th ể rút ra n h ữ n g nhận xét cụ thể Thao tác mà chúng tôi vừa nói, không xa lạ gì với chúng ta, sẽ cho phép đánh giá thực trạng và từ lôgíc đánh giá này, nêu lên n h ữ n g vân đ ề mà từ đó chúng ta rút ra những bài học hữu ích cho việc giáo dục ngôn n g ữ

ở vùng miền núi dân tộc Có thê nói phương pháp làm việc mà chúng tôi thực hiện ở đây là phương pháp truyền thông.

3 Không phải cho đến bây giờ chúng ta mới đặt ra nhiệm vụ xem xét vấn đ ề giáo dục ngôn

n g ữ ở vùng dân tộc m iền núi Do ý thức được tầm quan trọng của công việc và n h ờ có s ự nhạy cảm tinh t ế về vân đề dân tộc, Đ ảng và Nhà nước Việt Nam đã sớm hoạch định cho m ừih một chính sách

Trang 8

đúng đắn về các vấn đề khác nhau, trong đó có vấn đề giáo dục ngôn n g ữ ở vùng dân tộc m iền núi T ừ n h ữ n g năm còn xây dựng đề cưoĩìg văn hoá (1943), đến n h ữ n g năm xảy dựng H iến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1960), rồi quyết định sô'153/CPcủa Hội đồng Chính phủ tháng8/1969, tiếp đến Quyết định 53/CP tháng 2/1980, hay n h ư Luật p h ổ cập giáo dục tiểu học tháng 8/1991 và gần đây nhất, Thông tư sô 1 - GD/ĐT hướng dẩn việc dạy học tiếng nói và ch ữ viết dản tộc của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 3/2/1997, Đ ảng và Nhà nước ta đều đề cặp đến vấn đ ề này Trải qua nhiều thập ký thực hiện chính sách ấy, chúng ta một m ặt thu được n h ữ n g thành tích đáng kê, song củng còn không ít nh ững nhược điểm, n h ữ n g khuyết điểm

cả trong bản thân chính sách lẩn trong việc thực hiện từng vấn đề cụ thể Vả lại, cuộc sống có bao nhiêu vấn đ ề mới nảy sinh Vì t h ế góp phần đánh giá lại thành quả đã làm được, xác định n h ử n g cái chưa làm được là một công việc cần thiết và rất h ữ u ích cho tương lai.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng xin nhân m ạnh rằng,

n h ữ n g ý kiến và chúng tôi nêu ra ở đây là s ự chắt lọc từ cách nhìn thực tê của riên g mình Vì thê

1 ÌÓ chỉ là một tài liệu tham khảo cần thiết đ ể cùng với nhiều ý kiến khác nữa, đôi khi trái ngược nhau, giúp cho n h ữ n g ai được giao nhiệm vụ hoạch định chính sách giáo dục ngôn ngữ, s ử d ụ n g nỏ n h ư một công cụ làm việc hửu ích cho họ.

Trang 9

4 Đê có được những trang viết này, chung tôi

đã có dịp đi nghiên cứu thực tê tại địa bàn các tỉnh Ninh Thuận, Khánh Hoà (đ ế nghiên cứu thực trạng dạy ch ữ Chăm trong đồng bào Chăm) Quảng Binh, N ghệ An, Quảng Trị, Thừa Thiên H u ế (để nghiên cứu tình hình giáo dục miền núi), An Giang (vùng người Chăm ờ Châu Đốc) ì à tỉnh thuộc vùng Nam Bộ, Lai Châu, Son La, Yên Bái, Lao Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Son và Hoà Bình là

n h ữ n g tỉnh phía Bắc củng n h ư một sô' vùng khác nửa Ở n h ữ n g noi này, chúng tôi đã được s ự giúp

đỡ tận tình của các cấp chính quyền cũng n h ư các Ban Dân tộc miền núi S ở Văn hoá, S ở Giáo dục

và p h ò n g Giáo dục noi chúng tôi tìm hiểu về tình hình giáo dục ở đây và nhân dân địa phương C húng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn về s ự giúp đỡ và cưng cấp tư liệu liên quan đến vấn đề giáo dục tại địa bàn cho chún g tôi Chính n h ờ n h ữ n g tài liệu quý giá này mà chúng tôi có được n h ữ n g nhận xét cụ

th ể về tinh hình giáo dục dân tộc m iền núi đ ể trình bày ở đây.

Báo cáo khoa học của chúng tôi sẽ gồm n h ữ n g phần sau đây :

A LỜ I NÓ I ĐẨU

B N Ộ I DUNG CHÍN H

C hương I : Tình hình giáo dục ngôn n g ữ ở một vài địa bàn dân tộc m iền núi nước ta.

Trang 10

Chương II : Tình hình dạy - học ch ữ và tiếng dân tộc ở một vài dân tộc, vùng dân tộc ở nước ta.

th ể hiện, công trình ưu tiên cho n h ữ n g vân đ ề thuộc chương I và II, một vấn đề mà tác giả nhận thấy tính cấp bách của nó.

Trang 11

CHƯƠNG I TÌNH HÌNH GIÁO DỤC NGỒN NGỮ Ở M ỘT VÀI ĐỊA BÀN

bày ở đây là vấn đề giáo dục tiếng Việt cho học sinh phổ thông vùng dân tộc miền núi Ớ đất nước ta luật giáo dục tiểu học quy định, trẻ em ở lứa tuổi học đường, việc đến trường đi học vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ Đối với yùng dân tộc miền núi, cấp học này càng có một vai trò vô cùng quan trọng Nó có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh về tiếng Việt là ngôn ngữ Quốc gia Mỗi một công dân của nước Việt Nam, nắm bắt và sử dụng tốt tiếng Việt vừa là một quyền lợi nhưng vừa là một nghĩa vụ Khía cạnh quyền lợi thể hiện ở chỗ, có nắm bắt được tiếng Việt, mỗi công dân mới có điều kiện vươn lên để có điều kiện bình đẳng vói các thành viên của cộng đồng và chính nhờ có sự bình đẳng này, cá nhân góp phần đảm bảo sự bình đẳng của toàn xã hội

Trang 12

Đối với đồng bào các dân tộc, tiếng mẹ đẻ của

họ không phải là tiếng Việt Thế nhưng để trở thành một công dân Việt Nam thực thụ, điều tốt nhất đối vói họ là sử dụng tốt tiếng Việt bên cạnh sự sử dụng tốt tiếng mẹ đẻ Bởi vì tiếng Việt có cương

vị là ngôn ngữ chính thức của Nhà nước, là ngôn ngữ văn hoá, ngôn ngữ giáo dục của Quốc gia Như vậy về thực chất các cộng đồng dân tộc thiểu sô của nước ta phải là những cộng đồng song ngữ Tuy nhiên trong thực tế, trình độ song ngữ tiếng dân tộc - tiếng Việt ở mức độ nào còn tuỳ thuộc vào từng điều kiện giáo dục ngôn ngữ cụ thể

Trên nguyên tắc một cách nhìn như vậy, dưới đây chúng tôi sẽ lần lượt trình bày tình hình giáo dục ở một vài địa bàn dân tộc miền núi cụ thể

Từ thực trạng giáo dục này, hy vọng chúng ta sẽ rút ra được những nhận xét ích lợi liên quan đến vấn đề giáo dục ngôn ngữ, trước hết là vấn đề giáo dục tiếng Việt

I TÌNH HÌNH GIÁO DỤC Ở ĐỊA BÀN DÂN

TỘC MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG BÌNH

1.1 Những n ét chính về diều kiện tự nhiên

x ã hôi c ủ a đ i a bàn

Ở Quảng Bình, các dân tộc thiểu sô đều cư

Trang 13

trú ờ phần phía Tây của tỉnh Đây là một vùng miền núi có độ cao trung bình từ 800 - l.OOOm

so với mặt biển Với độ cao ấy, lại khuôn trong một diện tích rất hẹp (từ ven biển đến đường biên giới phía Tây trung bình khoảng 30km), nơi đây

là một vùng có địa hình dốc và hiểm trở Địa bàn sinh sống của đồng bào các dân tộc nằm trong địa bàn của vùng núi đá vôi Kẽ Bàng nói tiếng,

có nhiều hang động và sự chênh lệch về độ cao khá lớn nên hệ thống sông ngòi dốc và chằng chịt Điều kiện địa hình này là nét điển hình của vùng miền Tây Quảng Bình và nó là một trở ngại thực

sự cho những người dân cư trú ở đây

Cùng với khó khăn về địa hình, miền Tây Quảng Bình nói riêng và Quảng Bình nói chung là một vùng có đặc điểm khí hậu hết sức khắc nghiệt

Nó vừa chịu ảnh hưởng gió mùa của miền Bắc, vừa chịu ảnh hưởng gió mùa của miền Nam nên nơi đây mỗi năm có từ 1.700 -1.900 giờ nắng (khoảng

từ 200 - 240 ngày/năm), cộng thêm với gió Lào khô nóng thổi trong một thời gian dài, noi đây

là một vùng khô hạn điển hình Chính vì vậy, khi chuyển sang mùa mưa, ở đây lại trở thành vùng ngập lụt Có thể nói cả điều kiện địa hình lẫn điều kiện khí hậu đều nghiệt ngã vói vùng đất

mà bà con dân tộc ít người ở đây sinh sống,

Trang 14

Hiện nay, vùng đất khắc nghiệt này có hai dân tộc thiểu sô cư trú Đó là dân tộc Bru - Vân Kiều (với các nhóm địa phương Vân Kiều, Măng Cong, Trì, Khùa) và Chứt (vói các nhóm Arem, Mày, Rục, Sách, Mã Liêng) Ngoài ra còn có những người Nguồn, hiện vẫn được coi là những người Việt, vốn trước đây được nhiều nhà nghiên cứu coi là một bộ phận của người Mường cư trú tập trung trong địa bàn huyện Minh Hoá Người ta có thể nhận thấy những đặc điểm cơ bản có liên quan đến sinh thái xã hội của hai dân tộc cư trú ở đây như sau :

566.701ha, có khoảng 12.826 đồng bào dân tộc sinh sống Sô dân cư này cư trú trong 99 điểm tụ cư (làng, bản hoặc điểm cư trú) Xét về số lượng bình quân, mỗi điểm tụ cư của đồng bào dân tộc Quảng Bình có khoảng 120 cư dân sinh sống Có thể nói, trong một vùng có điều kiện tự nhiên và khí hậu

khắc nghiệt như vậy, đ ặc điểm n ổi b ậ t n h ấ t là

cư dân ở đày sốn g thưa thớt trong những bản làn g nhỏ cách xa nhau Chúng ta có thể lấy ví dụ :

Xã Dân Hoá của huyện Minh Hoá có diện tích

tự nhiên 49.413ha, cả dân tộc Bru - Vân Kiều (nhóm Khùa) và Chứt (nhóm Mày, Sách, Mã Liềng) ở đây chỉ có 3.812 người định cư trong 34 bản Với một diện tích rộng trong một địa bình phức tạp

Trang 15

như vậy, khoáng cách giữa các làng bản gần như biệt lập, tách biệt nhau Rõ ràng, đặc điểm nói trên, như sau này ta sẽ tháy, có tác động không nhỏ đến thực trạng giáo dục ngôn ngữ của vùng đồng bào dân tộc ở đây và do vậy nó có ảnh hưởng nhất định đến việc hoạch định và thực hiện chủ trương giáo dục ngôn ngữ dân tộc ở trong vùng.

như vậy, đồng bào các dân tộc Bru - Vân Kiều

và Chứt sống ở vùng miền Tây Quảng Bình có một cuộc sống kinh tê xả hội có thể nói là rất thấp, thấp tới mức thiếu ăn một nửa thời gian trong năm và là căn bệnh kinh niên của vùng Những con sô sau đây phản ánh và chứng minh cho chúng ta thấy rõ điều đó Theo con sô thống

kê công bô 1995 của Ban Dân tộc và miền núi Quảng Bình, thu nhập bình quân tháng của đồng bào dân tộc thiểu sô ở đây bình quân 33.000 đồng/người/tháng, trong đó nguồn trợ giúp thường xuyên của các tổ chức xã hội và Nhà nước chiếm gần 20% Nhóm thu nhập cao (nhóm Bru - Vân Kiều) bình quân 41.500đồng/người/tháng Nhóm thu nhập thấp như Mã Liềng chỉ có 22.900đồng/ người/tháng, Rục 22.500 đ/người/tháng Thậm chí nhóm Pacô của dân tộc Bru - Vân Kiều chỉ thu nhập 12.400đ/người/tháng Huyện Minh Hoá, mức thu nhập bình quân của đồng bào dân tộc trong

Trang 16

huyện chỉ đạt bình quân 24.400đồng/ngưòi/tháng Với mức thu nhập như vậy, chúng ta thấy ưu tiên hàng đầu của người dân ở đây sẽ là miếng cơm manh áo Vì thê vấn đề giáo dục ở đây nói chung

và giáo dục ngôn ngữ nói riêng không phải là vấn

đề đặt ra đối với họ Và như vậy, vói tư cách là đối tượng tiếp nhận giáo dục ngôn ngữ, đời sống thấp kém của đồng bào dân tộc là một đặc điểm

có tác động không nhỏ đến những vấn đề triển khai việc giáo dục ngôn ngữ ở đây

c Từ hai đặc điểm sinh thái xã hội nói trên, tất yếu sẽ còn có một đặc điểm thứ ba tác động

đến vấn đề mà chúng ta quan tâm Đó là đòi

sốn g văn h oá của đồng b ào dân tộc ở m iền Tây

Q uảng B ìn h cũng tỷ lệ thuận với đời sôn g kin h

tê của họ Chúng ta biết rằng, văn hoá, với tư

cách là nhân tố phát triển nhưng cũng là thành quả của quá trình ấy Vì thế đời sống văn hoá thấp kém noi đây ảnh hưởng không nhỏ đến giáo dục ngôn ngữ

Nhìn ở ba đặc điểm chính của sinh thái xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu sô phần miền núi phía Tây Quảng Bình, chúng ta thấy rằng,

rõ ràng đây là một địa phương mà điểm xuất phát của việc giáo dục nói chung là quá thấp và đồng thời nhu cầu giáo dục và đặc biệt là giáo dục ngôn ngữ củng không phải là vân đề cấp bách đối với

Trang 17

chính bản thân đổng bào Điều này có nghĩa là trong ưu tiên hàng ngày mà đồng bào dân tộc ở đây nói tới, sự cấp bách không phải là việc học

mà là việc làm Nhưng ngược lại, chính tình hình

ấy lại cho thấy sự quá cấp bách mà chính quyền

và Nhà nước cần phải làm là phát triển xã hội

ở vùng lãnh thổ đặc thù này Đầy là một mâu thuẫn đòi hỏi nếu được xử lý tốt mới có thể thu được những kết quả cụ thể trong công cuộc giáo dục để phát triển vùng dân tộc miền núi nói riêng

ở Quảng Bình và rộng ra là ở những vùng khác nhau có tình hình tương tự

1.2 Thực trạ n g giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộ c m iền núi tỉnh Quảng B ình

Dưới đây, để có được những thông tin về thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi Quảng Bình, chúng tôi sẽ xem xét thực trạng đi học của đồng bào dân tộc ở đây Như chúng tôi

đã trình bày, đối với đồng bào dân tộc, đi học về đại thể là tiếp thu những kiến thức phổ thông nói chung Nhưng do đặc điểm các lớp học này thường là những lớp khởi đầu, và như ở Quảng Bình, ngôn ngữ được giảng dạy là tiếng Việt nên trong thực chất việc đi học ở đây trước hết là sự tiếp nhận ngôn ngữ Ngôn ngữ lúc này vừa có vai trò của công cụ truyền kiến thức, vừa có vai trò

Trang 18

là tri thức tiếp nhận Do đó có thể nói về cơ bản,

giáo dục ở đây chính là giáo dục ngôn ngữ Điều

mà chúng ta đang và sẽ khảo sát

Khi xem xét tình trạng đi học của đồng bào

dân tộc ở đây, chúng tôi sẽ phân tích ở nhiều khía

cạnh khác nhau để làm nổi bật "thực trạng giáo

dục" tức là cái mà chúng ta cần quan sát Trước

hết đó là tình trạng đi học so với dân sô của đồng bào dân tộc nơi này Điều ấy sẽ cho chúng ta biết

thực trạng củng như nhu cầu giáo dục ngôn ngữ của đồng bào dân tộc Bru - Vân Kiều và Chứt

ở Quảng Bình nói chung Sau đó chúng ta sẽ nhìn

nhận trình độ học vâ'n Chúng tôi nghĩ rằng trình

độ đó sẽ phản ánh trình độ sử dụng và tiếp nhận

ngôn ngữ của cư dân vùng miền núi này Một khía

cạnh khác cũng cần được quan sát là trạng thái

đi học của các tộc người khác nhau trong vùng

Sự khác nhau này sẽ phản ánh sự khác nhau của

việc tiếp nhận ngôn ngữ của các tộc người khác

nhau V à cuối cùng việc xem xét ngôn ngữ nào được sử dụng trong giáo dục nói chung sẽ phản ánh khu vực dân tộc miền núi này có hay không

có giáo dục song ngữ

a T hự c trạn g đi h ọ c của h ọ c sinh các dân tộc

th iểu sô' ở m iền núi Quảng B ìn h :

Theo tài liệu thống kê do Ban dân tộc miền

núi Quảng Bình cung cấp năm 1995, xét chung

Trang 19

trong toàn bộ các dân tộc thiểu sô nơi đây, hầu hẽt sỏ ngưoi trong độ tuổi đi học vẩn chưa đến trường Con sô này chiêm tói 76,01%, trong đó ở lứa tuổi đi học câp I chưa đên trường là 62,5%

và lứa tuỏì đi học cấp II chưa đến trường là 96,3% Phân tích tình hình trên theo địa bàn từng huyện,

sô chưa đi học sẽ là như sau :

Huyện Tỷ lệ

chung

Lứa tuổi cấp I

Lứa tuổi cắp II

Các dân tộc tại địa bàn Minh Hóa 70,3% 52,2% 97,2% B ru-V ân Kiều Tuyên Hóa 51,0% 37,7% 71,0% Chứt

Quảng Ninh 88,8% 69,0% 98,3% B ru-V ân Kiều

Lệ Thủy 88,1% 81,9% 97,4% B ru-V àn Kiều

Những con sỏ thống kê nói trên cho thấy hầu hết trẻ em lứa tuổi đến trường của đồng bào dân tộc noi đây không được đi học Điều này củng đồng nghĩa với việc hầu hết các em không được giáo dục về mặt ngôn ngữ Riêng huyện Tuyên Hoá, mặc dù có con sô xấp xỉ 50% trẻ em đi học nhưng

nó không phản ánh thực chất việc đi học của đồng bào dân tộc trong huyện Bởi vì nơi đây, theo thông

kê năm 1995 chỉ có 310 trẻ em dân tộc ở tuổi

Trang 20

đến trường, một con sô chưa phản ánh đúng tỷ

lệ sô dân của toàn huyện

Đi vào thực chất, chúng ta biết rằng con sô

đi học ở lứa tuổi cấp I có cao hơn lứa tuổi cấp

II Nhưng do hầu hết đi học ở các lớp lồng ghép nên chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu Hơn nữa, sau khi đi học những năm học đầu của cấp

I và bỏ học hẳn ở cấp II, trình độ ngôn ngữ của các em ở đây hầu như không đạt ở mức giao tiếp bình thường Trong thực tế, khi tiếp cận với vùng này chúng tôi nhận thấy hầu hết thanh niên, thiếu niên ở lứa tuổi đến trường đều chưa nói được tiếng Việt ở mức ban đầu, đặc biệt là thanh thiếu niên các tộc người thuộc các nhóm Bru - Vân Kiều ở biệt lập

b Khi xem xét ở trình độ học vấn, chúng ta cũng lại thấy tình trạng giáo dục ngôn ngữ ở địa bàn đang ở mức độ giống như một ô trống Nhìn nhận vấn đề này chúng ta có thể xem xét nó ở hai cấp ơ cấp độ toàn dân thì tình hình nói chung

là như sau : Gần một nửa sô dân không biết chữ

và không sử dụng được tiếng Việt Con sô cụ thể vào năm 1995 là như sau : Trong dân tộc Bru

- Vân Kiều, nhóm Vân Kiều là 51%, nhóm Khùa

là 47,1%, nhóm Mã Liềng là 85,1%, nhóm Rục là 54% Với con số này, chúng ta biết chắc rằng

Trang 21

gần một nửa dân sô ở đây không sử dụng được tiếng Việt và như vậy có thể nói số lượng này không được thụ hưởng sự giáo dục ngôn ngữ.

Ở cấp độ toàn dân thì như vậy, còn ở nhóm

"có văn hoá" thì sao Tình hình thống kê năm 1995

cũng không cho chúng ta con sô sáng sủa hơn

Lý do là trong sô còn lại này hầu hết chỉ dừng lại ở trình độ tạm gọi là cấp I Trong dân tộc Bru

- Vân Kiều, vói 50% còn lại "có văn hoá" thì nhóm Vân Kiều có tới 45,3% lẩ câp I và như vậy chỉ 4,7% có trình độ cấp II V V Trong dân tộc Chưt, nhóm Sách là nhóm có điều kiện đến trường nhất (ở gần người Việt và các làng người Việt, ở thấp hơn các dân tộc khác ) nhưng trong hơn 80% còn lại "có đi học" này, có tói 55,1% chỉ dừng lại ở cấp I và chỉ có 25% là vươn tới được cấp II Con

sô thống kê của Ban miền núi dân tộc Quảng Bình thông báo sô người có trình độ cấp II của đồng bào dân tộc miền núi noi đây là 4,8% (nhóm Vân Kiều 4,7% nhóm Sách 25%, nhóm Mã Liềng 2,4%,

nhóm Rục 2%, nhóm Khùa 0,3%) Còn sô người

"có trình độ văn hoá cấp III" chỉ đạt tỷ lệ 0,14%

so vói tổng số, trong đó nhóm Sách có 0,09%, nhóm Khùa 0,04% Các nhóm còn lại là 0,01% Như vậy

có thể thấy, với con sô gần 13 nghìn người dân

tộc, ở Quảng Bình chỉ có khoảng 13 - 14 người

"có trình độ cấp III"

Trang 22

Khi gặp gỡ những ngưòi có trinh độ cấp III này, chúng tôi thấy họ hầu hết là học sinh các trường dân tộc nội trú, được chọn cử đi học ở địa bàn không phải địa bàn dân tộc Điều này cho thấy sô người có trình độ cấp III này không phản ánh giáo dục dân tộc miền núi theo đúng tính chất địa bàn của nó.

Phân tích các con sô nói trên chúng ta thấy rằng sự giáo dục mà người dân tộc ở đây được thụ hưởng chủ yếu là ở cấp I Khi khảo sát thực

tê trong vùng, chúng tôi lại được biết rằng, hầu hết học sinh cấp I dừng lại ỏ lóp 1 tức là lớp khỏi đầu Ví dụ trong năm học 1990 - 1991, xóm Lũ Làn của người Rục (Thượng Hoá, Minh Hoá) có

5 em nhỏ đến trường thì hết năm học chỉ còn 1

em Đây là sô liệu mà thầy giáo Đinh Thanh Bình, người đã có thâm niên dạy học 10 năm ở hai làng Yên Hợp và Hợp Hoà ở xã Thượng Hoá cung cấp [2 ; 174] Như vậy có thể nói, đại đa số người được coi là có trình độ văn hoá "chỉ ở mức độ văn hoá lớp 1 hay lớp 2" Điều này củng đồng nghĩa với sự giáo dục ngôn ngữ ở đây chỉ là đặt bước đầu cho "sự phát âm tiếng Việt hay học vần" mà thôi, ơ trình độ này chỉ cần một thời gian nào

đó không sử dụng tiếng Việt, người được thụ hưởng giáo dục sẽ quay trở lại tình trạng ban đầu

Trang 23

Trở lại vân đề trong độ tuổi đi học của các tộc người khác nhau ở trong vùng, chúng ta thấy tình bình được thể hiện qua bảng thông kê sau đâv của Ban dân tộc và miền núi Quảng Bình ('năm 1995) :

/

Dân tộc

Ty lệ TỘC người chung (%)

Phân chia theo cắp học (%)

ở tuổi cấp I

ờ tuổi cắp II /

Dân tộc - Nhỏm Vàn Kiều 17,1 27,0 01,8 Bru-Vàn Kiêu - Nhóm Khùa 23,5 38,3 01,4

- Nhóm Tri 00,0 00,0 00,0

- Nhóm Măng Cong 10,9 10,9 00,0

Dân tộc - Nhóm Sách 63,9 92,1 20,7 Chín - Nhóm Mày Ị 14,4 25,8 00,5

Trang 24

Chúng ta thấy trong dân tộc Chứt, nhóm Sách (63,9%) có sô trẻ em đi học đông nhất, sau đó là nhóm Arem (48,6%) và thứ đến nữa là nhóm Rục (28,9%) Sở dĩ có hiện tượng này là vì, như đã nói, nhóm Sách sống gần những làng của người Việt và địa hình ít phức tạp hơn, còn như nhóm Arem và nhóm Rục, tuy điều kiện địa hình phức tạp hơn ở vùng sâu và vùng xa hơn nhưng lại được chú ý hơn của chính quyền địa phương nên

sô học sinh đi học đạt tỷ lệ cao hơn ơ đây chúng

ta thấy vai trò của chính quyền đối với việc đi học gần như mang tính quyết định, cho dù sự khó khăn ấy là ở mức nào đi nữa

Nếu xem xét ở lứa tuổi đi học (cấp I hay câp II), chúng ta thấy gần như hầu hết trẻ em chỉ

đi học ở cấp I, còn ở lứa tuổi cấp II, sô học sinh

đi học gần như thưa thớt Điều này cho thấy giáo dục nói chung và giáo dục ngôn ngữ nói riêng đang

ở mức độ gần như khởi đầu Thực tê này cho biết

ở trình độ ngôn ngữ như vậy, khó có thể làm được một điều gì để có thể phát triển văn hoá xã hội của vùng miền núi dân tộc ở đây, khó có thể bằng con đường giáo dục để góp phần nâng cao đời sống thấp kém của họ

1.3 Môt vài nhân xét• •

Từ thực trạng nói trên, chúng tôi thấy có thế

Trang 25

rút ra được một vài nhận xét liên quan đến nhiều vân đề giáo dục nói chung và cụ thể là giáo dục ngón ngữ nói riêng Đó là các nhận xét :

a Ở địa bàn dân tộc miền núi phía Tây Quảng

Bình, k h ô n g có tình trạn g g iáo dục song ngữ Thực

tê n à y là bình thường đôi với đồng bào dân tộc

ở đây và điều bình thường n ày được chấp nhận

Nhìn bề ngoài, vấn đề có vẻ là đơn giản nhưng

nó cho ta thấy rằng sở dĩ có được là vì :

- Người Bru - Vân Kiều và ngưòi Chứt ở đây

là những tộc người quá nhỏ và phân tán Có lẽ

vì tình hình này mà trong cư dân việc coi chuyện giáo dục tiếng Việt là một điều tất yếu để họ có thể sử dụng ngôn ngữ Quốc gia trong giao tiếp

ở môi trường xã hội lớn hơn, do đó họ không có nhu cầu giáo dục tiếng nói của mình, thứ tiếng nói chỉ bó hẹp trong cộng đồng dân tộc

- Do đời sống xã hội của họ quá thấp (như phần phân tích về những đặc điểm sinh thái xã hội đã điểm qua), hình như đồng bào dân tộc nơi đây không đặt ra và không coi nhu cầu giáo dục song ngữ cũng như giáo dục nói chung là thiết

yếu Vì vậy có thể nói, r ấ t có t h ể nhu cầu g iáo

dục song ngữ tỷ lệ thuận với đời sốn g x ả hội, văn hoá của vùng đồng b ào d âh tộc và chỉ khi một

Trang 26

lúc nào đó đời sống kinh tế phát triển, nhu cầu học song ngữ sẽ thay đổi.

b Trong một hoàn cảnh như vậy, tác độn g của

chính quyền đôi với g iá o dục là r ấ t quan trọng,

Khó khăn như người Rục, người Arem nhưng nhờ có sự quan tâm của Nhà nước tỷ lệ đi học cao hơn các tộc người khác trong vùng Nói cách khác, vai trò của Nhà nước địa phương là hết sức quan trọng

c Giáo dục và giáo dục ngôn ngữ, nếu chỉ vì

nó và xuất phật từ nó sẽ không đạt được những kết quả trong đồng bào dân tộc Chứng cớ là ở đây, sô người đi học cấp II quá ít, họ không có

"nhu cầu" bức bách để phát triển xã hội Vì thế giáo dục ngôn ngữ ở những đồng bào dân tộc có đặc điểm sinh thái xã hội như ở miền Tây Quảng

Bình p h ả i có "sự tác động" tích cực đồng thời với

sự p h ấ t triển kin h t ế - x ả hội Chính vì lý do này

mà sô lượng học sinh, chẳng hạn nhóm Trì, đi học ít hơn nhiều so vói sô học sinh của các nhóm khác mặc dù sự giúp đỡ của chính quyền địa phương đều như nhau Như vậy, sự tương tác để dẫn tới một sự phát triển thực sự của đồng bào dân tộc như ở Quảng Bình sẽ là sự tác động đa chiều, trong đó giáo dục ngôn ngữ vừa là kết quả, vừa

là phương tiện để phát triển xã hội nói chung

Trang 27

II TINH HINH GIAO DỤC ơ ĐỊA BAN

DÂN TỘC TỈNH LÀO CAI

2.1 Những nét chính về diều kiện tự nhiên

và x ã hội tỉnh Lào Cai

Nếu như Quảng Bình là một vùng miền núi dân tộc chỉ nằm ở phần miền Tây của tỉnh với điều kiện tự nhiên khó khăn và phức tạp thì Lào Cai là một tỉnh hoàn toàn nằm ở miền núi cao vùng biên giới phía bắc nước ta Tổng diện tích

tự nhiên của tỉnh này là 8.045km2 với phía Đông

là tỉnh Hà Giang, phía Tây là Sơn La và Lai Châu, phía Nam là Yên Bái và phía Bắc là biên giới với Trung Quốc Lào Cai củng là một tỉnh có một địa hình hết sức khó khăn với nhiều vùng núi cao có độ dốc 25độ trở lên chiêm 84% diện' tích toàn tỉnh Toàn tỉnh có 447.998 người (số liệu năm 1989) với 16 dân tộc khác nhau sinh sống, trong

đó người Kinh có sô lượng đông nhật (178.081 người), thứ đến người Mông (99.363 người), người Tày (61.145 người), người Dao (56,864 người), người Thái (37.584 người), người Nùng (17.191 người), người Giáy (17.602 người), người Phù Lá (5.286 người), người Hà Nhì (2.227 người), người Hoa (1.697 người), người Khamú (1.189 người),

người Lào (1.189 người), người Bố Y (970 người),

Trang 28

ngưòi Mường (316 người) và ngưòi La Chí (168 người) V V Mật độ trung bình của cư dân ở Lào Cai là 64 người/km2.

Do địa hình hiểm trở, Lào Cai có khá nhiều sông suối Về mặt khí hậu, đây là vùng chuyển tiếp giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam, tuy là vùng không có bão nhưng thường có những cơn lốc mạnh Nhiệt độ trung bình hàng năm là

2 1 °c - 2 3 °c với lượng mưa hàng năm thuộc vào diện nhiều, tập trung vào các tháng 6 - 8 âm lịch

Có thể nói khí hậu của tiểu vùng này cũng không phải là vùng khí hậu thuận tiện cho việc phát triển nông nghiệp

Trong tình hình như vậy, có thể coi tỉnh Lào Cai là tỉnh miền núi dân tộc điển hình của phần lãnh thổ phía Bắc nước ta Tỉnh điển hình này theo chúng tôi có thể nhận diện được qua những đặc điểm sau đây :

a Đây là địa bàn đa dân tộc cư trú đan xen

với nhau, trong đó người Mông là dân tộc thiểu

sô' có s ố lượng đông nhất Nói một cách khác đây

là địa bàn chủ yếu của người dân tộc Mông Sự

cư trú đan xen này thể hiện ở chỗ vói sô dân toàn tỉnh nói trên, ngưòi dân tộc cư trú trong 1.428 thôn bản của 180 xả phường Toàn tỉnh chỉ có trên 25 xã cư trú toàn tòng một dân tộc (chủ yếu

là xã người Mông) Còn lại hầu hết là những xã

Trang 29

đa dân tộc nhiều là sáu, ít là hai dân tộc Đây

là một đặc điểm mà theo chúng tôi, cực kỳ quan trọng đối với việc giáo dục ngôn ngữ Bởi vì, ở những địa bàn như thê này, giáo dục đơn ngữ thuận lợi hơn nhiều đối với giáo dục đa ngữ

b Tuy là một tỉnh vùng cao nhưng Lào Cai lại có một vị trí chiến lược nằm trên đường giao thông nối khu Việt Bắc với khu Tây Bắc, có giao thông đường thuỷ, đường bộ và đường sắt Chính

vì vậy, phần trung tâm của tỉnh nơi có đường giao thông, kinh tế, xã hội, văn hoá phát triển hơn

nhiều những vùng xa trung tâm Tình trạn g n à y

làm cho địa bàn của tỉnh, tuy là m ột tỉnh m iền

n ú i dân tộc thuần túy nhưng gần n h ư có sự k h á c

b iệt : Khu vực gần đường giao thông với các thị

xã, thị trấn có đời sống và xã hội kinh tê phát triển hơn và khu vực xa đường giao thông thuộc vùng sâu vùng xa còn chậm phát triển Điều này cũng cho phép chúng ta giải thích vì sao ở nơi đây lại có nhiều dân tộc khác nhau đan xen như vậy và do đó, vấn đề ngôn ngữ, công cụ giao tiếp trong địa bàn lại có một vai trò quan trọng hơn nhiều những địa bàn khác

c Trong số các dân tộc thiểu sô' có mặt ở Lào Cai, người Mông là người có sô lượng đông nhất

Về mặt lý thuyết có thể coi tiếng Mông là ngôn

ngữ vùng của các cư dẬn trong tỉnh Tuy nhiên,

Trang 30

điều này chỉ đúng với những tiểu vùng có đông người Mông cư trú như SaPa, Bát Xát, Mường Khương V V Những vùng còn lại bình thường thì tiếng Tày, tiếng Nùng, tiếng Giáy, tiếng Thái

là những ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi hơn tuỳ từng vùng cụ thể Đặc điểm này cho chúng

ta một ví dụ quan trọng về vấn đề giáo dục ngôn

ngữ : Ngay địa bàn một tỉnh như Lào Cai, vấn

đ ề g iá o dục son g n gữ m uôn được đặt ra và thực

h iện s ẽ là m ột công việc p h ứ c tạp và đòi h ỏ i p h ả i được chu ẩn bị m ột cách chu đáo, tỷ mỉ.

Chúng tôi cho rằng, ba đặc điểm chính về xã hội của địa bàn dân tộc miền núi Lào Cai như đã phân tích ở trên có tác động quan trọng đến vấn

đề giáo dục ngôn ngữ trên địa bàn Vấn đề chính

là làm th ế nào, cách thức tiến hành ra sao để nâng cao năng lực ngôn ngữ cho cộng đồng dân cư trong tỉnh và thông qua công cụ giao tiếp này, thúc đẩy

sự phát triển văn hoá, kinh tê xá hội của họ

2.2 Đôi n ét về thực trạ n g giáo dục ngôn ngữ

củ a địa bàn dân tộc m iền núi L ào Cai :

Trước hết, chúng ta xem xét "trình độ văn hoá" của các dân tộc trong tỉnh Lào Cai Trình độ văn hoá tuy không phải là vấn đề giáo dục ngôn ngữ nhưng qua đây, người ta có thể nhận thấy những hình ảnh và mức độ giáo dục nói chung và giáo

Trang 31

dục ngôn ngữ nói riêng Điều này là một thực tế,

vi một người có "văn hoá cao" trong môi trường dân tộc gán như đồng nghĩa vói người "đi học nhiều" Chính sự đi học này là cơ sở để chúng ta có thể nâng cao năng lực ngôn ngữ Như vậy, trình độ văn hoá ở một khía cạnh nào đó phản ánh thực trạng giao dục ngón ngữ của đồng bào dân tộc.Theo sô liệu của Sở Giáo dục tỉnh Lào Cai :

"Trình độ vãn hoá" các dân tộc tỉnh Lào Cai là như sau [13 ; 26] :

TT Dàn

tộc

Sỏ dàn

Trang 32

Bảng thống kê này cho chúng ta thấy mây net khái quát như sau :

- Về đại thể, tỷ lệ dân tộc ở Lào Cai được thự hưởng sự giáo dục ngôn ngữ là không cao, thậm chí có thể nói là ở mức độ rất thấp Tình hình này thể hiện rõ nhất ở người Mông, thứ đến là người Hà Nhì và người Khamú Đối với ba dân tộc này số học sinh thụ hưởng giáo dục ở cấp I không đạt được con sô % dân tộc nào mà ở dưới mức không phẩy Trong sô 13 dân tộc được thông

kê, chỉ có hai dân tộc (ở đây là Dao và Hoa) là

có trên hai con sô phần trăm người có trình độ văn hoá Tình hình này cho phép chúng ta có thể nói rằng sự giáo dục ngôn ngữ ở địa bàn dân tộc Lào Cai còn rất kém phát triển

- Trong sô các dân có mặt ở Lào Cai, mức độ thụ hưởng giáo dục và giáo duc nói chung là không như nhau Nhìn một cách toàn diện, dân tộc Dao

là dân tộc thu nhận sự giáo dục nhiều nhất Họ

có tới 20,2% số người có trình độ văn hoá cấp I

ơ hệ thống phổ thông trung học và trung học chuyên nghiệp, họ có tới 5% Đặc biệt họ có tới 1,5% sô người có trình độ Đại học Đây là một con sô rất đáng trân trọng đối với đồng bào dân tộc Sau người Dao là người Hoa Các chỉ sô của họ củng gần xấp xỉ với chỉ số của người Dao Các dân tộc

Trang 33

này có sỏ ngưoi đi học, tuy vậy, cũng chưa vưọt con sô 10% Những dân tộc còn lại hầu như rất

ít đưọ'c (hoặc không) đên trương và do đó họ nhận được sự giáo dục nói chung và cụ thể là giáo dục tiếng Việt nói riêng rất ít Đặc biệt, chúng ta có thể nói người Mông ở đây là cư dân ít nhận được

sự giáo dục nhất Con sô tổng cộng 0,4% người

đi học ở các cấp là một con sỏ quá tháp của hàng trăm nghìn cu' dân ỏ' đáy

- Từ hai nhận xét được rút ra ở trên, dẩn đến một n^ận xét thứ ba mang tính hệ quả Cò thể nói, nhu cầu giáo-dục nói chung và giáo dục ngôn ngữ ở miền núi như địa bàn Lào Cai là nhu cầu câp thiết Nêu không, mục tiêu phát triển bền vững các dân tộc thiểu số lồ một mực tiêu không có trong thực tê Và nêu nói đến tính câp thiết của địa bàn thì địa bàn người Mông là địa bàn cấp thiết của sự cấp thiết Như vậy, khi nói đến giáo dục nói chung và giáo dục ngôn ngữ nói riêng ở đây, người ta cần phải có sự phân loại ở các cấp độ khác nhau cho từng dân tộc

Sự đánh đồng mức độ trong một địa bàn đa dân tộc như tỉnh Lào Cai sẽ là cách nhìn nhận không phản ánh tính đặc thù của thực tê phát triển ngôn ngữ

Trang 34

2.3 K h ảo sá t th ự c trạn g giáo dục ngôn ngũ ỏ' m ột địa bàn nhỏ tron g tỉnh Lào Cai :

Ở trên, chúng ta tìm hiểu thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở phạm vi toàn tỉnh Để thây rõ và chi tiết hơn tình hình và qua đó để có được một cái nhìn toàn diện hơn, dưới đây chúng ta thử phân tích ở một địa bàn cụ thể với một dân tộc cụ thể

Ở một địa bàn cụ thể, chúng tôi khảo sát các lớp học qua một trường nội trú và trung tâm bổi dưỡng thường xuyên của huyện Sa Pa Con sô này thu thập vào năm 1995 của sinh viên Ngôn ngữ K38 và có sự tham gia của chúng tôi [13 ; 27] Tình hình này là như sau :

- Ở các lớp học viên đi học bổ túc văn hoá

và xoá mù, nếu họ là người cao tuổi phần lớn họ nghe và nói tiếng Việt khá thành thạo Vì thế, đối với lớp người này, vấn đề đối với họ là xoá

mù chữ theo đúng với nghĩa của nó, tức là dạy cho họ tiến tới hoàn thiện về tiếng Việt ở cấp độ chữ viết và văn bản chứ không phải là giáo dục ngôn ngữ ở các mặt nói chung

- Đối với học sinh dân tộc (ở ỉứa tuổi từ 7 - 16) khi học ở các lớp 1, 2, 3, 4 đặc biệt là ở lớp

1, trong giờ học nhất thiết phải sử dụng đồng thời tiếng dân tộc đề giáo dục tiếng Việt Lý do là ở lứa tuổi nàv, học sinh dân tộc ở đây hầu như chưa

Trang 35

biết tiếng Việt Vì thế, khi đi học, tức là trong thụ hưởng sự giáo dục bằng tiếng Việt, để các em

co thể hiểu đúng những điều thầy cô giảng dạy, các thầy cô cần phải sử dụng tiếng dân tộc để giải thích Từ lóp 4 và nhất là lớp 5, tình hình này thay đổi ơ lứa tuổi này, nhờ tích luỹ được tiếng Việt qua các lớp 1, 2, 3, các em có thể theo học hoàn toàn bằng tiếng Việt Lúc này, việc giáo dục tiếng Việt mới có tác dựng đối với các em Con sô sau đây ở một lóp thuộc trường dân tộc nội trú huyện Sa Pa cho thấy điều đó

bằng tiếng Việt của các dân tộc ở đây, vai trò của tiếp xúc là hết sức quan trọng và có thể nói

là phương thức chính trong những thời gian trước đây Chứng cớ là đa sô người đi xoá mù, nếu

ở lứa tuổi trưởng thành thì xoá mù chữ chứ không

Trang 36

hoàn toàn xoá mu tiếng Việt Như vậy, trong giáo dục ngón ngữ, nhất là khi giáo dục tiếng Việt

ở môi trường đồng bào dân tộc như ở đây, phương thức "giáo dục thông qua tiếp xúc" này là rất quan trọng và có tác dụng tích cực

b Tuy nhiên chúng ta cũng thấy rằng, con đường giáo dục ngôn ngữ thông qua giáo dục trường lóp nói chung tiết kiệm thời gian hơn nhiều Sự thay đổi về khả năng sử dụng tiếng Việt giữa lóp 1,

2, 3, và lóp 4, 5 của học sinh nội trú huyện Sa

Pa cho thấy điều đó Ban đẩu một lớp học chỉ

có 1/5 (tức 20%) có thể sử dụng tiếng Việt, nhưng chỉ cần ba năm học, con sô này là 100% Như vậy nếu tổ chức giáo dục tốt việc giáo dục ngôn ngữ

sẽ thuận lợi hơn nhiều và tiết kiệm được thời gian cho đồng bào dân tộc hơn nhiều

c Chúng ta có chứng cớ hậu thuẫn cho một nhận xét là để có thê đạt kết quả tốt trong giáo dục nói chung và giáo dục ngôn ngữ nói riêng, vai trò của tiếng dân tộc là nhân tô không thể thiếu Tình trạng 15/19 em ở lớp 1, 7/24 ở lớp

2 và 5/21 ở lốp 3 nhất thiết phải sử dụng tiếng dân tộc để giải thích khi học tiếng Việt ở trường dân tộc nội trú Sa Pa minh chứng điều đó Điều này là hết sức quan trọng bởi vì nó liên quan đến nhiều vấn đề, trước hết là vấn đề đào tạo giáo

Trang 37

viên cho dân tộc miền núi Nếu như chăng hạn, giáo viên cấp I ử một trường thuộc vùng dân tộc miền núi nào đó mà đưọ'c chuẩn bị chu đáo tiêng dân tộc ớ vung mình sẽ làm việc, người ấy nhất định giảng dạy tốt hơn khi những giáo viên đó không biết tiếng dân tộc Bình thường điều này

có vẻ đơn giản Nhưng đê làm được điều nói trên, chúng ta cần phải có một chương trình đào tạo

và một kê hoạch hữu hiệu trong việc thực hiện.Bây giờ chúng ta tìm hiểu thực trạng giáo dục ngôn ngữ của một dân tộc cụ thể Dân tộc thiểu

số mà chúng ta quan sát là tộc người Xá Phó của dân tộc Phù Lá ở bản Nậm Rịa, xã Hợp Thành, Cam Đường (Lào Cai) Đây là một bản Xá Phó toàn tòng vói 64 hộ, 397 người, trong đó, nam giới

có 147 người, chiếm 44%, nữ giới có 187 người, chiếm 56%

Về trình độ văn hoá, nếu tính từ 8 tuổi trở lên, tình hình của người Xá Phó ở Nậm Ria là như sau [14 ; 34] :

Trang 38

Con sô thông kê nói trên cho chúng ta thây

rất rô chỉ có gần 5% số người Xá Phó từ 8 tuổi

trở lên được thụ hưởng sự giáo dục Và như vậy cũng chỉ có gần 5% được thụ hưởng sự giáo dục ngôn ngữ Qua đó, có thể nói trong địa bàn dân tộc miền núi Lào Cai, tộc người Xá Phó nói riêng đang ở mức độ thụ hưởng giáo dục tiếng Việt rất thấp Điều này một lần nữa chứng minh cho chúng ta thấy rằng trong cùng một địa bàn giữa các dân tộc có sự khác biệt về sự tiếp nhận giáo dục nói chung và giáo dục ngôn ngử nói riêng

Vì thê khi thực hiện chính sách giáo dục nhất thiết chúng ta phải giải thích rõ nguyên nhân của sự khác biệt ấy để có những chính sách va bước đi phù hợp

Có lẽ do sự thụ hưởng giáo dục ngôn ngữ (ở đây là giáo dục tiếng Việt) thấp như vậy nên cộng đồng người Xá Phó ở Nậm Rịa là một cộng đồng

đa ngữ Tình hình này phản ánh tính lôgíc của vấn đề Bởi vì thôn N ậm 3Rịa của người Xá Phó định cư trong một địa bàn có nhiều tộc người khác nhau Đó là bản của người Tày, bản của người Giáy Trong tình hình này, nhất thiết phải có một ngôn ngữ có chức năng làm công cụ giao tiếp chung

Lẽ ra, ngôn ngữ chung đó phải là tiếng Việt, ngôn ngữ quốc gia Nhưng do chỗ, sự giáo dục tiếng Việt ở địa bàn chưa đáp ứng thực tế đó cho nên

Trang 39

người Xá Phó ở đây là một cộng đồng đa ngữ Con số sau đày minh chứng điều đó :

19 - 24 tuổi

25 - 34 tuổi

35 - 59 tuổi

60 tuổi trở lẻn

Việt 6 35,5 9 39,1 6 25,0 8 21,0 0 0 Nam Tày 2 11,8 5 21,6 12 50,0 7 17,5 4 36,0

Giáy 2 11.8 6 26,0 15 625 10 25 4 36,0 Hán 0 0 0 0 1 4,00 1 1,2 2 18,0

24) sử dụng tốt hơn trong khi những người Xá Phó lứa tuổi này không sử dụng tiếng Quan Hoả

Trang 40

Lại một lần nữa chúng ta nhìn thấy vai trò của giáo dục nói chung và giáo dục ngôn ngữ nói riêng trong quá trình thụ hưởng ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số.

2.4 M ột vài nhận xét chung về địa bàn tỉnh

L ào C ai :

Qua những quan sát cụ thể về tình hình giáo dục ngôn ngữ ở địa bàn tỉnh Lào Cai, chúng ta

có thể rút ra một vài nhận xét có tính tổng kết như sau :

a Giáo dục nói chung và giáo dục tiếng Việt nói riêng trong đồng bào các dân tộc thiểu số đang

ở mức độ thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của việc tiếng Việt trở thành ngôn ngữ Quốc gia ở vùng lãnh thổ này Và như vậy, nhiệm vụ phát triển bền vững dân tộc miền núi, đưa họ phát triển bình đẳng vói các dân tộc khác là một thực tê chưa thực hiện được Chính vì vậy trong toàn địa bàn, tiếng Việt chưa trở thành một ngôn ngữ quốc gia theo đúng nghĩa của nó

b Có thể nói ở thời điểm hiện tại (từ năm

1992 đến nay), giáo dục ngôn ngữ ở địa bàn dân tộc miền núi Lào Cai về cơ bản chỉ là giáo dục đơn ngữ, giáo dục tiếng Việt (chúng tôi nói về cơ bản vì thi thoảng có những noi có sự giáo dục song ngữ nhưng là công việc đơn nhất, không mang

Ngày đăng: 20/01/2021, 14:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Lương Bèn. Tình hình phát triển chữ Tày - Nùng, trong"Những vấn đề chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam'1 NXB KHXH, Hà Nội 1993, trang 78 - 90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam
Tác giả: Lương Bèn
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1993
4. Hoàng Thị Châu, v ề việc đặt và đưa chữ viết các dân tộc thiểu số vào đời sống cư dân miền núi nước ta, trong"Những vấn đề chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam". NXB KHXH, Hà Nội 1993, trang 91 - 101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam
Nhà XB: NXBKHXH
5. Bùi Chỉ. Văn hoá dân tộc với ngôn ngữ dân tộc, trong "Những vấn đề chính sách ngôn-ngữ ở Việt Nam ”. NXB KHXH, Hà Nội 1993, trang 102 - 104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chính sách ngôn-ngữ ở Việt Nam
Nhà XB: NXB KHXH
7. Cầm Cường. Người Thái nên học và sử dụng chữ Thái như thế nào ở thời đại ngày nay, trong "Những vấn đề chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam". NXB, Hà Nội 1993, trang 105 - 114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam
8. T rầ n Trí Dõi. Thực trạng kinh tế và văn hoá cúa ba nhóm tộc người đang co nguy cơ bị biến mất. NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kinh tế và văn hoá cúa ba nhóm tộc người đang co nguy cơ bị biến mất
Tác giả: T rầ n Trí Dõi
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc
Năm: 1995
10. Trần Trí Dõi. Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu sô ớ Việt Nam. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu sô ớ Việt Nam
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
13. N guyễn Văn Hiệu. Bước đầu tìm hiều sự phân bố và tình hình sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc ít người ở Lào Cai. Luân văn tốt nghiệp Đại học, Hà Nội 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiều sự phân bố và tình hình sử dụng ngôn ngữ của các dân tộc ít người ở Lào Cai
Tác giả: N guyễn Văn Hiệu
Nhà XB: Đại học, Hà Nội
Năm: 1995
15. Nguyễn Hữli Hoành. Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người HMông. Tạp chí Ngòn ngữ, số 1 - 1997, tr.53-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người HMông
Tác giả: Nguyễn Hữli Hoành
Nhà XB: Tạp chí Ngòn ngữ
Năm: 1997
16. Hội Văn nghệ Dân gian V iệt Nam . Giữ gìn vả phát huy tài sản văn hoá các dân tộc ở Tây Bắc và Tây Nguyên.NXB KHXH, Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn vả phát huy tài sản văn hoá các dân tộc ở Tây Bắc và Tây Nguyên
Tác giả: Hội Văn nghệ Dân gian V iệt Nam
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1998
17. Hoàng Văn Ma. vấn đề tiếng và chữ Tày - Nùng, trong "Những vấn đề ngôn ngữ ở Việt Nam". NXB KHXH, Hả Nội 1993, trang 199 - 213 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề ngôn ngữ ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Văn Ma
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1993
19. Hoàng Trần Nghịch. Nỗi vấn vương về kho sách chữ Thái cổ, trong "Giữ gìn và phát huy tài sản văn hoá các dân tộc ở Tây Bắc và Tây Nguyên". NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1998, trang 188 - 194 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi vấn vương về kho sách chữ Thái cổ
Tác giả: Hoàng Trần Nghịch
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1998
20. Vũ O anh. Phát huy tính chủ động, sáng tạo của cả nước tiếp tục sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá miền núi. Trong “Văn hoá và sự phát triển các dân tộc ở Việt Nam". NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội 1996, trang 29 - 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và sự phát triển các dân tộc ở Việt Nam
Tác giả: Vũ O anh
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc
Năm: 1996
22. C ầm Trọng. Trong tình hình hiện nay nên ứng sử với tiếng nói và chữ viết của dân tộc Thái ở nước ta như thế nào Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trong tình hình hiện nay nên ứng sử với tiếng nói và chữ viết của dân tộc Thái ở nước ta như thế nào
Tác giả: C ầm Trọng
1. Ban dân tộc m iền núi Q uảng Bình. Các dân tộc thiểu số ở Quảng Bình (tình hình kinh tế - xã hội), Đổng Hới 1995 Khác
2. Ban dân tộ c và tôn giáo Lào Cai. Danh mục các thành phần dân tộc tỉnh Lào Cai, Lào Cai 1997 Khác
6. Chương trình Thái học Việt Nam. Văn hoá và lịch sử người Thái ở Việt Nam. NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội 1998 Khác
9. T rần T rí Dõi. Thực trạng và ỷ nghĩa giáo dục ngôn ngữ ờ vùng dân tộc miền núi Quảng Bình. Tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiêp, số 9/1997 Khác
11. Bế V iết Đ ẳng (chủ biên). 50 năm các dân tộc thiểu số Việt Nam (1945 - 1950). NXB KHXH, Hà Nội 1995 Khác
12. Đ ỗ Q uang Hào. Tình hình sử dụng song ngữ xã Thu Cúc, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Luận văn tốt nghiệp Đại học, Hà Nội 1998 Khác
14. N guyễn Văn Hiệu. Bước đầu tiếp cận ngôn ngữ và nhặn diện ngữ âm Xá Phó trên cứ liệu Xá Phó Cam Đường, Lào Cai. Luận án Thạc sỹ Ngôn ngữ học. Đại học KHXH và Nhàn văn, Hà Nôi 1998 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w