Trong trường họp cần thiết và có thể, chúng tôi sẽ giải thích cách dùng câu tục ngữ thành ngừ Thái Mương được sưu tầm có thể và thường được sử dụng trong điều kiện nào3. Cuối c[r]
Trang 1HỘI VĂN NGHỆ DÂN GIAN VIỆT NAM • • •
TRẦN TRÍ DÕI - VI KHĂM MUN
NGƯỜI THÁI MưdNG
(TẬP II)
Trang 3D ự ÁN C Ô N G BỐ, P H Ỏ BIÉN
T À I SẢN VĂN H Ó A , VĂN N G H Ệ DÂN GIAN
V IỆ T NAM( E l, Ngỗ 29, Tạ Quang Bửu - Bách Khoa - Hà Nội Điện thoại: (04) 3627 6439; Fax: (04) 3627 6440
Email: duandangian@gmail.com)
BAN C H I ĐẠ O
1 GS TSKH TÔ NGOC THANH• Trưởng ban
3 GS.TS NGUYỄN XUÂN KÍNH Phó Trưởng ban
6 N hà văn ĐÕ KIM CUÔNG ủ y viên
8 N hà giáo NGUYỀN NGỌC QUANG ủ y viên
10 Ông TRƯƠNG THANH HỪNG Uỷ viên
G IÁ M Đ Ó C VĂN P H Ò N G D ự ÁN
ThS ĐOÀN THANH NÔ
Trang 4Chịu trách nhiệm nội dung:• • • o
G S.TSK H T Ô N G Ọ C T H A N H
Thẩm địnlt nội dung:
H Ộ I Đ Ò N G T H Ẩ M Đ ỊN H BẢN T H Ả O
Trang 5L Ờ I G IỚ I T H IỆ U
Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (VNDGVN) là một
tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, nam trong khối Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam
Quyết định số 82/NV, ngày 01/03/1967 của Bộ Nội vụ thay mặt Chính phủ đã cho phép Hội Văn nghệ dân gian thành lập và hoạt động trên phạm vi toàn quốc và có mối liên hệ nghề nghiệp với các tổ chức khác ở trong nước và nước ngoài
Tôn chỉ mục đích của Hội là “ Sưu tầm , nghiên cứu,
phổ biến và truyền dạy vốn văn hóa - văn nghệ dân gian
các tộc ngưò'i Việt Nam ” Trên cơ sở thành quả của các
công việc trên, Hội là một trong những đội quân chủ lực góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa - văn nghệ mang đậm bản sắc dân tộc đã được ông cha ta sáng tạo
và giữ gìn trong suốt mấy nghìn năm của lịch sử dân tộc
N hững giá trị sáng tạo đó thể hiện mối quan hệ của các tộc người Việt Nam với thiên nhiên thông qua các tri thức sản xuất nông nghiệp; với xã hội thông qua phong tục tập quán, hội xuân; với nhân sinh quan thông qua các nghi lễ vòng đời người; với vũ trụ và thế giới tự nhiên đã được siêu nhiên hóa thông qua các loại hình tín ngưỡng tôn giáo; với lý tưởng thẩm mỹ thông qua các sáng tạo văn học nghệ thuật Ở mỗi tộc người Việt Nam, những lĩnh vực và hình thái văn hóa - văn nghệ này lại được thể hiện trong một sắc
Trang 6thái riêng Chính kho tàng văn hóa đa dạng đó là nội dung,
là đối tượng hoạt động của hội viên Hội V N D G V N
Sau gần 50 năm hoạt động, được sự lãnh đạo của Đảng
và sự chăm sóc của N hà nước, Hội V N D G V N đã lớn mạnh với trên 1.200 hội viên, s ổ công trình do hội viên của Hội
đã hoàn thành lên đến 5000 công trình, hiện đang được lưu giữ và bảo vệ tại Văn phòng Hội
Được sự quan tâm của Ban Bí thư và Thủ tướng Chính
phủ, D ự án “Công bố và phổ biến tài sản văn hóa - văn
nghệ dân gian các dân tộc Việt N am ” đã được phê duyệt
Trong giai đoạn I (2008 - 2012), Dự án đã xuất bản 1.000 công trình, tác phẩm văn hóa - văn nghệ dân gian các dân tộc; Giai đoạn II (2013 - 2017) Dự án sẽ tiếp tục công bổ thêm 1.500 công trình nữa
Hy vọng, các xuất bản phẩm của Dự án sẽ cung cấp cho bạn đọc trong và ngoài nước một bộ sách m ang tính chất bách khoa thư về các sắc màu văn hóa của các tộc người Việt Nam, phục vụ thiết thực vào việc tra cứu, m ờ rộng hiểu biết của bạn đọc về truyền thống văn hóa giàu có và độc đáo đó; góp phần xây dựng nền “văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Dự án m ong nhận được ý kiến chỉ bảo kịp thời của bạn đọc gần xa
Xin chân thành cảm ơn!
Trưởng Ban C liỉ đạo thực hiện D ự án
G S.TSK H TÔ N G Ọ C TH ANH
Trang 7L Ờ I NÓI ĐẦU
Ở Việt Nam, người “Thái M ương” (hay còn gọi là
“Thái Hàng Tổng”) sống ở Tương Dương Nghệ An Công trình “Tục ngữ và thành ngữ người Thái M ương” tập II, dưới dạng song ngữ Thái Mương - Việt, mà chúng tôi ?iới thiệu ở đây là sự tiếp tục công trình “Tục ngữ và thành ngữ người Thái M ương” năm 2010 Đây là kết quả của sự hợp tác biên soạn giữa một tác giả công tác tại một-trường Đại học ở Hà Nội và một trí thức người Thái M ương ở Tương Dương Nghệ An Người công tác tại trường Đại học ở Hà Nội là người chuyên nghiên cứu về tiếng Thái Mương và chữ Thái M ương (chữ Lai Pao) ở Tương Dương Nghệ An trong nhiều năm Còn trí thức địa phương là một giáo viên người Thái đã về hưu, có mong muốn chừ viết Lai Pao của tộc người mình được “tái sinh” và ngày một phát triển, Bởi vì, gần một thế kỷ qua, không biết vì lý do gì mà kiểu chữ Thái Lai Pao gần như bị biến mất Chỉ từ năm 1997, loại chữ viết này mới được giới thiệu lại và rồi sau đó đã có một phong trào đông đảo người Thái M ương mong muốn học tập và lưu giữ lại loại chữ viết cổ truyền thống này của người Thái trong khu vực
Với mục đích là để lưu giữ lại những “ lời nói có vần” giống như “tục ngữ và thành ngữ” của người Thái Mương
Trang 8(hay còn gọi là Thái Hàng Tổng) ở Tương D ương Nghệ An dưới dạng chữ viết Lai Pao, công trình này không chỉ là một công trình thuần tuý sưu tầm văn học dân gian của người dân tộc thiểu số ở một địa bàn cụ thể mà nó còn mong muốn trở thành một tài liệu hữu ích cho lớp trẻ của người Thái M ương nói tiếng Thái, học và dùng chữ Thái Lai Pao Chính vì vậy, trong công trình này, mỗi m ột câu tục ngừ hay thành ngữ v.v Thái M ương được phiên âm latinh, đổi dịch theo nguyên tắc từ đối từ và sau đó được dịch sang tiếng Việt Rồi sau đó nó sẽ được viết lại bàng ch ữ Thái Lai Pao, chữ viết cổ của người người Thái M ương (hay còn gọi
là Thái Hàng Tổng) ở Tương Dương Nghệ An Cách làm như vậy không chỉ giúp ích cho việc học chữ Thái, mà còn rất tiện lợi cho việc nghiên cứu tiếng Thái cổ Bởi vì, từ ngữ được dùng trong thành ngữ tục ngữ thường là những
từ ngữ có từ lâu đời, do đó giá trị ngữ nghĩa củ a cho phép người ta hiểu nhiều điều quan trọng về tiếng Thái Mương nói riêng và tiếng Thái ở Việt Nam nói chung Chúng tôi xin nêu một ví dụ cụ thể trong câu tục ngữ:
1 Khâu (ỉủ nghía: xấc nửng
2 M ìa non xàn g: x ấ c nửng
3 X ản g non hông: x ấ c nửng
Lúa ở kho: giặc mội/Lúa ở kho: một (thứ) giặc.
Vợ nằm cạnh: giặc mộtIVợ nằm cạnh: m ột (thứ) giặc.
Voi ở chuồng: giặc mỘXlVoi ở chuồng: m ột (thứ) giặc.
Trang 9Trong câu tục ngừ này, người ta gặp từ xấc (Thái) tương ứng với từ “giặc” (Việt) Sự tương ứng này, nếu so sánh với từ của ngôn ngừ khác trong nhóm Việt - Mường
cổ là tiếng Rục chẳng hạn (có dạng ngừ âm là kachấk) thì
sẽ thấy mối quan hệ Việt - Mường và Thái - Tày cổ xưa là như thế nào Thêm vào nữa, cách nói xấc nửng của tiếng Thái Mương tương đương với “giặc một” của tiếng Việt, nếu không bị sự hài âm chi phối, sẽ cho thấy trật tự từ (ngừ pháp) của hai ngôn ngữ có sự khác nhau nhất định Những hiện tượng nói trên ở một câu tục ngừ là hết sức có giá trị trong nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, lịch sử tiếng Thái cũng như mối quan hệ vay mượn giữa hai ngôn ngữ này
Và từ ngôn ngừ, chắc chắn chúng ta sẽ hiểu biết không ít những vấn đề văn hoá xã hội cổ xưa của hai cộng đồng người Thái và người Việt
Để có được công trình này, nhóm tác giả đã tiến hành công việc như sau Sau những lần gặp gỡ do cùng quan tâm
về chừ viết Lai Pao trong vùng, hai tác giả đã thống nhất cách thức sưu tầm và biên soạn Tác giả là trí thức người Thái Mương ở Tương Dương Nghệ An chịu trách nhiệm sưu tầm nhừng “ lời nói có vần” (giống như tục ngữ, thành ngữ) và những bài dân ca, ca dao của người Thái Trên cơ
sở tài liệu sưu tầm ấy, tác giả công tác tại trường Đại học ở
Hà Nội biên soạn lại công trình như nó có hiện nay Có thể nói, đây là một sự hợp tác có kết quả giữa giới nghiên cứu khoa học ở Trung ương và những trí thức địa phương luôn
Trang 10trăn trở với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá của dân tộc mình nhằm góp phần bảo tồn bản sắc đa văn hoá của dân tộc Việt Nam trong thời kỳ thế giới hội nhập.
Chúng tôi hy vọng rằng, công trình này, cùng với những công trình về những “ lời nói có vần” giống như “tục ngữ, thành ngừ” và những bài dân ca, ca dao của người Thái ở địa bàn khác (như người Thái Đăm, Thái Khao v.v), chúng
ta sẽ có được cái nhìn toàn cảnh về tục ngừ, thành ngữ và dân ca, ca dao của dân tộc Thái ở Việt Nam, một dân tộc thiểu số có ngôn ngữ, chữ viết và văn hoá rất phát triển Trên cơ sở sự sưu tàm ấy, chúng ta mới có thể tiến tới xây dựng một tổng tập đầy đủ về tục ngừ, thành ngữ của các dân tộc thiểu sổ ở Việt Nam Khi đó, chúng ta sẽ có đầy đủ một kho tàng quý báu về tục ngữ, thành ngữ của dân tộc Việt Nam, một dân tộc thống nhất nhưng thực sự đa dạng
về văn hoá
ơ phần tập hợp thuộc năm 2010, chúng tôi đã giới thiệu
và giải nghĩa 272 câu thành ngừ và tục ngừ Ở phần tập hợp thuộc năm 2011 này, chúng tôi tiếp tục giới thiệu thêm 365 câu N hư vậy, nếu tập hợp cả hai năm, chúng tôi tập hợp được 637 câu tất cả Đây sẽ là nhừng “ lời ăn tiếng nói” của người Thái ở miền tây Nghệ An, góp phần làm phong phú vốn văn hóa dân gian của người Thái ở Việt Nam
Chúng tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn về những góp ý, động viên và cổ vũ công việc của chúng tôi
Trang 11M Ộ T VÀI QUY ƯỚC
1 Chữ Thái Mương (Thái Hàng Tổng) chúng tôi phiên
âm latinh là phiên âm theo kiểu chừ quốc ngừ Theo đó các
âm tiếng Thái có giá trị ngừ âm là [f] được ghi là ph, [c] được ghi là ch, [k’] được ghi là kh, [p] được ghi bàng nh,
[q] được ghi bằng ng và [kw] được ghi bằng qu. Những trường hợp còn lại có giá trị ngữ âm như chữ quốc ngữ của người Kinh
Theo kết quả nghiên cứu hiện nay của riêng chúng tôi, tiếng Thái M ương ở Tương Dương Nghệ An có 05 thanh Năm thanh này được chúng tôi phiên âm la tinh bàng 05 con dấu trong chữ quốc ngừ của tiếng Việt là không dấu
(a), huyền (à), sắc hay đôi khi là nặng (á/ạ), hỏi (ả) và ngã
(ă) Cách phiên âm này không có nghĩa là nó giống như thanh tiếng Việt mà chỉ tương tự mà thôi Sự khác biệt giữa thanh tiếng Thái Mương và tiếng Việt bao gồm cả sự khác nhau về cao độ và đường nét Chẳng hạn, từ tiếng Thái Mương cõn “ roi, roi vọt” cũng không thể đọc như con hay
cồn của tiếng Việt mà phải đọc nhẹ hơn cả hai thanh trên,
ở đây, vì để tránh sự phức tạp của tri thức ngữ âm đối với đông đảo bạn đọc, chúng tôi cho ràng tạm thời lựa chọn một cách phiên âm đơn giản như vậy là phù hợp và dễ sử dụng hơn cách sử dụng dấu thanh khác
Trang 122 Ở mỗi câu tục ngữ thành ngữ Thái Mương, sau mỗi câu phiên âm, như đã nói, trước hết chúng tôi nhất loạt sẽ dịch từ đổi từ sang tiếng Việt Cách dịch này là nhằm để cho người đọc hiểu chính xác nghĩa từ trong tiếng Thái, giúp ích không chỉ việc học mà còn giúp ích cho việc nghiên cứu tiếng Thái Mương Cũng xin nói thêm ràng, tuy nhất loạt là dịch từ đối
từ, nhưng trong trường hợp cần thiết, chúng tôi vẫn chêm thêm từ vào cho rõ nghĩa Khi ấy từ chêm sẽ được để trong dấu ngoặc đơn 0 để đánh dấu đó là từ chêm Sau khi giải thích nghĩa của từng từ trong câu, chúng tôi sẽ dịch nghĩa thoát nghĩa sang tiếng Việt, phù hợp với ý nghĩa hay cách dùng mà người Thái Mương sử dụng Trong trường họp cần thiết và có thể, chúng tôi sẽ giải thích cách dùng câu tục ngữ thành ngừ Thái Mương được sưu tầm có thể và thường được
sử dụng trong điều kiện nào Cuối cùng, trong trường hợp cho phép, chúng tôi sẽ lựa chọn một hoặc nhiều câu tục ngữ, thành ngừ Việt tương ứng hoặc gần tương ứng để chú dịch Câu tục ngữ, thành ngữ Việt tương ứng hoặc gần tương ứng đôi khi chỉ là tương đương ở một ý nào đó m à thôi
3 Mỗi câu tục ngữ thành ngữ v.v Thái M ương trong phần này sẽ được chúng tôi đánh số thứ tự tiếp theo phần thứ nhất
Vì chừ Thái Lai Pao hiện vẫn phải viết tay, chưa có phần mềm
để chế bản vi tính như chữ Thái Đăm 'ở Sơn La nên ở phần tiếp theo này chưa có chữ Lai Pao đính kèm Đây cũng là một thiểu sót của chúng tôi khi biên soạn song ngữ Thái Mương (chữ Lai Pao) - Việt Hy vọng trong tương lai, khi chữ Lai Pao được vi tính hoá, chúng tôi sẽ bổ sung thiếu sót này
Trang 13T Ụ C N G Ủ , T H À N H NGỦ T H Á I M Ư Ơ N G
(Tiếp theo tập I)
273 P h í kì tì x ở cả tịp
Ma ỉa nhằm vào giỏ
Ghi chú: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, p h í có nghĩa là “m a”, khì có nghĩa là “ỉa”, xở có nehĩa là “trúng, nhàm”, cả tịp có nghĩa là “giỏ thường mang đi hái rau hoặc măng trong rừng”
Câu này nói lên sự may mắn không đáng có
Ví dụ: Một người chẳng có gì tài ba nhưng lại được làm một việc quan như chức vụ, hoặc lấy được một cái gì đó nặng về yếu tố may mắn Người ta thường nói về sự lấy được, sự có được đó là do ma đưa Người ta chặc lưỡi bảo: Chẳng qua “phí khì xở cả tịp” mà có thôi Câu này có ý như
Trang 14Ghi chủ: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, ốt có nghĩa là “nén cơn tức giận để làm lành, gắng”, nhĩn có nghĩa là “nhịn nhục”, bỏ có nghĩa là “ không” , dàn có nghĩa
là “sợ”, tải có nghĩa là “chết”, non có nghĩa là “ngủ”, xái
có nghĩa là “trưa”, bọt có nghĩa là “đui”, bọt tá có nghĩa là
275 Cởi xảy năm cả.
Gửi trứng với ác (quạ).
Ghi chú: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, cởi có nghĩa là “gửi”, xảy có nghĩa là “trứng”, năm có nghĩa là
“với”, cá có nghĩa là “quạ, con ác”
Câu này có ỷ nghĩa như câu dịch “Gửi trứng với ác”
276 M ãy p á i đuòn pòn g nhao
Côn x a háo khi khò.
Cây cụt ngọn lóng dài
Người ba toác bần cùng.
Trang 15Ghi chủ: Trone tiếng Thái Mương, ở câu này, mãy có nehĩa là “cây họ nứa”, pái có nghĩa là “ngọn”, đuồn có nghĩa là “cụt” , pái đuồn có nghĩa là “cụt ngọn”, pòng có nghĩa là “ lóng”, nhao có nghĩa là “dài”, pòng nhao có nghĩa là “ lóng dài”, côn có nghĩa là “người”, xa háo có nghĩa là “ba hoa, ba toác tự xưng ta đây là giàu có, có một nói mười, có mười nói t r ăm khi khò có nghĩa là “nghèo khổ, nghèo khó, bần cùng”
Ta thấy cây nứa, cây tre nói chung thuộc hệ cây có lóng Cây cụt ngọn trăm phần trăm đều có lóng dài Cũng như cây cụt ngọn, tất cả những con người hay ba toác, ba hoa đều là con người nghèo khó, bần cùng Đây là sự so sánh hai hình ảnh rất đồng điệu:
Khi xãn pưởn xăng.
Ngu ngốc người ta khinh
Xuề xòa hay bị trộm
Khôn ngoan người ta sợ
Nhác nhớn người ta ghét.
Trang 16Ghi chừ. Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, ngõa có nghĩa là “ngu, ngốc, đần độn” , pưởn có nghĩa là “họ, người ta”, dể có nghĩa là “khinh”, khể có nghĩa là “người có tính xuề xòa”, lặc có nghĩa là “ăn trộm, ăn cắp”, lắc có nghĩa
là “khôn”, dàn có nghĩa là “ sợ, hãi” , khì xãn có nghĩa là
278 Bỏ m i hẻo côn tải ớt.
Không có mả người chết nhịn.
Ghi chú: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, bỏ cỏ nghĩa là “không”, mỉ có nghĩa là “có”, bỏ mi có nghĩa là
“không có”, hẻo có nghĩa là “mồ, m ả”, côn có nghĩa là
“người”, tái có nghĩa là “chết” , ớt có nghĩa là “nhịn”
Cố nhịn khi tức giận để làm lành, chưa có ai bị chết bao giờ cả Người ta nói: “Một sự nhịn, chín sự lành” Sự cổ nhịn, nhịn đây là nhịn cho bố mẹ, nhịn cho người lớn, anh
em nhịn cho nhau, vợ chồng nhịn cho nhau, bạn bè nhịn cho nhau chỉ có gặt hái được sự lành Chứ nhịn không thể
Trang 17đi đên tan vỡ, mât đoàn kêt Do vậy không có mả người chết nhịn.
Lợn được ăn thì lợn nhớ về chuồng, cũng như chó khi được ăn cũng luôn luôn nhớ chủ
Câu này ám chỉ và nói về những người khi người ta cho
ăn một lần cứ nhớ đến để hòng có ăn những lần sau, không
hề nghĩ đến sĩ diện, không hề biết rày rà, phiền toái Đến rồi cứ ngồi lì đợi ăn
280 Bỏ /tày nẵm tả cả Itặc láy.
Không khóc nước mắt cũng tự chảy.
Ghi chủ: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, bỏ có nghĩa là “không”, hày có nghĩa là “khóc”, bỏ hày có nghĩa
là “‘không khóc”, nằm có nghĩa là “nước”, tá có nghĩa
là •‘mắt” , nằm tả có nghĩa là “nước mắt”, cả có nghĩa
Trang 18là “cũng”, cả hặc có nghĩa là “cũng tự”, lảy có nghĩa là
“chảy”, cả hặc láy có nghĩa là “cũng tự chảy”
Câu này nói lên nỗi buồn, nỗi vất vả của một con người đến tột bậc Không có nồi buồn nào hơn, không có nỗi khó nhọc, vất vả nào sánh bằng nữa Nồi khổ cực, hoặc nghèo đói đến tột cùng, không khóc m à nước mắt cứ rưng rức tự chảy Nồi buồn, nỗi khó nhọc, vất vả, cái nghèo cứ ám ảnh, đeo đẳng ngày này qua tháng khác lê thê
281 Pản cắm co ngu lĩ ẩu.
Bằng cầm cổ rắn hổ mang.
Ghi chú: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, pán có nghĩa là kinhư thể, ngang, bằng”, cắm có nghĩa là “nam, cầm”, co có nghĩa là “cổ”, ngu có nghĩa là “rắn”, ngu hâu
có nghĩa là “rắn hổ mang”
Nói lên một công việc đã trót nhúng tay vào làm, bỏ công vào hành động, công việc rất nguy hiểm, thôi không làm, buông ra rất nguy hiểm đến tính mạng, đến sự an toàn của gia đình hoặc bản thân mình, dấn thân cứ làm thì không còn đủ điều kiện, không còn đủ sức nữa Chẳng khác gì cầm nắm cổ rắn hổ mang thả ra thì nỏ sẽ cắn chết, cầm mãi thì con rẳn vật vã, làm người mệt mỏi, đến khi đó chỉ việc phó mặc số phận đến đâu thì đến, sống chết mắc trời
282 Ôn bỏ quặt hu h ờ lực.
Bùi không đào lỗ cho con.
Trang 19Ghi chú: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, ồn có nghĩa là “con bùi”, bỏ có nghĩa là “không”, quặt có nghTa
là “bới, đào”, hu có nghĩa là "lồ”, hờ có nghĩa là “cho”, lực
tự đào lấy, chứ bố mẹ không đào thay được
283 H óng tín mu ọc bỏ
Hóng p ỏ m ẻ láy nong.
Của chân tay ra mỏ
Của cha mẹ chảy lũ.
Ghi chủ: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, hóng
cỏ nghĩa là “của”, tín có nghĩa là “chân”, mư có nghĩa là
“tay”, tín mư có nghĩa là “chân tay”, ọc có nghĩa là “ra”,
bỏ có nghĩa là “mỏ”, pỏ có nghĩa là “cha, bố”, mẻ có nghTa
là “ mẹ”, pỏ mè có nghĩa là “cha mẹ”, láy nong có nghĩa
là “ lũ lụt”
Của tự chân tay mình làm ra không bao giờ hết, như là
có mỏ; còn của cha mẹ làm ra, để lại, con dùng đến một neày nào đó sẽ hết, cũng như nước lũ, chảy rồi hết lũ, hoặc
Trang 20là của sẽ hết rất nhanh, chi tiêu như nước lũ chảy Do đó, của cái, tiền bạc do chân tay cần cù làm ra ví như lấy từ mò
ra, còn chỉ dựa vào của cải của bố mẹ làm ra sẽ như nước
Môi quen nồi
Người nghèo quen nơi làm nơi ăn.
Ghi chú: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, p á có nghĩa là “cá”, quèn có nghĩa là “quen” , nóng có nghĩa là
“ao”, chóng có nghĩa là “ cái môi” (múc thức ăn), mò có nghĩa là “nồi”, côn có nghĩa là “ người” , khò có nghĩa !à
“nghèo khó”, tỉ có nghĩa là “nơi”, ê có nghĩa là “ làm” , ki
có nghĩa là “ăn”
N gày xưa các cụ cho ràng: Người nghèo khó đã quen làm ăn nơi nào, ở địa bàn, địa phương nào thì làm ăn nơi
đó, địa bàn đó, địa phương đó thì dễ dàng hơn Còn đi làm
ăn nơi không quen thổ là khó khăn vì thiếu bạn bè, người thân cận Do đó, quen nơi nào, làm ăn nơi đó là thuận lợi hơn Cũng như cá quen môi trường ao, cứ đến giờ là đến ao kiếm mồi N hư kiểu môi quen nồi nào là cứ múc mãi Đây
là cả một sự ví von rất tể nhị
Trang 21285 H ảy bỏ mày x ỉ mày nghên lắp.
Rãy không cháy thì cháy tối ngày.
Ghi chủ: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, hảy có nghĩa là “rẫy”, bỏ có nghĩa là “không”, mày có nghĩa là
“cháy” , xỉ có nghĩa là “thì”, nghêu lắp có nghĩa là “hết ngày, tối ngày”
ỏ các bản làng của đồng bào các dân tộc miên núi, bà con sàn xuất, trồng trọt thường phát rẫy làm nương Khi phát xong, bà con châm lửa đốt rãy Vạt rãy nào khô khén, cháy sạch không cần dọn nữa thì thường cháy rất gọn trong chục phút là xong Còn vạt rây nào chưa khô, cháy không sạch thì thường cháy rất lâu Đây là kinh nghiệm thực tế trong sản xuất đời sống Những vạt rẫy như thế thường phải dọn vất vả mởi trỉa giống xuống được
Trang 22nhất cho một tập thể anh em, họ hàng thảo luận mà không
đi đến thống nhất đối với một vấn đề, hoặc dùng trong một tập thể, một cộng đồng mà sự bàn bạc không đi đến thổng nhất ý kiến “Lả con lả chớ, lả bớ lả nhọt”
287 Cồm nà ốt nẵm bỏ
K è xử a Itỏ quăn phi.
Củi mặt bịt mỏ nước
Cởi áo gói khói lửa.
Ghi chứ. Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, cồm có nghĩa là “cúi”, nà có nghĩa là “mặt”, cồm nà có nghĩa là
“cúi mặt”, ốt có nghĩa là “bịt”, nằm có nghĩa là “nước”,
bỏ có nghĩa là “mỏ” , nầm bỏ có nghĩa là “mỏ nước”, kè
có nghĩa là “cởi”, xừa có nghĩa là “áo”, kè xửa có nghĩa là
“cởi áo”, hò có nghĩa là “gói”, quăn có nghĩa là “khói”, phi
có nghĩa là “ lửa” , quăn p hi có nghĩa là “khói lửa”
Câu này nói lên sự nhịn nhục, cố gẳng của một người trong một môi trường, một bối cảnh mà mình làm việc không được thuận lợi để nhàm hướng tới một kết quả tốt đẹp, nhàm đạt được mục đích của mình Ví như phải dùng mặt để bịt cái mỏ nước luôn luôn chảy từ trong núi, trong lèn ra, lâu thì nghẹt thở, nhưng vẫn cố gắng đạt được mục tiêu nên phải chịu đựng đến phút cuối cùng căng thẳng Cũng như khi cần phải có cách khí phải “cởi áo gói khói lửa” để cho lửa nằm gọn trong chiếc áo mà không để nó bay mất
Trang 23288 xẵm Itảy đầy klìàu
là “được”, khàu có nghĩa là “lúa”, làu có nghĩa là “rượu”,
x ỉ có nghĩa là “thì”, mau có nghĩa là “say”, p i có nghĩa là
“ béo” (mụp cũng có nghĩa là “béo”), hỉ có nghĩa là “ lổn”
(\\n),yều có nghĩa là “ốm yếu, gầy yếu”
Bà con ta, ai mà năm nào cũng cố gắng làm rẫy, dù thế nào đi nữa cũng sẽ được lúa, cũng sẽ có gạo ăn no Đây là một thực tế trong lao động, sản xuất Còn ai mà gắng uống rượu, nếu quá chén, chắc chắn cũng say Và gang ăn được cơm nhiều thì chắc chắn là cơ thể sẽ béo tốt, khỏe mạnh Còn ai mà ham gái, đa thê và cố gang trong việc ấy thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, thậm chí sẽ giảm tuổi thọ đáng kể, nếu ta không muốn nói đến thân thể gầy yếu, chết sớm
289 B ớ m ẫy p ẹ t nà xừa.
Lá cây dính mặt áo.
Trang 24Ghi chủ: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, bớ có nghĩa là “ lá”, mãy có nghĩa là “cây”,p ẹ t có nghĩa là “dính”,
nà có nghĩa là “mặt”, xừa có nghĩa là “áo” , nà xừa có nghĩa
là “mặt áo” (tức là dải áo đằng trước)
Câu này ý nói ám chỉ một cá thể không chính thức thuộc thành viên của một tập thể Cá thể đó không gắn bó gần gũi
về họ hàng, anh em ruột thịt Tập thể coi thành viên đó là một chiếc lá dính ngoài áo, không có vai trò quan trọng trong sự sống còn của tập thể, họ hàng
291 H àu m ò hòm bỏ nhõm cả đắm.
Vào nồi chàm không nhuộm cũng đen.
Ghi chủ: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, hàu có
Trang 25nghĩa là “vào”, mỏ có nghĩa là “nồi”, hòm có nghĩa là
“chàm’’, mò hòm có nghĩa là “nồi chàm”, bỏ có nghĩa là
“không”, nhõm có nghĩa là “nhuộm”, cả có nghĩa là “cũng”,
đắm có nghĩa là “đen”
Câu trên gần nghĩa với câu:
"Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng".
Ta thấy nồi nước ngâm lá chàm riêng bản thân nó vốn
đã đen, còn vật đã rời vào nồi nước chàm đúng là không cần nhuộm thì vật đó tự đen Nghĩa bóng cảu câu này là một con người được sống với một tập thể tốt thì ắt là con người đó sẽ tốt Nhưng đa số câu này ám chỉ cái xấu vì màu nước chàm chỉ cái xấu Con người ta sống trong môi trường xấu sẽ tiếp thu cái xấu, trở thành xấu
292 Quai đắm tốc cả lơ cả đắm
Quai đỏn tốc cả lơ cả đỏn.
Trâu đen rơi chỗ nào cũng đen
Trâu trắng rơi chỗ nào cũng trắng.
Ghi chú: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, quai
có nghĩa là “trâu”, đắm có nghĩa là “đen”, tốc có nghĩa
là “rơi”, cả lơ có nghĩa là “chỗ nào”, cả đắm có nghĩa là
“cũng đen”, đòn có nghĩa là “trắng”, cả đỏn có nghĩa là
“cũng trắng”
Trâu đen, trâu trắng dù ở đâu cũng vẫn đen, vẫn trắng
Đó là điều hiển nhiên Nhưng ý nghĩa sâu xa là: Người xấu ở đâu cũng xấu, người tốt ở đâu cũng tốt Nếu chúng
Trang 26ta nhìn trên tầm chủ quan mà nói, gạt sự giáo dục mà nên
ra ngoài, con người ta tiểp cận, sống ở môi trường nào thì
sẽ hướng theo thực tể lối sổng, tác phong, đạo đức mà môi trường ấy tạo nên
293 Dủ tờ p ltã bỏ đày í/tiếng phốn
P ê côn nhỉnh bỏ đày thiếng hóng ài.
Ở dưới trời không được cãi mưa
Là con gái không được chối của anh.
Ghi chú: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, dủ có nghĩa là “ở”, tờ có nghĩa là “dưới”, phã có nghĩa là “trời” ,
bỏ có nghĩa là “không”, đầy có nghĩa là “ được”, bỏ đầy có nghĩa là “không được”, thiếng có nghĩa là “cãi, chối”,/?/ỉỚ77
có nghĩa là “mưa'\ p ê có nghĩa là “ là, thành”, côn nhỉnh có nghĩa là “con gái”, hóng ài có nghĩa là “của anh”
Đây là câu vừa đùa giỡn vừa thực tế Đi dưới trời mưa
có ai chối được trời mưa Có chối bao nhiêu, có thế nào đi nữa thì trời vẫn mưa Còn đã là con gái, nói một cách dí dỏm, cỏ ai chổi được của chồng Không có chồng còn đi tìm vàng mắt, huống hồ đã có chồng thì làm sao chổi được việc đó, do chồng sẵn có, hiến tặng
294 Côn tái năm xốp
Cốp tái năm hõng.
Trang 27có khi nào con người bắt được, chứ đàng này ra khỏi hang kêu oang oang là đi đến cái chết ngay lập tức.
vạt có nghĩa là “thủ thuật, cách”
Câu này lấy ruốc và cua để nói bóng cho việc làm gì cũng phải có sự bày dạy, giáo dục của thầy, của sách
Trang 28Đến như chấm ruốc, nướng cua còn như thế, huống hồ những việc khó hơn, hệ trọng hơn lại càng cần phải có thầy
“Không thầy đố mày làm nên”
296 K i lưm thủ, dủ lưm kỉtun.
Ăn quên đũa, ở quên ơn.
Ghi chủ: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, ki (kín)
có nghĩa là “ăn”, ỉưm có nghĩa là “quên”, thủ có nghĩa là
“đũa”, dủ có nghĩa là “ở”, khun có nghĩa là “ công ơn” Trong thiên hạ, không thiếu những kẻ khi mình đã truởng thành ăn nên, làm ra, gọi là có của ăn của để, đã không còn biết đến những cái gì đã từng diễn ra trong quá khứ: sướng, khổ, vui, buồn, đầy đủ, thiếu, công lao nuôi dưỡng mình,
đà tạo điều kiện cho mình, đã tạo điều kiện cho mình có• • s • m
cuộc sống sung túc ngày hôm nay Bác bỏ tất cả, phù r.hận tất cả, cho là chẳng có ai nâng đỡ thì mình cũng tự làm nên
Kể cả những người có công lao nuôi dưỡng , sinh thành mình Ví như “ăn cơm quên đũa” mà vẫn không hay, vẫn đàng hoàng dùng tay bốc cơm canh vào mồm
297 N ẳng h ờ m oi tỉ
N ỉ h ờ m oi bỏn.
Ngồi cho xem nơi
Đ i cho xem chốn.
Trang 29Ghi chủ: Trong tiếng Thái Mương, ờ câu này nằng có nghĩa là “ ngồi”, Ì 1 Ờ có nghĩa là “cho”, moi có nghĩa là “coi, xem” , nỉ có nghTa là “bỏ đi”, bón có nghĩa là “chồ, địa điêm”, ti có nghĩa là “nơi, chốn”.
Ý câu này tương đương với ý của câu: “Ăn xem nồi, ngồi coi hướng” Ngồi phải xem chồ sạch, chồ bẩn, không phải chồ nào cũng bậy bạ được, mất vệ sinh, lây bệnh Khi
đi ở chồ khác cũnc phải xem đi vào hướng nào, không phải
đi lung tung mà được Khi đi làm ăn, làm sự nghiệp, phải căn ke, tính toán về các yếu tố thuận lợi, không thuận lợi hoặc đi làm ăn nơi khác cũng thế để mong muốn cho tương lai thành đạt, phát triên
298 Ki m i tì Kliì m i bon.
An có nơi, ỉa có chốn.
Ghi chú: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, ki có nghĩa
là “ăn”, mi có nghĩa là “có”, ti có nghĩa là “nơi, chốn”, khì
có nghĩa là “ ỉa”, bòn có nghĩa là “nơi, chốn, chỗ, địa điểm” Đâv là một nguyên tắc hầu như bất di bất dịch trone cuộc đời một con người “Ăn phải có nơi, ỉa phải có chốn”, không phải bạ đâu hay đấy Đe có được cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc, con người ta cần phải có gia đình, cần phải có quê hương, cao hơn cần phải có Tổ quốc “ Sống vô gia cư, chết vô địa táng”, con người ta khi thác xuống, người ta cho đó là ý “mả ăn mày”, là thuộc về những con người bất hạnh Ăn, ở, ngủ, ỉa phải có nơi có chốn, phải có quy định
và phải theo những quy định đó
Trang 30ma mư có nghĩa là “ về tay”
Ý câu này nói lên cái sự khẳng định chẳc chắn Ví dụ:
Có một đàn trâu bò hay vật gì cũng thế, nếu thả rong trong rừng có thể sau nó sẽ phát triển được mười phần (xíp bìa) nhưng có ai khẳng định được việc mất, việc còn thế nào mà lường Chi bằng đưa về bán đi, tuy chỉ được năm phần (hà bìa), một nửa (một phần hai), nhưng đó là của mình đích thực, không phải băn khoăn, áy náy, sợ mất Nó là đích thực của về tay (ma mư) Của để trong rương, trong hòm
Và còn nhiều trường hợp tương tự dùng được câu nàv
300 Hám p h í tốc p ả hẻo.
Khiêng ma rơi nghĩa địa.
Ghi chú: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, hám có nẹhĩa là “ khiêng” , p h í có nghĩa là “m a”, tốc có nghĩa là
“rơi”, pả hẻo có nghĩa là “nghĩa địa, bãi tha ma, nơi chôn cất người chết”
Trang 31Câu này nói lên một sự việc, một vấn đề, một câu chuvện đã làm hoặc chưa xong, nhưng đến đó không còn được đếm xỉa không còn được dòm ngó, ôn lại, mặc cho
nó theo thời gian đi vào dì vãng, không còn được lật lên xem xét nữa, giống như một xác chết đã chôn xuống nơi nghĩa địa, heo hút, vắng tanh, thế là hết
ở đây lấy tai và mắt làm vật đại diện cho sự xuốna cấp của
cơ thể Như tôi đây đã “Hú la, tá bọt” (tai nặng, mẳt mờ) rồi, hoặc ông (bà) ấy “hú la, tá bọt” rồi,
302 K h ư thím /tín lông nằm.
Như vứt đá xuống nước.
Ghi chú: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, khư có nghĩa là “như”, thím có nghĩa là “vứt, quăng”, hín có nghĩa
là “đá”, lông có nghĩa là “xuống”, nằm có nghĩa là “nước”.Nói về sự mệt mỏi của việc ngủ say, hoàn toàn không biết gì về những tác động xung quanh
Trang 32Ví dụ: Khi đêm, mệt quá tôi ngủ “ Khư thím hín lông nằm” (Như vứt đá xuống nước).
303 K hi má p ố c khi meo.
Cứt chó lấp cứt mèo.
Ghi chú: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, khỉ có nghĩa là “cứt, phân”, má có nghĩa là “chó”,p ơ c có nghĩa là
“ lấp”, meo có nghĩa là “mèo”
Câu này nói về hai sự việc làm chồng chéo lên nhau Xong nhưng lại không xong, còn bế trễ hơn cũ
Ví dụ: Một người làm cỏ, lấy cỏ đã cạo tấp lên đám cỏ chưa cạo, công việc cho là xong rồi nhưng thực là hiện tượng “cứt chó lấp cứt mèo”, lại là chưa xong Cứt chó ở đây là số cỏ đã cạo lấp lên, cứt mèo là đám cỏ còn nguyên chưa được cạo
Hoặc dùng vào các trường hợp khác các công việc chồng chéo, chen tấp lên nhua cũng có the dùng câu này
Trang 33có nghĩa là “ năm”,/?/zả có nghĩa là '‘chẻ, bố”, que có rmhĩa
là “ dòng”
Thường thường do thời tiết khí hậu, hàng năm đến tháng
ba âm lịch là có lụt tiêu mãn, người Thái cho lụt tiêu mãn
là nước về thăm bến, còn tháng năm âm lịch là có mưa bão thực sự, lũ to về, có khúc khe, khúc sông thực có nước đổi dòng, chẻ dòng
305 Lãnlí thằng tử, thằng nẵm đày khàu
Lãnh thằng phàn, thằng bảy xía mua.
Hạn thảng tư, tháng năm được lúa (mùa)
Hạn tháng sáu, tháng bảy mất mùa.
Ghi chú: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, lãnh có nghĩa là “hạn” (hạn hán), thằng có nghĩa là “tháng”, đày có nghĩa là “được”, khàu có nghĩa là “ lúa” (từ chung), phàn
có nghĩa là “ sáu”, bày có nshĩa là “bảy”, xía có nghĩa là
“mất”, mua có nghĩa là “mùa”
Câu này xuất phát từ kinh nghiệm thực tế trong sản xuất dựa vào quy luật khí hậu, thời tiết của từng vùnR Ở đây, kinh nghiệm của bà con vùng này là: Nếu tháng tư, tháng năm trời nắng; hạn hán thì bà con biết chắc chắn tháng sáu, bảy trời sẽ mưa vừa đúng dịp lúa làm đòng nên sẽ được mùa, còn nếu hạn hán tháng sáu, tháng bảy sẽ mất mùa Quy luật khí hậu, thời tiết như thế qua nhiều năm, nhiều thế hệ đã nâng lên thành kinh nghiệm của bà con nông dân trong sản xuất
Trang 34306 Đ áu lừa: Bắc mãy bỏ tốc tó
Đặt bẫy khi nào cũng có người thăm trước
Hỏi gái để lại có người đến “làm ” trước.
Ghi chú: Trong tiếns Thái Mương, ở câu này, đáu lừa
có nghĩa là “đau bàng”, bắc có nghĩa là “chặt”, mãy có nghĩa là “cây”, tốc có nghĩa là “rơi”, tó có nghĩa là “cái 2.ÔC cụt”, ê mó nghĩa là “ làm”, mó có nghĩa là “thầy m o”, é mó
có nghĩa là “ làm thầy mo”, bỏ có nghĩa là “không”, mi có nghĩa là “ có”, bo mi có nghĩa là "không có” , p ơ có nghĩa
là “ai”, tòn có nghĩa là “đón”, p ơ tòn có nghĩa là “ai đón”,
làngxỏn có nghĩa là “đặt bẫy”, điểu tỏ có nghĩa là “ khi nào cũng”, pưởn có nghĩa là “họ”, dám có nghĩa là “thăm ”,
pưởn dám có nghĩa là “họ thăm", dám xáo có nghĩa là “ hỏi gái, hỏi vợ”, cừ có nghĩa là “để”, dám xáo cừ có nghĩa là
“hỏi vợ để”, pưởn ê có nghĩa là “họ làm”, tốc cỏn có nghĩa
là “ làm cái đó trước”
Trong dân gian, thiên hạ, cuộc sống thường nhật “Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy m à đau đớn lòng” luôn luôn diễn ra mỗi lúc, mồi nơi Trong khuôn khổ đoạn thơ trên, tác giả chỉ đề cập đến bốn vấn đề nhưng là bốn vấn đề thật là điển hình
Trang 35- Điều thứ nhất: Chặt cây, khi cây neã rồi, lại không rơi xuống đất, phía gốc cây phần ngã rồi cứ gác ở trên cái sốc cụt của nó Đó là điều thật đáng tức cũng tương tự cái sự đau lòng.
- Điều thứ hai: Học làm thầy mo, thầy cúng Thầy mo, thầy cúng đă thành thương hiệu rồi, đã có tiếng tăm, nhưng chờ mãi cũng chẳng thấy ai đến nhờ, chẳng thấy ai đến đón Đây cùng là điêu đáng tức cũng thật đau lòng
- Điều thứ ba: Đi đặt bẫy, đặt đó ở nước, sánạ ra đi thăm
cứ bị người khác thăm trước, lấy trước sản phấin đáng lẽ
là mình phải được hưởng, nhưng người khác đến hườne trước mình Họ lấy đi rồi để mình về không Đây cũng là một điều đáng đau lòng
- Điều thứ tư: Nhưne điều mà làm cho đại đa số các bạn trẻ đau lòng, tức bực nhất là: Gái (vợ) mình đi hỏi biết chắc chấn là còn trinh tiết, trong trắng nhưng hỏi xong vài hôm lại nhận đưọ'c thông tin bị người khác đến phá đi sự trinh tiết, trong trang mà mình chưa một lần sư dụng, còn
đê dành, còn mong đợi có một ngày “ làm việc đó” Điều đó còn kinh hoàng hơn là sét đánh ngang tai
307 Thằng chín: M ả p ợ t tằng xỏ
M ả cỏ láy nong.
Tháng chín: Qua muối ngóc cuống
Quả dẻ trôi lũ.
Trang 36Ghi chú: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, thằng chín
có nghĩa là “tháng chín”, mả pợt có nghĩa là “quả m uối”,
tằng xỏ có nghĩa là “ngóc cuống”, mả cỏ có nghĩa là “quả dẻ”, láy có nghĩa là “trôi”, láy nong có nghĩa là "trôi lũ” Tháng chín tuy là tháng cuối của mùa m ưa nhưng vẫn
có lũ lụt về đầu tháng Cũng tháng chín là tháng quả chua muối trong các cánh rừng miền núi đã đến lúc vào mùa chín, đọng lại nhiều hạt trắng như muối V à cũng là mùa hạt dẻ rụng xuống và quả dẻ ở trên núi trôi theo nước lũ trên núi xuống sông Hai hiện tượng này đồnơ thời diễn ra vào mùa đầu tháng chín Nước có lũ, quả muối chua ngóc cuống, hạt dẻ trôi theo lũ
308 Quai tín lắng.
Trâu chân sau.
Ghi chú: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, quai cỏ nghĩa là “trâu”, tín có nghĩa là “chân”, lảng có nghĩa là
Trang 37Ghi chừ. Trons tiếng Thái Mương, ở câu này, bạt hé có nghTa là “một lần vãi chài”, xã có nghĩa là "rô, rá" (cái giỏ đan thường đựng cá, thịt, rau ), tím xã có nehĩa là “đầy
rổ, đầy rá”, bọt nà có nghĩa là “một lần bắn nỏ”, nhỉnh có nghĩa là "bắn", phít có nghĩa là “sai”, nhinh phít có nghĩa
là "bẳn sai”
Ý nghĩa câu này kể ra rất thâm thúy Một lần vãi chài tuy được cá đầy rổ đấv nhưng không thích, không khoái bàníì một lần bắn được nỏ, tuy không trúng chim, không được chim nhưne cũng đã cảm thấy khoái trong lòttg
310 Xổ xă n g pliặp hú,
X ô ngu loi năm.
Đoạn voi ve vây tai
Đoạn rắn bơi nước.
Ghi chú: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, xổ có nghĩa là "đoạn, khúc, cũng là khoảng cách”, xang có nghĩa
là “con voi”, phặp có nghĩa là “vẩy, phe phẩy”, hú có nghĩa
là “tai”, phặp hú có nghĩa là “ve vẩy tai”, ngu có nghĩa là
“con rắn”, loi có nghĩa là “bơi”, nằm có nghĩa là “nước”,
loi nam có nghĩa là “bơi nước”
Đoạn “voi ve vẩy tai”, cũng như đoạn “rắn bơi nước”,
là những khoảng thời gian ngắn ngủi, khoảnh khắc Cũng
là nói lên cuộc sống gấp gáp, sống gấp, lợi dụng, tranh thủ Nếu không thuận chiều, tranh thủ sẽ không làm được gì cả
Trang 38Ví dụ: Trường hợp có một cô gái lấy một nhà tỉ phú,
có nhiều tiền, không vợ, ông ta tuổi đã cao, sức yếu, sống không được mấy neày nữa, nhưng cô ta muốn có cuộc sống sung sướng, nhiều tiền, cô ta quyết định về làm vợ ông được
‘"Đoạn voi ve vẩy tai”, “ Đoạn rẳn bơi nước cũng được” Hoặc trường hợp, hai ông bà già trên bảy, tám mươi tuổi vẫn quyết định cưới nhau làm vợ, làm chồng, họ bất chấp
sự dè biu, chê bai, can ngăn của con cháu, họ bảo, được
“Đoạn voi ve vẩy tai”, “Đoạn rắn bơi nước'’ cũng quyết tâm lấy nhau bằng được
Hoặc dùng vào nhiều trường hợp tương tự được thời gian trong chóc lát
311 L ự c x a i điêu ki hanh bỏ m ết
L ực chết xa i tái bo m i hẻo.
Con trai một ăn sức không hết
Con bảy trai chết không có mồ.
Ghi chú: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, lực có nghĩa là “con”, xơi có nghĩa là “trai”, lực xai có nghĩa là
“con trai”, điêu (hay điểu) có nghĩa là “một”, ki có nghĩa là
“ăn”, hanh có nghĩa là “sức”, ki hanh có nghĩa là “ăn nhờ sức lực của con”, bỏ có nghĩa là “ không”, mết có nghĩa
là “hết”, bỏ mểt có nghĩa là “không hết”, chết có nghĩa là
“bảy”, chếtxai có nghĩa là “bảy trai” , tái có nghĩa là “chết”,
bỏ mi có nghĩa là “không có” , hẻo có nghĩa là “mồ, mả”
Trang 39Ngày xưa (không hiếu ngày nay hiện tượne trên có còn diễn ra hay khôno) hiện tượng những người chi có một người con trai thì người con trai một đó thường tỏ ra yêu thương bố mẹ, chăm chỉ tăng gia sản xuất, làm ra nhiều của cải, tiền tài Họ thường thông minh, lanh lợi, ăn nên làm ra nhà cửa đàng hoàng, có cua ăn của để, nuôi bố mẹ đến nơi đên chôn Được người đời đánh giá, ăn sức không hết Còn trường hợp những cặp vợ chồng sinh đưọ'c nhiều con trai (trong trườn 2 hợp càu này nói là bảy con trai chỉ là man2, tính đại diện, điên hình) là họ thường nịnh kẹ nhau trong nhiều vấn đề về quan hệ gia đình, kể cả việc nuôi bố
mẹ, khi bố mẹ đã trôi về tuổi già, sức lực đã cạn kiệt, không còn khả năng làm ra cùa cải vật chất, “ơ cái tuổi phải cậy con” mà thiếu đi sự chú ý chăm sóc của các con trai, con dâu đối với bố mẹ già Cặp vợ chồng này cứ tưởng cặp vợ chồng kia đã chăm sóc bố mẹ và tình trạng như vậy kéo dài, dần đến “nồi đau lòng mẹ" thường xảy ra trên đời này Có
lè kết quả câu ca trên đã được đúc rút từ thực tế cuộc sống, tình người nên các tác giả văn học dân gian truyền miệng xa xưa đã đi từ thực tế mà đúc rút rằng: Có bảy con trai (nhiều con trai), có nhiều bố mẹ đã gặp phải cảnh bỏ đi lang thang, chết dần chết mòn, ăn xin đầu đường xó chợ, “sống vô gia
cư, chết vô địa táng” Thấy những trường hợp như vậy, ta thường dùng câu trên để nói về tình cảnh của họ
312 Nhanh moi nẵm tám xa m ớ nhừa tỏn.
Ngắm k ĩ xem cho nước và cái cho cân đổi.
Trang 40Ghi chú: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, nhanh có nghĩa là “ ngẩm, ngắm nghía”, moi có nghĩa là “xem, coi”,
nẵm có nghĩa là “nước”, tám xa mớ có nghĩa là “ lường xem”, nhừa có nghĩa là “cái (miếng thịt, miếng cá trong bát canh), tòn có nghĩa là “cái nước trong bát canh”
Ý câu này, khi hành động là phải xem mình xem người xem có tương xứng, cân đối, hợp lí chưa Nếu tình thế quá bất cập, quá mất cân đối thì xin hãy dừng, đừng có lún quá sâu vào vấn đề, công việc mất sức, uổns công Kết quả sè được con số không, không hơn không kém
Ví dụ: Một người con trai quá xấu xí, trình độ thì thấp
mà muốn yêu, muốn lấy một cô gái xinh đẹp, giỏi giang (hoa hậu chẳng hạn), vượt quá sức tưởng tưọng, như vậy là không “nhanh moi nằm tám xa mớ nhừa tòn”
Hoặc một người quá bé nhỏ lại muốn vác một vật nặng quá sức Trường hợp này người ta bảo cậu kia phải “Nhanh moi nằm tám xa mớ nhừa tòn” Và nhiều trường hợp khác nữa cũng dùng được câu này
313 P líã xắp xạt.
Trời định phận.
Ghi chú: Trong tiếng Thái Mương, ở câu này, p h ã có
nghĩa là “trời”, xắp xạt có nghĩa là định đoạt sổ phận
Không cần phải nói dài dòng gì cả Trời đã định đoạt sổ phận giữa chúng ta