1. Trang chủ
  2. » Sinh học

CHUẨN HÓA MỘT SỐ NGUYÊN LIỆU CỦA BÀI THUỐC CHỮA HỘI CHỨNG LỴ (PHÈN ĐEN, MƠ LÔNG, SEO GÀ, CỎ TRANH, GỪNG)

7 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 468,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình đọc tài liệu, nhóm nghiên cứu đã may mắn tìm được bài thuốc chữa hội chứng lỵ với 5 dược liệu đều được thu hái từ các cây thuốc sinh trưởng tốt tại Thái Ngu[r]

Trang 1

CHUẨN HÓA MỘT SỐ NGUYÊN LIỆU CỦA BÀI THUỐC CHỮA

HỘI CHỨNG LỴ (PHÈN ĐEN, MƠ LÔNG, SEO GÀ, CỎ TRANH, GỪNG)

Phạm Thùy Linh * , Đinh Phương Liên, Nông Thị Anh Thư Trường Đại học Y Dược - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở của dược liệu Phèn đen (Phyllanthus reticulates Poir.), Seo

gà (Pteris serrulata L.f.), Mơ lông (Paederia foetida L.) thu hái tại Thái Nguyên Phương pháp

nghiên cứu: Mô tả dược liệu; quan sát tiêu bản vi phẫu; quan sát tiêu bản bột; định tính bằng các

phản ứng hóa học [1], [2]; xác định chất chiết được và mất khối lượng do làm khô theo phương

pháp ghi trong Dược điển Việt Nam IV [2] Kết quả: Phèn đen có chứa flavonoid, tanin; độ ẩm

không được vượt quá 14,5% và chất chiết được không ít hơn 4,3% Seo gà có chứa flavonoid, coumarin, acid hữu cơ, đường khử, sterol; độ ẩm không được vượt quá 14,4% và chất chiết được không được ít hơn 1,4% Mơ lông có chứa alcaloid, caroten, tinh dầu; độ ẩm không được vượt quá

13,8% và chất chiết được không ít hơn 12,9% Kết luận: Đã xây dựng tiêu chuẩn cơ sở của dược

liệu Phèn đen, Seo gà và Mơ lông

Từ khóa: Phèn đen, Seo gà, Mơ lông, hội chứng lỵ, Thái Nguyên

ĐẶT VẤN ĐỀ*

Bệnh lỵ trực khuẩn là bệnh truyền nhiễm lây

qua đường tiêu hóa do trực khuẩn lỵ

(Shigella) gây nên Trực khuẩn lỵ gây tổn

thương đại tràng Lâm sàng biểu hiện bằng

hội chứng lỵ và hội chứng nhiễm trùng –

nhiễm độc (nổi bật là nhiễm độc thần kinh và

tim mạch) Hội chứng lỵ gây ra nhiều tổn

thương về mặt tinh thần cho người bệnh

Bệnh dễ phát thành dịch, diễn biến thường

lành tính, ít có nguy cơ tử vong Hàng năm có

khoảng 140 triệu người mắc, 600.000 người

tử vong Việt Nam là nước có tỷ lệ mắc bệnh

cao [6] Các thuốc tây y để điều trị gồm nhiều

nhóm thuốc khác nhau như kháng sinh, trợ

tim, hạ sốt, an thần, giảm đau… mà nếu dùng

lâu sẽ gây ra nhiều tác dụng

Trong khi đó, nước ta có nguồn dược liệu

phong phú, nhân dân ta có nhiều kinh nghiệm

sử dụng các vị thuốc chữa hội chứng lỵ với ít

tác dụng phụ hơn Do đó việc nghiên cứu vị

thuốc điều trị hội chứng lỵ có nguồn gốc dược

liệu là cần thiết Trong Nam dược thần hiệu

có ghi chép về bài thuốc điều trị hội chứng lỵ

cấp tính với các cây thuốc Nam (rễ Phèn đen

20 g , dây Mơ lông 20 g, toàn cây Seo gà 20

g, rễ Cỏ tranh 20 g, Gừng sống 3 lát) [4] hợp

*

với thổ nhưỡng của tỉnh Thái Nguyên Nhưng

để từng bước tạo ra một sản phẩm hỗ trợ điều trị từ bài thuốc thì đòi hỏi phải xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng của dược liệu để đánh giá và quản lý chất lượng Bài thuốc có 2 vị dược liệu (thân rễ Gừng, thân rễ Cỏ tranh) đã

có chuyên luận kiểm nghiệm trong Dược điển

Việt Nam IV [2] Thân rễ Cỏ tranh đã được

xây dựng các chỉ tiêu: Mô tả, vi phẫu, bột, định tính, độ ẩm, tro toàn phần, tro không tan trong acid hydrochloric, chất chiết được trong dược liệu [2] Thân rễ Gừng đã có các chỉ tiêu kiểm nghiệm sau: Mô tả, vi phẫu, bột, định tính, độ ẩm, tro toàn phần, tro không tan trong acid hydrochloric, tạp chất, chất chiết được trong dược liệu, định lượng [2] Rễ Phèn đen

và dây Mơ lông chưa có chuyên luận kiểm

nghiệm trong Dược điển Việt Nam IV [2]

Toàn cây Seo gà chưa có chuyên luận trong

Dược điển Việt Nam IV [2] nhưng đã được

nghiên cứu về mặt vi học và hóa học, do đó

đã có các chỉ tiêu kiểm nghiệm về vi phẫu, bột, định tính [3] Phèn đen là cây nhỡ có thể cao 2-4 m, sống lâu năm, cả rễ và vỏ thân đều

có tác dụng chữa lỵ [4] Để bảo tồn dược liệu,

đề tài xây dựng tiêu chuẩn cơ sở của vỏ thân Phèn đen thay cho rễ cây Nhóm nghiên cứu tiến hành đề tài “Chuẩn hóa một số nguyên liệu của bài thuốc chữa hội chứng lỵ (Phèn đen, Mơ lông, Seo gà, Cỏ tranh, Gừng)”

Trang 2

nhằm góp phần nâng cao giá trị sử dụng của

dược liệu tiến tới phát triển một sản phẩm từ

bài thuốc để hỗ trợ điều trị bệnh Đề tài được

thực hiện với mục tiêu: Xây dựng tiêu chuẩn

cơ sở của dược liệu Phèn đen (Phyllanthus

reticulates Poir.), Seo gà (Pteris serrulata

L.f.), Mơ lông (Paederia foetida L.) thu hái

tại Thái Nguyên

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là vỏ thân cây Phèn

đen (Phyllanthus reticulates Poir.), toàn cây

Seo gà (Pteris serrulata L.f.), dây Mơ lông

(Paederia foetida L.) thu hái tại tỉnh Thái

Nguyên vào tháng 3 năm 2018

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp xây dựng một số tiêu chuẩn

kiểm nghiệm nguyên liệu đầu vào

- Mô tả: Quan sát ở ánh sáng thường Mô tả

màu sắc, hình dạng, kích thước, thể chất và

mùi vị cả 3 dược liệu vỏ thân cây phèn đen,

toàn cây seo gà, dây mơ lông

- Vi phẫu: Cắt lát mỏng dược liệu (vỏ thân

Phèn đen, lá Mơ lông, thân Mơ lông), tẩy

bằng dung dịch javen và acid acetic, nhuộm

bằng xanh methylen và đỏ carmin Quan sát

đặc điểm Chụp ảnh các đặc điểm soi được

- Bột: Thái nhỏ dược liệu (vỏ thân Phèn đen,

lá Mơ lông, thân Mơ lông), sấy khô, tán thành

dạng bột thô, rây lấy bột mịn Làm tiêu bản

bột bằng phương pháp giọt ép Quan sát đặc

điểm Chụp ảnh các đặc điểm soi được

- Định tính: Định tính các nhóm hợp chất

bằng các phản ứng hóa học theo phương pháp

ghi trong tài liệu [1], [2]

- Mất khối lượng do làm khô (MKLDLK):

Theo phương pháp ghi trong phụ lục 9.6 –

Dược điển Việt Nam IV [2]

- Chất chiết được trong dược liệu: Theo

phương pháp ghi trong phụ lục 12.10 - Dược

điển Việt Nam IV [2] Dung môi được chọn để

chiết xuất là ethanol

Phương pháp xử ĺ số liệu

Kết quả thực nghiệm lưu trữ và tính toán bằng phần mềm MICROSOFT EXCEL Xử lý số liệu thực nghiệm bằng phương pháp thống kê với khoảng tin cậy 95% (α = 0,05)

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở của dược liệu Phèn đen thu hái tại Thái Nguyên

- Mô tả: Dược liệu là những mảnh vỏ hình

vành khăn, dài 5-8 cm, rộng 0,5-1,5 cm, dày 1-2 mm Mặt ngoài màu nâu xám, xù xì; mặt trong màu nâu đến đen, tương đối nhẵn, có vân dọc nhỏ Chất nhẹ và giòn, dễ bẻ gãy, mặt gãy không phẳng, lớp ngoài màu nâu xám, lớp trong màu đen Mùi thơm nhẹ, vị hơi chát Ảnh chụp dược liệu phèn đen được trình bày

ở hình 1

Hình 1 Vỏ thân Phèn đen

- Vi phẫu: Ảnh chụp vi phẫu dưới kính hiển

vi được trình bày ở hình 2

Hình 2 Vi phẫu vỏ thân Phèn đen

- Bột: Quan sát dưới kính hiển vi thấy: Mảnh

bần (6); Mảnh mạch (4, 5, 8); Bó sợi (7); Đám tế bào mô cứng (3); Tinh thể calci oxalat (1); Mảnh mô mang tinh thể calci oxalat (2) Ảnh chụp được trình bày ở hình 3

Trang 3

Hình 3 Đặc điểm bột của Phèn đen

- Định tính: Thí nghiệm được lặp lại 3 lần

Kết luận: Vỏ thân Phèn đen có chứa

flavonoid, tanin

- Mất khối lượng do làm khô: Thí nghiệm

được lặp lại 6 lần Kết quả được thể hiện trong bảng 1

Kết luận: Độ ẩm không được vượt quá 14,5%

(Phụ lục 9.6, 105oC, 5 h)

Bảng 1 MKLDLK của vỏ thân Phèn đen

STT Khối lượng dược liệu

trước khi sấy (g) Khối lượng dược liệu sau khi sấy (g) MKLDLK (%)

Thống kê: 14,45±0,097 (%) (α=0,05)

- Chất chiết được trong cồn: Thí nghiệm được lặp lại 6 lần Kết quả được thể hiện trong bảng 2.

Bảng 2 Chất chiết được trong cồn của vỏ thân Phèn đen

STT Khối lượng

dược liệu (g) MKLDLK (%) Khối lượng cắn sau khi sấy (g) Chất chiết được trong cồn (%)

Thống kê: 4,36±0,076 (%) (α=0,05)

Kết luận: Chất chiết được không được ít hơn 4,3%

Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở của dược liệu

Seo gà thu hái tại Thái Nguyên

- Mô tả: Dược liệu là toàn cây Seo gà được

cắt thành từng đoạn dài 9-12 cm Thân rễ nhỏ,

cứng, cong queo, màu nâu đen, dài 2,0 -8,5

cm, mọc bò mang 1 đoạn cuống lá màu xanh

nhạt, dài 3-7 cm Đoạn cuống (mang lá) dài

11-12 cm Lá mọc thẳng từ thân rễ, chia thùy

lông chim lẻ, gân lá rõ, cuống lá dài, có 2

loại: Lá sinh sản và lá không sinh sản Phiến

lá không sinh sản ngắn, phiến lá dài 3-9 cm,

màu xanh nhạt, các thùy to nhỏ không đều,

mọc đối nhau, mép hơi khía răng cưa có đầu

tròn, riêng thùy tận cùng thuôn dài hình mũi

nhọn Phiến lá sinh sản màu xanh nhạt, dài từ

2,5-11 cm, gồm các thùy hình dài thuôn uốn

éo, mọc đối, đầu nhọn hoắt Hai bên mép lá

sinh sản gập lại mang cơ quan sinh sản là ổ túi bào tử dày đặc gồm nhiều túi bào tử Túi bào tử màu nâu đỏ Mùi thơm nhẹ Vị ngọt, hơi đắng Ảnh chụp dược liệu được trình bày

ở hình 4

Hình 4 Seo gà

- Định tính: Thí nghiệm được lặp lại 3 lần

Kết luận: Toàn cây Seo gà có chứa flavonoid,

coumarin, sterol, đường khử, acid hữu cơ

Trang 4

- Mất khối lượng do làm khô: Thí nghiệm được lặp lại 6 lần Kết quả được thể hiện trong bảng 3.

Bảng 3 Mất khối lượng do làm khô của Seo gà

STT Khối lượng dược liệu trước khi sấy (g) Khối lượng dược liệu sau khi sấy (g) MKLDLK (%)

Thống kê: 14,22±0,098 (%) (α=0,05)

C, 5 h)

- Chất chiết được trong cồn: Lặp lại thí nghiệm 6 lần Kết quả được thể hiện trong bảng 4

Bảng 4 Chất chiết được trong cồn của Seo gà

STT Khối lượng

dược liệu (g) MKLDLK (%) Khối lượng cắn sau khi sấy (g) Chất chiết được trong cồn (%)

Thống kê: 1,46±0,055 (%) (α=0,05)

Kết luận: Chất chiết được không được ít hơn 1,4%

Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở của dược liệu

Mơ lông thu hái tại Thái Nguyên

- Mô tả: Đoạn thân hình trụ dài 7 - 9 cm, thân

non hơi dẹt, sau tròn, mầu lục hoặc tím đỏ Lá

mọc đối, hình bầu dục hoặc hình trứng, dài 5

-10 cm, rộng 2 - 4 cm, gốc tròn hoặc hơi hình

tim, mặt trên mầu lục, mặt dưới màu tím, gân

lá hình lông chim, rõ ở mặt trên; cuống lá dài

1 - 3 cm; lá kèm hình tam giác dài 2 - 3 mm

Toàn cây có lông mềm, nhất là thân, cành và

lá non Lá tươi vò nát có mùi hôi khó ngửi Lá

khô có mùi thơm nhẹ Dược liệu khô khi giã

nát có mùi hắc Vị đắng, hơi chát Ảnh chụp

được trình bày trong hình 5

Hình 5 Dây Mơ lông

- Vi phẫu:

+ Vi phẫu thân: Ảnh chụp được trình bày trong hình 6

Hình 6 Vi phẫu thân Mơ lông

+ Vi phẫu lá:

Phần gân chính: Ảnh chụp được trình bày trong

hình 7

Phần phiến lá: Ảnh chụp được trình bày trong hình 8

Trang 5

Hình 7 Vi phẫu lá Mơ lông (phần gân chính)

Hình 8 Vi phẫu lá Mơ lông (phần phiến lá)

- Bột:

+ Thân: Quan sát dưới kính hiển vi thấy:

Lông che chở (1, 2); Mảnh mô mềm (8);

Mảnh mô dày (6); Mảnh mạch (4, 5); Bó sợi

(7) Ảnh chụp được trình bày trong hình 9

+ Lá: Quan sát dưới kính hiển vi thấy: Mảnh

biểu bì mang lỗ khí kiểu song bào (1, 2);

Mảnh biểu bì mang lông che chở (3); Lông

che chở (4, 5); Mảnh mô mềm (6) Ảnh chụp

được trình bày trong hình 10

Hình 9 Đặc điểm bột của thân Mơ lông

Hình 10 Đặc điểm bột của lá Mơ lông

- Định tính: Thí nghiệm được lặp lại 3 lần Kết luận: Trong Mơ lông có chứa alcaloid,

caroten và tinh dầu

- Mất khối lượng do làm khô: Thí nghiệm

được lặp lại 6 lần Kết quả được thể hiện trong bảng 5

Bảng 5 Mất khối lượng do làm khô của dược liệu Mơ lông

STT Khối lượng dược liệu trước khi sấy (g) Khối lượng dược liệu sau khi sấy (g) MKLDLK (%)

Thống kê: 13,66±0,094 (%) (α=0,05)

C, 5 h)

- Chất chiết được trong cồn: Lặp lại thí nghiệm 6 lần Kết quả được thể hiện trong bảng 6.

Bảng 6 Chất chiết được trong cồn của dược liệu Mơ lông

STT Khối lượng

dược liệu (g) MKLDLK (%) Khối lượng cắn sau khi sấy (g) Chất chiết được trong cồn (%)

Thống kê: 13,08± 0,085 (%) (α=0,05)

Kết luận: Chất chiết được không được thấp hơn 12,9%

Trang 6

BÀN LUẬN

Về nguyên liệu của bài thuốc

Kế tục lời dạy của Danh y Tuệ Tĩnh “Nam

dược trị Nam nhân”, nhóm nghiên cứu với

mong muốn tìm kiếm bài thuốc Y học cổ

truyền mà trong đó nguyên liệu dùng trong

bài thuốc đều có nguồn gốc từ các cây thuốc

có sẵn ở Việt Nam Nếu làm được điều đó,

chúng ta không phải phụ thuộc vào nguồn

nguyên liệu nhập từ nước ngoài Bên cạnh đó,

việc chủ động về nguồn nguyên liệu còn giúp

chúng ta dễ kiểm soát về loài thực vật và chất

lượng dược liệu Trong quá trình đọc tài liệu,

nhóm nghiên cứu đã may mắn tìm được bài

thuốc chữa hội chứng lỵ với 5 dược liệu đều

được thu hái từ các cây thuốc sinh trưởng tốt

tại Thái Nguyên, từ đó có thể phát triển bài

thuốc thành sản phẩm hỗ trợ điều trị bệnh

dưới dạng cao, tiện sử dụng và hứa hẹn có thể

tạo ra kinh tế cho người dân địa phương

Hiện nay, ngành Dược đang cần giải quyết

một số vấn đề thực tiễn cấp bách, trong đó có

tình trạng nhầm lẫn giả mạo dược liệu trên thị

trường Một trong các nguyên nhân dẫn tới

tình trạng trên là chưa xây dựng được các tiêu

chuẩn kiểm nghiệm dược liệu Để có thể sử

dụng dược liệu làm thuốc thì đòi hỏi phải xây

dựng các tiêu chuẩn chất lượng, đồng thời xây

dựng các phương pháp thử để đánh giá các

tiêu chuẩn đó Chính vì vậy, đề tài đã tiến

hành xây dựng tiêu chuẩn kiểm nghiệm các vị

thuốc trong bài thuốc

Về xây dựng tiêu chuẩn dược liệu Phèn đen

Phèn đen có vị chát có thể là do trong dược

liệu này có chứa tanin Vi phẫu của Phèn đen

đặc trưng cho cấu tạo giải phẫu thân cấp 2 của

lớp Ngọc lan Các đặc điểm bột dược liệu

cũng là các đặc điểm thường thấy khi quan sát

cấu tạo vỏ thân cấp 2 Các kết quả định tính

có chứa flavonoid và tanin phù hợp với tài

liệu đã viết về Phèn đen Nếu có thêm chất

chuẩn sẽ giúp dùng sắc ký lớp mỏng để xác

định các chất cụ thể trong Phèn đen thay vì

xác định nhóm chất Lượng chất chiết được

trong dịch chiết cồn là 4,36%, có thể thấy

trong Phèn đen không chứa nhiều chất ít phân cực mà chủ yếu là các chất phân cực, chất ít phân cực ở đây có thể là các flavonoid

Về xây dựng tiêu chuẩn dược liệu Seo gà

Do Seo gà được thu hái vào mùa sinh sản nên

có thể thấy túi bào tử ở mặt sau lá Vi phẫu và bột dược liệu đã được báo cáo trong luận án tiến sĩ trước đó nên đề tài đã không xây dựng lặp lại các chỉ tiêu này Seo gà trong đề tài được thu hái tại Thái Nguyên, có thể thành phần hóa học sẽ khác so với Seo gà được thu hái tại Ba Vì – Hà Nội được nhắc đến trong luận án tiến sĩ trước đó, nên nhóm nghiên cứu

đã tiến hành định tính lại mẫu dược liệu thu hái được Các kết quả định tính hoàn toàn

trùng khớp với luận án này Lượng chất chiết

được trong dịch chiết cồn là 1,46%, đây là 1

tỷ lệ rất thấp, có thể thấy trong Seo gà không chứa nhiều chất ít phân cực mà chủ yếu là các chất phân cực Điều này phù hợp với kết quả định tính Vì từ định tính có thể cho thấy trong Seo gà có chứa đường khử, sterol, acid hữu cơ là các chất tan tốt trong nước hoặc dung môi phân cực Chất chiết được trong cồn có thể là các chất ít phân cực như

flavonoid hoặc coumarin

Về xây dựng tiêu chuẩn dược liệu Mơ lông

Vi phẫu của thân và lá mơ lông đặc trưng cho cấu tạo giải phẫu cấp 1 của thân và lá cây Ở

lá cây, phần thịt lá có cấu tạo đồng thể chỉ gồm một thứ mô khuyết Bột dược liệu cũng gồm các đặc điểm thường quan sát được dưới

kính hiển vi của lá và thân cây cấp 1 Lượng

chất chiết được trong dịch chiết cồn là 13,08% Điều đó cho thấy lượng các chất ít phân cực trong Mơ lông tương đối nhiều Dựa theo kết quả định tính có thể thấy trong Mơ lông nhiều chất ít phân cực như tinh dầu hay caroten Đề tài lựa chọn phương pháp chiết lạnh mặc dù sẽ mất thời gian nhiều hơn phương pháp chiết nóng, nhưng bên cạnh đấy sẽ bảo vệ được hoạt

chất dưới tác động của nhiệt

Đây là lần đầu tiên có nghiên cứu chuẩn hóa bài thuốc chữa hội chứng lỵ (Phèn đen, Mơ lông, Seo gà, Gừng, Cỏ tranh) từ các cây thuốc thu hái tại Thái Nguyên

Trang 7

KẾT LUẬN

- Đã xây dựng tiêu chuẩn cơ sở của dược

liệu Phèn đen: Mô tả, vi phẫu, bột, định

tính, MKLDLK không được vượt quá

14,5%, chất chiết được trong dược liệu

không được ít hơn 4,3%

- Đã xây dựng tiêu chuẩn cơ sở của dược liệu

Seo gà: Mô tả, định tính, MKLDLK không

được vượt quá 14,4%, chất chiết được trong

dược liệu không được ít hơn 1,4%

- Đã xây dựng tiêu chuẩn cơ sở của dược liệu

Mơ lông: Mô tả, vi phẫu, bột, định tính,

MKLDLK không được vượt quá 13,8%, chất

chiết được trong dược liệu không được ít hơn

12,9%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ môn dược liệu (2012), Phương pháp nghiên cứu dược liệu, Trường Đại học Y Dược thành phố

Hồ Chí Minh

2 Bộ Y tế (2009), Dược điển Việt Nam IV, Nxb Y

học, Hà Nội

3 Nguyễn Duy Chí (2016), Nghiên cứu đặc điểm thực vật, thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của cây Cỏ seo gà (Pteris multifida Poir.) thu hái tại Ba Vì, Hà Nội, Luận án tiến sĩ Dược

học, Trường Đại học Dược Hà Nội

4 Đỗ Tất Lợi (2004), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội

5 Viện Dược liệu (2004), Cây thuốc và động vật

làm thuốc ở Việt Nam - tập II, Nxb khoa học và kỹ

thuật

6.http://www.benhvien103.vn/vietnamese/bai-

giang-chuyen-nganh/truyen-nhiem/benh-ly-truc-khuan/732/.

ABSTRACT

STUDY OF STANDARDIZING SOME MATERIALS OF REMEDY

TREATMENTING DYSENTERY (Phyllanthus reticulates Poir., Paederia foetida L., Pteris serrulata L.f, Imperata cylindrica (L.) Beauv., Zingiber officinale L.)

Pham Thuy Linh * , Dinh Phuong Lien, Nong Thi Anh Thu

TNU - University of Medicine and Phamarcy

Objectives: To build the standards of Phyllanthus reticulates Poir., Pteris serrulata L.f and Paederia foetida L harvested in Thai Nguyen Methods: Describe the pharmaceuticals; Observe

the microsurgery; Examine the templates of powder; Identify compound groups by chemical

reactions; Determine of extractives and moisture by method described in Pharmacopoeia IV

Results: Phen den contains flavonoids, tannins; The moisture should not exceed 14.5%; The

extractives should not be less than 4.3% Seo ga contains flavonoids, coumarins, organic acids, reducing sugar, sterol; The moisture should not exceed 14.4%; The extractives should not be less than 1.4% Mo long contains alkaloids, carotene, essence; The moisture should not exceed 13.8%;

The extractives should not be less than 12.9% Conclusions: Have built some standards of Phen

den, Seo ga, Mo long

Keywords: Phyllanthus reticulates Poir., Pteris serrulata L.f, Paederia foetida L., dysentery, Thai

Nguyen.

Ngày nhận bài: 24/10/2018; Ngày phản biện: 29/10/2018; Ngày duyệt đăng: 31/10/2018

*

Ngày đăng: 20/01/2021, 13:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w