1. Trang chủ
  2. » Ôn tập Toán học

XÂY DỰNG MÔ HÌNH VƯỜN CÂY BẢN ĐỊA TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

6 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 352,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện đề tài cấp cơ sở phục vụ cho nghiên cứu và học tập của sinh viên trường Đại học Nông Lâm về xây dựng mô hình vườn cây bản địa tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên với tổng [r]

Trang 1

XÂY DỰNG MÔ HÌNH VƯỜN CÂY BẢN ĐỊA

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Trần Quốc Hưng * , Trần Ngọc Đăng

Trường Đại học Nông Lâm - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Thực hiện đề tài cấp cơ sở phục vụ cho nghiên cứu và học tập của sinh viên trường Đại học Nông Lâm về xây dựng mô hình vườn cây bản địa tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên với tổng

số lượng là 451 cây thuộc 20 loài bản địa khác nhau Kết quả điều tra bước đầu cho thấy tỷ lệ sống của 20 loài cây trong mô hình có tỷ lệ sống khá cao dao động từ 70,59% đến 100%, tỷ lệ sống trung bình của toàn bộ mô hình là 78,2% Sau 12 tháng trồng đường kính sát gốc D(00) lớn nhất

trong mô hình vườn cây bản địa là Đinh vàng (Flueggea virosa) (2,02 cm), tiếp đó là Gội nước (Aglaia korthalsii) (2,01 cm) Những loài có đường kính sát gốc nhỏ nhất như là Giổi xanh

(Magnolia hypolampra) (0,44 cm) và thấp nhất là Ngọc am (Cupressus funebris) (0,37 cm) Loài

có chiều cao nhất là Sao đen (Hopea odorata) với chiều cao trung bình là (97,63 cm) tiếp đó là

Gội nước (Aglaia korthalsii) (88,5 cm) Các loài có sinh trưởng chiều cao thấp nhất là Giổi xanh

(Magnolia hypolampra) (19,84 cm) và Kim giao (Nageia wallichiana) (19,31 cm) Sâu bệnh mà cây con gặp phải chủ yếu là Sâu kèn ăn lá và bệnh vàng lá chỉ gặp ở cây Sao đen (Hopea odorata), Nghiến (Burretiodendron hsienmu), Kim giao (Nageia wallichiana), Chò chỉ (Parashorea

chinensis) và Đinh vàng (Flueggea virosa) Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy các loài cây

bản địa hoàn toàn phù hợp với thổ nhưỡng và khí hậu tại khu vực Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên

Từ khóa: Bảo tồn, thực vật, chuyển vị, sinh trưởng, bản địa

MỞ ĐẦU*

Xu hướng hiện nay các trường Đại học trên

thế giới đang hướng tới là trở thành một

trường Đại học “xanh”, một trường Đại học

có cảnh quan thiên nhiên và mang giá trị bảo

tồn cả về lịch sử cũng như nguồn gen thực

vật Trong thời gian qua, với sự nỗ lực của

nhà trường đã và đang xây dựng theo hướng

một môi trường xanh sạch đẹp và có một cảnh

quan gần gũi với thiên nhiên Tuy nhiên có

thể thấy vẫn còn những hạn chế nhất định

trong việc tạo ra những cảnh quan mang tính

đặc thù vừa mang giá trị cảnh quan vừa mang

giá trị học tập tại nhà trường, nhất là đối với

lĩnh vực lâm nghiệp Bên cạnh đó sự tàn phá

rừng trong nhiều năm trở lại đây đã ảnh

hưởng sâu sắc tới đời sống con người, mất

rừng gây nên sự biến đổi theo hướng tiêu cực

của khí hậu toàn cầu, đất đai bị rửa trôi, xói

mòn nặng nề, các lòng sông lòng hồ bị bồi

lấp, an ninh lương thực bị đe doạ, các sản

phẩm từ rừng đang dần bị cạn kiệt trong khi

*

Tel: 0912 450173; Email: tranquochung@tuaf.edu.vn

nhu cầu của xã hội luôn tăng theo thời gian [1] Khoa Lâm nghiệp, một khoa luôn gắn liền với rừng và cây thì việc được thực hành những kiến thức lý thuyết được học trên ghế nhà trường với môi trường bên ngoài là vô cùng cần thiết Ngoài việc thực hành thì hàng năm sinh viên còn cần đi đến các khu rừng tự nhiên để thực tập kiến thức như vậy đã tạo ra một sự lãng phí về tài chính không hề nhỏ Nhưng lượng thời gian đi thực tập ngắn như vậy thì kiến thức được thực hành vô cùng ít

và không hiệu quả nhiều Để giúp đỡ công tác bảo tồn các loài thực vật quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng, hơn nữa là tạo thêm cảnh quan cho trường và đồng thời tạo địa điểm học tập và nghiên cứu cho sinh viên sau

các giờ học lý thuyết thì việc “Xây dựng mô

hình vườn cây bản địa tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên” là rất cần thiết

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

Nội dung nghiên cứu

Đánh giá sinh trưởng của 20 loài cây bản địa

có trong danh mục các loài cây được lựa chọn

Trang 2

cho trồng rừng cây bản địa cũng như bảo tồn

và phát triển nguồn gen thực vật [3]; [4]; [5]

tại mô hình vườn cây bản địa tại trường Đại

học Nông Lâm từ 2017 – 2018 thông qua: Tỷ

lệ sống; tăng trưởng đường kính gốc; tăng

trưởng chiều cao vút ngọn; và đánh giá tình

hình sâu bệnh

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập số liệu

- Tỷ lệ sống của cây trồng trong mô hình:

Cây con được đem ra trồng có đủ rễ, thân, lá

Cây được trồng theo hàng, mỗi loài một hàng

trải dọc theo mô hình với cự li hàng cách

hàng 3 mét và cây cách cây 3 mét (3x3) Thiết

kế trồng cây theo hàng, mỗi hàng tương ứng 1

loài cây Tổng số cây sống sau một năm trồng

là 451 cây

Trong quá trình điều tra số liệu để dễ dàng

hơn cho việc thu thập và điều tra, đã sử dụng

biện pháp gắn mã số thẻ cho từng cây và có

thêm bản đồ bố trí cây trồng trong mô hình

giúp việc thu thập số liệu tốt hơn

Ở giai đoạn đầu của việc trồng cây con, cây

vẫn rất yếu nên cần sự chăm sóc đặc biệt Mỗi

ngày định kỳ tưới nước 1 lần vào lúc 4 giờ

chiều trong vòng 1 tháng đầu để đảm bảo cây

đủ lượng nước vượt qua giai đoạn nắng nóng

và sự thích nghi ở môi trường mới trong mô

hình Bên cạnh tưới nước theo định kỳ làm cỏ

1 tháng 1 lần nhằm giảm sự xâm lấn của cỏ

với các loài cây

Hình 1 Các loài cây trong mô hình vườn cây bản địa

- Tăng trưởng đường kính gốc:

chiều Đông – Tây và Nam – Bắc rồi tính trị

số bình quân Thời gian đo số liệu được thực hiện 3 lần, lần đầu thu thập số liệu đầu vào tại tháng 10/2017, lần 2 vào tháng 3/2018 và lần

3 vào tháng 9/2018 Thời gian cách nhau giữa các lần đo dài như vậy để đảm bảo sự thay đổi của đường kính cây

- Tăng trưởng chiều cao vút ngọn:

Chiều cao vút ngọn (Hvn) được đo bằng thước

gỗ có chiều cao 1,5 m, có chia vạch theo mm Dùng bút xóa trắng kẻ 1 đường làm mốc ở gốc cây để làm chuẩn rồi dùng thước đo từ điểm chuẩn đến đỉnh ngọn sinh trưởng của cây Thời gian đo cũng được thu thập giống đường kính sát gốc chia làm 3 lần đo

Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu sau khi thu thập về được xử lý bằng các công thức toán học trên phần mềm Microsoft Excel 2013

- Tỷ lệ sống:

Trong đó: C%: Tỷ lệ sống, n: Số cây sống, N: Tổng số cây trồng trong mô hình

- Chiều cao trung bình của cây ở mỗi lần đo:

của cây; ∑h: Là tổng số đo chiều cao các cây; M: Là tổng số cây

- Đường kính trung bình của cây ở mỗi lần

Trong đó: ∑d: Là tổng số đo đường kính các cây; M: Là tổng số cây

- Tăng trưởng chiều cao vút ngọn và đường kính gốc: Do mới đánh giá trong 1 năm nên tăng trưởng chỉ lấy số đó trung bình lần đo cuối trừ đi số đo trung bình lần đo đầu

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tỷ lệ sống các loài cây bản địa trồng trong

mô hình

Kết quả nghiên cứu qua các lần thu thập số liệu (bảng 1) cho thấy tỷ lệ sống tại lần đo

Trang 3

chung hầu hết các loài cây được trồng trong

mô hình rừng cây bản địa đều giảm về số

lượng sau 12 tháng trồng ngoại trừ có Bách

xanh và Sưa đỏ vẫn giữ nguyên được số

lượng từ ban đầu Các loài cây có tỷ lệ sống

riêng biệt cao như: Bách xanh đạt 100%, Sưa

đỏ đạt 100%, Long não đạt 94,74% và Sao

đen đạt 97,78% Tiếp đó là những loài có sự

giảm số lượng đo được tại lần đo cuối từ 2

cây đến 20 cây con như: Giổi xanh giảm 2

cây đạt 88,89%, Ngọc am giảm 11 cây đạt

47,62%, Xoan nhừ giảm 13 cây đạt 66,67%,

Lát hoa giảm 11 cây đạt 63,33%, Dẻ gai giảm

6 cây đạt 50%, Re hương giảm 9 cây đạt

70%, Gù hương giảm 11 cây đạt 71,05%,

Đinh vàng giảm mạnh với 20 cây đạt 84,38%,

Thông tre giảm 5 cây đạt 75%, Chò chỉ giảm

7 cây đạt 76,67%, Trai lí giảm 2 cây đạt

88,24%, Lim xanh giảm 7 cây đạt 75%,

Nghiến giảm 5 cây đạt 82,76%, Kim giao

giảm 4 cây đạt 80%, Cẩm lai giảm 3 cây đạt

81,25% và cuối cùng Gội nước giảm 5 cây đạt 70,59%

Từ kết quả trên cho thấy với thực địa hoàn toàn mới và không phải nơi sống tự nhiên của các loài cây bản địa, thêm vào nữa được trồng

từ cây con với tỷ lệ sống thống kê được tổng thể 451 cây của 20 loài cây đạt 78,2% là tỷ lệ sống của các loài cây bản địa khá cao ở giai đoạn đầu của việc xây dựng mô hình

Tăng trưởng đường kính gốc (D 00 )

Kết quả bảng 2 cho thấy sự tăng trưởng về đường kính gốc D(00) qua 12 tháng đo cao nhất

là Đinh vàng với 2,02cm; sau đó là Gội nước 2,01 cm; Xoan nhừ 1,64 cm; Sao đen 1,41 cm; Long não 1,24 cm; Gù hương 1,06 cm; Sưa đỏ 1,03; Lim xanh 0,88 cm; Chò chỉ 0,87 cm; Re hương 0,87 cm; Re hương 0,73 cm; Bách xanh 0,7 cm; Thông tre 0,68 cm; Cẩm lai 0,68 cm; Trai lí 0,65 cm; Kim giao 0,65 cm; Nghiến 0,64 cm; Dẻ 0,57 cm; Lát hoa 0,51 cm; Giổi xanh 0,44 cm và thấp nhất là Ngọc am đạt 0,37 cm

Bảng 1 Tỷ lệ sống của các loài cây bản địa trong mô hình

(cây)

Số cây đo lần cuối (cây)

Tỷ lệ sống (%)

9 Re hương (Cinnamomum

parthenoxylon)

10 Gù hương (Cinnamomum

parthenoxylon Meisn)

Trang 4

Bảng 2 Đường kính sát gốc và chiều cao vút gọn 20 loài cây trong vườn cây bản địa

STT Tên loài Chỉ tiêu Lần đo 1 Lần đo 2 Lần đo 3 Tăng trưởng

1 Long não (Cinnamomum camphora) D00(cm) 0,13 0,62 1,38 1,24

Hvn(cm) 16,28 37,15 74,31 58,03

2 Giổi xanh (Magnolia hypolampra) D00(cm) 0,11 0,28 0,56 0,44

Hvn(cm) 8,19 14,09 28,03 19,84

3 Bách xanh (Calocedrus macrolepis) D00(cm) 0,11 0,39 0,81 0,70

Hvn(cm) 14,13 24,56 49,13 35,00

4 Đinh vàng (Flueggea virosa) D00 (cm) 0,84 1,68 2,86 2,02

Hvn(cm) 53,10 63,10 126,19 73,10

5 Ngọc am (Cupressus funebris) D00 (cm) 0,18 0,35 0,55 0,37

Hvn(cm) 8,19 15,62 30,62 22,42

6 Lát Hoa (Chukrasia tabularis) D00(cm) 0,15 0,32 0,66 0,51

Hvn(cm) 10,32 16,71 33,42 23,11

7 Gù hương (Cinnamomum

parthenoxylon)

D00(cm) 0,36 0,77 1,42 1,06 Hvn(cm) 18,93 41,28 82,56 63,63

8 Thông tre (Podocarpus pilgeri) D00(cm) 0,28 0,48 0,96 0,68

Hvn(cm) 14,50 31,30 62,60 48,10

9 Chò Chỉ (Parashorea chinensis) D00(cm) 0,27 0,57 1,14 0,87

Hvn(cm) 27,46 48,07 96,13 68,67

10 Trai lí (Garcinia fagraeoides) D00(cm) 0,24 0,45 0,89 0,65

Hvn(cm) 19,60 34,60 69,27 49,67

11 Lim xanh (Erythrophleum fordii) D00(cm) 0,29 0,58 1,17 0,88

Hvn(cm) 13,83 25,00 50,00 36,17

12 Sưa đỏ (Dalbergia tonkinensis) D00(cm) 0,29 0,66 1,32 1,03

Hvn(cm) 16,28 33,33 66,67 50,39

13 Xoan nhừ (Choerospondias axillaris) D00(cm) 0,52 1,08 2,16 1,64

Hvn(cm) 14,31 46,63 93,27 78,96

Hvn(cm) 22,25 41,50 83,00 60,75

15 Re hương (Cinnamomum

parthenoxylon)

D00(cm) 0,32 0,52 1,05 0,73 Hvn(cm) 31,29 41,40 82,81 51,52

16 Nghiến (Burretiodendron hsienmu) D00(cm) 0,23 0,43 0,87 0,64

Hvn(cm) 14,23 23,71 47,20 32,98

17 Kim giao (Nageia wallichiana) D00(cm) 0,24 0,44 0,89 0,65

Hvn(cm) 9,38 14,34 28,69 19,31

18 Cẩm lai (Dalbergia oliveri) D00(cm) 0,28 0,48 0,95 0,68

Hvn(cm) 22,08 29,50 58,69 36,62

19 Gội nước (Aglaia korthalsii) D00 (cm) 1,05 1,53 3,07 2,01

Hvn(cm) 50,17 69,33 138,67 88,50

20 Sao đen (Hopea odorata) D00(cm) 0,42 0,91 1,83 1,41

Hvn(cm) 57,38 77,50 155 97.63

Tăng trưởng chiều cao vút ngọn H(vn)

Qua bảng 2 cho thấy trong số 20 loài cây bản

địa trong mô hình vườn cây bản địa có chiều

cao tăng trưởng tốt theo từng quãng thời gian,

ở giai đoạn đầu được trồng từ tháng 9 năm

2017 đến tháng 3 năm 2018 các loài tăng

trưởng còn khá chậm do cần thời gian làm

quen với các điều kiện về đất cũng như khí

năm 2018 đến tháng 9 năm 2018 các loài cây

đã thích nghi với các điều kiện đất cũng như khí hậu nắng nóng tại khu mô hình nên các loài cây bản địa tăng trưởng rất nhanh từ giai đoạn này Các loài cây bản địa tăng trưởng tốt nhất bắt đầu từ Sao đen với chiều cao vút ngọn trung bình là 97,63 cm, tiếp đó là Gội nước đạt 88,5 cm; Xoan nhừ đạt 78,96 cm;

Trang 5

Gù hương đạt 63,63 cm; Dẻ đạt 60,75 cm;

Long não đạt 58,03 cm; Re hương đạt 51,52

cm; Sưa đỏ đạt 50,39 cm; Trai lí đạt 49,67

cm; Thông tre đạt 48,1 cm; Cẩm lai đạt 36,62

cm; Lim xanh đạt 36,17 cm; Bách xanh đạt 35

cm; Nghiến đạt 32,98 cm; Lát hoa đạt 23,11

cm; Ngọc am đạt 22,42 cm, Giổi xanh đạt

19,84 cm và thấp nhất là Kim giao chỉ đạt

19,31 cm qua 12 tháng trồng Nhưng nhìn

chung với lập địa mới hoàn toàn, cộng thêm

thời gian trồng ngắn (trong vòng 12 tháng)

các cây bản địa trong vườn cây bản địa đang

phát triển rất tốt về chiều cao, sự thay đổi rõ

rệt qua từng lần đo có thể nhìn thấy dễ dàng

qua kết quả của các lần đo bên trên

Đánh giá tình hình sâu bệnh

Hình 2 Sâu kèn trên lá cây nghiến

Tình hình sâu bệnh của các loài cây bản địa

nhìn chung hầu hết các loài đều không bị sâu

bệnh gây hại, riêng chỉ có 6 loài có xuất hiện

sâu bệnh hại, trong đó 4 loài bị gây hại bởi

sâu kèn ăn lá đó là Sao đen, Nghiến, Kim giao,

Chò chỉ và Đinh vàng Còn lại có dấu hiệu vàng

lá ở cây Gội nước và xuất hiện ong làm tổ trên

cây Lát hoa Trong những loài gặp sâu bệnh thì

Chò chỉ là loài bị sâu kèn gây hại nặng nhất, còn

lại 14 loài bản địa khác đều sinh trưởng đều và

tốt không có dấu hiệu sâu bệnh

KẾT LUẬN Với thực địa hoàn toàn mới thêm vào nữa được trồng từ cây con với tỷ lệ sống thống kê được tổng thể 451 cây của 20 loài cây đạt 78,2% tỷ lệ sống

Tăng trưởng đường kính gốc D(00) qua 12 tháng cao nhất là Đinh vàng với 2,02 cm, sau

đó là Gội nước 2,01 cm, Xoan nhừ 1,64 cm, Sao đen 1,41 cm và những loài có đường kính thấp như Dẻ 0,57 cm, Lát hoa 0,51 cm, Giổi xanh 0,44 cm và thấp nhất là Ngọc am đạt 0,37 cm

Các loài cây bản địa tăng trưởng về chiều cao tốt nhất là Sao đen với chiều cao vút ngọn trung bình là 97,63 cm đến tiếp đó là Gội nước đạt 88,5 cm; Xoan nhừ đạt 78,96 cm; Đinh vàng đạt 73,1 cm; các loài có chiều cao thấp như Ngọc am đạt 22,42 cm, Giổi xanh đạt 19,84 cm và thấp nhất là Kim giao chỉ đạt 19,31 cm qua 12 tháng trồng

Nhìn chung hầu hết các loài đều không bị sâu bệnh gây hại, riêng chỉ có 6 loài có xuất hiện sâu bệnh hại, trong đó 4 loài xuất bị gây hại bởi sâu kèn ăn lá đó là Sao đen, Nghiến, Kim giao, Chò chỉ và Đinh vàng Còn lại có dấu hiệu vàng lá ở cây Gội nước và xuất hiện ong làm tổ trên cây Lát hoa Trong những loài gặp sâu bệnh thì Chò chỉ là loài bị sâu kèn gây hại nặng nhất còn lại 14 loài bản địa khác đều sinh trưởng đều và tốt không có dấu hiệu sâu bệnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê Trọng Cúc (2002), Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội

2 Ngô Kim Khôi (2001), Tin học ứng dụng trong lâm nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội

3 Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000), Giáo trình thực vật rừng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội

4 Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và

Công nghệ Việt Nam (2007), Sách Đỏ Việt Nam,

Phần II-Thực vật, Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội, tr 530-531

5 Sách đỏ IUCN (2008), Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên

Trang 6

SUMMARY

BUILDING THE NATIVE PLANT MODEL

AT THAI NGUYEN UNIVERSITY OF AGRICULTURE AND FORESTRY

Tran Quoc Hung * , Tran Ngoc Dang

TNU - University of Agriculture and Forestry

The study on building the native plant model with a total of 451 trees in 20 species was conducted

to serve for study and research of students at Thai Nguyen University The results of the initial survey showed that the survival rate of 20 species in the model had a high survival rate ranging from 70.59% to 100%, the average survival rate of the whole model was 78.2% After 12 months,

the species with highest diameter D (00) are Flueggea virosa (2.02 cm), Aglaia korthalsii (2.01

cm) the species with smallest diameter are Magnolia hypolampra (0.44 cm) and Cupressus funebris (0.37 cm) those species have developed the height such as Hopea odorata with average height developed (97.63 cm), then is Aglaia korthalsii (88.5 cm) the species with average low

height developed are Magnolia hypolampra (19.84 cm) and Nageia wallichiana (19.31 cm) Pests that the seedlings encounter mainly are leafhoppers and yellowing of the leaves found only on

species of Hopea odorata, Burretiodendron hsienmu , Nageia wallichiana , Parashorea chinensis

and Flueggea virosa From the initial study result, it shown that native species are suitable with

soil and climate condition in the study area

Keyword: Conservation, plant, ex-situ, growth, native species

Ngày nhận bài: 05/10/2018; Ngày phản biện: 23/10/2018; Ngày duyệt đăng: 31/10/2018

Ngày đăng: 20/01/2021, 13:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w