1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

HAI HỢP CHẤT GLUCOSIDE-FLAVONOID ĐƯỢC PHÂN LẬP TỪ LÁ SÓI RỪNG SARCANDRA GLABRA (THUNB.) NAKAI VIỆT NAM

4 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 272 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài báo này thông báo kết quả phân lập và xác định thành phần hóa học của 2 hợp chất flavonoid là iristectorin A và tectoridin từ dịch chiết etanol của lá sói rừng.. NG[r]

Trang 1

119

HAI HỢP CHẤT GLUCOSIDE-FLAVONOID ĐƯỢC PHÂN LẬP TỪ

LÁ SÓI RỪNG SARCANDRA GLABRA (THUNB.) NAKAI VIỆT NAM

Hoàng Năng Trọng 1 , Nguyễn Thanh Bình 1 , Phạm Thị Dung 1 , Lê Công Huân 1*,

Khổng Thị Hoa 1 , Tô Thị Hồng Thịnh 1 , Nguyễn Thị Hồng Hạnh 2

1 Trường Đại học Y Dược Thái Bình,

2 Trường Đại học Y Dược - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Sói rừng (Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai) là một loại dược liệu, có nhiều tác dụng sinh học như

chống stress, chống oxy hóa, chống viêm, giải độc và chống vi khuẩn Trong bài báo này tập trung vào phân lập và xác định cấu trúc của một số hợp chất glucoside -flavonoid từ lá dược liệu sói rừng Kết quả đã phân lập hai hợp chất là iristectorin A và tectoridin Cấu trúc các hợp chất này được xác định nhờ các phương pháp phân tích phổ MS, NMR và so sánh với các dữ liệu phổ đã công bố

Từ khóa: Sói rừng, lá, iristectorin A, tectoridin, flavonoid.

ĐẶT VẤN ĐỀ *

Sói rừng có tên khoa học là Sarcandra glabra

(Thunb.) Nakai họ Hoa sói (Chloranthaceae)

[8] Cây phân bố ở Trung Quốc, Việt Nam,

Triều Tiên, Ấn Độ, Nhật Bản và

Malaysia [8] Tại Việt Nam, sói rừng mọc

hoang hoặc được trồng làm cảnh, làm thuốc ở

nhiều tỉnh như Lạng Sơn, Hòa Bình, Thái

Nguyên, Thái Bình, Lâm Đồng… Sói rừng

được biết đến với nhiều hoạt tính sinh học

quý như kháng viêm, kháng virus, kháng tế

bào ung thư, chống oxi hóa, hạ huyết áp [4]

Các nhà khoa học đã phát hiện trong sói rừng

có nhiều hợp chất thuộc các nhóm

sesquiterpen, acid phenolic, flavonoid,

polysaccharid và coumarin [1], [3], [5] Tại

Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên

cứu về thành phần hóa học của dược liệu sói

rừng Bài báo này thông báo kết quả phân lập

và xác định thành phần hóa học của 2 hợp

chất flavonoid là iristectorin A và tectoridin

từ dịch chiết etanol của lá sói rừng

NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

Nguyên liệu

Nguyên liệu dùng trong nghiên cứu là lá cây

sói rừng (S glabra) được thu hái tại xã Diêm

Điền, Hồng Quỳnh, huyện Thái Thụy, tỉnh

* Email: huanc3d@gmail.com

Thái Bình tháng 02/ 2018 Tên khoa học dược liệu được TS Đỗ Thanh Tuân, bộ môn Sinh học - Trường Đại học Y Dược Thái Bình giám định bằng phương pháp so sánh hình thái Lá sói rừng chất lượng tốt được lựa chọn, sấy ở 50oC đến độ ẩm còn dưới 2%, xay thành bột làm nguyên liệu nghiên cứu thành phần hóa học

Dung môi, hóa chất

Các dung môi dùng cho chiết xuất và phân

lập hoạt chất: Etanol, n-hexan, etylacetat

(EtOAc), metanol, diclorometan Dung môi, hóa chất sử dụng trong nghiên cứu đều đạt tiêu chuẩn tinh khiết phân tích (PA)

Thiết bị, dụng cụ

Các chất được phân lập bởi các cột sắc ký (cột thủy tinh) với hạt silica-gel 160 cỡ hạt 0,04 - 0,063 mm (Merck) Sắc ký lớp mỏng

sử dụng bản mỏng nhôm tráng sẵn silica-gel

GF254 Phổ khối lượng (MS) được ghi bằng máy khối phổ phun mù điện tử (MS) Hewlett

Packard HP 5890 Phổ cộng hưởng từ hạt

nhân (NMR) được ghi bằng máy Bruker

AV-500 dùng DMSO-d 6 làm dung môi Độ chuyển dịch hóa học () được biểu thị bằng đơn vị phần triệu (ppm), lấy mốc là pic của

chất chuẩn nội tetramethylsilan (TMS)

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân lập các hợp chất

Trang 2

120

Phân lập các hợp chất từ lá sói rừng bằng sắc

ký lớp mỏng và sắc ký cột

- Sắc ký lớp mỏng (TLC): Phát hiện chất bằng

đèn tử ngoại bước sóng 254 và 365 nm hoặc

dùng thuốc thử hiện màu H2SO4 10% được

phun đều khi hiện màu, hoặc dung dịch

FeCl3/etanol 5%

- Sắc ký cột (CC): Tiến hành phân lập các

hoạt chất trên sắc ký cột nhồi silcagel pha

thường và cột Dianion LH-20

Phương pháp xác định các cấu trúc hóa học

các hợp chất

Bằng cách đo nhiệt độ nóng chảy, các phương

pháp phổ (phổ khối lượng MS, phổ cộng

hưởng từ hạt nhân 1

H-NMR và 13C-NMR)

THỰC NGHIỆM

Chiết xuất và phân lập

Lá sói rừng khô nghiền nhỏ (3 kg) được chiết

hồi lưu với ethanol 96% (3 lần x 3 lít, 4 giờ)

Lọc, gộp dịch chiết và cất thu hồi dung môi

dưới áp suất giảm thu được 122,6 g cao

etanol Cao thu được đem phân tán vào trong

1,5 lít nước và lắc phân đoạn lần lượt với

n-hexan (3 lần x 1 lít) và EtOAc (3 lần x 1 lít)

Các phân đoạn lần lượt cất thu hồi dung môi

dưới áp suất giảm thu được cắn n-hexan (12,6

g), cắn EtOAc (13,3 g) và cắn nước (87,6 g)

Cắn nước được tiến hành phân lập trên cột

Dianion LH-20, rửa giải theo gradien với hệ

dung môi etanol - nước (0:1, 1:3, 1:1, 3:1,

1:0, v/v) Sau khi cất thu hồi dung môi dưới

áp suất giảm thu được 5 cao phân đoạn tương

ứng, ký hiệu SG1A-SG1E Phân đoạn SG3A

(12,4 g) được được đưa lên cột nhồi silcagel

pha thường, rửa giải bằng hệ dung môi

diclorometan:metanol (20:1) thu được hợp

chất SG1 (11,6 mg) Phân đoạn SG4A (15,6

g) được đưa lên cột nhồi silcagel pha thường,

rửa giải bằng hệ dung môi

diclorometan:metanol:nước (20:8:0,5, v/v)

thu được hợp chất SG2 (13,7 mg)

Hợp chất SG1: Chất rắn, tinh thể màu trắng;

Phổ MS m/z: 493 [M+H]+

Phổ 1 H-NMR

(DMSO-d 6, 900 MHz): δH aglycon 12,93 (1H,

OH-5); 9,61 (1H, OH-3'); 8,47 (1H, s, H-2);

6,89 (1H, s, 8); 7,16 (1H, d, J = 8,0 Hz, H-2'); 6,83 (1H, d, J = 8,0 Hz, H-5'); 7,01 (1H,

dd, J = 2,5; 8,0 Hz, H-6'); 3,77 (3H, s,

6-OCH3); δH glc 5,11 (H, d, J = 7,0 Hz, H-1'');

3,34 (1H, m, H-2''); 3,31 (1H, m, H-3''); 3,72

(1H, dd, J = 4,5; 5,5 Hz, H-4''); 3,46 (1H, m,

H-5''); 3,48 (1H, m, Ha-6"); 3,19 (1H, m, Hb-6''); 3,80 (3H, s, 4'-OCH3); 5,44 (1H, d, J = 5,5 Hz, OH-2"); 4,62 (1H, br d, J = 5,5 Hz, OH-3''); 5,09 (1H, d, J = 5,5 Hz, OH-4"); 5,15 (1H, d, J = 4,5 Hz, OH-6") Phổ 13 C-NMR

(DMSO-d 6, 225 MHz): δC 152,4 (C-2); 122,1 3); 180,8 4); 152,9 5); 132,5 (C-6);156,6 (C-7); 94,0 (C-8); 152,9 (C-9); 106,5 10); 121,5 1'); 113,3 2'); 147,3 (C-3'); 146,8 (C-4'); 115,3 (C-5'); 121,7 (C-6'); 60,3 (6-OCH3); 100,1 (C-1"); 73,2 (C-2"); 77,3 (C-3"); 69,7 (C-4"); 76,7 (C-5"); 60,7 (C-6"); 55,8 (4'-OCH3)

Hợp chất SG2: Dạng bột vô định hình màu

trắng Phổ MS m/z: 463 [M+H]+ Phổ 1

12,93 (1H, OH-5); 9,64 (1H, OH-4'); 8,44

(1H, s, H-2); 6,89 (1H, s, H-8); 7,41 (1H, d, J

= 8,0 Hz, H-2', 6'); 6,84 (1H, dd, J = 2,0; 7,0

Hz, H-3', 5'); 3,75 (3H, s, 6-OCH3); δH glc:

5,12 (1H, d, J = 8,0 Hz, H-1''); 3,36 (1H, m,

2''); 3,30 (1H, m, 3''); 3,70 (1H, m, H-4"); 3,45 (1H, m, H-5"); 3,47 (1H, m, Ha-6"); 3,20 (1H, m, Hb-6"); 5,44 (1H, dd, J = 5,5; 8,0 Hz, OH-2"); 4,62 (1H, br d, J = 5,5 Hz, OH-3"); 5,09 (1H, d, J = 3,6 Hz, OH-4"); 5,16 (1H, d, J = 3,6 Hz, OH-6") Phổ 13

122,1 (C-3); 180,8 (C-4); 152,9 (C-5); 132,5 (C-6); 157,5 (C-7); 94,1 (C-8); 152,5 (C-9); 106,5 (C-10); 121,1 (C-1'); 130,2 (C-2', 6'); 115,1 (C-3', 5'); 156,6 (C-4'); 60,3 (6-OCH3); 100,2 (C-1"); 73,1 (C-2"); 76,7 (C-3"); 69,7

(C-4"); 77,3 (C-5"); 60,7 (C-6")

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Từ các kết quả phổ của các hợp chất phân lập

từ lá sói rừng, nhóm nghiên cứu thu được kết quả như sau:

Trang 3

121

Hình 1 Cấu trúc của các hợp chất 1, 2

Hợp chất SG1: Phổ khối của hợp chất SG1

có một pic ion phân tử m/z 493 [M+H]+

tương ứng với công thức phân tử là C23H24O12 (M =

492) Dữ liệu phổ 1

H-NMR của SG1 đo trong

dung môi DMSO-d 6 với tần số 900 MHz cho

thấy hai tín hiệu đơn ở δH 8,47 (1H, s) và 6,89

(1H, s) là của proton ở vị trí số 2 và số 8 đặc

trưng cho khung isoflavon Dựa vào các tín

hiệu phổ thu được kết hợp phổ DEPT cho

thấy vòng benzen của hợp chất SG1 không

thế para do xuất hiện một nhóm thế hydroxyl

ở vị trí 3' cho tín hiệu single và trên vòng

benzen xuất hiện 2 tín hiệu double Trên phổ

1

H-NMR xuất hiện hai nhóm methoxy có giá

trị chuyển dịch hóa học δH 3,77 (3H, s,

6-OCH3) và 3,80 (3H, 4'-OCH3) tương ứng với

các tín hiệu trên phổ cộng hưởng từ hạt nhân

carbon δC 60,3 (6-OCH3) và 55,8 (4'-OCH3)

Các tín hiệu proton ở δH 7,16 (1H, d, J = 2,5

Hz, H-2'); 7,01 (1H, dd, J = 2,5; 8,0 Hz, H-6')

và 6,83 (1H, d, J = 8,0 Hz, H-5') thể hiện sự

có mặt của các vị trí thế ở 3' ,4' vòng B cuả

isoflavon Ngoài ra, từ tín hiệu phổ proton

cũng thể hiện sự có mặt của một phân tử

đường glucozơ trong công thức cấu tạo của

hợp chất này δH 5,11 (1H, d, J = 7,0 Hz,

H-1''); 3,34 (1H, m, H-2''); 3,31 (1H, m, H-3'');

3,72 (1H, m, H-4"); 3,46 (1H, m, H-5"); 3,48

(1H, m, Ha-6") và 3,19 (1H, m, Hb-6") Trong

đó, giá trị hằng số liên kết tại H-1''/H-2" [5,11

(H, d, J = 7,2 Hz, H-1'')] thể hiện liên kết

O-glycosid và đặc trưng bởi dạng liên kết β Phổ

13

C-NMR xuất hiện tín hiệu của 23 carbon trong đó 15 carbon của khung isoflavon, 6 carbon của đường và 2 carbon của nhóm methoxy Các tín hiệu trên phổ carbon kết hợp với tín hiệu thu được từ phổ DEPT-90 và DEPT-135 cho thấy trong số 23 cacbon có 10 cacbon bậc 4, 10 cacbon methin, 1 cacbon metylen và 2 cacbon metyl Từ kết quả thu được như đã trình bày ở trên kết hợp với so sánh dữ liệu phổ trong tài liệu [7], hợp chất

SG1 được xác định là

iristectorigenin-7-O-Glc (còn có tên gọi khác là iristectorin A)

Hợp chất 2:

Phổ khối của hợp chất SG2 có một pic ion

phân tử m/z 463 [M+H]+

tương ứng với công thức phân tử là C22H22O11 (M = 462) Dữ liệu phổ 1

H-NMR của SG2 đo trong dung môi

DMSO-d 6 với tần số 900 MHz cho thấy tín hiệu proton singlet ở δH 8,44 (1H, s, H-2) đặc

trưng bởi khung isoflavon Kết quả cho thấy

có mặt của 1 vòng thơm thế para dựa trên sự xuất hiện 2 tín hiệu doublet tại δH 7,41 (1H, d,

J = 8,0 Hz, H-2', 6') và 6,84 (1H, dd, J = 2,0;

7,0 Hz, H-3',5' Nhóm methoxy được thể hiện bởi tín hiệu proton ở δH 3,75 (3H, s, 6-OCH3) Ngoài ra, tín hiệu phổ proton cũng thể hiện sự

có mặt của một phân tử đường glucozơ trong công thức cấu tạo của hợp chất này δH 5,12

(H, d, J = 8,0 Hz, H-1''); 3,36 (1H, m, H-2'');

3,30 (1H, m, H-3''); 3,70 (1H, m, H-4"); 3,45 (1H, m, H-5"); và 2 tín hiệu 3,47 (1H, m, Ha -6"); 3,20 (1H, m, Hb-6") Trong đó, giá trị

hằng số liên kết tại H-1''/H-2" [5,12 (1H, d, J

= 8,0 Hz, H-1'')] thể hiện liên kết O-glycosid

và đặc trưng bởi dạng liên kết β Dữ liệu phổ

13

C-NMR xuất hiện tín hiệu của 22 cacbon trong đó 15 cacbon của khung isoflavon, 6 cacbon của 1 phân tử đường và 1 cacbon của nhóm methoxy Các tín hiệu trên phổ carbon kết hợp với tín hiệu thu được từ phổ DEPT-90

và DEPT-135 cho thấy trong số 22 tín hiệu cacbon có 9 cacbon bậc 4, 11 cacbon methin,

1 cacbon metylen và 1 cacbon metyl Từ kết quả thu được như đã trình bày ở trên kết hợp

Trang 4

122

với so sánh dữ liệu phổ trong tài liệu tham

khảo [2], [6], hợp chất SG2 được xác định là

tectoridin

KẾT LUẬN

Bằng các phương pháp sắc ký kết hợp với các

phương pháp phổ, chúng tôi đã phân lập và

xác định cấu trúc của 2 hợp chất bằng các

phương pháp phổ hiện đại (MS, 1

H-NMR,

13

C-NMR) từ lá sói rừng là iristectorin A và

tectoridin

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Feng S., et al (2010), "A new coumarin from

Sarcandra glabra", Fitoterapia, 81, pp 472-474

2 Kim C., et al (2003), "Study of substance

changes in flowers of Pueraria thunbergiana

Benth during storage", Archives of pharmacal

research 26(3), pp 210 - 213

3 Li X., et al (2012), "Simultaneous

determination of ten active compounds in the

whole plant of Sarcandra glabra and its related

traditional Chinese medicinal preparations by ultra

high performance liquid chromatography", Asian

J Chem., 24(3), pp 37-41

4 Liu W., et al (2014), "Hypoglycemic, hypolipidemic and antioxidant effects of

Sarcandra glabra polysaccharide in type 2 diabetic mice", Food Funt, 5, pp 2850-2860

5 Ni G., et al (2013), "Cytotoxic sesquiterpenoids from Sarcandra glabra", Tetrahedron, 69, pp 564-569

6 Singab A N (2004), "Flavonoids from Iris spuria (Zeal) cultivated in Egypt", Archives of pharmacal research 27(10), pp 1023 - 1028

7 Sun Y., Li W., and Wang J (2011), "Ionic liquid based ultrasonic assisted extraction of

isoflavones from Iris tectorum Maxim and

subsequently separation and purification by

high-speed counter-current chromatography", Journal

of chromatography, 879(13), pp 975 - 980

8 Tsai Y C., et al (2017), "Anti-infalmmatory

priciples from Sararcandra glabra", J Agric Food Chem, 65(31), pp 6497-6505

SUMMARY

TWO DERVATIVES OF GLUCOSIDE-FLAVONOID ISOLATED

FROM THE LEAF OF SARCANDRA GLABRA (THUNB.) NAKAI IN VIETNAM

Hoang Nang Trong 1 , Nguyen Thanh Binh 1 , Pham Thi Dung 1 , Le Cong Huan 1* ,

Khong Thi Hoa 1 , To Thi Hong Thinh 1 , Nguyen Thi Hong Hanh 2

1

Thai Binh University of Medicine and Phamacy,

2

TNU-Thai Nguyen University of Medicine and Pharmacy,

3

National Institute of Medicinal Material Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai is a medicinal plant which has many biological effects such as

anti-stress, anti-oxidant, anti-inflammatory, detoxifying and anti-bacterial effects In this article,

we have focused on the isolation and indentification of some glucoside-flavonoid compounds from

leaf of Sarcandra glabra The result was isolated two compounds: iristecnotin A and tectoridin

Their structures was indentifed on the basic of physicochemical data and MS, NMR spectral analysis in comparison with the publish data

Keywords: Sarcandra glabra, leaf, iristectorin A, tectoridin, flavonoid

Ngày nhận bài: 17/8/2018; Ngày phản biện: 30/8/2018; Ngày duyệt đăng: 31/10/2018

* Email: huanc3d@gmail.com

Ngày đăng: 20/01/2021, 13:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w