Trên đà phát triển đó hoạt động của ngân sách nhà nước có vị trí hết sức quan trọng, thể hiện qua việc huy động và phân bổ nguồn lực hợp lý, đảm bảo cân đối thu chi, lành mạnh tình hình
Trang 1HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CẤP XÃ, PHƯỜNG VÀ
THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
- NGUYỄN THỊ THÙY LINH
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CẤP XÃ, PHƯỜNG VÀ
THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2012 Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thùy Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Khoa Sau đại học, Khoa Kinh tế, đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến PGS.TS.Nghiêm Sỹ Thương, người thầy đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo và cán bộ Sở Tài chính Hòa Bình, Cục thuế tỉnh Hòa Bình, Cục Thống kê Hòa Bình, Phòng Tài chính các huyện đã giúp
đỡ tạo điều kiện cung cấp những thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này
Qua đây, tôi xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt huyết và năng lực của mình, song với kiến thức còn nhiều hạn chế và trong giới hạn thời gian quy định, luận văn này chắc chắn còn nhiều thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô, đồng nghiệp và các chuyên gia để nghiên cứu một cách sâu hơn, toàn diện hơn trong thời gian tới
Xin trân trọng cảm ơn !
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thùy Linh
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II MỤC LỤC III BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT V DANH MỤC BẢNG BIỂU VI DANH MỤC SƠ ĐỒ VII DANH MỤC PHỤ BIỂU VIII
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Nội dung 3
CHƯƠNG I 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CẤP XÃ 4
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH CẤP XÃ 4
1.1.1 Khái niệm ngân sách cấp xã 4
1.1.2 Đặc điểm của ngân sách cấp xã 4
1.1.3 Vai trò của ngân sách cấp xã đối với hệ thống ngân sách và phát triển trên địa bàn xã: 7
1.2 Nội dung thu – chi ngân sách xã 10
1.2.1 Thu ngân sách xã 10
1.2.1.1 Các khoản thu ngân sách xã được hưởng 100% 11
1.2.1.2 Các khoản thu ngân sách xã được hưởng theo tỷ lệ điều tiết 11
1.2.1.3 Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên 12
1.2.2 Chi ngân sách xã 13
1.2.2.1 Chi thường xuyên 13
1.2.2.1 Chi đầu tư 14
1.2.3 Chu trình ngân sách xã 14
1.2.3.1 Khái niệm chu trình ngân sách xã 14
1.2.3.1 Vị trí mỗi khâu trong chu trình ngân sách xã 15
1.3 Về quản lý ngân sách Nhà nước 17
Trang 61.3.1 Nguyên tắc quản lý ngân sách 17
1.3.2 Quản lý thu ngân sách Nhà nước 18
1.3.3 Quản lý chi ngân sách Nhà nước 20
1.3.4 Cân đối ngân sách Nhà nước 20
1.4 Vấn đề tự cân đối và những thách thức đối với chính quyền cấp xã 22
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH 25
2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hòa Bình 25
2.1.1 Vị trí địa lý của tỉnh 25
2.1.2 Tình hình phát triển Kinh tế - Xã hội của tỉnh 26
2.2 Tình hình quản lý ngân sách tại Hòa Bình 28
2.3 Thực trạng quản lý ngân sách xã, phường, thị trấn tại tỉnh Hòa Bình 33
2.3.1 Đánh giá chung về khuôn khổ pháp lý 34
2.3.2 Thực trạng lập dự toán ngân sách xã, phường, thị trấn 35
2.3.2.1 Căn cứ lập dự toán ngân sách xã 35
2.3.2.2 Quy trình lập dự toán ngân sách xã 39
2.3.2.3 Bộ máy tham gia lập dự toán ngân sách xã 39
2.3.2 Thực trạng chấp hành dự toán ngân sách xã, phường, thị trấn 41
2.3.3.1 Thực trạng quản lý thu ngân sách xã, phường, thị trấn 41
2.3.3.2 Thực trạng quản lý chi ngân sách xã, phường, thị trấn 46
2.3.4 Thực trạng kế toán và quyết toán ngân sách xã, phường, thị trấn 51
2.3.4.1 Đội ngũ kế toán xã 51
2.3.4.2 Kế toán quyết toán ngân sách xã 52
2.3.5 Cân đối ngân sách xã, phường, thị trấn 56
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÒA BÌNH 63
3.1 Mục tiêu hoàn thiện công tác quản lý ngân sách xã 63
3.2 Những nguyên nhân của hạn chế 64
3.3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý ngân sách xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình 66
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 8772
Trang 7BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, cùng với quá trình hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế đặc biệt là việc gia nhập WTO, kinh tế Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực Trên đà phát triển đó hoạt động của ngân sách nhà nước có vị trí hết sức quan trọng, thể hiện qua việc huy động và phân bổ nguồn lực hợp lý, đảm bảo cân đối thu chi, lành mạnh tình hình tài chính, đảm bảo thực hiện công bằng xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, ổn định và bền vững Tuy nhiên, nguồn lực huy động phục vụ cho phát triển của đất nước là có hạn, tình hình quản
lý ngân sách thời gian qua vẫn còn thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả trong sử dụng vốn ngân sách nhà nước Do đó, yêu cầu huy động và sử dụng có hiệu lực, hiệu quả các nguồn lực thông qua công cụ ngân sách nhà nước là hết sức cần thiết không chỉ ở cấp quốc gia mà đòi hỏi các cấp chính quyền địa phương phải thực hiện
Ở Việt Nam, chính quyền cấp xã là chính quyền cơ sở nơi trực tiếp nắm bắt, giải quyết các nguyện vọng của nhân dân, trực tiếp tổ chức và lãnh đạo nhân dân triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn Các nội dung công việc của chính quyền cấp xã cần phải có một nguồn lực tài chính đáp ứng rất lớn và có ý nghĩa tiên quyết mà chủ yếu do ngân sách nhà nước đảm bảo Chính vì thế việc quản lý ngân sách và tài chính xã một cách tiết kiệm, hiệu quả, công khai, minh bạch và khoa học càng cần thiết hơn bao giờ hết
Từ khi thực hiện Luật ngân sách đến nay Chính phủ và chính quyền địa phương đã làm nhiều nỗ lực để nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính công, thế nhưng kết quả đạt được chưa cao Nhiều địa phương đã không thực hiện tốt những nội dung mà Luật ngân sách quy định, đặc biệt là thời gian lập, chấp hành dự toán ngân sách chưa gắn kết với kế hoạch phát triển kinh tế xã
Trang 9hội, nguồn lực ngân sách được sử dụng kém hiệu quả và hiệu lực Một trong những cấp còn tồn tại chủ yếu là từ ngân sách cơ sở - Ngân sách cấp xã
Là ngân sách cấp cơ sở ngoài việc chấp hành theo Luật ngân sách nhà nước, ngân sách xã còn được hướng dẫn riêng và chịu sự chi phối bởi các Nghị quyết và chính sách của nhà nước cấp tỉnh Do vậy, công tác quản lý ngân sách xã, phường, thị trấn được thực hiện tốt là góp phần thực hiện thành công công tác điều hành ngân sách địa phương nói riêng và quản lý nhà nước địa phương nói chung
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Hoàn thiện quản lý ngân sách cấp xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình” Tôi hi
vọng rằng với nghiên cứu này có thể đóng góp một phần nhỏ vào giải quyết những tồn tại hiện nay và từng bước nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách tỉnh Hòa Bình
2 Mục tiêu của nghiên cứu
Tạo cho chính quyền cấp xã cơ bản hoàn toàn chủ động, nâng cao trách nhiệm trong quản lý thu – chi ngân sách, lập ngân sách sát với người dân và nhu cầu phát triển của địa phương; tăng cường tính công khai, minh bạch trong công tác quản lý ngân sách
3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin làm phương pháp luận nghiên cứu về lĩnh vực kinh
tế, tài chính, ngân sách Đồng thời sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh dựa trên lý thuyết tài chính và số liệu thực tiễn về ngân sách xã,
phường, thị trấn tỉnh Hòa Bình, từ đó làm sáng tỏ những nội dung nghiên cứu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung khái quát lại những vấn đề về khái niệm, bản chất, vai trò, cơ chế quản lý NSNN; phân tích ưu nhược điểm, các tồn tại và nguyên nhân
cơ bản quản lý ngân sách xã, phường, thị trấn tỉnh Hòa Bình giai đoạn
Trang 102007-2011 Rút ra một số kết luận ban đầu và đề xuất một số biện pháp chủ yếu cần thiết nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách phù hợp với điều kiện kinh tế địa phương
5 Nội dung
Kết cấu luận văn gồm:
- Phần mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý ngân sách cấp xã
- Chương 2: Thực trạng quản lý ngân sách xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình
- Chương 3: Giải pháp góp phần hoàn thiện quản lý ngân sách xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hòa Binh
- Kết luận
Trang 11CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CẤP XÃ
1.1 Tổng quan về ngân sách cấp xã
1.1.1 Khái niệm ngân sách cấp xã
Ngân sách Nhà nước là phạm trù kinh tế mang tính chất lịch sử, nó phản ánh những mặt nhất định của các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã hội trong điều kiện còn tồn tại quan hệ hàng hóa tiền tệ và được sử dụng như một công cụ thực hiện các chức năng của nhà nước Điều này có nghĩa sự ra đời và tồn tại của ngân sách Nhà nước gắn liền với sản xuất hàng hóa, với sự ra đời của nhà nước
Ở Việt Nam, ngân sách xã, phường, thị trấn là một cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách Nhà nước Việt Nam Vì vậy ngân sách xã, phường, thị trấn là toàn bộ các khoản thu chi trong dự toán của Nhà nước cấp xã, phường, thị trấn đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm nhằm đảm bảo nguồn tài chính cho chính quyền Nhà nước cấp xã, phường, thị trấn trong quá trình thực hiện các chức năng nhiệm vụ về quản lý kinh tế, xã hội trên địa bàn
1.1.2 Đặc điểm của ngân sách cấp xã
Ngân sách xã, phường, thị trấn mang đầy đủ những đặc điểm chung của ngân sách Nhà nước; thêm vào đó là đặc điểm riêng tạo nên sự khác biệt của với các cấp ngân sách khác
- Đặc điểm chung
+ Ngân sách là một bảng liệt kê trong đó có dự kiến và cho phép thực hiện các khoản thu chi bằng tiền của một chủ thể nào đó
Trang 12+ Ngân sách tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm
+ Hoạt động của ngân sách xã luôn gắn chặt với hoạt động của chính quyền Nhà nước cấp xã
+ Quản lý ngân sách xã nhất thiết phải tuân theo một chu trình chặt chẽ và khoa học
+ Phần lớn các khoản thu, chi của ngân sách xã được thực hiện theo phương thức phân phối lại và không hoàn trả một cách trực tiêp
- Đặc điểm riêng: Ngân sách xã vừa là một cấp ngân sách cơ sở trong hệ thống ngân sách Nhà nước, vừa là một đơn vị trực tiếp sử dụng kinh phí
Đối với ngân sách cấp nhà nước, các biểu hiện của nó rất đa dạng và phong phú Chẳng hạn các doanh nghiệp và người dân nộp thuế cho nhà nước góp phần hình thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, đồng thời doanh nghiệp
và người dân được Nhà nước trợ cấp, đầu tư, tài trợ vốn (nếu có), được hưởng các lợi ích gián tiếp khác (cơ sở hạ tầng, giáo dục đào tạo, nguồn nhân lực) và được Nhà nước đảm bảo về quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội và các phúc lợi công cộng khác Việc tạo lập và sử dụng quỹ ngân sách Nhà nước phản ánh luật pháp hóa các hoạt động của nhà nước bởi dự toán thu chi ngân sách Nhà nước được cấp có thẩm quyền thảo luận, quyết định và phê chuẩn trong khuôn khổ pháp luật Bằng quyền lực chính trị và quyền lực chủ sở hữu, qua việc chủ động tăng hoặc giảm quy mô, điều chỉnh kết cấu, mức độ bội chi và biện pháp bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước tác động vào nền kinh tế, thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển kinh tế Việc bố trí ngân sách Nhà nước thể hiện rất rõ nét tính ưu tiên chiến lược để giải quyết nhiều vấn đề kinh tế chính trị do thực tế đặt ra Như vậy bản chất của ngân sách Nhà nước là hệ thống những mối quan hệ giữa Nhà nước
và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng của Nhà nước
Trang 13Trong hệ thống tài chính, ngân sách Nhà nước đóng vai trò chủ đạo và tổ chức các hoạt động của hệ thống tài chính Đó là vai trò định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội…
Ở Việt Nam hệ thống ngân sách Nhà nước hiện nay bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách các đơn vị hành chính có cấp HĐND và UBND
Sơ đồ 1.1: Hệ thống ngân sách Nhà nước
Quan hệ giữa các cấp ngân sách được thực hiện theo nguyên tắc:
Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi, cụ thể:
- Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó cân đối Trường hợp cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải
Ngân sách Trung ương Ngân sách địa phương
Ngân sách cấp tỉnh
(Thành phố thuộc trung ương)
Ngân sách thành phố Ngân sách Ngân sách thuộc tỉnh cấp thị xã cấp huyện
Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn
Hệ thống Ngân sách nhà nước
Trang 14chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó Không được dùng ngân sách cấp này để chi cho các nhiệm vụ của cấp khác
- Thực hiện bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới, số bổ sung từ ngân sách cấp trên được coi là khoản thu của ngân sách cấp dưới để đảm bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng trong địa phương
1.1.3 Vai trò của ngân sách cấp xã đối với hệ thống ngân sách và phát triển trên địa bàn xã:
Ở Việt Nam chính quyền địa phương như là cấp phụ thuộc trong hệ thống phân cấp, hành động thay mặt chính quyền trung ương, được phân cấp thành chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, chính quyền cấp quận, huyện, thành phố trực thuộc tỉnh, chính quyền cấp xã, phường, thị trấn Hệ thống chính quyền như vậy gần như tương ứng với mô hình phân cấp tài khóa truyền thống
- Việc phát triển chính sách và đề ra chuẩn mực cung cấp dịch vụ được quyết định ở mức quốc gia
- Giám sát và đánh giá thực hiện ở cấp quốc gia và cấp tỉnh
- Dịch vụ được cung cấp bởi chính quyền địa phương
Nguồn lực hoạt động của chính quyền các cấp được tài trợ từ phí, lệ phí và thuế Như vậy thực tiễn đặt ra cho chính quyền địa phương một khối lượng công việc rất lớn, đặc biệt là chính quyền cấp xã Bởi vì quản lý của chính quyền cấp
xã là quản lý về mặt dân sinh, kinh tế, văn hóa, xã hội và trật tự trị an ở xã Những công việc xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, đảm bảo an toàn địa phương là những vấn đề quan trọng của chính quyền cấp xã đòi hỏi phải có bộ máy quản lý và nguồn lực tài chính tương xứng để thực thi chúng Nguồn lực tài chính để đáp ứng những yêu cầu nêu trên chủ yếu là ngân sách cấp xã Là một bộ phận của ngân sách Nhà nước do vậy yêu cầu về quản lý
Trang 15Luật ngân sách, đó là yêu cầu nhằm đảm bảo sự thống nhất để thực hiện Những đặc điểm của ngân sách xã hiện nay là do Ủy ban nhân dân xã xây dựng và quản
lý, hội đồng nhân dân xã quyết định và giám sát Như vậy, với trách nhiệm trên thì ngân sách xã có một vị trí độc lập tương đối Tuy nhiên, xét về mặt tổng thể của ngân sách địa phương thì ngân sách xã phụ thuộc vào hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện như: Quy định về nguồn thu và nhiệm vụ chi
và điều chỉnh tỉ lệ % phân chia giữa các cấp ngân sách địa phương trong thời từng kỳ; quy định hướng dẫn quản lý sao cho phù hợp với từng địa phương; quy định
về phân cấp đầu tư; quy định về đào tạo, về bố trí cán bộ công tác ở ban tài chính
xã Chính vì vậy ngân sách xã có vai trò quan trọng đối với hệ thống ngân sách và phát triển địa bàn xã
Thứ nhất: Xây dựng ngân sách xã vững chắc là điều kiện quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, làm giảm sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị Xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội đia liền với thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa hình thành nên các trung tâm thị trấn mới, làm giảm dần sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn
Thứ hai: Ngân sách xã là một công cụ tài chính quan trọng để chính quyền cấp xã thực hiện mọi chức năng nhiệm vụ được giao Đây là vai trò quan trọng nhất, bởi vì mọi hoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn xã đều dựa chủ yếu vào nguồn lực tài chính ngân sách xã Đồng thời ngân sách xã còn tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao để nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân và tài trợ thích hợp cho việc phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế góp phần nâng cao dân trí, chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Thứ ba: Ngân sách xã là công cụ tài chính quan trọng để chính quyền nhà nước cấp xã điều chỉnh các hoạt động của xã đi đúng hướng, thu hút vốn dầu tư phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội ở địa phương Chính quyền cấp xã cũng như chính quyền cấp khác nói chung đều dùng các công cụ luật pháp, kế hoạch, hành
Trang 16chính và tài chính để điều chỉnh các hoạt động nhằm hướng đến mục tiêu ổn định
và phát triển kinh tế xã hội Trong lĩnh vực tài chính ngân sách là công cụ quan trọng nhất Thông qua thu ngân sách chính quyền cấp xã kiểm tra, kiểm soát, điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ theo kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội của địa phương Thông qua chi ngân sách, xã bố trí các khoản chi để đảm bảo tăng cường hiệu lực và hiệu quả hoạt động của chính quyền về quản lý xã hội Bảo vệ lợi ích của người dân, các tổ chức kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho đâu tư phát triển kinh doanh trên địa bàn xã, thu hút đầu tư từ bên ngoài
Tuy nhiên, trong thực tiễn nguồn lực tài chính của chính quyền cấp xã còn phụ thuộc nhiều vào các chính quyền cấp trên, do vậy chính quyền cấp xã khó có thể đáp ứng được sự hài lòng của người dân trong việc cung cấp hàng hóa dịch vụ công cho xã hội Theo lý thuyết quản lý công hiện tại không chỉ quan tâm làm cái
gì, mà còn quan tâm đến làm thế nào để thực hiện tốt hơn Lý thuyết này còn cho rằng cần tạo ra môi trường kích thích mà trong đó người quản lý còn được trao quyền nhiều hơn trong việc phân bổ nguồn lực và chịu trách nhiệm về kết quả Đối với chính quyền cấp xã, chính quyền gần dân nhất phải được phân cấp để chủ động hoàn thiện quản lý ngân sách nhằm đáp ứng được sự thỏa mãn về khối lượng, chất lượng và các hàng hóa dịch vụ công cho người dân Hình thành lên một chuỗi các mối quan hệ tác động lẫn nhau: Nguồn lực tài chính, hoạt động của chính quyền cấp xã, số lượng, chất lượng hàng hóa dịch vụ công cung cấp cho xã hội, mức độ hài lòng của người dân Chính quyền cấp xã chủ động chủ động về nguồn lực tài chính thì hoạt động của chính quyền cấp xã sẽ hiệu quả hơn Điều
đó đo lường bởi số lượng, chất lượng hàng hóa, dịch vụ công cung cấp cho xã hội
và được thể hiện qua mức độ hài lòng của công chúng Chính vì thế nó tác động ảnh hưởng gia tăng nguồn thu cho ngân sách xã Theo lý thuyết kinh tế học tổ chức: Việc thiết kế chính quyền đa cấp và xác định trách nhiệm các cấp chính quyền địa phương là các cấp chính quyền khác nhau được hình thành để đáp ứng
Trang 17nhu cầu của công dân Nghĩa là việc thiết kế phân cấp nên đảm bảo sao cho các cấp chính quyền đáp ứng thỏa mãn nhu cầu của người dân với chi phí thấp nhất
Trong lĩnh vực tài chính công, Luật ngân sách Nhà nước năm 2002 ra đời đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng của công tác đổi mới quản lý ngân sách Nhà nước theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch và phân cấp ngày càng lớn cho chính quyền địa phương Đồng thời tạo điều kiện cho chính quyền cấp tỉnh chủ động trong việc phân định nhiệm vụ thu, chi và phân cấp ngân sách cho các cấp chính quyền địa phương Tuy nhiên để Luật ngân sách Nhà nước được thực thi hữu hiệu trong công tác quản lý ngân sách địa phương, cùng với tiến trình cải cách ngân sách được thực hiện đòi hỏi có sự cam kết và hỗ trợ của các nhà lãnh đạo cấp cao và phải thường xuyên nâng cao năng lực của các cấp chính quyền, đặc biệt là chính quyền cơ sở - cấp xã
1.2 Nội dung thu – chi ngân sách xã
1.2.1 Thu ngân sách xã
Thu ngân sách xã được hình thành từ ba nguồn lớn sau:
- Từ các khoản thu phát sinh trên địa bàn xã và xã được hưởng 100% số thu
từ các khoản này (các khoản thu xã được hưởng 100%)
- Từ các khoản thu phát sinh trên địa bàn xã nhưng xã chỉ đưc[j hưởng 1 phần và tính theo tỷ lệ phần trăm (%) Tỷ lệ này thường có sự thay đổi tùy theo tình hình kinh tế xã hội và yêu cầu quản lý ngân sách Nhà nước (Các khoản thu theo tỷ lệ điều tiết)
- Từ khoản thu được hình thành từ số chi ngân sách cấp trên để đảm bảo cho sự cân đối của ngân sách xã (thu bổ sung từ ngân sách cấp trên)
Theo Luật NSNN năm 2002 các khaonr thu dành cho ngân sách xã được hưởng tủy thuộc vào quyết định của HĐND tỉnh Tuy vậy Bộ Tài chính cũng
Trang 18khuyến cáo có thể đưa ra các khoản thu sau vào danh mục dành cho xã được hưởng, cụ thể:
1.2.1.1 Các khoản thu ngân sách xã được hưởng 100%
- Các khoản phí, lệ phí thu vào ngân sách xã theo quy định
- Thu từ hoạt động sự nghiệp của xã phần nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định
- Thu đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đất công ích và hoa lợi theo quy định của pháp luật do xã quản lý
- Các khoản thu đóng góp của các tổ chức các nhân gồm: Các khoản đóng góp theo pháp luật quy định, các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng do HĐND xã quyết định đưa vào ngân sách xã quản lý và các khoản đóng tự nguyện khác
- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho ngân sách xã
- Thu kết dư ngân sách năm trước
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
1.2.1.2 Các khoản thu ngân sách xã được hưởng theo tỷ lệ điều tiết
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp từ hộ gia đình
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất
- Thuế nhà, đất
- Lệ phí trước bạ nhà, đất
- Thuế cấp quyền sử dụng đất
Trang 19Các khoản thu, tỷ lệ ngân sách xã được huyển tối thiểu 70% Căn cứ vào nguồn thu, nhiệm vụ chi của xã, HĐNDS cấp tỉnh có thể quyết định tỷ lệ ngân sách xã được hưởng tối đa 100%
Ngoài các khoản thu phân chia theo quy định trên, ngân sách xã còn được HĐND cấp tỉnh cấp bổ sung thêm các nguồn thu phân chia sau khi các khoản thuế, phí, lệ phí phân chia theo Luật NSNN đã dành 100% cho các xã và các khaonr thu ngân sách xã được hưởng 100% nhưng vẫn chưa cân đối được nhiệm
vụ chi
Tỷ lệ % phân chia cho các khoản thu trên đây cho ngân sách xã do UBND tỉnh quy định ổn định từ 3 đến 5 năm phù hợp với tình hình ngân sách địa phương Để giảm bớt khối lượng nghiệp vụ, khuyến khích tăng thu có thể giao chung cho các xã cùng một tỷ lệ
1.2.1.3 Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên
Trong hệ thống ngân sách Nhà nước các cấp ngân sách có mối quan hệ hữu
cơ với nhau và mỗi cấp phải tự cân đối thu chi ngân sách Tuy nhiên trong những hoàn cảnh cụ thể nếu cấp ngân sách nào không tự cân đối đưc[j thì ngân sách cấp trên có trách nhiệm cấp bổ sung nguồn vốn cho cấp ngân sách đó để đảm bảo cân đối thu chi ngay từ khâu xây dựng dự toán Từ đó hình thành khoản thu bổ sung
và hình thành nguồn thu thứ ba cho ngân sách cấp xã
Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên được quy định như sau:
- Thu bổ sung để cân đối ngân sách được xác định trên cơ sở chênh lệch giữa dự toán chi được giao và dự toán thu từ các nguồn thu được phân cấp
- Thu bổ sung có mục tiêu là các khoản thu bổ sung theo từng năm để hỗ trợ xã thực hiện một số nhiệm vụ chi cu thể
Trang 201.2.2 Chi ngân sách xã
Có rất nhiều nội dung chi mà ngân sách xã phải đảm bảo, song khi nhìn nhận một cách khái quát thì chi ngân sách xã bao gồm 2 nhóm lớn là chi thường xuyên và chi đầu tư
1.2.2.1 Chi thường xuyên
- Chi cho hoạt động của các cơ quan Nhà nước cấp xã bao gồm:
+ Tiền lương, tiền công cho cán bộ công chức cấp xã
+ Sinh hoạt phí đại biểu HĐND
+ Các khoản phụ cấp khác theo quy định của Nhà nước
+ Chi phúc lợi tập thể, y tế, vệ sinh
+ Chi hoạt động, văn phòng như: tiền điện, nước, vật liệu văn phòng, bưu phí, điện thoại, hội nghị, tiếp dân
+ Chi mua sắm, sửa chữa thường xuyên trụ sở, phương tiện làm việc
+ Chi khác
- Kinh phí hoạt động của cơ quan Đảng cộng sản Việ Nam của xã
- Kinh phí hoạt động của tổ chức chính trị xã hội của xã sau khi trừ các khoản thu theo điều lệ và các khaonr thu khác (nếu có)
- Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho cán bộ xã và các đối tượng khác theo chế độ hiện hành
- Chi công tác dân quân tự vệ, trật tự an toàn xã hội
- Chi cho công tác xã hội và phong trào văn hóa thông tin, thể dục thể thao
do xã quản lý
- Chi sự nghiệp giáo dục
Trang 21- Chi sự nghiệp y tế
- Chi sửa chữa cải tạo công trình phúc lợi, các công trình do xã quản lý
- Hỗ trợ khuyến khích phát triển các sự nghiệp kinh tế
- Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định
1.2.2.1 Chi đầu tư
Chi đầu tư phát triển (ĐTPT) xã hiện nay gồm:
- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội của xã không có khả năng thu hồi vốn theo phân cấp của cấp tỉnh
- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội của xa
từ nguồn huy động đóng góp của các tổ chức cá nhân cho từng dự án nhất định
theo quy định pháp luật, do HĐND xã quyết định đưa vào ngân sách xã quản lý
- Các khoản chi ĐTPT khác theo quy định
1.2.3 Chu trình ngân sách xã
1.2.3.1 Khái niệm chu trình ngân sách xã
Chu trình ngân sách xã là khoảng thời gian cần thiết để tổ chức quản lý ccs hoạt động của ngân sách Nhà nước theo một trình tự khoa học nhất định trình tự các bước của các chu trình ngân sách kế tiếp nhau luôn có sự lặp lại nhưng ở mức
độ cao hơn
Trong một chu trình ngân sách phải bao gồm 3 khâu: lập dự toán ngân sách Nhà nước, chấp hành và quyết toán ngân sách Nhà nước
Ddeere thực hiện 3 khâu đó cần có thời gian hợp lý cho mỗi khâu Do đó,
độ dài về thời gian của một chu trình ngân sách Nhà nước có liên quan đến 3 năm ngân sách kế tiếp nhau Trong đó thời gian của khâu chấp hành ngân sách trùng
Trang 22với thời gian của năm ngân sách, thời gian của khâu lập dự toán và quyết toán ngân sách lại phải được tiến hành ở năm ngân sách trước và năm ngân sách sau
Tham gia vào các hoạt động trong một chu trình ngân sách có rất nhiều các
cơ quan đơn vị khác nhau để thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau trong suốt chu trình ngân sách đó Cụ thể:
- Cơ quan quyền lực Nhà nước chịu trách nhiệm quyết định dự toán, giám sát quá trình chấp hành hoạt động của ngân sách Nhà nước
- Chính phủ, UBND các cấp chịu trách nhiệm trực tieieepsql điều hành hoạt động của ngân sách Nhà nước trên cơ sở dự toán ngân sách Nhà nước đã được cơ quan quyền lực Nhà nước thông qua và các văn bản pháp quy khác về quản lý ngân sách Nhà nước đang có hiệu lực thi hành
- Cơ quan chức năng được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý từng mặt hoạt động của NSNN có trách nhiệm thực thi tốt các việc đã được phân công trong quản lý NSNN
- Các đơn vị các ngành trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân chịu trách nhiệm trước Chính phu, UBND các cấp về nghĩa vụ thu, nộp, quản lý, sử dụng các khoản vốn NSNN và các yêu cầucụ thể trong quá trình quản lý khi các cơ quan chức năng Nhà nước yêu cầu
1.2.3.1 Vị trí mỗi khâu trong chu trình ngân sách xã
a Lập dự toán ngân sách xã
Lập dự toán ngân sách xã được coi là khâu mở đầu của một chu trình ngân sách Nó xác định các chỉ tiêu thu chi ngân sách cần phải thực hiện cho năm ngân sách kế tiếp, đồng thời xác lập các biện pháp có thể áp dụng nhằm đạt được các chỉ tiêu thu chi dự kiến Lập dự toán ngân sách được coi là hoàn thành khi dự toán đó được HĐND xã thảo luận và thông qua Do vậy thời gian tiến hành lập dự
Trang 23toán ngân sách cho một chu trình ngân sách kế tiếp phải được thực thi ngay trong thời gian diễn ra chấp hành ngân sách của chu trình ngân sách hiện tại
Trong 3 khâu của chu trình ngân sách thì lập dự toán được coi là khâu có tầm quan trọng đặc biệt đối với chu trình ngân sách xã vì:
- Nó xác định và dự toán tất cả các khả năng thu, nhu cầu chi dự kiến có thể phát sinh trong năm kế hoạch để cân nhắc lựa chọn các phương án phân bổ ngân sách nhằm thiết lập cân đối ngân sách một cách vững chắc và phản ánh trên các biểu mẫu dự toán trình cho các cơ quan Nhà nước cớ thẩm quyền xét duyệt
- Quyền quyết định dự toán ngân sách xã thuộc về thẩm quyền của HĐND
xã sau đó giao lại cho UBND tổ chức chấp hành ngân sách xã Nên những nội dung thu, chi nào không được ghi vào trong dự toán hoặc không được HĐND xét duyệt và thông qua thì không thể có cơ hội phát sinh
- Các chỉ tiêu của dự toán thu chi ngân sách xã là một trong những căn cứ pháp lý quan trọng để tổ chức chấp hành và quyết toán ngân sách xã Đặc biệt đối với những khoản chi ngân sách xã thì các chỉ tiêu trong dự toán chi ngân sách là điều kiện quan trọng hành đầu để KBNN thực hiện kiểm soát chi
b Chấp hành ngân sách xã
Các chỉ tiêu trong dự toán ngân sách xã đã được HĐND xã thông qua bắt buộc UBND xã và các ban ngành có liên quan phải triển khai và biến chúng thành hiện thực, không được tự ý điều chỉnh Nhằm nhấn mạnh nghĩa vụ đó của UBND
xã và các ban ngành có liên quan đến thu, chi ngân sách xã nên người ta dung thuật ngữ “Chấp hành ngân sách xã” Việc chấp hành ngân sách xã đạt được mức
độ nào là một trong những căn cứ để đánh giá năng lực của các thành viên UBND, năng lực của trưởng các ban ngành đoàn thể có liên quan đến quản lý ngân sách xã Sự bộc lộ năng lực trên phương diện bày là dễ so sánh hơn ở các phương diện khác
Trang 24Chấp hành ngân sách xã là khâu thú hai trong chu trình ngân sách xã tại đây phải tổ chức quản lý sao cho các chỉ tiêu thu chi trong dự toán ngân sách dần dần trở thành hiện thực Trong khi các số liệu của các chỉ tiêu trong dự toán mới chỉ là dự toán đoán nhưng lại bắt buộc phải thực hiện nên kết quả ra sau thì tùy thuộc vaod chất lượng của quá trình chấp hành ngân sách mà UBND và các ban ngành đoàn thể có trách nhiệm tổ chức Do đó chấp hành ngân sách là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chu trình ngân sách
c Quyết toán ngân sách xã
Quyết toán ngân sách xã là khâu cuối cùng của chu trình quản lý ngân sách
xã Nó nhằm tổng hợp phân tích đánh giá lại toàn bộ tình hình chấp hành ngân sách xã một năm đã qua, trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết cho công tác quản lý ngân sách xã ở những chu trình ngân sách kế tiếp
Các tài liệu quyết toán ngân sách xã do Ban tài chính lập phải đảm bảo cân đối giữa tổng thu với tổng chi có gải trình chi tiết cho các số liệu được ghi trong quyết toán ngân sách xã theo đúng chế độ ké toán ngân sách xã đã quy định Hồ
sơ quyết toán ngân sách xã do UBND xã trình HĐND xã xét duyệt và phê chuẩn HĐND xã có trách nhiệm thẩm định lại toàn bộ các tài liệu trong hồ sơ quyết toán ngân sách xã và khẳng định tính hợp lệ của nó để đi đến phê chuẩn quyết toán ngân sách xã Chỉ sau khi HĐND xã đã biểu quyết phê chuẩn quyết toán ngân sách xã của năm đã qua thì các công việc của chu trình ngân sách xã năm tới mới được kết thúc
1.3 Về quản lý ngân sách Nhà nước
1.3.1 Nguyên tắc quản lý ngân sách
Trong quá trình quản lý ngân sách Nhà nước, vấn đề quan trọng là quản lý thu, thực hiện nhiệm vụ chi và cân đối ngân sách Trong thực tế, quá trình thu, chi
Trang 25ngân sách Nhà nước luôn biến đổi không ngừng và có sự chuyển hóa theo chu kỳ kinh tế
Quản lý ngân sách Nhà nước ở các nước có nền kinh tế thị trường đều tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc thống nhất: Nhà nước chỉ có một ngân sách tập hợp tất cả các khoản thu và các khoản chi
- Nguyên tắc về sự đầy đủ và toàn bộ của ngân sách Nhà nước nhằm quản
lý tập hợp mọi khoản thu chi đều được quản lý qua ngân sách, không có tình trạng để ngoài ngân sách
- Nguyên tắc trung thực: đòi hỏi mọi khoản thu chi ngân sách phát sinh đều phải được thể hiện chính xác, đầy đủ, phản ánh đúng với thực chất của các nghiệp
1.3.2 Quản lý thu ngân sách Nhà nước
Thu ngân sách Nhà nước là toàn bộ khoản tiền nhà nước huy động vào ngân sách Nhà nước để thỏa mẵn các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Tuy nhiên,
về thực chất thu ngân sách Nhà nước chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách Nhà nước mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp Phần lớn các khoản thu ngân sách Nhà nước đều mang tính bắt buộc, chủ yếu dưới hình thức thuế; các khoản thu phí, lệ phí và các khoản thu khác Thu ngân sách Nhà nước có vai trò đảm bảo các nguồn vốn thực hiện các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
Trang 26của Nhà nước Thông qua thu ngân sách Nhà nước, Nhà nước thực hiện quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội nhằm hạn chế những mặt khuyết tật phát huy những mặt tích cực của nó và làm cho nó hoạt động ngày càng hiệu quả hơn Như vậy việc tăng thu ngân sách Nhà nước được xem là nhiệm vụ hàng đầu của hoạt động tài chính vĩ mô
Căn cứ vào hình thức động viên, thu ngân sách Nhà nước thành 03 loại thu dưới hình thức nghĩa vụ thuế, phí, lệ phí; thu dóng góp tự nguyện và thu vay mượn trong và ngoài nước
Trong quản lý thu ngân sách, khả năng thu ngân sách được đánh giá bằng
tỷ lệ thu ngân sách và GDP, so sánh tốc độ tăng thu và tăng GDP xem thu ngân sách có tường xứng với GDP nhằm đảm bảo tính hợp lý, không lạm thu, vừa đảm bảo, bồi dưỡng nguồn thu và kích thích tăng trường kinh tế Ngoài ra, trong cơ cấu thu còn tính đến tỷ lệ các khoản thu thuế, phí, lệ phí trong tổng thu tỷ lệ này lớn thể hiện tính ổn định trong thu ngân sách
Nội dung quản lý thu ngân sách được thể hiện qua khâu lập dự toán từng khoản thu trên cơ sở nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội; chế độ, chính sách thu ngân sách hiện hành; tình hình thực hiện thu ngân sách năm trước, khâu tổ chức thực hiện có vai trò quan trọng, đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp chính quyền trong thực hiện thu, đảm bảo thu đúng, thu đủ và huy động kịp thời nguồn lực phục vụ nhu cầu chi Kết thúc năm tài chính so sánh kết quả thực hiện với số dự toán được lập đầu năm, từ đó có đánh giá mức độ hoàn thành, những kết quả đạt được và tổn tại cần khắc phục Ngoài ra, công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách được quan tâm, trú trọng thường xuyên, nó giúp phát hiện, ngăn chặn kịp thời những hiện tượng tiêu cực trong quản lý, chấp hành các luật thuế; các khoản thu phí, lệ phí thuộc ngân sách Nhà nước; các chế
độ về kế toán thống kê thuế từ đó góp phần hạn chế, chống thất thu ngân sách
Trang 27Nhà nước, đảm bảo nguồn lực cho thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
1.3.3 Quản lý chi ngân sách Nhà nước
Chi ngân sách Nhà nước là những khoản chi tiêu do Chính phủ hay các pháp nhân hành chính thực hiện để đạt được các mục tiêu công ích, chẳng hạn như: Bảo vệ an ninh trật tự, cứu trợ bảo hiểm, trợ giúp kinh tế, chống thất nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng Chi ngân sách Nhà nước gắn liền với việc thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ Chi ngân sách Nhà nước có quan hệ chặt chẽ với thu ngân sách Nhà nước Thu ngân sách Nhà nước là nguồn vốn để đảm bảo nhu cầu chi ngân sách Nhà nước Ngược lại
sử dụng vốn ngân sách Nhà nước để chi cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế lại là điều kiện để tăng thu nhập của ngân sách Nhà nước
Trong chi ngân sách Nhà nước, chủ yếu là chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên Đối với chi thường xuyên, là khoản chi gắn liền với thực hiện chức năng quản lý kinh tế xã hội của Nhà nước, đảm bảo mục đích tiêu dùng, duy trì hoạt động của bộ máy hành chính, nội dung chi rất đa dạng Tuy nhiên do nguồn thu ngân sách Nhà nước có giới hạn, nhu cầu chi đầu tư lớn nên trong quản
lý chi thường xuyên đòi hỏi phải thực hiện nghiêm nguyên tắc chi theo dự toán được duyệt, đúng nội dung, đối tượng, định mức chi; đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả
1.3.4 Cân đối ngân sách Nhà nước
Cân đối ngân sách Nhà nước là một bộ phận của chính sách tài khóa phản ánh mối quan hệ tương tác giưa thu và chi ngân sách Nhà nước nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội mà Nhà nước đã đề ra ở tầm vĩ mô cũng như trong từng lĩnh vực và địa bàn cụ thể Xuất phát từ thực tiễn một nền kinh tế nguồn lực tài chính cung ứng để thỏa mãn các nhu cầu có giới hạn, nên cân đối ngân sách Nhà nước cần thiết lập và tôn trọng kỷ luật tài khóa tổng thể để ổn định kinh tế vĩ
Trang 28mô, đồng thời phân bổ ngân sách Nhà nước cần phải đánh đổi và lựa chọn ưu tiên giữa các mục tiêu chiến lược trong từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội
Có nhiều quan điểm về cân đối ngân sách Nhà nước như: Quan điểm ngân sách cân bằng, quan điểm ngân sách tru kỳ, quan điểm ngân sách thâm hụt, quan điểm ngân sách duy nhất, quan điểm hai ngân sách…Theo quan điểm hai ngân sách, ngân sách Nhà nước nên chia làm hai bộ phận là: Ngân sách điều hành (ngân sách thường xuyên) để đảm bảo hoạt động của guồng máy Nhà nước và ngân sách đầu tư để tham gia vào các lĩnh vực sản xuất đặc biệt của nhà nước Ngân sách điều hành sẽ thực hiện theo nguyên tắc “nhất niên” còn ngân sách đầu
tư có thể thực hiện theo nguyên tắc “đa niên” Về nguồn tài trợ ngân sách đầu tư
có thể được tài trợ bằng các khoản vay trong hay ngoài nước
Xét về mặt nội dung thì phần thu và phẩn chi ngân sách Nhà nước có mối liên hệ hữu cơ với nhau và phải được cân bằng với nhau Tuy vậy trong thực tế rất hãn hữu và khó có trường hợp tổng thu đúng bằng tổng chi ngân sách, mà thường xảy ra một trong hai trường hợp sau:
- Tổng thu ngân sách Nhà nước lớn hơn tổng chi ngân sách Nhà nước, trường hợp này gọi là kết dư hay bội thu
- Tổng thu ngân sách Nhà nước nhỏ hơn tổng chi ngân sách Nhà nước, trường hợp này gọi là ngân sách thâm hụt hay bội chi
Quan điểm mới về cân đối ngân sách hiện nay là: Tổng thu không những
bù đắp được tổng chi mà yêu cầu phải có nguồn dự phòng và dự trữ đủ mức để Nhà nước có thể chủ động điều hành ngân sách trong trường hợp có những biến động nhất định Mặt khác còn phải giảm và hạn chế thu từ nguồn vay hoặc không phát hành tiền tệ để thực hiện nhiệm vụ chi ngân sách
Trong nền kinh tế thị trường thì ngoài việc ngân sách Nhà nước yêu cầu đảm bảo cân đối không những trên tổng thể mà còn phải cân đối trong chi tiết cơ
Trang 29cấu nguồn thu và nhiệm vụ chi Nói cách khác ngân sách Nhà nước được xây dựng trên mô hình quản lý dựa trên cơ sở mối quan hệ tương quan giữa tích lũy
và tiêu dùng, thực hiện phân phối nguồn tài chính phát sinh ngay từ khi hình thành thu ngân sách, theo yêu cầu quản lý kinh tế của Nhà nước
Xu hướng trong cân đối thu chi là luôn phải đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu dùng thường xuyên ở mức hợp lý và tiết kiệm, trả được nợ và dành cho đầu tư phát triển với tỷ lệ ngày càng lớn Chỉ có tăng thu ngân sách mới tăng chi và chủ yếu là tăng chi cho đầu tư phát triển và bổ sung cho quỹ dự trữ tài chính Nếu thu không đạt kế hoạch dự kiến thì phải giảm chi tương ứng theo nguyên tắc cắt giảm các khoản chi thường xuyên, trước hết là các khoản chi chưa bức thiết như chi mua sắm, hội nghị, sửa chữa, tiếp khách…Trong trường hợp có chế độ mới ban hành hoặc những sửa đổi bổ sung chế độ có liên quan đến thu, chi ngân sách Nhà nước nếu chưa được tính toán trong dự toán ngân sách hàng năm thì thời gian thi hành phải dời lại đến năm ngân sách sau đó
Ngân sách Nhà nước chỉ bội chi cho đầu tư phát triển và được quản lý chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả để có điều kiện trả nợ Không bội chi cho chi thường xuyên, không vay thương mại nước ngoài hay vay ngắn hạn trả lãi suất cao để bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước
1.4 Vấn đề tự cân đối và những thách thức đối với chính quyền cấp xã
Trong quản lý ngân sách, vấn đề quan trọng là quản lý thu, thực hiện nhiệm
vụ chi và cân đối ngân sách Vấn đề tự cân đối ngân sách cấp xã là chính quyền cấp xã chủ động tất cả các khoản thu, chi trong thời kỳ ngân sách trung dài hạn
Để cấp xã chủ động khai thác nguồn thu nhằm tăng thu cho ngân sách giảm dần
sự trợ cấp của ngân sách cấp trên và thực hiện nhiệm vụ chi một cách tiết kiệm hiệu quả, để từng bước tiến tới tự cân bằng ngân sách Như vậy tự cân đối ở đây không phải là cắt giảm chi tiêu, hoặc không cần sự trợ cấp của chính quyền cấp trên, mà xem xét lại việc phân cấp các nguồn thu, phân định lại trách nhiệm chi
Trang 30của chính quyền cấp xã đừng để nguồn lực đầu tư bị phân bổ dàn trải, kém hiệu quả Xác định lại những dịch vụ hàng hóa công nào thì chính quyền cấp xã cung cấp, những dịch vụ hàng hóa công nào do chính quyền cấp trên cung cấp Trong trường hợp các dịch vụ công có tính lan tỏa, hoặc kinh tế quy mô rộng lớn thì cần phải có trợ cấp từ phía chính quyền cấp trên
Mặt khác xã, phường, thị trấn là một bộ phận thống nhất trong tổng thể nền kinh tế, nên sự phát triển của địa phương không thể đi chệch hướng sự phát triển của đất nước
Như vậy, để hướng tới vấn đề tự cân đối trong bối cảnh nguồn lực tài chính còn hạn hẹp đặt ra cho chính quyền cấp xã những thách thức lớn lao Đó là phải tối đa hóa phân bổ nguồn lực, tức là phải tối đa hóa nguồn thu và kiểm soát được nhu cầu sử dụng Điều đó tạo ra những áp lực rất lớn đối với chính quyền cấp xã
Thứ nhất: Tăng cường khai thác triệt để nguồn thu để đảm bảo đầy đủ nguồn lực tài chính phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương Bởi vì quy mô và trình độ sản xuất của địa phương trong trong hiện tại
sẽ quyết định sự phong phú, đa dạng và quy mô của ngân sách địa phương Ngược lại, chính sách và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương có tác động ngược trở lại sự phát triển xây dựng mở rộng quy mô của địa phương Nguồn lực tập trung vào chính quyền cấp xã phụ thuộc vào những nguồn sẵn có trong phạm vi địa phương, sản xuất kinh doanh ở địa phương càng phát triển thì nguồn thu càng phong phú đa dạng do vậy quy mô tập trung vào ngân sách càng lớn Ngược lại khi trình độ sản xuất càng phát triển, đời sống được nâng cao thì nhu cầu về hàng hóa dịch vụ công càng gia tăng, điều này đòi hỏi chính quyền cấp xã phải gia tăng năng lực cung cấp
Thứ hai: Việc phân bổ ngân sách từ chính quyền cho các hoạt động quản lý nhà nước, hoạt động cung cấp dịch vụ hàng hóa công khai theo một kế hoạch phân bổ hợp lý, giúp cho ban tài chính cấp xã kiểm soát được các khoản chi, ngăn
Trang 31ngừa tình trạng tham nhũng và duy trì được khoảng cách thâm hụt ở mức còn kiểm soát được Hơn nữa tiến trình cải cách ngân sách phải tập trung vào kết quả thực hiện hướng đến sự hài lòng của người daantrong quá trình cung cấp dịch vụ hàng hóa công, chứ không dừng lại ở việc mua sắm các yếu tố đầu vào
Thứ ba: Việc lập dự toán thu chi ngân sách, chính quyền cấp xã cần ước tính một cách thận trọng về khoản thu cũng như chi thường xuyên Về các khoản thu phải loại trừ những áp lực phải gia tăng các khoản đóng góp của nhân dân Trong chi ngân sách cần phải tính toán ở mức tối ưu về giá cả và khối lượng công việc hàng năm Nói chung ngân sách thường xuyên của cấp xã phải được dự toán cho cân bằng giữa thu thường xuyên và chi thường xuyên trước các biến động kinh tế
Trang 32CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH
XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÕA BÌNH
2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hòa Bình
2.1.1 Vị trí địa lý của tỉnh
Hòa Bình được tái lập tỉnh từ tháng 10 năm 1991 (tách ra từ tỉnh Hà Sơn Bình) với diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 4.662.5 km², dân số khoảng 800 nghìn người, trong đó hơn 70% là người dân tộc thiểu số Cộng đồng các dân tộc Hòa Bình có dân tộc chiếm tỷ lệ chính trong cơ cấu dân số của tỉnh: Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao, Mông Hòa Bình có 10 huyện, 1 thành phố với 210 xã, phường, thị trấn
Là một tỉnh miền núi phía Tây Bắc, tỉnh Hòa Bình nằm giáp ranh giữ 3 khu vực: Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ của Việt Nam Phía Bắc giáp với tỉnh Phú Thọ, Phía nam giáp với tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Phía đông và đông bắc giáp với thủ đô Hà Nội, Phía tây, tây bắc, tây nam giáp với các tỉnh Sơn La, Thanh Hóa Các đường giao thông quan trọng trên địa bàn tỉnh như quốc lộ 6 dài 130
km, đi qua các huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn, thành phố Hòa Bình, Tân lạc, Mai Châu nối liền Hòa Bình với Hà Nội và các tỉnh Tây Bắc khác, hệ thống các đường giao thông nối liền các huyện, xã trong tỉnh với thành phố Hòa Bình và với các huyện, tỉnh bạn rất thuận lợi giao lưu kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, hệ thống sông ngòi trên địa bàn tỉnh phân bổ tương đối đồng đều với các sông lớn như: Sông Đà, sông Bôi, sông Bưởi, sông Bùi Sông Ðà là sông lớn nhất chảy qua tỉnh
có lưu vực 15.000 km2 chảy qua các huyện Mai Châu, Ðà Bắc, Tân Lạc, Kỳ Sơn
và thành phố Hòa Bình với tổng chiều dài là 151 km Hồ sông Ðà có dung tích 9,5 tỷ m3 nước nối liền với Sơn La, phần hạ lưu chảy qua Phú thọ, Hà Nội thông với sông Hồng, được điều tiết nước bởi hồ sông Đà, tại đây có thể phát triển vận
Trang 33tải thuỷ thuận lợi, có hiệu quả Tỉnh Hòa Bình có công trình thủy điện Hòa Bình trên sông Đà là một công trình thủy lợi lớn nhất khu vực Đông Nam Á; có hệ thống đồi núi trùng điệp, mang đậm nét các dân tộc Hòa Bình giàu tiềm năng về phát triển du lịch có di tích lịch sử và du lịch sinh thái
2.1.2 Tình hình phát triển Kinh tế - Xã hội của tỉnh
Trong những năm gần đây, Hòa Bình có những bước phát triển kinh tế - xã hội đáng kể, nông nghiệp khá toàn diện, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) bình quân 5 năm 2001 – 2005 đạt 8% (thời kỳ 1996 – 2000 đạt 7,4%), Đặc biệt trong giai đoạn 2006 – 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt khoảng 12%
Cụ thể, năm 2009, tăng trưởng kinh tế đạt 13,5% Cơ cấu kinh tế: Dịch vụ chiếm 53,8%, Công nghiệp xây dựng chiếm 31,7%, Nông – Lâm nghiệp chiếm 14,5%
Năm 2010, thu ngân sách Nhà nước đạt 1.322 tỉ đồng, tăng gấp 4 lần so với năm 2005; GDP bình quân đầu người đạt 13,45 triệu đồng, tăng gấp 3 lần so với năm 2005; sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng bền vững; sản xuất công nghiệp tăng giá trị gấp 2,5 lần so với năm 2005; các ngành dịch vụ phát triển khá, tổng mức doanh thu tăng gấp 4,5 lần so với năm 2005 Từng bước chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi; diện tích các loại cây trồng liên tục được
mở rộng; năng suất và sản lượng không ngừng được nâng cao Các loại cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày phát triển thành những vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất và chế biến nông sản
Trang 34Bảng 2.1: Giá trị sản xuất (theo giá thực tế) của tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2008 – 2010
Phân theo ngành kinh tế
1.1 Nông – lâm – ngư nghiệp 3.089.501 28,94 3.018.283 25,65 3.409.986 27,08 97,7 113,0 105,1 1.2 Công nghiệp – xây dựng 5.397.557 50,56 6.086.928 51,73 5.801.258 46,08 112,8 95,3 103,7 1.3 Dịch vụ - thương mại 2.187.878 20,50 2.662.162 22,62 3.379.139 26,84 121,7 126,9 124,3
Phân theo thành phần kinh tế
2.1 Khu vực kinh tế trong nước 10.582.464 99,1 11.656.913 99,1 12.453.045 98,9 110,1 106,8 108,4
- Nhà nước 5.573.238 52,2 6.026.889 51,2 6.035.853 47,9 108,1 100,1 104,0
- Tập thể 101.451 0,95 99.500 0,85 117.136 0,9 98,1 117,7 107,4
- Tư nhân 731.707 6,8 1.427.549 12,1 1.738.726 13,8 195,1 121,8 154,1
- Cá thể 4.176.068 39,1 4.102.975 35,0 4.561.330 36,3 98,2 111,2 104,5 2.2 Khu vực kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài
92.472 0,9 110.460 0,9 137.338 1,1 119,4 124,3 121.8
Trang 35
Tuy nhiên, Hòa Bình vẫn được coi là một tỉnh nghèo, kinh tế phát triển chưa vững chắc; kinh tế công nghiệp, tiểu thu công nghiệp phát triển yếu, các khu công nghiệp mới hình thành và chưa được phát triển; sự phát triển vẫn chưa đồng đều giữa các vùng, các huyện, các xã và giữa các nhóm người, nhóm gia đình về thu nhập; Hệ thồng cơ sở hạ tầng như: giao thông, bưu điện, trường học bệnh viện chưa đáp ứng nhu cầu phát triển đời sống xã hội, đời sống văn hóa và tinh thần của nhân dân, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số
2.2 Tình hình quản lý ngân sách tại Hòa Bình
Từ khi có Luật ngân sách Nhà nước, đặc biệt là Luật ngân sách Nhà nước năm 2002 có hiệu lực từ năm 2004 cho đến nay, tình hình quản lý 3 cấp ngân sách có những đặc điểm nổi bật:
Chủ trương phân cấp đã trao quyền nhiều hơn cho chính quyền cấp tỉnh, tạo điều kiện cho việc điều hành ngân sách 3 cấp chủ động và linh hoạt hơn Đồng thời phân định rõ hơn về quyền hạn và trách nhiệm của các cấp chính quyền, các đơn vị và các các nhân trong quản lý ngân sách, thông qua việc xác định rõ nhiệm vụ thu và trách nhiệm chi
Khi Luật ngân sách năm 2002 được triển khai, ngay từ năm đầu tiên Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi, tỷ lệ phân chia các khoản thu trong thời kỳ ổn định ngân sách, định mức phân bổ ngân sách của Ủy ban nhân dân các cấp
Việc xác định tỷ lệ điều tiết và bổ sung ngân sách ổn định trong vòng 3 năm trong công tác xây dựng phân cấp dự toán ngân sách đã tạo sự chủ động cho chính quyền các cấp trong việc điều hành ngân sách cấp mình theo hướng
Trang 36quan tâm đối với công tác thu, chủ động khai thác đi đôi với nuôi dưỡng nguồn thu nhằm tăng thu một cách bền vững, điều chỉnh và bố trí hợp lý các khoản chi để thúc đẩy cấc cấp chính quyền địa phương vươn tới một ngân sách tích cực bằng việc thu, tiết kiệm chi nguồn này ưu tiên đầu tư vào lĩnh vực phát triển kinh tế, giảm dần số bổ sung từ ngân sách cấp trên, từng bước hướng tới tự cân đối ngân sách
Để cụ thể hóa các nguồn thu cho ngân sách địa phương căn cứ vào pháp lệnh phí và lệ phí, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo rà soát các loại phí,
lệ phí trên địa bàn, thống nhất mức thu, loại thu, trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành quyết định Việc thu phí và lệ phí bảo đảm phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đã bãi bỏ một số loại lệ phí không hợp lý, ban hành một số loại phí mới phú hợp với yêu cầu thực tiễn, nâng cao hiệu quả kinh tế đối với các đơn vị thu, đồng thời góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách Hiện nay tỉnh đã ban hành 20 loại phí/31 loại phí trung ương quy định; 07 loại
lệ phí/13 loại lệ phí trung ương quy định
Song song với việc hoàn thiện khung pháp lý (các văn bản hướng dẫn,
cụ thể hóa các khoản thu chi và cân đối ngân sách) cho công tác quản lý ngân sách là công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, tỉnh đã cử cán bộ đi tập huấn về Luật ngân sách ở Trung ương và tổ chức nhiều lớp tập huấn cho cán bộ công chức ở các cấp địa phương, đặc biệt là các xã, phường, thị trấn
Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh tăng năm 2007 và 2008
là 12% Từ 2009, thu ngân sách tỉnh bổ sung thu từ nhà máy thủy điện Hòa Bình nên số thu tăng so với năm 2008 là 175% Tổng thu ngân sách từ 2009 đến 2011 bình quân hàng năm 7,5%, mặc dù tổng thu ngân sách còn thấp nhưng thu nội địa tăng theo hướng tích cực
Trang 37Bảng 2.2 Tổng hợp số liệu thu chi ngân sách từ năm 2007 đến năm 2011
Thu huy động đầu tư theo Khoản
3 Điều 8 Luật NSNN
Chi đầu
tư phát triển
Chi thường xuyên
Nguồn: Sở Tài chính tỉnh Hòa Bình
Tuy nhiên tích lũy trong nội bộ nền kinh tế và đầu tư phát triển còn gặp nhiều khó khăn do mất cân đối nghiêm trọng trong thu chi ngân sách Việc phân cấp quản lý thu - chi ngân sách vẫn chưa thể thực hiện được tính tích cực là tạo chủ động trong công tác thu và thực hiện nhiệm vụ chi, chưa tăng tối đa phân cấp các nguồn thu trên địa bàn thay vì cân đối bổ sung ngân sách
Cơ chế chính sách và sự phối hợp trong thực hiện xây dựng kế hoạch, tổ chức thu giữa các cấp và ngành thuế vẫn còn thiếu đồng bộ ảnh hưởng đến việc mở
rộng nguồn thu, tăng thu cho ngân sách
Cấp xã là tổ chức chính quyền cơ sở của bộ máy quản lý Nhà nước, có chức năng, nhiệm vụ thực hiện mục tiêu Nhà nước do dân, vì dân, giải quyết các mối quan hệ giữa nhà nước với dân Để thực hiện nhiệm vụ này, chính
Trang 38quyền cấp xã phải có ngân sách đủ mạnh để điều chỉnh các hoạt động ở xã đi đúng hướng, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Đảng
và Nhà nước Thông qua thu ngân sách, chính quyền xã thực hiện kiểm tra, kiểm soát, điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, chống các hành vi hoạt động kinh tế phạm pháp, trốn lậu thuế và các nghĩa vụ đóng góp khác Thu ngân sách xã là nguồn thu chủ yếu để đáp ứng nhu cầu chi ngày càng phát triển ở xã
Thông qua chi ngân sách, xã bố trí các khoản chi để đảm bảo tăng cường hiệu lực và hiệu quả các hoạt động của chính quyền về quản lý pháp luật, giữ vững trậy tự trị an, bảo vệ tài sản công cộng, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân, quản lý mọi mặt hoạt động kinh tế, văn hóa, thực hiện các chính sách xã hội và tăng cường cơ sở vật chất cho xã như trụ sở và phương tiện làm việc, trường học, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trạm y tế, nhà hộ sinh, nhà văn hóa, đường liên thôn, trang thiết bị công cộng…
Hòa Bình là một tỉnh có dân số khoản 800 nghìn người, địa bàn rộng nên việc áp dụng định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước năm 2011 theo quyết định 59/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ theo tiêu chí dân số là chưa phù hợp
Trang 39Bảng 2.3 Tổng hợp số liệu một số nội dung chi ngân sách thường xuyên
tại tỉnh Hòa Bình năm 2011
Đơn vị tính: triệu đồng
STT Nội dung chi
Theo Quyết định 59
Dự toán chi ngân sách
Chi ngân sách
Nguồn: Sở Tài chính tỉnh Hòa Bình và tác giả tính toán
Qua số liệu trên: nếu phân bổ dự toán chi ngân sách theo Quyết định 59/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì không đáp ứng được nhu cầu chi ngân sách thường xuyên tại tỉnh Hòa Bình Nên địa phương phân bổ ngân sách dựa trên tiêu thức cũ đó là phân bổ ngân sách theo tiêu thức biên chế, đồng thời căn cứ các chính sách, chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi tiêu của Nhà nước ban hành, văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và các hoạt dộng cần thiết cấp bách để bố trí ngân sách
Trang 40Bảng 2.4 Định mức phân bổ cho chi quản lý hành chính Nhà nước, Đảng, đoàn thể
I Cấp tỉnh
1 Biên chế dưới 10 người 24 triệu đồng/biên chế/năm
2 Từ 10 biên chế đến dưới 20 biên chế 22 triệu đồng/biên chế/năm
3 Các cơ quan quản lý Nhà nước 20 triệu đồng/biên chế/năm
1 Các khoản có tính chất lương tối đa 75%
Nguồn: Nghị quyết số 157/2010/NQ-HĐND ngày 02/11/2010
Tuy vậy hàng năm tỉnh Hòa Bình vẫn phải trình Trung ương để được
bổ sung ngân sách thường xuyên ngoài kế hoạch Cấp tỉnh vẫn chưa chủ động trong điều hành và quản lý ngân sách Đặc biệt đối với cấp xã thì vấn đề quản
lý ngân sách còn nhiều vấn đề bất cập:
2.3 Thực trạng quản lý ngân sách xã, phường, thị trấn tại tỉnh Hòa Bình
Trước đây, ngân sách xã có vị trí khiêm tốn là “một quỹ ngân sách của
xã để thu - chi, nếu thiếu thì ngân sách cấp trên (huyện, tỉnh) chi bổ sung thêm” Khi luật NSNN ra đời quy định ngân sách xã là một cấp ngân sách thực sự và thu - chi ngân sách được phản ánh vào thu - chi ngân sách Nhà