TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI --- --- PHẠM VĂN TÌNH PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CỦA CƠ SỞ III - ĐẠI HỌC LUẬN VĂN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI - -
PHẠM VĂN TÌNH
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CỦA CƠ SỞ III - ĐẠI HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
HÀ NỘI – 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI - -
PHẠM VĂN TÌNH
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CỦA CƠ SỞ III - ĐẠI HỌC
CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI – 2012
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn:
Khoa sau đại học - Trường Đại Bách khoa đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến TS Vũ Quang đã tận tình , hướng dẫn giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn Ban Giám đốc Cơ sở III- Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải, cảm ơn các đơn vị, các đồng nghiệp đã cung cấp tư liệu cho bản luận văn
Cuối cùng xin cảm ơn bạn bè, người thân đã chia sẻ công việc, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn!
Tác giả
Phạm Văn Tình
Trang 4Tôi xin cam đoan: Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, tiếp thu kiến thức khoa học, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn tận tình của Thầy Vũ Quang
Tất cả các số liệu, bảng biểu trong luận văn là kết quả của quá trình thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, phân tích và đánh giá dựa trên cơ sở kiến thức tôi
đã tiếp thu được trong quá trình học tập, không phải là sản phẩm sao chép của các
đề tài nghiên cứu trước đây
Một lần nữa tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kế trên Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả
Phạm Văn Tình
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO 5
1.1 GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG VÀ CHẤT LƯỢNG GIẢNG VIÊN ĐHCĐ 5
1.1.1.Giảng viên ĐH và đội ngũ GVĐH 5
1.1.2 Điều kiện tiêu chuẩn Giảng viên Đại học 7
1.1.2.1.Chuản về trình độ đào tạo 7
1.1.2.2 Chuẩn về chuyên môn 9
1.1.2.3 Chuẩn về nghiệp vụ sư phạm 10
1.1.3 Yêu cầu về nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học 12
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ GV 14
1.1.4.1 Các yếu tố khách quan 14
1.1.4.2 Các yếu tố chủ quan 14
1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG VÀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO 14
1.2.1 Vai trò quyết định của chất lượng giảng viên đối với chất lượng đào tạo 14
1.2.2 Chất lượng đào tạo – thước đo chất lượng giảng viên 18
1.2.2.1 Quan niệm về chất lượng đào tạo 18
1.2.2.2 Một số quan niệm khác về chất lượng đào tạo 20
1.2.2.3 Đánh giá chất lượng đào tạo 21
1.2.2.4 Một số nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo 23
1.3 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO 24
Trang 61.3.1.1Các căn cứ để tuyển dụng và sử dụng có hiệu quả đội ngũ giảng viên 24
1.3.1.2.Tuyển dụng 24
1.3.2 Sử dụng 25
1.3.3 Kiểm tra, đánh giá, sàng lọc 25
1.4 KẾT LUẬN CHƯƠNG I 27
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở CƠ SỞ ĐÀO TẠO III - ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI 28
2.1 VÀI NÉT VỀ CƠ SỞ III - ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển cơ sở III- Đại học công nghệ GTVT 28
2.1.2 Nhiệm vụ của cơ sở đào tạo III- Đại học Công nghệ GTVT 29
2.1.3 Tổ chức bộ máy và qui mô của Cơ sở: 30
2.1.3.1 Bộ máy tổ chức: 30
2.1.3.2 Các ngành và qui mô đào tạo 32
2.2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CỦA CƠ SỞ 2.2.1 Số lượng và cơ cấu theo ngành nghề đào tạo 33
2.2.2 Cơ cấu GV theo giới tính, độ tuổi và thâm niên công tác 34
2.2.3 Chất lượng giảng viên 36
2.2.3.1 Trình độ chuyên môn 37
2.2.3.2 Trình độ sư phạm 38
2.2.3.3 Trình độ ngoại ngữ, tin học 39
2.2.3.4 Năng lực nghiên cứu khoa học 40
2.2.4 Đánh giá chung về chất lượng đội ngũ giảng viên 41
2.2.4.1 Ưu điểm 41
2.2.4.2 Hạn chế 42
2.2.4.3 Nguyên nhân chính của những hạn chế 42
2.3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐNGV 43
Trang 72.3.2 Thực trạng quản lý việc tuyển chọn, sử dụng ĐNGV 44
2.3.2.1 Tuyển chọn GV 44
2.3.2.2 Sử dụng GV 45
2.3.3 Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng để nâng cao chất lượng của ĐNGV 46
2.3.3.1 Công tác đào tạo đội ngũ giảng viên: 46
2.3.3.2 Công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên 48
2.3.4 Thực trạng việc thực hiện các chính sách đối với giảng viên 52
2.3.4.1 Chế độ, chính sách với việc tuyển chọn, sử dụng hợp đồng ĐNGV 53
2.3.4.2 Chính sách đãi ngộ với giảng viên được cử đi đào tạo, bồi dưỡng 53
2.3.5 Đánh giá chung thực trạng công tác phát triển ĐNGV ở cơ sở III- Đại học Công nghệ Giao thông vận tải 54
2.3.5.1 Ưu điểm 54
2.3.5.2 Những mặt hạn chế cơ bản 55
2.3.5.3 Những nguyên nhân dẫn đến hạn chế 56
2.4 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 56
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở CƠ SỞ ĐÀO TẠO III - ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GTVT 58
3.1 ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐNGV CỦA CƠ SỞ ĐÀO TẠO III ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GTVT 58
3.1.1 Những nét cơ bản về quy hoạch phát triển Cơ sở III trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo 58
3.1.2 Mục tiêu nâng cao chất lượng ĐNGV Cơ sở III nhà trường đến năm 2015 59
3.1.2.1 Xây dựng đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, chất lượng và đồng bộ
về cơ cấu 59
3.1.2.2 Xây dựng ĐNGV đảm bảo yêu cầu về trình độ chuyên môn, sư phạm 61
3.1.2.3 Xây dựng ĐNGV đảm bảo yêu cầu về trình độ tin học và ngoại ngữ 62
3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐNGV CỦA CƠ SỞ III - ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GTVT ĐẾN 2015 62
3.2.1 Giải pháp 1: Xây dựng và khai thác Trung tâm chuyển giao KHCN và bồi
Trang 83.2.1.1 Mục đích của giải pháp 61
3.2.1.2 Nội dung và các biện pháp thực hiện 62
3.2.2.Giải pháp 2: Sử dụng hiệu quả đội ngũ giảng viên hiện có 64
3.2.2.1 Mục đích của giải pháp 64
3.2.2.2 Nội dung và các biện pháp thực hiện 64
3.2.2.3 Các điều kiện thực hiện giải pháp 65
3.2.3 Giải pháp 3 Tăng cường công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng ĐNGV 66
3.2.3.1 Mục đích của giải pháp 66
3.2.3.2 Nội dung và các biện pháp thực hiện 66
3.2.4.Giải pháp 4 Đẩy mạnh đào tạo nâng cấp và chuẩn hoá ĐNGV 75
3.2.4.1 Mục đích của giải pháp 75
3.2.4.2 Nội dung và các biện pháp thực hiện 75
3.2.5.Giải pháp 5 Tuyển dụng mới đội ngũ giảng viên 76
3.2.5.1 Mục đích của giải pháp 76
3.2.5.2 Nội dung và các biện pháp thực hiện 77
3.2.6 Giải pháp 6 Xây dựng lại chính sách nội bộ đối với ĐNGV 80
3.2.6.1 Mục đích của giải pháp 80
3.2.6.2 Nội dung và các biện pháp thực hiện 80
3.3 KHẢO NGHIỆM CÁC GIẢI PHÁP QUA Ý KIẾN CHUYÊN GIA 82
3.4 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 84
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 84
1 Kết luận 84
2 Đề xuất 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trang 10BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô SV hệ chính qui của nhà trường 32
Bảng 2.2.Tỷ lệ SV/1GV giữa các ngành nghề năm 2011 33
Bảng 2.3 Số lượng và cơ cấu giảng viên phân bố theo ngành nghề 34
Bảng 2.4 Số lượng và cơ cấu giảng viên phân bố theo ngành nghề 34
Bảng 2.5 Cơ cấu giảng viên theo độ tuổi và theo khoa 35
Bảng 2.6 Cơ cấu giảng viên theo giới tính 35
Bảng 2.7 Các trình độ đào tạo 36
Bảng 2.8 Chất lượng giảng viên 36
Bảng 2.9 Chất lượng giảng viên 37
Bảng 2.10 Năng lực chuyên môn của ĐNGV theo đánh giá của cán bộ QL và của SV(45 người CBQL, 150 SV) 38
Bảng 2.11 Trình độ sư phạm của đội ngũ giảng viên 39
Bảng 2.12 Đánh giá của CBQL và SV về năng lực sư phạm của ĐNGV 39
Bảng 2.13 Trình độ ngoại ngữ của ĐNGV phát triển từ 2005 – 2011 39
Bảng 2.14 Trình độ Tin học của ĐNGV đến năm 2010 40
Bảng 2.15 Kết quả đề tài NCKH các cấp của đội ngũ giảng viên 41
Bảng 2.16 Đánh giá của cán bộ QL và SV về năng lực NCKH của ĐNGV 41
Bảng 2.17 Đánh giá của CBQL và GV về xây dựng kế hoạch phát triển ĐNGV 44
Bảng 2.18 Đánh giá của CBQL và GV về kết quả ĐT- BD 46
Bảng 2.19 Đánh giá của CBQL và GV về thực hiện các chính sách 52
Bảng 3.1 Qui mô đào tạo 59
Bảng 3.2 Nâng cao chất lượng ĐNGV giai đoạn 2010-2015 60
Bảng 3.3 Cơ cấu ĐNGV giai đoạn 2010-2015 (theo ngành) 60
Bảng 3.4 Kế hoạch tuyển dụng và điều chuyển GV đến năm 2015 (tăng thêm) 77
Bảng 3.5 Tỉ lệ % về tính cấp thiết và tính khả thi của giải 83
Trang 11Hình 1.2: Sơ đồ quan niệm về chất lượng đào tạo 19
Hình 2.1 Nhu cầu bồi dưỡng của ĐNGV 49
Hình 3.1 Hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng ĐNGV 62
Hình 3.2 Nội dung bồi dưỡng GV 68
Hình 3.3 Qui trình tổ chức bồi dưỡng ĐNGV 70
Hình 3.4 Mô hình đào tạo nâng cấp và chuẩn hóa ĐNGV 75
Hình 3.5 Qui trình tuyển dụng giảng viên 79
Trang 12MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Tính cấp thiết của đề tài:
Nghị quyết TW2 khóa VIII của Đảng ta đã khẳng định: “Giáo viên giữ vị trí quan trọng trong việc bảo đảm chất lượng Giáo Dục - Đào Tạo và được xã hội tôn vinh” Ngày 15 tháng 06 năm 2004 Ban Bí thư Trung Ương Đảng đã có chỉ thị số 40-CT/TW về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý giáo dục: “Với mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của
nhà giáo”
Ngoài ra các chủ trương của Đảng và Nhà nước (Nghị quyết 4, Nghị quyết 6 khoá IX Nghị quyết Đại hội Đảng X Nghị quyết 40 năm 2000 Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020.Đề án “ Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD giai đoạn 2005-2010 luật Giáo dục 2005 ) đều nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ nhà giáo đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo, đã đưa ra nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng và phát triển ĐNGV về mọi mặt, đáp ứng sự phát triển của giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Ngày 22 tháng 12 năm 2008 Cơ sở III -Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải được Bộ Giao thông vận tải phê duyệt đề án quy hoạch xây dựng và phát triển Cơ sở đào tạo đến năm 2015 và những năm tiếp theo(QĐ số 3787/QĐ-BGTVT) Trong đó có mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ giảng viên (ĐNGV) đại học, cao đẳng chuẩn về trình độ, đảm bảo đủ về số lượng, có trình độ chuyên môn cao,
có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, năng lực sư phạm, phong cách giảng dạy tiên tiến, hiện đại và nâng cao năng lực tự nghiên cứu khoa học ” Cơ sở
có nhiều khó khăn về ĐNGV, đặc biệt ở hệ đại học, phần lớn GV đang giảng dạy các chương trình cao đẳng và trung cấp mới được đào tạo, bồi dưỡng để giảng dạy
hệ đại học nên kinh nghiệm còn hạn chế Nâng cao chất lượng ĐNGV đáp ứng
Trang 13được đào tạo đại học, Cao đẳng trong giai đoạn hiện nay và đáp ứng mục tiêu của
đề án phát triển Cơ sở III đang là một nhiệm vụ cấp bách cần phải giải quyết
1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có nhiều nghiên cứu chuẩn bị cho đề án của Chính phủ về nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và luận văn thạc sỹ nghiên cứu về lý luận, thực tiễn và các giải pháp nâng cao chất lượng GV ở một số trường đại học và cao đẳng với điều kiện về hoàn cảnh riêng như:
- Những nghiên cứu điều tra và xây dựng quan điểm thiết kế cho đề án “ Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn
2005 – 2010 " đã được Chính phủ phê duyệt ngày 11/01/2005
- Luận văn “ Một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy Trường Đại
học Sư phạm Hải Phòng” của Dương Đức Hùng (2002)
- Luận văn “ Các giải pháp quản lý phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý Trường Cao đẳng Văn hoá nghệ thuật Quân Đội” của Phạm Đình Hòe (2003)
- Luận văn “ Một số giải pháp quản lý phát triển đội ngũ GV Trường Cao đẳng
Sư phạm Cần Thơ đến năm 2010” của Nguyễn Ngọc Lợi (2005)
Những nghiên cứu này và nhiều nghiên cứu khác đều đề cập đến nhiệm vụ nâng cao chất lượng và phát triển ĐNGV hoặc giáo viên trong một thời kì quản lí thuộc giai đoạn phát triển nhất định của nhà trường Các loại hình trường khác nhau
và các lĩnh vực đào tạo khác nhau đòi hỏi những giải pháp khác nhau trong quản lí trường học Tuy nhiên, nhiều câu hỏi cụ thể đối với Cơ sở III- Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải lại chưa có giải đáp trong bất kì nghiên cứu nào Trong phạm vi luận văn này đứng trước nhiệm vụ cấp bách cũng như lâu dài và mong muốn góp phần trả lời một số câu hỏi sau:
1 ĐNGV giữ vai trò gì trong việc đạt mục tiêu phát triển đến 2015 của Cơ sở III ?
Trang 142 Chất lượng ĐNGV của Cơ sở III hiện nay đang ở mức độ nào? Các giải trước mắt cũng như lâu dài để nâng cao chất lượng ĐNGV của Cơ Sở nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo
3 Làm thế nào để thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng ĐNGV một cách hiệu quả trong những năm tới?
Từ sự phân tích bối cảnh và những lí do trên tôi chọn đề tài: “Phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên của Cơ sở III- Đại học Công nghệ Giao thông vận tải” để thực hiện nghiên
cứu luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh của mình
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Các hoạt động và quan hệ quản lí có liên quan đến chất lượng GV và chuyên môn - nghiệp vụ trong quá trình phát triển của Cơ sở
4 N HIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1 Xác định cơ sở lí luận của việc nâng cao chất lượng đội ngũ GV tại cấp Cơ sở trong quá trình quản lí trường học
4.2 Khảo sát thực trạng ĐNGV và các giải pháp nâng cao chất lượng ĐNGV ở Cơ
sở III - Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải trong những năm qua
4.3 Đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ GV đáp ứng các mục tiêu phát triển của Cơ sở đến 2015 và tổ chức đánh giá kết quả nghiên cứu bằng phương pháp chuyên gia ở qui mô Cơ sở
Trang 155 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1 Giới hạn ĐNGV đại học, cao đẳng, THCN của Cơ sở thuộc các lĩnh vực chuyên môn, kĩ thuật, không đề cập GV văn hoá, ngoại ngữ, chính trị, quân sự… 5.2 Các giải pháp tập trung đáp ứng các mục tiêu nâng cao chất lượng GV theo Qui hoạch phát triển của Cơ sở đến 2015 và được áp dụng tại cấp quản lí cơ sở, do Giám đốc Cơ sở đứng đầu và điều hành
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận:
- Tổng quan tư liệu để xác định phương pháp luận nghiên cứu
- Phân tích, tổng hợp các tư liệu khoa học để xác định cơ sở lí luận
- Khái quát hóa lí luận để xác định khung lí thuyết và khái niệm cơ bản
6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: để đánh giá thực trạng, bằng các kĩ thuật bảng hỏi, phỏng vấn, quan sát
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: phân tích, tổng hợp các hồ sơ quản lí,
Trang 16CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
TRONG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO I.1 GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG VÀ CHẤT LƯỢNG GIẢNG VIÊN ĐHCĐ
1.1.1.Giảng viên ĐH và đội ngũ GVĐH
Giảng viên, đội ngũ giảng viên bao giờ cũng là nguồn nhân lực cơ bản, chủ yếu quyết định chất lượng, hiệu quả đào tạo, quyết định sự tồn tại phát triển của nhà trường Việc chăm lo phát triển cho đội ngũ GVĐH đã và đang là sự quan tâm của toàn xã hội, là nhiệm vụ cơ bản trọng tâm phải được ưu tiên trong chiến lược phát triển giáo dục
Giảng viên là một bộ phận nhà giáo “Giảng viên làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong trường đại học và sau đại học” Đây là những người “công chức, viên chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy, đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc chuyên ngành đào tạo của trường đại học hoặc cao đẳng” (Luật Giáo dục, Điều 61)
GV là những người có kiến thức sâu rộng, có khả năng tư duy nghiên cứu, phẩm chất đạo đức tốt, say mê công việc, tâm huyết với nghề Do vậy để đáp ứng yêu cầu giảng dạy trong thời đại ngày nay mỗi GV cần phải thường xuyên cập nhật tri thức mới nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp để có thể theo kịp xu thế phát triển của giáo dục trong nước và thế giới
Trong thời đại của nền kinh tế tri thức của xã hội thông tin ngày nay, yêu cầu đối với giảng viên đại học, cao đẳng phải vừa là nhà giáo dục, nhà khoa học, nhà cung ứng dịch vụ và thực sự tâm huyết với nghề
+ Giảng viên với vai trò Nhà giáo
Đây là vai trò truyền thống, nhưng là vai trò tiên quyết đối với một giảng viên Một giảng viên giỏi trước hết phải là một người Thầy giỏi, có kiến thức chuyên ngành uyên bác Song, đó mới chỉ là điều kiện cần
Một giảng viên toàn diện phải là người được trang bị những kiến thức, kỹ năng sau:
- Kiến thức chuyên ngành: kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành và chuyên môn mà mình giảng dạy
Trang 17- Kiến thức về chương trình đào tạo: Mỗi giảng viên đều đi chuyên về một chuyên ngành, nhưng để đảm bảo tính liên thông, gắn kết giữa các môn học thì giảng viên phải được trang bị các kiến thức về cả chương trình giảng dạy
- Kiến thức và kỹ năng về dạy và học: bao gồm khối kiến thức về phương pháp luận, kỹ thuật dạy, học nói chung và dạy, học trong từng chuyên ngành cụ thể nói riêng
- Kiến thức về mục tiêu giáo dục, giá trị giáo dục, môi trường giáo dục, hệ thống giáo dục… có thể coi là khối kiến thức cơ bản nhất làm nền tảng cho các hoạt động dạy và học Chỉ khi mỗi GV hiểu rõ được các sứ mệnh, giá trị cốt lõi, và các mục tiêu chính của hệ thống GD và môi trường GD thì việc giảng dạy mới đi đúng định hướng và có ý nghĩa xã hội
+ Giảng viên với vai trò Nhà khoa học
Giảng viên là nhà giáo tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở các trường ĐH,CĐ Các chức năng này luôn song hành, thống nhất trong nhiệm vụ công tác và trong nhân cách người GV
Ở vai trò này, GV thực hiện vai trò nhà khoa học với chức năng giải thích và
dự báo các vấn đề của các công việc nghiên cứu khoa học, tìm cách ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào giảng dạy, vào thực tiễn đời sống và công bố các kết quả nghiên cứu cho cộng đồng là ba chức năng chính của một nhà khoa học
+ Giảng viên với vai trò Nhà cung ứng dịch vụ cho xã hội
Khác với giáo dục phổ thông, các trường ĐH, CĐ không chỉ làm chức năng đào tạo nhân lực mà còn là một cơ sở NCKH và dịch vụ xã hội Do đó GV cũng là người tham gia vào các hoạt động cung ứng các dịch vụ xã hội Trong chức năng này, GV đóng vai trò là cầu nối giữa khoa học và xã hội để đưa nhanh các kiến thức khoa học vào đời sống cộng đồng
Đó cũng là một vai trò mà xã hội đánh giá cao và kỳ vọng ở các GV Ở vai trò này, GV cung ứng các dịch vụ của mình cho nhà trường, cho các tổ chức xã hội
- đoàn thể, cộng đồng và xã hội Cụ thể đối với nhà trường và sinh viên, một GV cần thực hiện các dịch vụ như tham gia công tác quản lý, các công việc hành chính, tham gia các tổ chức xã hội, cố vấn cho sinh viên, liên hệ thực tập, tìm việc làm cho sinh viên…
Trang 18+ Tâm huyết với nghề dạy học
Đây là một yêu cầu bắt buộc đối với bất cứ nghề nào, nhưng đối với nghề
“thầy giáo” thì yêu cầu “tâm huyết” phải đặt lên hàng đầu vì sản phẩm của giáo dục
là hàm lượng trí thức, phẩm chất đạo đức, tác phong, lối sống… được kết tinh trong con người Sự tâm huyết này thể hiện ở lòng đam mê với nghề nghiệp và nó sẽ tạo nên động lực rất lớn cho hoạt động sáng tạo và phấn đấu vươn lên trong mỗi người thầy, đồng thời sự tâm huyết ấy sẽ truyền sang các thế hệ người học Do vậy, nếu người thầy không yêu nghề, say sưa với nghề thì hậu quả thật khó lường
Chất lượng đội ngũ giảng viên Đại học Chất lượng là "Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của người, sự vật"
Đối với việc XD và nâng cao chất lượng ĐNGV thì nhân tố quan trọng nhất là phát triển chất lượng của đội ngũ đó Chất lượng biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính, nó
là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật, về căn bản chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn với tính qui định về số lượng của
nó và không thể tồn tại ngoài qui định ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất giữa số lượng và chất lượng
Đội ngũ GV phải đạt chuẩn về chất lượng vì chất lượng của đội ngũ là vấn
đề vô cùng quan trọng của mỗi trường Như trên đã đề cập, chất lượng đội ngũ giảng viên có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của đào tạo Chất lượng ĐNGV được thể hiện ở trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức chuyên ngành uyên bác, khả năng tư duy độc lập sáng tạo và phẩm chất đạo đức
1.1.2 Điều kiện tiêu chuẩn Giảng viên Đại học
1.1.2.1 Chuản về trình độ đào tạo
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về chuẩn Trong từ điển tiếng việt, tiêu chuẩn là: "Cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng" Khái niệm tiêu chuẩn thường được đi đôi với khái niệm chất lượng, người ta thường đồng nhất “ Chuẩn" hay “ Tiêu chuẩn " là một, vì người ta luôn hiểu mục đích của nó là “ Để hướng tới chất lượng" hay để đảm bảo chất lượng Chúng tôi hiểu chuẩn là những quy định về yêu cầu, tiêu chí được đặt ra, tuân thủ những
Trang 19nguyên tắc nhất định, được dùng làm thước đo đánh giá hoạt động, công việc, sản phẩm, dịch vụ….Trong một lĩnh vực nhất định nhằm đáp ứng yêu cầu và nhu cầu của người sử dụng Theo Luật giáo dục sửa đổi năm 2005 và các nghị định của Chính phủ ban hành về các văn bản quy định một số tiêu chuẩn có tính chất chung đối với GVĐH thì GV làm công tác giảng dạy trong các trường Đại học, Cao đằng được chia làm 3 cấp:
- Giảng viên
- Giảng viên chính
- Giảng viên cao cấp
Sự khác nhau cơ bản giữa các chức danh chính là trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, khả năng dạy thực hành và lý thuyết cũng như các nhiệm vụ khác: biên soạn giáo trình, nghiên cứu khoa học, quản lý….Trong các trường Đại học, Cao đẳng GV phải có trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm theo quy định về tiêu chuẩn, chức danh GV của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định ( Điều 77 Luật giáo dục năm 2005 và điều 24, Điều lệ trường Đại học ban hành kèm theo Quyết định số 58/2010/QĐ-TTg ngày 22 tháng 9 năm 2010 của Thủ trường Chính phủ) quy định về tiêu chuẩn của giảng viên như sau:
- Giảng viên dạy lý thuyết chuyên ngành:
+ Bằng tốt nghiệp đại học trở lên Nếu dạy thạc sỹ phải có bằng thạc sỹ trở lên, hướng dẫn chuyên đề, luận văn, luận án phải có bằng tiến sỹ
+ Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm bậc II
+ Chứng chỉ bồi dưỡng về lý luận giáo dục đại học
- Giảng viên dạy thực hành, thực nghiệm:
+ Tốt nghiệp các trường đại học Sư phạm kỹ thuật
+ Chứng chỉ bồi dưỡng về lý luận giáo dục Đại học
Để chuyển từ “Giảng viên” lên “Giảng viên chính ”, GV phải đạt được các chứng chỉ sau:
Trang 20- Có chứng chỉ bồi dưỡng sau đại học và có tay nghề dạy thực hành cho HS,
SV theo yêu cầu đào tạo nghề của trường
- Có chứng chỉ lý luận Mác- Lê Nin theo chương trình BD cho cán bộ sau đại học
có khả năng mở rộng để dẫn dắt sinh viên khá, giỏi tìm tòi và khám phá
- Chuẩn về kỹ năng thực hành
Đây là yêu cầu rất quan trọng đối với giảng viên dạy thực hành hay hướng dẫn thí nghiệm trong các trường Đại học chuyên ngành kỹ thuật, quyết định đến uy tín của giảng viên vì mục đích của họ là học để hành nghề Người giảng viên phải thể hiện được mình trong quá trình thực hành, cần có kỹ năng thực hành thành thạo
để hướng dẫn các thao tác một cách chuẩn xác để sinh viên làm theo, mặt khác tạo điều kiện cho sinh viên tư duy sáng tạo trong quá trình thực hành, phải chuyển hóa
lý thuyết vào những công việc cụ thể một cách đơn giản, dễ hiểu có tính thuyết phục cao
- Chuẩn về hiểu biết chung
Giảng viên đại học phải là người tổ chức lãnh đạo, vì vậy ngoài kiến thức chuyên môn họ cần am hiểu về các lĩnh vực khác nhau như kinh tế, xã hội, quản lý, văn hóa, đời sống…
- Chuẩn về nghiên cứu khoa học
Trang 21Giảng dạy và nghiên cứu khoa học là hai nhiệm vụ cơ bản của người Giảng viên Hoạt động nghiên cứu khoa học sẽ góp phần nâng cao trình độ GV, gắn liền với công tác đào tạo, bồi dưỡng sau đại học, gắn liền học với hành, gắn liền nhà trường với xã hội, tạo khả năng độc lập suy nghĩ, sáng tạo và làm quen với hoạt động nghiên cứu khoa học Đặc biệt ngày nay, khi mà khoa học và công nghệ cũng như khoa học giáo dục không ngừng phát triển, GV cần nghiên cứu ứng dụng những tiến bộ khoa học, công nghệ và khoa học giáo dục để cải tiến nội dung, phương pháp dạy và học trong điều kiện Việt Nam
1.1.2.3 Chuẩn về nghiệp vụ sư phạm
Để tiến hành giảng dạy cho sinh viên, GV không chỉ cần trình độ chuyên môn nghề nghiệp mà phải có trình độ về nghiệp vụ sư phạm, đó là khối kiến thức rộng lớn bao gồm những hiểu biết về tâm lý học, lý luận dạy học chung, lý luận luật giáo dục Đại học, lý luận dạy học chuyên ngành, phương tiện dạy học và ứng dụng phương tiện dạy học vào công việc của mình Những kiến thức về sư phạm cho phép GV chủ động lựa chọn phương pháp dạy học, phương tiện dạy học thích hợp
để hoàn thành nội dung đạt được nội dung bài giảng với hiệu quả cao, qua đó người
GV có thể tổng hợp và hệ thống hóa kiến thức và kinh nghiệm của mình và đồng nghiệp trong quá trình giảng dạy Những tri thức và kỹ năng sư phạm và GV cần phải có
+ Khả năng hiểu biết sinh viên
Được hình thành từ những kiến thức về tâm lý học và kinh nghiệm hoạt động của bản thân trong quá trình giao tiếp với sinh viên, nhờ đó GV có thể thâm nhập vào thế giới bên trong của người học, hiểu biết động cơ học tập, ưu và khuyết điểm của người học…để thực hiện quá trình cá thể hóa trong quá trình giảng dạy, qua đó giáo dục đạo đức, thái độ và tình cảm của người học
+ Tri thức về xây dựng mục tiêu bài giảng
Từ mục tiêu chung của môn học GV cần xác định các mục tiêu chi tiết và những đóng góp của từng bài giảng vào mục tiêu chung của môn học, phải xác định cho được vị trí và tầm quan trọng của bài giảng trong môn học Từ đó xây dựng mục tiêu chi tiết cho từng bài giảng kết hợp một cách hợp lý với phương pháp giảng dạy và phương tiện để hoàn thành nhiệm vụ
Trang 22+ Tri thức về xây dựng nội dung bải giảng
Từ chương trình đào tạo GV có đề cương mục tiêu môn học trong chương trình, các chương và các phần của chương Có khả năng lựa chọn tài liệu, phương pháp, phương tiện dạy học để thực hiện Việc xây dựng nội dung và phát triển nội dung từng phần đòi hỏi GV phải có năng lực chuyên môn cao, có kiến thức sâu, rộng và thực tế nghề nghiệp, và căn cứ vào mục tiêu môn học đê xây dựng nội dung chi tiết phù hợp với người học và hoàn thành tốt mục tiêu
+ Tri thức về lựa chọn phương pháp cho bài giảng
Phương pháp, nội dung và phương tiện dạy học thường có quan hệ hữu cơ với nhau và có thể mô tả như hình vẽ 1.1 GV cần nắm vững và sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại vào công nghệ giảng dạy của mình
Hình 1.1 Quan hệ phương pháp – nội dung – phương tiện dạy học
+ Kỹ năng chuẩn bị bài giảng
GV phải lựa chọn được các tài liệu tham khảo, sách giáo khoa cần thiết, xác định được mục đích và kiến thức cơ bản của giờ giảng, lựa chọn phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp với từng loại bài tập và trình độ của sinh viên Tất cả những yêu cầu này phải được thể hiện trong giáo án
+ Kỹ năng tiến hành bài giảng
GV phải tổ chức được toàn bộ hoạt động từ đầu cho đến khi kết thúc buổi học, từ ổn định lớp, kiểm tra bài cũ, hướng dẫn học bài mới, củng cố kiến thức và hướng dẫn sinh viên phương pháp tự học, tự nghiên cứu
+ Kỹ năng đánh giá chất lượng bài giảng
Phương pháp
học
Trang 23GV cần so sánh việc thực hiện bài giảng của mình với mục tiêu, yêu cầu được quy định trong giáo án để thấy được những thành công, những thiếu sót, từ đó rút ra kinh nghiệm và để ra các biện pháp khắc phục
+ Kỹ năng tổ chức
GV vừa là người tổ chức hoạt động, lĩnh hội tri thức cho cá nhân và tập thể sinh viên vừa là hạt nhân gắn những sinh viên thành một tập thể, tuyên truyền, liên kết, phối hợp các lực lượng giáo dục
1.1.3 Yêu cầu về nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học
Để nâng cao chất lượng cho đội ngũ giảng viên đáp ứng được các yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cần phải tập trung công tác bồi dưỡng về kiến thức kỹ năng chuyên môn cũng như năng lực sư phạm cho GV, đặc biệt là các công nghệ mới và CNTT Phát triển năng lực phải chú ý điến cả ba thành tố: Kiến thức, kỹ năng và thái độ
Kiến thức, kỹ năng và thái độ của GV là những thành tố hợp thành phẩm chất năng lực của GV Phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ GV nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của GV trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu, phục vụ xã hội
-Về kiến thức
Phát triển kiến thức là thành tố cơ bản trong các yếu tố tạo nên phẩm chất, năng lực của GV Kiến thức nói chung và chuyên môn là tiền đề để đảm bảo hoạt động của GV có hiệu quả trong giảng dạy, NCKH, phục vụ cộng đồng Để có kiến thức chuyên môn sâu GV cần được nghiên cứu sâu về môn chuyên ngành, đồng thời phải nghiên cứu nắm chắc các kiến thức cơ sở, cơ bản liên quan Hiện nay, thời đại bùng nổ Khoa học Công nghệ Thông tin, vì vậy nếu GV chỉ có kiến thức chuyên ngành thì chưa đủ mà còn phải nắm bắt được các loại kiến thức khác nhau về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, phải có hiểu biết về môi trường hoạt động, về tâm lý,
về tin học, ngoại ngữ…
Đối tượng giảng dạy của GV là SV SV mỗi trường có đặc điểm tâm lý riêng
có đời sống tâm lý cá nhân phức tạp, phong phú Để đạt được hiệu quả giảng dạy,
GV phải có những hiểu biết, những kiến thức về tâm lý học đại cương, tâm lý lứa tuổi, tâm lý sư phạm, phương pháp sư phạm, phương pháp dạy học đại học….GV
Trang 24được tuyển dụng từ nhiều nguồn khác nhau, cho nên cần phải có kế hoạch, chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ sư phạm và các kiến thức khác liên quan đến quá trình dạy học cho đối tượng GV này
-Về kỹ năng
Kỹ năng của GV thể hiện sự vận dụng những kiến thức vào hoạt động sư phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Kỹ năng là yếu tố rất quan trọng trong năng lực của GV, thông qua nó kiến thức và thái độ mới biến thành kết quả hiện thực Trong hoạt động GV cần có nhiều kỹ năng Mỗi kỹ năng có vai trò riêng trong việc vận dụng những kiến thức đã có vào hoạt động nhằm chuyển biến nhân cách
SV theo mục tiêu đào tạo Trong các kỹ năng sư phạm của GV thì kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thiết kế bài giảng, kỹ năng tổ chức các hoạt động dạy học, kỹ năng sử dụng các thiết bị dạy học, kỹ năng cập nhật kiến thức có tính chất quyết định hiệu quả giảng dạy của GV Kỹ năng chỉ có được thông qua quá trình học tập, rèn luyện một cách nghiêm túc, bền bỉ, sáng tạo, phải qua đào tạo, bồi dưỡng Cần sử dụng
GV một cách khoa học, có kế hoạch, đồng thời phát huy cao độ tính tích cực chủ động, tính kiên trì, lòng nhiệt tình say mê, yêu nghề của GV trong quá trình lao động sư phạm Kỹ năng thực hành chuyên môn là yêu cầu rất quan trọng đối với
GV giảng dạy thực hành, GV phải có trình độ và tay nghề và thể hiện được mình trong quá trình thực hành mẫu ( thao tác, động tác thành thục ), cần hướng dẫn SV thành thạo trong thực hành chuyên môn, tạo điều kiện cho SV tư duy sáng tạo trong quá trình thực hành, áp dụng kiến thức lý thuyết để triển khai thực hiện hệ thống bài tập công nghệ thực hành, thực nghiệm
-Về thái độ
Thái độ là một yêu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của GV, thái độ của GV thể hiện ở niềm tin, giá trị, sự tận tụy, lòng say mê, tinh thần có trách nhiệm của GV đối với nhiệm vụ của họ Thái độ của GV có ý nghĩa quan trọng đối với phẩm chất của nhà giáo, đặc biệt trong cơ chế thị trường, nhiều mặt tiêu cực của xã hội đang thâm nhập vào nhà trường, GV phải có hình tượng mẫu mực để làm gương cho thế hệ trẻ noi theo, mỗi thầy cô là một tấm gương đạo đức tự học va tự nghiên cứu khoa học và chỉ có những GV có phẩm chất, thái độ tốt mới có khả năng giáo dục được thể hệ trẻ
Trang 251 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ GV
1.1.4.1 Các yếu tố khách quan
+ Nhu cầu đòi hỏi của xã hội tác động đến sự nghiệp đội ngũ GV:
Cùng với sự phát triển nhanh và mạnh như vũ bão của nền kinh tế, nhu cầu đòi hỏi của nhiều công ty, nhà máy, xí nghiệp về năng lực và trình độ của đội ngũ cán bộ, kỹ sư điều này đòi hỏi mỗi nhà trường phải đào tạo sao cho đáp ứng được các yêu cầu đó Muốn đào tạo ra một đội ngũ cán bộ, kỹ sư đáp ứng được các nhu cầu của xã hội thì bên cạnh các yếu tố: cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị dạy học… và điều không thể thiếu đó là chất lượng đội ngũ GV
+ Nhu cầu đòi hỏi của mỗi nhà trường tác động đến sự phát triển của đội ngũ GV
Trong xã hội hóa giáo dục, sự phát triển và nâng cấp của mỗi nhà trường cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: cơ sở vật chất, ngành học đặc thù, vị trí địa lý… Nhưng cũng không thể thiếu được yếu tố cơ bản đó là điều kiện đội ngũ GV Sự phát triển của nhà trường gắn liền với sự phát triển về đội ngũ có mạnh thì nhà trường mới phát triển mạnh
1.1.4.2 Các yếu tố chủ quan
Do nhu cầu mong muốn được tự học, tự đào tạo của tự thân của mỗi đội ngũ giảng viên trong nhà trường vì thấy mình còn hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ, thiếu kinh nghiệm trong giảng dạy và giáo dục…
Tựu chung lại, công tác phát triển chất lượng đội ngũ GV là một quá trình liên tục phát triển nhằm hoàn thiện hoặc thay đổi tình hình hiện tại để làm cho đội ngũ GV không ngừng lớn mạnh về mọi mặt Thực chất đó cũng là một quá trình cải cách, cải tổ về chất lượng đội ngũ GV Phát triển đội ngũ giảng viên là một quá trình tích cực có tính hợp tác cao, trong đó người giảng viên có vai trò quan trọng trong sự trưởng thành về năng lực, về trình độ, về nghề nghiệp cũng như nhân cách của bản thân họ cùng hòa hợp và phát triển cùng với sự phát triển chung của mỗi nhà trường
1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG VÀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
1.2.1.Vai trò quyết định của chất lượng giảng viên đối với chất lượng đào tạo
Trang 26Theo tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001- 2008 đã đưa ra khái niệm “chất lượng là mức độ thoả mãn của một tập hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu”.Quan niệm xuất phát từ sản phẩm: Chất lượng là “Cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là “cái tạo nên bản chất của sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia” (Từ điển tiếng việt thông dụng, nhà xuất bản GD, 1998)
Chất lượng GV là tổng hoà các yếu tố như kiến thức năng lực chuyên môn, trình độ tin học, ngoại ngữ, năng lực sư phạm, khả năng nghiên cứu khoa học, kỹ năng, thái độ và niềm say mê nghề nghiệp vv
Giáo dục là một nhân tố to lớn thúc đẩy sự phát triển của xã hội Trong sự nghiệp giáo dục, vai trò của người thầy luôn luôn được khẳng định Đội ngũ GV là thành phần chủ yếu quyết định trực tiếp tới chất lượng, hiệu quả đào tạo trong nhà trường và được xã hội tôn vinh Nhân dân ta có câu: “ Không thầy đố mày làm nên"
để nói về vai trò của nhà giáo và truyền thống tôn sư trọng đạo Đảng ta khẳng định:
“ Cùng với Khoa học và Công nghệ, Giáo dục và Đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu” [15;15] “ Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong đảm bảo chất lượng Nhà giáo không ngừng học tập, rèn luyện, nêu gương tốt cho người học tập Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, có chính sách đảm bảo những điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện nhiệm vụ của mình" [18;3]
Ngày nay trước yêu cầu của cuộc cách mạng xã hội và những yêu cầu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đòi hỏi đào tạo được "Những con người phát triển toàn diện, yêu nước và có lý tưởng XHCN, góp phần tích cực vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, có lòng ham hiểu biết và năng lực học tập suốt đời, có tư duy sáng tạo, làm chủ KHKT hiện đại, có ý thức và năng lực hợp tác, có tinh thần trách nhiệm với cộng đồng xã hội, với môi trường tự nhiên, có nếp sống lành mạnh và sức khỏe tốt.”(Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2020) Sự nghiệp GD & ĐT nước ta nói chung, GDĐH nói riêng đòi hỏi phải đổi mới toàn diện trong đó cần:
“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD&ĐT, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học" [4;9] GV là nhân tố quyết định đến chất lượng GD&ĐT, muốn có chất lượng đào tạo trước hết phải có đội ngũ giáo viên có chất lượng Thầy giỏi thì mới có trò giỏi Trong tổ chức quá trình đào tạo
Trang 27GV có vai trò đặc biệt quan trọng GV là người thiết kế, người tổ chức, người cổ vũ, người đánh giá
- Vai trò người thiết kế
Sản phảm của giáo dục đảo tạo là những con người lý tưởng, có ý thức công dân, có cá tính có tinh thần tự trọng, có tính cộng đồng xã hội, tôn trọng pháp luật,
có trách nhiệm với môi trường tự nhiên, những con người thông minh, sáng tạo, có năng lực giải quyết đúng, nhanh những vấn đề về kỹ thuật, về tổ chức, về quản lý… thực tiễn đòi hỏi Những con người có năng lực tự học, học suốt đời để có tri thức cần thiết phù hợp đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và có thể di chuyển, thích ứng với nghề nghiệp khác khi cần, có năng lực nghiên cứu khoa học Đó chính là nhân cách của sinh viên đã được hình thành trong quá trình học tại trường Để có được nhân cách ấy GV phải là người thiết kế xây dựng nội dung chương trình, kế hoạch cho hoạt động giảng dạy, tạo ra các tình huống để sinh viên tự giác, tích cực, say mê, biết cách thực hiện nhiệm vụ học tập
Thiết kế, đó là cơ sở, là tiền đề thực hiện các vai trò khác tiếp theo của GV trong quá trình tổ chức đào tạo Trong giảng dạy mỗi môn học, mỗi bài học, mỗi tiết học, GV cần phải quan tâm thiết kế ngay từ việc soạn giáo án , lựa chọn các tài liệu tham khảo sao cho đảm bảo phù hợp giữa mục tiêu giáo dục, đào tạo của nhà trường với mục đích yêu cầu của từng nội dung dạy và học Với mỗi nội dung dạy học, GV phải thiết kế, xây dựng được hệ thống ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm, các bài tập khơi dậy đáp ứng nhu cầu phát triển trí tưởng tượng, óc tò mò, tính say mê trong tìm tòi lĩnh hội tri thức, sáng tạo cái mới của từng sinh viên Thiết kế tốt sẽ tạo cơ
sở để giờ giảng, giờ học thực sự có chất lượng, hiệu quả và thực hiện được mục tiêu giáo dục của nhà trường
Trang 28học thành một “Cộng đồng xã hội" Trong đó thể hiện tinh thần dân chủ công khai,
có sự hợp tác của các thành viên, kết hợp hài hòa giữa học bạn, học thầy, học trong nhà trường và học trong thực tiễn, đồng thời kết hợp hài hòa với các phương pháp đàm thoại, gợi mở, nêu vấn đề.Tổ chức cho sinh viên phát huy đầy đủ trách nhiệm, khả năng làm việc, học tập tìm tòi một cách tích cực sáng tạo để sinh viên phát triển một cách lành mạnh, tự nhiên phù hợp với yêu cầu của xã hội, của thời đại, đem lại niềm vui hạnh phúc cho sinh viên trong quá trinh học tập nghiên cứu khoa học Tổ chức được như vậy là biến quá quá trình đào tạo thành tự đào tạo, đồng thời tạo điều kiện để sinh viên tự học được phương pháp tổ chức học tập để có thể tự tổ chức học tập suốt đời
- Vai trò người cổ vũ
Cổ vũ là toàn bộ những tác động mạnh mẽ của GV đến tinh thần, cảm xúc tình cảm của sinh viên làm cho sinh viên hăng hái, phấn chấn, tự tin vào khả năng của mình, tham vọng vượt qua khó khăn, hoạt động học tập, tham gia NCKH say
mê hơn, tích cực hơn, hành động tự giác sáng tạo hơn Có nhiều cách thức cổ vũ động viên, GV cần hiểu đúng sinh viên, đánh giá cao sức sáng tạo của họ, giúp họ nhận thức đúng về bản thân, tin tưởng khả năng lĩnh hội tri thức một cách khoa học, chính xác, nắm chắc bản chất vấn đề một cách nhanh nhất với khả năng sáng tạo của mình để họ không tự ty vươn lên GV có thái độ trân trọng những tìm tòi sáng tạo của sinh viên và khuyến khích họ tiếp tục say mê tìm tòi sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành các nội dung học tập, có hiệu quả tốt trong học tập
- Vai trò người đánh giá
Đánh giá là nội dung quan trọng của quá trình dạy học, nó tạo cơ sở để GV điều chỉnh tổ chức hoạt động nhận thức của sinh viên và tạo sự tác động để sinh viên tự điều chỉnh hoạt động nhận thức của mình Đánh giá đúng kết quả hoạt động của sinh viên sẽ phát huy được tính sáng tạo, kích thích lòng say mê nhiệt tình của
họ Đánh giá sai chẳng những làm mất đi lòng nhiệt tình, sư say mê tìm tòi, sáng tạo của sinh viên mà còn mất đi lòng tin, sự ngưỡng mộ của sinh viên với GV, uy tín của người thầy bị giảm sút Thực hiện vai trò của người đánh giá, GV cần phải có năng lực, kỹ thuật trong đánh giá kết quả học tập của sinh viên và hướng dẫn sinh viên tự đánh giá, khi đó việc đánh giá mới thực sự có giá trị, có ỹ nghĩa giáo dục,
Trang 29góp phần hình thành phẩm chất nhân cách của sinh viên, nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình đào tạo
1.2.2 Chất lượng đào tạo – thước đo chất lượng giảng viên
1.2.2.1 Quan niệm về chất lượng đào tạo
Chất lượng luôn là vấn đề rất được quan tâm và việc phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ cơ sở đào tạo nào Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về “chất lượng đào tạo” dựa trên các “góc nhìn” khác nhau:
“Chất lượng đào tạo được hiểu là mức độ đạt được mục tiêu đề ra đối với một chương trình đào tạo” (Lê Đức Ngọc, Lâm Quang Thiệp – ĐH Quốc Gia Hà Nội)
“Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị, nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình theo các ngành nghề cụ thể”(Trần Khánh Đức - Viện nghiên cứu phát triển giáo dục)
Như vậy, mặc dù khó có thể đưa ra một định nghĩa về chất lượng trong đào tạo, song các nhà nghiên cứu cũng cố gắng tìm ra những cách tiếp cận phổ biến nhất Cơ sở của các cách tiếp cận này xem chất lượng là khái niệm đa chiều, với những người ở cương vị khác nhau có thể có những ưu tiên khác nhau khi xem xét
nó Đối với cán bộ giảng dạy thì ưu tiên của khái niệm chất lượng đào tạo phải là ở quá trình đào tạo, còn đối với người học và những người sử dụng lao động, ưu tiên
về chất lượng đào tạo của họ lại ở đầu ra, tức là trình độ, năng lực, và kiến thức của sinh viên khi ra trường…
Có thể nói: “chất lượng đào tạo phải được thể hiện trong mục tiêu đào tạo và đáp ứng càng nhiều ước muốn của các bên liên quan càng tốt”
Trang 30Hình 1.2: Sơ đồ quan niệm về chất lượng đào tạo:
(Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực, nhà xuất bản Giáo Dục, 2004)
Chất lượng đào tạo là một vấn đề được các trường quan tâm, xung quanh vấn
đề này cũng có nhiều quan niệm khác nhau:
+ Quan niệm chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “đầu vào"
Theo quan điểm của một số nước phương tây thì chất lượng của một trường học phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của trường đó Theo quan điểm này thì nguồn lực chính là chất lượng, nghĩa là các trường được xem là có chất lượng cao nếu tuyển sinh được sinh viên giỏi
Vậy quan điểm này đã bỏ qua quá trình đào tạo diễn ra trong thời gian dài trong nhà trường Đây là quan điểm xem quá trình đào tạo là “hộp đen”, chỉ dựa vào đánh giá “đầu vào”, không quan tâm đến chất lượng “đầu ra” Quan điểm này
sẽ khó giải thích được tại sao một nhà trường có đầu vào cao nhưng hoạt động đào tạo hạn chế, sinh viên tốt nghiệp chưa chắc đã xuất sắc và một trường có đầu vào khiêm tốn nhưng sinh viên được cung cấp một chương trình đào tạo hiệu quả, sinh viên tốt nghiệp xuất sắc
+ Quan niệm chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “đầu ra"
Theo quan điểm này chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “đầu ra” của quá trình đào tạo, được thể hiện thông qua năng lực của sinh viên tốt nghiệp
Xung quanh quan niệm này vẫn nảy sinh hai vấn đề: một là không xem xét mối liên hệ giữa “đầu vào” với “đầu ra” Thực tế thì mối liên hệ này là có thực, tuy không phải là quan hệ nhân quả Thứ hai là cách đánh giá “đầu ra” của các trường cũng rất khác nhau
Nhu cầu xã hội
Kết quả đào tạo
khớp với mục
tiêu đào tạo
Kết quả đào tạo
Kết quả đào tạo phù hợp với nhu cầu sử dụng
Trang 31+ Quan niệm chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “giá trị gia tăng "Quan điểm này cho rằng một trường có tác động tích cực tới sinh viên nếu tạo ra sự khác biệt trong sự phát triển trí tuệ và cá nhân của sinh viên “ Giá trị gia tăng” xác định bằng cách lấy giá trị “đầu ra” trừ đi giá trị “đầu vào”
Nhưng nếu đánh giá chất lượng theo quan điểm này thì nảy sinh vấn đề là phải có thước đo thống nhất để đánh giá chất lượng “đầu vào”, “đầu ra” cho các trường vì
hệ thống giáo dục của các trường rất đa dạng Hơn nữa nếu thiết lập được thước đo chung thì “giá trị gia tăng” cũng không cung cấp thông tin để cải tiến quá trình đào tạo trong các nhà trường
+ Quan niệm chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “giá trị học thuật"
Quan điểm này đánh giá chất lượng đào tạo chủ yếu dựa vào năng lực học
thuật của đội ngũ cán bộ giảng viên Tức là nếu một trường có nhiều giáo sư, tiến
sĩ, có uy tín khoa học thì được coi là có chất lượng cao.Nhưng liệu chúng ta sẽ đánh giá năng lực học thuật của đội ngũ cán bộ giảng viên như thế nào khi xu hướng chuyên ngành hóa ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng
+ Quan niệm chất lượng đào tạo được đánh giá bằng iivăn hóa tổ chức riêng" Quan điểm này cho rằng chất lượng của một trường được đánh giá thông qua
“văn hóa tổ chức riêng” là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo Quan điểm này khó áp dụng trong giáo dục vì nó có nguồn gốc từ lĩnh vực công nghiệp và thương mại
+ Quan niệm chất lượng đào tạo được đánh giá bằng “kiểm toán
Đây là quan điểm coi trọng nguồn thông tin cung cấp cho việc ra quyết định.theo
họ, một cá nhân có đủ thông tin cần thiết để đưa ra các quyết định về chất lượng chính xác thì sẽ có chất lượng
Nhưng thực tế, không phải nhà trường nào có đầy đủ phương tiện thu thập thông tin cũng đưa ra quyết định tối ưu
1.2.2.2 Một số quan niệm khác về chất lượng đào tạo
- Theo tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc tế (INQAHE- Intemational Network of Quality Assurance in Higher Education) thì: chất lượng là
sự trùng khớp với mục đích [2, tr256]
Trang 32Theo quan điểm này chất lượng đào tạo được đánh giá thông qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã được đề ra cho một chương trình đào tạo đã thiết kế Khái niệm này được nhiều nhà phân tích và hoạch định chính sách giáo dục chấp nhận
- Theo Trần Khánh Đức (thuộc viện nghiên cứu phát triển giáo dục): chất lượng đào tạo là kết quả của cả quá trình đào tạo, phản ánh ở các đặc trưng về nhân cách, phẩm chất, năng lực hành nghề mà người tốt nghiệp đạt được phù hợp với mục tiêu, chương trình đào tạo của từng ngành nghề cụ thể [8, tr259]
- Theo quyết định 65/2007/QĐ - BGDĐT ngày 01/11/2007: "chất lượng giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục của luật giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương và cả nước"
Như vậy xung quanh vấn đề chất lượng đào tạo có rất nhiều quan điểm khác nhau chất lượng đào tạo là một khái niệm mang tính tương đối Mỗi đối tượng khác nhau sẽ có những quan tâm khác nhau về chất lượng đào tạo phù hợp với lợi ích của
họ Với vị trí là sinh viên, giảng viên có thể quan tâm đến quá trình đào tạo như thế nào, còn các doanh nghiệp có thể quan tâm đến đầu ra của quá trình đào tạo Vấn đề khi đánh giá chất lượng đào tạo chúng ta cần đưa ra các tiêu chí làm thước đo để đánh giá Các tiêu chí này phải kết hợp hài hòa lợi ích của các đối tượng, sao cho phù hợp với mục tiêu đào tạo của nhà trường, đồng thời cũng phải thỏa mãn được nhu cầu của thị trường lao động và xã hội
1.2.2.3 Đánh giá chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo là một khái niệm động, đa chiều Vì vậy ta không thể dùng một phép đo đơn giản để đo lường và đánh giá chất lượng trong giáo dục đào tạo Để đánh giá chất lượng trong giáo dục đào tạo người ta thường dùng một bộ thước đo bao gồm các tiêu chí và các chỉ số tương ứng với các lĩnh vực trong quá trình đào tạo, nghiên cứu khoa học và dịch vụ cộng đồng của các trường Các chỉ số này có thể là định tính nghĩa là đánh giá bằng nhận xét chủ quan của người đánh giá hoặc chỉ số cũng có thể là định lượng, tức là đánh giá và đo lường bằng điểm
số
Vậy tại sao chúng ta phải đánh giá chất lượng đào tạo, mục đích, nội dung và
Trang 33phương pháp đánh giá là gì?
+ Sự cần thiết phải đánh giá chất lượng đào tạo
Trong những năm gần đây, hệ thống giáo dục của việt nam phát triển mạnh
mẽ Một mạng lưới giáo dục bao gồm các học viện, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp đa dạng về loại hình, phương thức đào tạo đã được hình thành khắp cả nước Quy mô đào tạo nước ta đang tăng nhanh nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của
xã hội Cùng với sự tăng nhanh của quy mô đào tạo thì một vấn đề ngày càng được quan tâm đó là chất lượng đào tạo Mặc dù chất lượng đào tạo ở nước ta trong vài năm gần đây đã có chuyển biến tốt, nhưng vẫn còn hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, và chưa tiếp cận được với trình
độ tiên tiến của khu vực cũng như thế giới gần đây các hoạt động đánh giá, kiểm định chất lượng đào tạo đã được chú ý nhưng còn thiếu đồng bộ và chưa thành hệ thống Vì vậy, đánh giá, kiểm định chất lượng đào tạo cần phải được các cấp, các ngành và xã hội quan tâm
+ Mục đích đánh giá
Đánh giá chất lượng đào tạo trước tiên là để làm rõ quy mô, chất lượng và hiệu quả các hoạt động đào tạo, nghiên cứu và các dịch vụ xã hội theo các chức năng, nhiệm vụ của nhà trường
Mặt khác, đánh giá chất lượng đào tạo còn nhằm mục đích xác định và so sánh theo các tiêu chuẩn kiểm định của nhà nước đã công bố xem đạt đến mức độ nào Từ đó nhà trường xác định các điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ và thách thức để
đề ra các chiến lược, kế hoạch và các biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo của trường Đồng thời, nhà trường có thể đưa ra các kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền có biện pháp hộ trợ cho nhà trường trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo của mình
+ Nội dung đánh giá
Trên cơ sở các tiêu chuẩn kiểm định và các quy định cụ thể về các chuẩn mực do nhà nước hoặc hiệp hội ban hành công tác đánh giá chất lượng đào tạo của nhà trường gồm một số nội dung sau đây
- Thu thập, tổng hợp và phân tích các thông tin, tư liệu, số liệu thống kê theo yêu cầu của các tiêu chí và tiêu chuẩn kiểm định đề ra
Trang 34- Tổ chức thẩm tra, khảo sát ý kiến của cán bộ, giảng viên, sinh viên của nhà trường điều tra tình hình việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp và ý kiến nhận xét, đánh giá của các cơ sở sử dụng nhân lực do nhà trường đào tạo, bồi dưỡng
- Tổng hợp các thông tin thu thập được theo các tiêu chuẩn, tiêu chí kiểm định, đánh giá chất lượng đào tạo
1.2.2.4 Một số nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
Chất lượng giáo dục là một khái niệm động, nhiều chiều, khó định nghĩa một cách chính xác Vì vậy, để đánh giá chất lượng đào tạo ta cần xem xét các yếu
tố tác động đến chất lượng đào tạo Vậy những yếu tố nào có thể tác động tới chất lượng đào tạo? Có nhiều nhân tố tác động đến chất lượng đào tạo, tuy nhiên trong luận văn này, tác giả chỉ xem xét một số nhân tố cơ bản sau đây:
- Mục tiêu và chương trình đào tạo
Mục tiêu đào tạo là đích mà nhà trường mong muốn đạt được sau một quá trình đào tạo Như chúng ta đã biết, chất lượng đào tạo là sự đáp ứng mục tiêu đào tạo đề ra Vậy mục tiêu đào tạo là một căn cứ để đánh giá chất lượng của quá trình đào tạo Điều 33 luật giáo dục năm 2005 có ghi về mục tiêu đào tạo cần "Đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, có lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm”
Bên cạnh mục tiêu, chương trình đào tạo và cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học thì một yếu tố khác quan trọng có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo đó là đội ngũ giảng viên Nếu có chương trình, sách giáo khoa tốt, thiết bị đầy đủ, thời lượng học hợp lý, nhưng GV yếu năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức kém thì không thể dạy tốt và sẽ không có chất lượng tốt
Trong thời đại mới, nhà giáo không còn là người truyền thụ kiến thức, mà là người hỗ trợ, hướng dẫn cho người học tìm chọn và xử lý thông tin Vậy thì vai trò của nhà giáo trong thời đại mới sẽ như thế nào? Câu ngạn ngữ: “không thầy đố mày làm nên” còn đúng không? Trong thời đại hiện nay, vai trò của nhà giáo thay đổi nhưng vị trí của nhà giáo hoặc là không đổi hoặc là được nâng cao hơn so với trước nếu nhà giáo thỏa mãn được những đòi hỏi của thời đại mới Thật vậy, hội nghị Pari
về giáo dục học đại học cho rằng "phương thức giáo dục mặt đối mặt vẫn chiếm vị
Trang 35trí hàng đầu" tác dụng của sự tương tác giữa thầy và trò vẫn luôn được nhấn mạnh Trong mối tương tác đó, nếu nhà giáo có bề dày kinh nghiệm, trình độ sẽ đóng góp lớn cho quá trình học" [2, tr85]
Ngoài trình độ chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy thì phương pháp giảng dạy của người thầy cũng rất quan trọng Người thầy có kiến thức chuyên môn sâu rộng, kinh nghiệp lâu năm nhưng phương pháp giảng dạy không phù hợp thì học trò cũng khó lĩnh hội được những kiến thức đó, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo Như vậy, trong thời đại ngày nay nhà giáo cần phải thường xuyên trau dồi kiến thức, kinh nghiệm, đạo đức đồng thời phải thường xuyên thay đổi phương pháp dạy học
1.3 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
1.3.1 Tuyển dụng
1.3.1.1Các căn cứ để tuyển dụng và sử dụng có hiệu quả đội ngũ giảng viên
- Chuẩn GV quy định theo các cấp trình độ
- Nội dung chương trình đào tạo, các ngành đề đã được ban hành
- Nghị quyết 14 của Thủ tướng Chính phủ trong đó nêu: Cần ưu tiên GV có học hàm, học vị
1.3.1.2.Tuyển dụng
Đó là hoạt động bao gồm việc tuyển dụng, bồi dưỡng ban đầu và sắp xếp công việc nhằm mục đích chọn đúng người và bố trí công việc phù hợp với khả năng của từng đối tượng Vì vậy để thực hiện tốt công tác quản lý việc tuyển dụng,
sử dụng đội ngũ giảng viên cần phải:
- Thành lập hội đồng tuyển chọn với đủ các thành phần theo quy định, quản
lý theo quy trình tuyển chọn và quản lý việc thực hiện chuẩn trong tuyển chọn GV
và quản lý việc sử dụng có hiệu quả đội ngũ GV
- Cần căn cứ vào nhu cầu sử dụng đội ngũ giảng viên của từng ngành nghề, từng trường, từng cơ sở đào tạo mà tuyển chọn dựa trên những tiêu chuẩn quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và những văn bản pháp luật của Nhà nước
Trang 36Quá trình tuyển chọn bao gồm từ khâu ra văn bản thông báo(các tiêu chuẩn, số lượng, trình độ…) đến kết luận(ra quyết định)
-Sử dụng trình độ đúng sở trường và năng lực của đội ngũ giảng viên trong nhà trường, trong các cơ sở đào tạo, điều đó sẽ phát huy tính tích cực đến hiệu quả quá trình đào tạo, người GV sẽ phát huy hết khả năng, năng lực trí tuệ, lòng nhiệt tình yêu nghề trong công việc giảng dạy của minh
Bên cạnh đó, người quản lý cần có chủ trương khuyến khích đội ngũ giảng viên say mê học tập và tu dưỡng phẩm chất đạo đức nghề nghiệp để phát triển bản thân, phát hiện người tài để bồi dưỡng trở thành lực lượng nòng cốt là rất quan trọng đối với trách nhiệm nhà quản lý
1.3.3 Kiểm tra, đánh giá, sàng lọc
Trong quản lý nguồn nhân lực, việc kiểm tra, đánh giá và sàng lọc đôi ngũ
GV là một trong những nhiệm vụ quan trọng bao gồm kiểm tra, đánh giá, sàng lọc không chính thức và chính thức có hệ thống Mục đích của việc kiểm tra, đánh giá, sàng lọc là việc xem xét mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ GV, cá nhân được kiểm tra, đánh giá, sàng lọc có xứng đáng để cân nhắc, đề bạt, sử dụng hay thuyên chuyển hoặc sa thải Kiểm tra, đánh giá, sàng lọc được thực hiện trong suốt quá trình, bắt đầu từ khi xây dựng kế hoạch, quá trình triển khai kế hoạch đó và từ
Trang 37Công tác kiểm tra đánh giá hoạt động giảng dạy của đội ngũ giảng viên là hoạt động phức tạp, đối tượng chủ yếu là con người, mục đích là sự tiến bộ của con người- biểu hiện cụ thể của chất lượng sản phẩm đầu ra Do đó người chỉ đạo quản
lý cần tuân theo những nguyên tắc kiểm tra đánh giá sau:
- Nguyên tắc tính pháp chế: Hiệu trưởng kiểm tra đánh giá hoạt động dạy
học và giáo dục là thực hiện trách nhiệm do Nhà nước giao phó Giảng viên được kiểm tra đánh giá cần tham gia tích cực tự giác vào quá trình này nhằm không ngừng nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục
- Nguyên tắc tính kế hoạch: Hoạt động kiểm tra đánh giá được đưa vào kế hoạch năm học trong sự thống nhất với các hoạt động sư phạm khác trong nhà trường, trở thành nề nếp quản lý, tạo điều kiện cho quản lý
- Nguyên tắc khách quan: kiểm tra đánh giá trong giáo dục cần dựa trên các tiêu chí được xây dựng một cách khoa học, đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn và phù hợp với các đặc điểm của nhà trường
- Nguyên tắc tính hiệu quả: kiểm tra đánh giá phải được tiến hành khoa học
để đem lại hiệu quả tối ưu
- Nguyên tắc tính giáo dục: kiểm tra đánh giá nhằm nắm bắt những tồn tại, khó khăn, đồng thời ghi nhận sự tiến bộ ở GV, vì vậy nó mang tính nhân đạo và giáo dục sâu sắc
Có thể vận dụng các phương pháp kiểm tra đánh giá khác nhau: quan sát, điều tra, phỏng vấn, dự giờ, nghiên cứu phân tích số liệu…Mặt khác, cần tuân thủ các bước cơ bản của Quy trình kiểm tra đánh giá:
- Xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá: yêu cầu phải phù hợp với tình hình, điều kiện cụ thể cho phép của trường và có tính khả thi Kế hoạch được xây dựng bao gồm kế hoạch kiểm tra toàn năm học, kế hoạch kiểm tra học kỳ,
Theo tác giả Nguyễn Thị Tính:"Kiểm tra, đánh giá, sàng lọc trong giáo dục
là một quá trình hoạt động được tiến hành có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt được của đối tượng quản lý về mặt mục tiêu đã định; nó bao gồm sự mô tả định tính
và định lượng kết quả đạt được thông qua những nhận xét, so sánh với những mục tiêu đã đề ra “ [29,tr38]
Trang 38Đối với giảng viên việc kiểm tra, đánh giá, sàng lọc hoạt động giảng dạy là yêu cầu thường xuyên, liên tục và rất cần thiết Kiểm tra, đánh giá, sàng lọc được dựa trên các nguồn thông tin toàn diện và đầy đủ như từ sinh viên, từ đồng nghiệp,
từ bản thân giảng viên đồng thời từ các lãnh đạo, quản lý trực tiếp…
Kiểm tra, đánh giá, sàng lọc giúp cho đội ngũ giảng viên luôn có ý thức tự hoàn thiện mình về mọi mặt, đặc biệt là hoàn thiện về chuyên môn nghiệp vụ, nhân cách, đồng thời giúp cho nhà quản lý kịp thời điểu chỉnh các chế độ, chính sách sao cho phù hợp, thỏa đáng, nhằm khuyến khích, động viên và thúc đẩy đội ngũ GV yên tâm trong quá trình công tác
Để nâng cao chất lượng đào tạo phải chú ý đến toàn bộ các yếu tố cấu thành quá trình giáo dục và đào tạo như cơ sở vật chất của Nhà trường, chất lượng của đội ngũ cán bộ giảng viên, điểm tuyển sinh đầu vào của học sinh - sinh viên, phương pháp giảng dạy của giảng viên, phương pháp học tập của sinh viên, môi trường học tập sinh hoạt của học sinh - sinh viên trong nhà trường,… Đặc biệt các trường cần
có một quy trình đánh giá chất lượng với những tiêu chí phù hợp để có các biện pháp cải tiến, nâng cao chất lượng một cách hợp lý nhằm từng bước xây dựng và khẳng định thương hiệu cho nhà trường đặc biệt trong xu thế hội nhập và cạnh tranh hiện nay
Trang 39CH ƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ
GIẢNG VIÊN Ở CƠ SỞ ĐÀO TẠO III ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI
2.1 VÀI NÉT VỀ CƠ SỞ III - ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển cơ sở III- Đại học công nghệ Giao thông Vận tải
Qúa trình đổi tên, sát nhập từ năm 1962 đến nay
Cơ sở III - Trường đại học Công nghệ GTVT ngày nay tiền thân là Trường Trung học Giao thông vận tải Dân tộc Việt Bắc thuộc Bộ GTVT được thành lập ngày 15/2/1962, có trụ sở tại Bắc Thái (nay là Thái nguyên) và đã có nhiều lần đổi tên:
- 1962 Trường Trung học Giao thông Vận tải Dân tộc Việt Bắc
- 1965 Trường Trung học Giao thông Vận tải Việt Bắc
- Tháng 6/1966 Trường Trung học Giao thông Vận tải Miền núi
- Tháng 2/1990 theo quyết định số 178/QĐ/TCCB-LĐ Bộ GTVT hợp nhất Trường Trung học GTVT và Trường Trung học GTVT Miền núi thành Trường Trung học GTVT khu vực I và Trường chuyển thành Trung tâm đào tạo kỹ thuật GTVT Miền núi
- Ngày 24/7/1996 Thủ tướng Chính phủ có QĐ số 480/QĐ-TTg quyết định nâng cấp Trường Trung học GTVT khu vực I thành Trường Cao đẳng GTVT và chuyển Trung tâm đào tạo kỹ thuật GTVT Miền núi thành Phân hiệu Cao đẳng GTVT Miền núi trực thuộc trường Trường Cao đẳng GTVT
- Ngày 27/4/2011 Thủ tướng Chính phủ có QĐ số 630/QĐ-TTg quyết định nâng cấp Trường Cao đẳng GTVT thành Trường Đại học Công nghệ GTVT, trụ sở chính đóng tại TP Vĩnh yên Tỉnh Vĩnh Phúc(Cơ sở I), Cơ sở II đóng tại phố Triều Khúc, quận Thanh xuân - Hà nội và quyết định nâng cấp Phân hiệu Cao đẳng GTVT Miền núi thành Cơ sở đào tạo III trực thuộc Trường Đại học Công nghệ GTVT Cơ sở III
Trang 40đóng tại tổ 13 Phường Tân Thịnh - Thành phố Thái nguyên Như vậy Đại học Công nghệ GTVT có 3 Cơ sở đào tạo là Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên
Những ngày mới thành lập nhiệm vụ của trường là đào tạo cán bộ kỹ thuật
Trình độ Trung cấp và công nhân ngành Cầu đường bộ cho nghành GTVT
Sau nhiều năm Cơ sở đã có sự phát triển vượt bậc, cơ sở vật chất, thiết bị giảng dạy, hệ thống các phòng học, phòng thí nghiệm thực hành, thực nghiệm đã đ-ược đầu tư và nâng cấp theo hướng hiện đại phục vụ cho đào tạo hệ đại học, cao đẳng và trung cấp, với tổ chức bộ máy gồm 5 chuyên nghành đào tạo, 7 phòng chức năng, 1 xưởng thực tập, 3 tổ môn trực thuộc và 1 trung tâm đài tạo lái xe Thực hiện đào tạo ở 3 hệ Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp Năm học 2010 - 2011 trường tuyển sinh được 3.050 HS-SV, trong đó hệ Đại học là 100 SV, đạt chỉ tiêu của Bộ giao
2.1.2 Nhiệm vụ của cơ sở đào tạo III- Đại học Công nghệ Giao thông vận tải
- Đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực kỹ thuật cao hệ chính quy dài hạn cho
xã hội ở 3 cấp trình độ (đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp); có trình độ, kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội, đảm bảo các yếu tố toàn diện
từ kiến thức (tri thức mới) đến rèn luyện tu dưỡng đạo đức và phong cách làm việc trong môi trường công nghiệp tiên tiến, hiện đại, có sức khoẻ tốt nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, đáp ứng được yêu cầu phát triển của
xã hội trên các mặt (kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng)
- Song song với nhiệm vụ đào tạo hệ chính quy dài hạn, nhà trường còn thực hiện đào tạo hệ công nhân lái xe ô tô các hạng theo nhu cầu xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và một số tỉnh phía Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn,
- Ngoài những nhiệm vụ chính của nhà trường về lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao cung cấp cho xã hội, trường còn phải triển khai các chương trình nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ (đặc biệt là các công nghệ mới) vào các hoạt động của nhà trường, kết hợp thực tập với sản xuất và dịch vụ