1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp xây dựng mô hình nông thôn mới trên địa bàn tỉnh quảng ninh

81 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 557,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu vùng nông thôn, nhất là hệ thống giao thông, điện, trường học, trạm y tế xã, công trình thuỷ lợi, nước s

Trang 1

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều biện pháp, nhiều cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn Đối với Quảng Ninh, nông thôn chiếm gần 47% dân số trong toàn tỉnh, trong đó có 43% lao động trong tỉnh đang sinh sống và làm việc Trong những năm qua, tỉnh luôn giành sự quan tâm đến nông nghiệp, nông thôn và nông dân Đã tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu vùng nông thôn, nhất là hệ thống giao thông, điện, trường học, trạm y tế xã, công trình thuỷ lợi, nước sinh hoạt, thiết chế văn hoá cơ sở, hỗ trợ xoá nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, kiên cố hoá trường học, chính sách tín dụng, hỗ trợ vay vốn sản xuất cho nông dân nghèo vùng khó khăn; chương trình trợ giá, trợ cước cho nông dân miền núi, đồng bào thiểu số, vùng khó khăn, Tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ giúp nông dân ổn định và phát triển sản xuất, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, diện mạo nông thôn và đời sống nông dân từng bước được cải thiện, phát triển Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng tăng tiểu thủ công nghiệp, dịch

vụ, ngành nghề đã góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho dân cư nông thôn Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn tiếp tục được đổi mới, phát triển đa dạng, đã huy động và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực ở nông thôn; cư dân ở nông thôn có thêm việc làm, thu nhập được nâng cao góp phần xoá đói giảm nghèo

Hệ thống chính trị ở nông thôn luôn có nhiều chuyển biến, tiến bộ; dân chủ cơ sở được phát huy; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững

Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững,

Trang 2

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

thiếu quy hoạch, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội còn yếu kém, thiếu đồng bộ; môi trường ngày càng ô nhiễm Đô thị hoá nông thôn còn tự phát, cảnh quan bị phá vỡ; nhiều nét văn hoá truyền thống của làng,

xã bị pha tạp, phôi pha bản sắc văn hoá dân tộc; Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn còn chậm, các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp có quy mô nhỏ, khả năng cạnh tranh thấp

Chất lượng lao động nông nghiệp nông thôn còn thấp so với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhất là ở vùng sâu, vùng xa; Tổ chức, thể chế kinh tế ở nông thôn chậm đổi mới Kinh tế trang trại phát triển chậm và chiếm tỷ lệ không đáng kể trong hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như kinh tế nông thôn Kinh

tế hợp tác phát triển chậm, chưa đóng vai trò mong đợi trong hỗ trợ hoạt động sản xuất của nông hộ; Giá trị hàng hoá nông nghiệp tăng trưởng còn thấp Sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, manh mún Phần lớn nông sản chế biến ở dạng sơ chế, chưa có thương hiệu, giá trị gia tăng thấp;

Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo còn ở mức thấp; chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị

và nông thôn, giữa các vùng ngày càng lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc

về việc làm, thu nhập; nếp sống văn minh chậm hình thành; Hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở khu vực nông thôn còn nhiều hạn chế An ninh nông thôn có nơi chưa tốt, đơn thư, khiếu kiện còn nhiều và giải quyết chưa kịp thời

Những hạn chế, yếu kém trên có những nguyên nhân khách quan và chủ quan:

- Về khách quan: Nhu cầu đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn lớn song khả năng đáp ứng của các nguồn lực còn thấp Cơ chế chính sách cho phát triển nông nghiệp, nông thôn chưa đồng bộ, chưa có bộ tiêu chí chuẩn để thực hiện Khu vực nông thôn Quảng Ninh nhất là miền núi có địa hình phức tạp

và chịu nhiều tác động của thiên tai

- Về chủ quan: Quan điểm đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn chưa thống nhất, thiếu quyết tâm và tập trung nguồn lực; nhận thức về vị trí, vai trò của nông

Trang 3

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

nghiệp, nông dân, nông thôn còn bất cập so với thực tiễn; cơ chế, chính sách phát triển các lĩnh vực này thiếu đồng bộ, thiếu tính đột phá; một số chủ trương, chính sách không hợp lý, thiếu tính khả thi nhưng chậm được điều chỉnh, bổ sung kịp thời; đầu tư từ ngân sách nhà nước và các thành phần kinh tế vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; tổ chức chỉ đạo thực hiện và công tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, yếu kém; năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở nhiều mặt chưa đáp ứng yêu cầu

Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ khu vực nông thôn còn hạn chế, chưa phát huy vai trò chủ thể của cư dân nông thôn trong xây dựng nông thôn mới; vai trò của các cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng trong việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở nhiều nơi còn hạn chế

Nhằm khắc phục tình trạng trên, ngay sau khi Đảng và Nhà nước có chủ chương phát triển nông thôn trong tình hình mới, một số tỉnh đã triển khai xây dựng mô hình phát triển nông thôn phù hợp với bối cảnh nông thôn Việt Nam hiện tại và tương lai, song thực tế nhiều nơi chưa phát huy được vai trò của người dân trong thực hiện các dự án phát triển nông thôn Có rất nhiều lý do và lực cản như trình độ hiểu biết của người dân, năng lực quản lý, cơ chế, phương pháp triển khai thực hiện và điều kiện cơ sở hạ tầng thấp kém, Xuất phát từ những vấn đề

trên tôi chọn Đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp xây dựng mô hình nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” làm Luận văn Thạc sỹ

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Thực chất của xây dựng nông thôn mới là đánh giá vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới tại Quảng Ninh Trên cơ sở

đó rút ra một số bài học kinh nghiệm, những biện pháp nhằm nâng cao vai trò của người dân trong xây dựng mô hình nông thôn mới Đồng thời, góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về vai trò của người dân trong mô hình nông thôn mới; Tìm hiểu vai trò của người dân và đề xuất một số bài học kinh nghiệm, những biện

Trang 4

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới tại Quảng Ninh

- Phạm vi nghiên cứu: Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; Thời gian nghiên cứu thực trạng: Từ năm 2010 đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020

- Nội dung: Tập trung nghiên cứu các vấn đề về vai trò của người dân, các

cơ chế, chính sách hiện hành trong xây dựng mô hình nông thôn mới

4 Phương pháp nghiên cứu:

Quá trình nghiên cứu chủ yếu sử dụng các phương pháp: điều tra, sưu tầm, khảo cứu, tổng hợp; phương pháp hệ thống hóa, thống kê; phương pháp kế thừa; phương pháp chuyên gia, cố vấn

5 Bố cục của Luận văn:

Ngoài phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục Luận văn được chia thành 3 Chương:

Chương 1: Mô hình nông thôn mới và nội dung, nhiệm vụ xây dựng nông

thôn mới ở Quảng Ninh giai đoạn 2011 - 2020

Chương 2: Đánh giá thực trạng tình hình phát triển nông nghiệp, nông thôn

và xây dựng mô hình nông thôn mới hiện nay ở tỉnh Quảng Ninh

Chương 3: Đề xuất các giải pháp xây dựng mô hình nông thôn mới trên địa

bàn tỉnh Quảng Ninh

6 Đóng góp của Luận văn:

- Hệ thống hoá các cơ sở lý luận có liên quan đến xây dựng mô hình nông thôn mới tại Quảng Ninh

- Phân tích thực trạng của Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Quảng Ninh để tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, những khó khăn, thuận lợi, thời cơ và thách thức để đề ra các giải pháp thực hiện thành công xây dựng mô hình nông thôn mới

ở Quảng Ninh trong giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020

Trang 5

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

Nông thôn được coi như là khu vực địa lý nơi đó sinh kế cộng đồng gắn

bó, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động sản xuất nông nghiệp

Hiện nay trên thế giới chưa thống nhất định nghĩa về nông thôn Có nhiều quan điểm khác nhau

Có quan điểm cho rằng chỉ cần dựa vào trình độ phát triển cơ sở hạ tầng Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn Theo quan điểm nhóm chuyên viên của Liên hợp quốc đề cập đến khái niệm nông thôn – đô thị để so sánh nông thôn và đô thị với nhau

Khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối và luôn biến động theo thời gian để phản ánh biến đổi về kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới Trong điều kiện Việt Nam, nông thôn có thể hiểu như sau:

Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa-xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác

Phát triển nông thôn

Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quan điểm khác nhau

Theo Ngân hàng Thế giới (1975) đã đưa ra định nghĩa: “Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống kinh tế và xã hội của

Trang 6

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích

từ sự phát triển”

Quan điểm khác lại cho rằng, phát triển nông thôn nhằm nâng cao về vị thể kinh tế và xã hội cho người dân nông thôn qua việc sử dụng có hiệu quả cao các nguồn lực của địa phương bao gồm nhân lực, vật lực và tài lực

Phát triển nông thôn có tác động theo nhiều chiều cạnh khác nhau Phát triển nông thôn là quá trình thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông thôn, nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống thông qua việc ứng dụng khoa học và công nghệ Đồng thời, đây là quá trình thu hút mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển, nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống của các cư dân nông thôn

Khái niệm phát triển nông thôn mang tính toàn diện, đảm bảo tính bền vững

về môi trường Vì vậy trong điều kiện của Việt Nam, được tổng kết từ các chiến lược kinh tế xã hội của Chính phủ, thuật ngữ này được hiểu:

Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững

về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác

1.1.2 Mô hình nông thôn mới:

Xây dựng mô hình nông thôn mới là một chính sách về một mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý chí

Sự hình dung chung của các nhà nghiên cứu về mô hình nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu KHKT hiện đại mà vẫn giữ được nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của người Việt Nam Nhìn chung: mô hình làng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa và văn minh hóa

Trang 7

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển; có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên

cả nước

Có thể quan niệm: “Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt”

1.1.3 Những tiêu chí của mô hình nông thôn mới:

Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành "Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới" bao gồm 19 tiêu chí và được chia thành 5 nhóm cụ thể: nhóm tiêu chí về quy hoạch, về hạ tầng kinh tế - xã hội, về kinh tế và tổ chức sản xuất, về văn hóa - xã hội - môi trường và về hệ thống chính trị Bộ tiêu chí đưa ra chỉ tiêu chung cả nước và các chỉ tiêu cụ thể theo từng vùng: Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi vùng

19 tiêu chí để xây dựng mô hình nông thôn mới bao gồm: quy hoạch và thực hiện quy hoạch; giao thông; thủy lợi; điện; trường học; cơ sở vật chất văn hóa; chợ nông thôn; bưu điện; nhà ở dân cư; thu nhập bình quân đầu người/năm;

tỷ lệ hộ nghèo; cơ cấu lao động; hình thức tổ chức sản xuất; giáo dục; y tế; văn hóa; môi trường; hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và an ninh, trật tự

Trang 8

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

Tiêu chí này đối với xã vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên là 70% còn đối với xã vùng Trung du miền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long chỉ là 50%

Về hộ nghèo, xã vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ phải đạt tiêu chuẩn tỷ lệ hộ nghèo <3%, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ <5%, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long <7% và Trung du miền núi phía Bắc

<10%

Bộ tiêu chí cũng quy định, tất cả các xã nông thôn mới đều phải có hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh; có nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch; có điểm phục vụ bưu chính viễn thông, có Internet đến thôn; có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả và không có nhà tạm, dột nát

Để được công nhận là huyện nông thôn mới, phải có 75% số xã trong huyện đạt nông thôn mới Nếu tỉnh có 80% số huyện nông thôn mới thì sẽ đạt tỉnh nông thôn mới

Căn cứ Bộ tiêu chí trên có thể đưa ra một số yêu cầu về mô hình nông thôn mới như sau:

- Ðảm bảo về kích cầu phát triển kinh tế phù hợp với điền kiện của địa phương khai thác ưu thế của địa phương

- Ðảm bảo về điều kiện sống, nhu cầu xã hội: y tế, giáo dục, văn hoá, thể thao, nâng cao dân trí của người dân địa phương

- Cơ sở hạ tầng phát triển bền vững đáp ứng các nhu cầu tối thiểu và tính đến các giai đoạn tiếp theo sau 20 năm và tầm nhìn sau 50 năm

- Quy hoạch và kiến trúc không gian phải phù hợp điều kiện tự nhiên, địa hình, có tính chất khả thi, phù hợp với điều kiện kinh tế

- Giữ gìn bản sắc tập quán văn hoá của địa phương và bảo tồn các di sản (nếu có)

- Mô hình nông thôn mới thông qua mô hình tổ chức mạng lưới điểm dân cư nông thôn, được thể hiện trên Sơ đồ quy hoạch mạng lưới điểm dân cư nông thôn

Trang 9

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

- Mô hình nông thôn mới thông qua mô hình tổ chức không gian chức năng

và mạng lưới hạ tầng kỹ thuật điểm dân cư, được thể hiện trên Sơ đồ quy hoạch điểm dân cư cụ thể

- Mô hình nông thôn mới thông qua các ý tưởng, giải pháp về kiến trúc công trình, được thể hiện qua mặt đứng (hoặc phối cảnh) và mặt bằng điển hình công trình

Như vậy, một số tiêu chí của mô hình nông thôn mới có thể được nhận xét như sau:

Một là, đơn vị cơ bản của mô hình nông thôn mới là làng - xã Làng - xã

thực sự là một cộng đồng, trong đó quản lý của Nhà nước không can thiệp sâu vào đời sống nông thôn trên tinh thần tôn trọng tính tự quản của người dân thông qua hương ước, lệ làng (không trái với pháp luật của Nhà nước) Quản lý của Nhà nước

và tự quản của nông dân được kết hợp hài hoà; các giá trị truyền thống làng, xã được phát huy tối đa, tạo ra bầu không khí tâm lý xã hội tích cực, bảo đảm trạng thái cân bằng trong đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn, giữ vững an ninh, trật tự

xã hội,…nhằm hình thành môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông thôn

Hai là, đáp ứng yêu cầu thị trường hoá, đô thị hoá, công nghiệp hóa, hiện đại

hóa, chuẩn bị những điều kiện vật chất và tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống

và trở nên thịnh vượng ngay trên mảnh đất mà họ đã gắn bó lâu đời Trước hết, cần tạo cho người dân có điều kiện để chuyển đổi lối sống và canh tác tự cung tự cấp, thuần nông (cổ truyền) sang sản xuất hàng hoá, dịch vụ, du lịch, để họ “ly nông bất

ly hương”

Ba là, có khả năng khai thác hợp lý và nuôi dưỡng các nguồn lực, đạt tăng

trưởng kinh tế cao và bền vững; môi trường sinh thái được giữ gìn; tiềm năng du lịch được khai thác; làng nghề truyền thống, làng nghề tiểu thủ công nghiệp được khôi phục; ứng dụng công nghệ cao về quản lý, về sinh học ; cơ cấu kinh tế nông thôn phát triển hài hoà, hội nhập địa phương, vùng, cả nước và quốc tế

Bốn là, dân chủ nông thôn mở rộng và đi vào thực chất Các chủ thể nông

thôn (lao động nông thôn, chủ trang trại, hộ nông dân, các tổ chức phi chính phủ,

Trang 10

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

các quá trình ra quyết định về chính sách phát triển nông thôn; thông tin minh bạch, thông suốt và hiệu quả giữa các tác nhân có liên quan; phân phối công bằng Người nông dân thực sự “được tự do và quyết định trên luống cày và thửa ruộng của mình”, lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh làm giàu cho mình, cho quê hương theo đúng chủ trương đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước

Năm là, nông dân, nông thôn có văn hoá phát triển, dân trí được nâng lên,

sức lao động được giải phóng, nhiệt tình cách mạng được phát huy Đó chính là sức mạnh nội sinh của làng, xã trong công cuộc xây dựng nông thôn mới Người nông dân có cuộc sống ổn định, giàu có, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và tay nghề cao, lối sống văn minh hiện đại

1.1.4 Những đặc điểm đặc trưng của mô hình nông thôn mới từ đề án của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn:

- Được xây dựng trên đơn vị cơ bản là cấp làng - xã

- Vai trò của người dân được nâng cao, nêu cao tính tự chủ của nông dân

- Người dân chủ động trong việc xây dựng kế hoạch phát triển, thu hút sự tham gia đầy đủ của các thành viên trong nông thôn nhằm đạt được mục tiêu đề ra

có tính hiệu quả cao

- Việc thực hiện kế hoạch dựa trên nền tảng huy động nguồn lực của bản thân người dân, thay cho việc dựa vào sự hỗ trợ từ bên ngoài là chính

- Các tổ chức nông dân hoạt động mạnh, có tính hiệu quả cao

- Nguồn vốn từ bên ngoài được phân bổ và quản lý sử dụng có hiệu quả 1.2 Vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới:

Sự tham gia của người dân vào việc xây dựng nông thôn mới được coi như nhân tố quan trọng, quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ trong thí điểm mô hình Khi tham gia vào quá trình phát triển thôn mới với sự hỗ trợ của Nhà nước, người dân tại các cộng đồng dân cư nông thôn sẽ từng bước được tăng cường kỹ năng, năng lực về quản lý nhằm tận dụng triệt để các nguồn lực tại chỗ và bên ngoài

Trang 11

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

Khi xem xét quá trình tham gia của người dân trong các hoạt động phát triển nông thôn, vai trò của người dân ở đây được thể hiện: Dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi Như vậy, vai trò của người dân vẫn theo một trật tự nhất định, các trật tự ở đây hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Đảng ta “lấy dân làm gốc” Các nội dung trong nâng cao vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới được hiểu:

- Dân biết: là quyền lợi, nghĩa vụ và sự hiểu biết của người nông dân về những kiến thức bản địa có thể đóng góp vào quá trình quy hoạch nông thôn, quá trình khảo sát thiết kế các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Mặt khác, người dân có điều kiện tham gia hiệu quả hơn vào các giai đoạn sau của quá trình xây dựng công trình; Người dân nắm được thông tin đầy đủ về công trình mà họ tham gia như: mục đích xây dựng công trình, quy mô công trình, các yêu cầu đóng góp từ cộng đồng, trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng người dân được hưởng lợi Mọi hoạt động liên quan đến quá trình xây dựng nông thôn mới phải được công khai, minh bạch cho dân biết

- Dân bàn: bao gồm sự tham gia ý kiến của người dân liên quan đến kế hoạch phát triển sản xuất, liên quan đến các giải pháp, mọi hoạt động của nông dân trên địa bàn như: bàn luận mở ra một hướng sản xuất mới, đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng, các giải pháp thiết kế, phương thức khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các mức đóng góp và các định mức chi tiêu từ các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính, … trong nội bộ cộng đồng dân cư hưởng lợi đều được người dân địa phương tham gia, bàn bạc, thảo luận và đi đến thống nhất

- Dân đóng góp: là một yếu tố không chỉ ở phạm trù vật chất, tiền bạc mà còn ở cả phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng tính tự giác của từng người dân trong cộng đồng Hình thức đóng góp có thể bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ

- Dân làm: chính là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào các hoạt động phát triển nông thôn như: đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt động

Trang 12

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản lý và sử dụng công trình Người dân trực tiếp tham gia vào quá trình cụ thể trong việc lập kế hoạch có sự tham gia cho từng hoạt động thi công, quản lý và duy tu bảo dưỡng, từ những việc tham gia đó

đã tạo cơ hội cho người dân có việc làm, tăng thu nhập cho người dân và chính người dân được hưởng lợi từ kết quả hoạt động của mình

1.3 Những quan điểm về xây dựng nông thôn mới:

- Xây dựng mô hình nông thôn mới nhằm phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng, giữ gìn phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước

- Xây dựng mô hình nông thôn mới gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch

vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch

- Xây dựng mô hình nông thôn mới dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với từng vùng, từng lĩnh vực nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân

- Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã

hội Trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường, vươn lên của nông dân, tạo không khí thi đua, phấn khởi, tự giác tham gia của nhân dân toàn tỉnh; Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hoà thuận, dân chủ, có đời sống văn hoá phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân; Là cơ sở để xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015

- Xây dựng nông thôn mới được thực hiện theo phương châm dựa vào nội lực của cộng đồng địa phương, của nhân dân là chính Nhà nước hỗ trợ một phần trực tiếp cho các xã Đồng thời khơi dậy tinh thần và sức dân đóng góp tích cực tự giác vào xây dựng làng quê của mình

- Các hoạt động cụ thể của từng xã do chính người dân ở đó bàn bạc dân

chủ, tự nguyện, công khai và tự quyết định trên cơ sở các quy chuẩn của nhà nước

có sự tư vấn của cán bộ chuyên môn; Các cấp uỷ Đảng và Chính quyền đóng vai

Trang 13

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần cho người dân thực hiện vai trò làm chủ thông qua cộng đồng

- Phát triển nông thôn phải vững bền cả về tự nhiên và xã hội Đảm bảo môi trường sản xuất nông nghiệp và nông thôn trong sạch; thực phẩm vệ sinh; tài nguyên sinh học đa dạng; giảm thiểu rủi ro do dịch bệnh, thiên tai và quá trình biến đổi khí hậu gây ra; thu hẹp khoảng cách về cơ hội phát triển giữa đô thị và nông thôn, giữa các nhóm cư dân nông thôn; hỗ trợ người nghèo, những nhóm đối tượng khó khăn trong quá trình phát triển

- Triển khai xây dựng nông thôn mới ở tất cả các xã, thực hiện đồng bộ tất

cả các tiêu chí để tạo cơ hội và điều kiện ngang nhau để các xã, các địa phương cùng vươn lên, thi đua xây dựng nông thôn mới Ưu tiên vốn ngân sách đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho các địa phương, thực hiện tốt các tiêu chí không cần vốn đầu tư, như: Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nông thôn và những địa phương có khả năng về đích sớm

1.4 Những căn cứ để xây dựng nông thôn mới:

1.4.1 Các Văn bản chỉ đạo của Trung ương

- Nghị quyết số 26 – NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung

ương Khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

- Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

- Thủ tướng Chính phủ có các Quyết định: số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; số 193/QĐ-TTg ngày 02/2/2010 phê duyệt Chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới;

số 22/QĐ-TTg ngày 05/01/2010 Phê duyệt Đề án "Phát triển văn hoá nông thôn đến năm 2015 định hướng đến năm 2020; số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020;

Trang 14

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

- Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn V/v Hưóng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

- Thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 04/8/2010 của Bộ Xây dựng Quy định việc lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới

- Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

Bộ Tài chính về Hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ

800/QĐ Các thông tư Hướng dẫn và tiêu chuẩn kinh tế – kỹ thuật về nông thôn mới của các Bộ, Ngành liên quan

1.4.2 Các Văn bản chỉ đạo của Tỉnh Quảng Ninh:

- Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 27/10/2010 của Ban chấp hành Đảng Bộ tỉnh Quảng Ninh về xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020;

- Chương trình Hành động số 22 – Ctr/TU ngày 15/10/2008 của Tỉnh ủy Quảng Ninh thực hiện Nghị Quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

- Nghị quyết số 39/2010/NQ-HĐND ngày 10/12/2010 của HĐND tỉnh về xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 – 2020

- Quyết định số 24-QĐ/TU ngày 28/10/2010 của Tỉnh ủy về việc thành lập Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010-2020;

- Các Quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh số: UBND ngày 07/12/2009 phê duyệt Đề án xây dựng thí điểm kết cấu hạ tầng cấp xã theo mô hình nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2015 tại các huyện khó khăn: Ba Chẽ, Bình Liêu, Đầm Hà, Tiên Yên; số 4009/QĐ-UBND ngày 08/12/2009 phê duyệt Quy hoạch nông, lâm nghiệp, thuỷ lợi tỉnh Quảng Ninh đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020; số 3467/QĐ-UBND ngày 19/11/2010 về việc xây dựng Nhà văn hoá thôn (khu, làng, bản) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; số 3595/QĐ-UBND ngày 02/12/2010 về việc thành lập Ban quản lý Chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010-2020; số 4086/QĐ-UBND ngày 29/12/2010 về

Trang 15

3972/QĐ-Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban quản lý Chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010-2020; số 775/QĐ-UBND ngày 18/3/2011 về việc phê duyệt Đề án xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010-2020

- Kế hoạch số 645/KH-BCĐ ngày 04/3/2011 của Ban xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ninh triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ninh năm 2011

- Các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh Quảng Ninh về xây dựng nông thôn mới: Văn bản số 4011/UBND-QH2 ngày 19/10/2009 về việc quy hoạch xây dựng nông thôn mới; Văn bản số 762/UBND-VX2 ngày 03/3/2010 về triển khai thực hiện Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; Văn bản số 2065/UBND-NLN1 ngày 31/5/2010 về lập Đề án xây dựng nông thôn mới; Văn bản số 3323/UBND-NLN1 ngày 30/8/2010 về chuẩn bị nội dung báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh về xây dựng nông thôn mới

1.5 Nội dung, nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới ở Quảng Ninh:

1.5.1 Mục tiêu tổng quát:

Xây dựng nông thôn mới ở Quảng Ninh có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ và từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch;

xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của

Đảng được tăng cường

Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; người dân nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất cao, đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới nhằm thúc đẩy nhanh tiến trình xây dựng Quảng

Ninh trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015

1.5.2 Mục tiêu cụ thể

a) Giai đoạn 2011 - 2015:

Trang 16

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

Phấn đấu đến năm 2015, toàn tỉnh có 80 xã (chiếm 64% số xã của tỉnh) đạt tiêu chuẩn nông thôn mới; 10/13 huyện đạt chuẩn nông thôn mới và tỉnh Quảng Ninh cơ bản đạt các tiêu chí tỉnh nông thôn mới, cụ thể là:

- Về hạ tầng kinh tế - xã hội:

+ Năm 2011, có 100% số thôn có nhà văn hóa đạt chuẩn; 100% xã có bưu điện văn hóa xã, 100% thôn có điểm đủ điều kiện truy cập internet và thư viện dùng chung

+ Đến năm 2012, có 100% xã đạt chuẩn về hệ thống điện; 100% trường học mầm non, mẫu giáo đạt chuẩn; có 100% xã có nhà văn hóa và khu thể thao đạt chuẩn

+ Đến năm 2015, có 75% số xã cơ bản đạt tiêu chí nông thôn mới (trong đó

có 80 xã, tương ứng 64% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới); có 100% số xã có đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa, đường liên thôn được cứng hóa đạt chuẩn; 100% xã đồng bằng, 50% xã miền núi có hệ thống kênh mương được kiên cố hóa

- Về kinh tế và tổ chức sản xuất:

Đến năm 2015, kinh tế khu vực nông thôn đóng góp từ 15-20% GDP của tỉnh, trong đó: Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 4% trong cơ cấu GDP của tỉnh; Thu nhập của người dân nông thôn gấp 1,5 – 2 lần so với thu nhập đầu người khu vực nông thôn của tỉnh năm 2010; tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo cũ) các xã miền núi dưới 10%, các xã đồng bằng dưới 6%; 100% xã đã có nghề truyền thống được khôi phục và phát triển; các xã có hợp tác xã hoặc tổ hợp tác hoạt động có hiệu quả

- Về văn hóa - xã hội - môi trường:

+ Năm 2011, duy trì 100% xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở; 100% y tế xã đạt chuẩn quốc gia

+ Đến năm 2012, có 95% hộ dân nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh + Đến năm 2013, có 100% xã có nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch; 100% xã đồng bằng có bộ phận dịch vụ thu gom, xử lý rác thải; 100% trung tâm xã và cụm dân cư có hệ thống thoát nước thải hoàn chỉnh

Trang 17

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

- Về đào tạo cho lao động nông thôn:

Giai đoạn 2011 – 2015, đào tạo lao động nghề cho lao động nông thôn 23.400 người; đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức quản lý Nhà nước, tin học, lý luận chính trị 7.700 lượt cán bộ công chức xã

- Về hệ thống chính trị:

Đến năm 2015, có 90% cán bộ xã đạt chuẩn; hàng năm có 80% đảng bộ và các tổ chức đoàn thể xã đạt trong sạch vững mạnh; 100% các xã không có khiếu kiện đông người vượt cấp

b) Giai đoạn 2016 – 2020:

Phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 100 xã (chiếm 80% số xã của tỉnh) đạt tiêu chuẩn nông thôn mới, cụ thể là:

- Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 1,4% trong cơ cấu GDP của tỉnh;

- Có 100% số xã có hạ tầng – kinh tế xã hội cơ bản đạt tiêu chí nông thôn mới;

- Thu nhập của người dân nông thôn gấp 2 lần so với thu nhập đầu người khu vực nông thôn của tỉnh năm 2015;

- Tỷ lệ dân nông thôn được cung cấp nước hợp vệ sinh đạt trên 98%;

- Giai đoạn 2016 – 2020, đào tạo nghề cho lao động nông thôn cho 33.000 người; đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ tin học, quản lý Nhà nước cho 11.600 lượt cán bộ, công chức xã

1.5.3 Những nội dung và nhiệm vụ chủ yếu:

1.5.3.1 Hoàn chỉnh Quy hoạch xây dựng nông thôn mới:

Trong năm 2011 thực hiện lập, phê duyệt xong quy hoạch xây dựng nông thôn mới ở 32 xã đã có đồ án quy hoạch xây dựng và 12 xã thuộc Chương trình 135; hết năm 2011, lập, phê duyệt xong quy hoạch xây dựng nông thôn mới các

xã còn lại

Tổ chức rà soát, bổ sung các chỉ tiêu quy hoạch và tiến hành lập mới 2 loại quy hoạch ở cấp xã đảm bảo phù hợp với các chỉ tiêu của Bộ tiêu chí quốc gia về

Trang 18

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ: Bao gồm rà soát,

điều chỉnh bổ sung quy hoạch sản xuất nông - lâm thuỷ sản, tiểu thủ công nghiệp

và làng nghề trên địa bàn xã, bố trí sử dụng đất đai phù hợp, kết hợp với việc đầu

tư phát triển công trình hạ tầng kỹ thuật thiết yếu (bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm )

- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo chuẩn mới; Quy hoạch bố trí dân cư, phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hoá tốt đẹp; gắn việc bố trí dân cư với việc tránh các nguy cơ thiên tai:

+ Rà soát điều chỉnh quy hoạch các công trình cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế, xã hội và môi trường trên địa bàn gắn với hệ thống của từng vùng, bao gồm: bố trí mạng lưới giao thông, điện, trường học các cấp, trung tâm học tập cộng đồng, điểm vui chơi dành cho trẻ em, trạm xá, trung tâm văn hoá - thể thao

xã, trung tâm văn hoá - thể thao thôn, bưu điện và hệ thống thông tin liên lạc, chợ, nghĩa trang, bãi xử lý rác, hệ thống cấp nước sạch, hệ thống cấp, thoát nước, công

viên cây xanh, hồ nước sinh thái theo tiêu chuẩn do các Bộ, Ngành liên quan ban

Đối với các xã thuộc các Khu kinh tế đã hoặc đang lập quy hoạch xây dựng tiến hành rà soát lại quy hoạch, bổ sung quy hoạch để đạt tiêu chí nông thôn mới

1.5.3.2 Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn:

Trang 19

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

- Hoàn thiện cơ bản hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội trên địa bàn thôn xã đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển bền vững; Cải thiện điều kiện sinh hoạt và ăn, ở cho từng hộ dân theo hướng văn minh, sạch đẹp; đảm bảo các mục tiêu đã đề ra

- Cải tạo, nâng cấp, phát triển các công trình hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất, đời sống văn hoá - xã hội, bảo vệ môi trường trên địa bàn xã; Chỉnh trang bộ mặt nông thôn, đảm bảo các điều kiện phát triển bền vững, như:

+ Hệ thống đường giao thông từ liên gia đến liên thôn; hệ thống điện đến

hộ gia đình; hệ thống thuỷ lợi và nâng cấp các chợ

+ Sửa chữa, xây dựng trụ sở xã, trung tâm văn hoá – thể thao xã và thôn, bản đạt chuẩn, đảm bảo được chức năng hội họp, sinh hoạt văn nghệ, thư viện, vui chơi giải trí; xây dựng sân vận động xã, các khu thể thao thôn, tôn tạo các công trình văn hoá lịch sử; Tiếp tục thực hiện Chương trình kiên cố hóa trường, lớp theo hướng đạt chuẩn về cơ sở vật chất, phấn đấu đến năm 2015 có 70% trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia; xây dựng trạm y tế, điểm bưu điện xã đạt chuẩn

+ Cải tạo hệ thống thoát nước thải; hệ thống cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh đến các hộ; xây dựng các khu chăn nuôi, khu sản xuất tiểu thủ công nghiệp

để chuyển những hộ chăn nuôi quy mô lớn và sản xuất nghề tiểu thủ công nghiệp

có ô nhiễm ra khỏi khu dân cư; quy hoạch và quản lý nghĩa trang nhân dân theo văn minh, hiện đại

- Phát triển cải tạo hệ thống ao, hồ sinh thái; trồng cây xanh, cây hoa cảnh

nơi công cộng

- Chỉnh trang nhà ở, bố trí sắp xếp các công trình phụ hợp lý; cải tạo tường rào, đảm bảo vệ sinh, cảnh quan đẹp cho mỗi hộ gia đình nông thôn, làm cho người dân yêu quê hương, gắn bó lâu dài với nông thôn

1.5.3.3 Hỗ trợ phát triển sản xuất hàng hoá và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn để tăng thu nhập cho người dân:

Trang 20

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

- Thực hiện công tác dồn điền, đổi thửa, quy hoạch vùng sản xuất hàng hoá tập trung dựa trên các tiềm năng, lợi thế của từng địa phương và xây dựng các giải pháp thực hiện quy hoạch

- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng nâng cao tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp Ngành nông nghiệp chuyển dịch mạnh theo hướng nâng cao tỷ trọng chăn nuôi, phát triển mạnh nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái Khuyến khích phát triển các hoạt động dịch vụ, du lịch, chú trọng khai thác các tiềm năng du lịch, khuyến khích phát triển du lịch sinh thái

- Khuyến khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nông thôn, ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản Khôi phục các làng nghề truyền thống

bị mai một, xây dựng, phát triển các làng nghề mới để thu hút lao động

- Hướng dẫn người dân lựa chọn sản xuất sản phẩm có lợi thế nhất, theo

hướng thị trường và hàng hoá Nhà nước hỗ trợ đầu tư để phát triển ngành hàng

đó thành sản phẩm hàng hoá của địa phương Đưa cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp

- Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp, khai thác tối ưu các nguồn lực để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh

Đổi mới tổ chức, nội dung hoạt động cho Hợp tác xã theo hướng Hợp tác

xã kinh doanh tổng hợp bao gồm: hoạt động chuyển giao tiến bộ kỹ thuật; sản

xuất giống; cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm; dịch vụ sản xuất và đời sống

Củng cố các tổ dịch vụ kỹ thuật cho sản xuất, chế biến nông sản, sửa chữa điện,

cơ khí để có thể làm dịch vụ, thuận tiện, hiệu quả theo yêu cầu của các hộ

Phát triển trang trại: Mỗi xã đều quy hoạch vùng đất cho công nghiệp tập trung, nuôi thuỷ sản tập trung hoặc cây ăn quả đặc sản, công nghiệp… để phát triển trang trại (áp dụng chính sách thuê đất như đối với đất dành cho công nghiệp); Nhà nước hỗ trợ cho quy hoạch hạ tầng cơ bản (đường, điện, cấp nước

và xử lý chất thải…) cho các khu trang trại tập trung và hỗ trợ một phần vốn xây dựng hạ tầng này; Hỗ trợ phòng chống dịch bệnh cho các trang trại; Hỗ trợ vốn đào tạo kiến thức cho các chủ trang trại

Trang 21

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

Thành lập các tổ dịch vụ kỹ thuật cho sản xuất, chế biến nông sản, sửa chữa điện, cơ khí để đáp ứng theo yêu cầu của các hộ dân trên địa bàn

- Tăng cường khuyến nông đối với nông dân qua các hình thức bồi dưỡng ngắn hạn, tham quan đầu bờ, bồi dưỡng kiến thức qua câu lạc bộ khuyến nông, khuyến công ; Thử nghiệm đổi mới cách bồi dưỡng kiến thức khuyến nông theo hướng coi trọng việc bồi dưỡng, hỗ trợ vốn cho nhóm nông dân nòng cốt (chọn mỗi thôn, bản chừng 15 - 20 hộ làm ăn giỏi), bồi dưỡng đào tạo kỹ hơn cho họ về

kỹ thuật sản xuất cây, con hàng hoá có triển vọng; bồi dưỡng kiến thức thị trường, thông tin thương mại, kỹ năng hợp tác để họ trở thành các “đầu tầu” thúc đẩy đổi mới cách làm ăn ở địa phương; Thành lập quỹ khuyến nông, quỹ bảo hiểm rủi

ro để trợ giúp nông dân trong sản xuất nông nghiệp ở nông thôn

- Phát triển thị trường tiêu thụ hàng nông sản tại xã dựa trên lợi thế, quy

hoạch hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, chất lượng tốt Bên cạnh đó phải quy hoạch và xây dựng nâng cấp chợ quê hoặc kết nối với chợ nông sản đầu mối khu vực (làm giao thông đến chợ, dành gian hàng tại chợ) để thuận lợi cho tiêu thụ nông sản và quảng bá thương hiệu nông sản cho các xã

1.5.3.4 Phát triển văn hóa - xã hội:

* Giáo dục - đào tạo:

- Triển khai thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi; duy trì, giữ vững và nâng cao chất lượng kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở; phân luồng học sinh sau tốt nghiệp trung học cơ sở, hướng nghiệp để có 20 – 30% học sinh học trung cấp chuyên nghiệp, học nghề dài hạn, 70 – 80% học trung học phổ thông

- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên theo hướng: đủ về

số lượng, đảm bảo về chất lượng, đạt chuẩn về trình độ đào tạo, ổn định về đội ngũ, là tấm gương sáng cho học sinh noi theo, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục

- Tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật sản xuất nông nghiệp cho nông dân

Trang 22

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

- Xây dựng kế hoạch đào tạo nghề cho nông dân để chuyển lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp

- Tập huấn bồi dưỡng kiến thức tổ chức sản xuất, kiến thức quản lý và kiến thức kinh tế thị trường cho cán bộ Hợp tác xã, các chủ trang trại

- Đào tạo kiến thức quản lý, tổ chức thực hiện xây dựng nông thôn mới, phát triển nông thôn cho cán bộ Đảng, chính quyền, các Đoàn thể từ xã đến các thôn

* Y tế

- Xây dựng hạ tầng về y tế đảm bảo đạt chuẩn

- Tổ chức xây dựng mạng lưới y tế ở thôn, bản

- Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và bổ sung cán bộ y tế đủ và đạt chuẩn

- Tổ chức cho người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế

- Thường xuyên tổ chức các đợt tiêm phòng, phòng dịch cho cộng đồng

* Văn hóa

- Xây dựng nông thôn có đời sống văn hoá, tinh thần lành mạnh, phong phú; Bản sắc văn hoá được gìn giữ, nhiệt tình cách mạng được phát huy, tạo sức mạnh nội sinh cho phát triển bền vững

- Xây dựng cơ sở vật chất phục vụ hoạt động văn hoá, thể thao cấp xã và

thôn, bản: Quy hoạch và xây dựng 1 điểm chơi thể thao ở thôn, bản gắn với trung tâm văn hoá thể thao thôn Đảm bảo điều kiện vui chơi hàng ngày cho mọi lứa tuổi (bóng đá mini, cầu lông, bóng chuyền, bóng bàn, cờ tướng ); mỗi thôn có 1 trung tâm văn hoá thể thao đảm đương chức năng hội họp và học tập của cộng đồng thôn, có tủ sách và phòng đọc sách, có hệ thống vi tính nối mạng để cung cấp thông tin và học tập tin học cho thanh niên, có vườn sinh vật cảnh hoặc cây bóng mát để tạo thành một điểm hấp dẫn đến của các lứa tuổi trong cộng đồng

- Xây dựng các cơ chế, chính sách để thực hiện xã hội hóa các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch; cơ chế chính sách thúc đẩy cho tư nhân đầu tư vào lĩnh vực phát triển hoạt động văn nghệ, thể thao cho nông dân, giao cho các đoàn thể tổ chức thúc đẩy phát triển hoạt động văn nghệ, thể thao cho hội viên Tiếp tục phát động và nâng cao chất lượng phong trào

"Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa"

Trang 23

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

- Xây dựng quy ước (hương ước) làng xóm về nếp sống văn hoá nông thôn: khuyến khích học tập để vươn lên làm chủ cuộc sống, sống nhân ái, giúp đỡ đùm bọc nhau, giúp nhau giảm nghèo, vươn lên làm giàu ngay tại địa phương mình Lành mạnh hoá việc cưới, việc tang và Lễ hội; chống mê tín dị đoan và tệ nạn xã hội; giữ gìn vệ sinh công cộng, bảo vệ môi trường; xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, thực hiện chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình

1.5.3.5 Bảo vệ và phát triển môi trường nông thôn:

- Xây dựng, cải tạo hệ thống tiêu thoát nước thải, hệ thống xử lý rác thải

đơn giản (ví dụ như quy hoạch và xây dựng nơi đổ rác chung cho cộng đồng); hệ thống cấp nước sinh hoạt Tuỳ theo điều kiện cụ thể của xã, xây dựng hệ thống cấp nước sinh hoạt tập trung hoặc phân tán để đảm bảo cấp nước sinh hoạt hợp vệ

sinh cho đa số người dân trong xã

- Sửa chữa, khắc phục tình trạng ô nhiễm về nguồn nước, không khí hiện

nay ở địa bàn xã

- Xây dựng cảnh quan môi trường sinh thái ở mỗi gia đình và khu vực cộng đồng theo hướng xanh - sạch - đẹp

- Xây dựng chức năng, nhiệm vụ, nội dung bảo vệ phát triển môi trường

cho các xã để nâng cao trách nhiệm của cán bộ cơ sở và làm căn cứ để người dân

chủ động tham gia giám sát

- Tăng cường hình thức tổ chức các hoạt động thu gom xử lý chất thải, tiêu

thoát nước, trồng cây xanh, tổ chức vệ sinh thôn, xóm

- Chuyển các trại chăn nuôi tập trung, cơ sở ngành nghề gây ô nhiễm ra

khỏi khu dân cư; xây dựng hầm biogas cho mỗi hộ; mỗi thôn hoặc liên thôn có 01

tổ chức thu gom, xử lý rác thải tại khu tập trung

- Chỉnh trang nghĩa địa theo quy hoạch và xây dựng quy chế quản lý

1.5.3.6 Củng cố, nâng cao chất lượng và vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở:

Trang 24

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

Nâng cao chất lượng hoạt động, vai trò, mối quan hệ của các tổ chức trong

hệ thống chính trị cơ sở dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ xã trong việc phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng

- Rà soát, đánh giá thực trạng vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

- Xác định rõ vai trò của mỗi tổ chức trong xây dựng nông thôn mới thời

kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Bổ sung chức năng, nhiệm vụ của mỗi tổ chức đoàn thể chính trị cho phù hợp với nhiệm vụ Bổ sung quy chế hoạt động của các đoàn thể chính trị theo

nhiệm vụ mới, đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất, thông suốt của Đảng bộ đối với các

tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh

tế xã hội, an ninh - quốc phòng nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng

- Tổ chức học tập, bồi dưỡng nâng cao kiến thức của cán bộ, hội viên, đảng

viên đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại

1.5.4 1 Rà soát, điều chỉnh và lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới:

Tổng nhu cầu vốn cho công tác quy hoạch là 68.854 triệu đồng, trong đó:

- Rà soát, điều chỉnh và lập mới Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ:

Trang 25

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

1.5.4.2 Xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội:

a) Giao thông: Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho giao thông ở các xã: 4.273.824 triệu đồng, trong đó:

- Đường trục xã, liên xã: Làm mới 553 km, nâng cấp 447 km, tổng nhu cầu vốn 1.608.621 triệu đồng

- Đường trục thôn, xóm: Làm mới 706 km, nâng cấp 740 km, tổng nhu cầu vốn 1.231.443 triệu đồng

- Đường ngõ xóm: Làm mới 960 km, nâng cấp 663 km, tổng nhu cầu vốn 764.188 triệu đồng

- Đường nội đồng: Làm mới 737 km, nâng cấp 394 km; nhu cầu vốn 669.572 triệu đồng

b) Thuỷ lợi: Tổng nhu cầu vốn đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi: 1.992.624 triệu đồng, trong đó:

- Hệ thống hồ, đập, tổng nhu cầu vốn 345.800 triệu đồng, bao gồm:

+ Hồ chứa: Xây mới 5 công trình; nâng cấp, sửa chữa 32 công trình Tổng nhu cầu vốn 185.300 triệu đồng

+ Đập dâng: Xây mới 3 công trình, sửa chữa nâng cấp 38 công trình Tổng nhu cầu vốn 137.500 triệu đồng

- Hệ thống kênh mương cấp I: Xây mới 750 km, nâng cấp 179 km, tổng nhu cầu vốn 328.312 triệu đồng

- Hệ thống kênh mương cấp II: Xây mới 2.844 km, nâng cấp 1.163 km, tổng nhu cầu vốn 354.234 triệu đồng

Trang 26

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

- Hệ thống kênh mương cấp III: Xây mới 450 km, nâng cấp 1.071 km, tổng nhu cầu vốn 849.925 triệu đồng

- Hệ thống trạm bơm tưới, tiêu: Xây mới 118 trạm bơm tưới, 19 trạm bơm tiêu; nâng cấp 56 trạm bơm tưới, 7 trạm bơm tiêu; tổng nhu cầu vốn 114.353 triệu đồng

c) Hệ thống điện: Tổng nhu cầu vốn đầu tư xây dựng hệ thống điện ở các

xã 388.592 triệu đồng, trong đó:

- Hệ thống đường dây trung áp: Làm mới 395 km;

- Hệ thống đường dây hạ áp: Làm mới 272 km

- Trạm biến áp: Xây mới 154 trạm;

d) Cơ sở vật chất giáo dục: Tổng nhu cầu vốn đầu tư để xây mới và nâng cấp trường học và các công trình bổ trợ là 4.301.231 triệu đồng, trong đó:

- Nhà trẻ

Tổng nhu cầu vốn 579.568 triệu đồng, bao gồm: Xây mới 81 công trình với

371 phòng học, 292 phòng chức năng; Cải tạo, nâng cấp 37 công trình, với 113 phòng học và 50 phòng chức năng Sửa chữa, nâng cấp và xây mới công trình bổ trợ, gồm: 48.855 m2

sân chơi, 22.715 m2 vườn hoa, 28.605 m2 bãi tập, 260 m2công trình vệ sinh, 865 m2 nhà để xe

- Trường mầm non

Tổng nhu cầu vốn xây dựng trường mầm non 1.073.933 triệu đồng, bao gồm: Xây mới 73 công trình với 577 phòng học, 552 phòng chức năng; Cải tạo, nâng cấp 59 công trình với 374 phòng học, 198 phòng chức năng; Xây mới và nâng cấp các công trình bổ trợ, gồm: 169.283 m2 sân chơi, 49.188 m2 vườn hoa, 111.334

m2 bãi tập, 690 m2 công trình vệ sinh, 2.420 m2

nhà để xe

- Trường tiểu học

Tổng nhu cầu vốn xây dựng trường tiểu học 1.248.021 triệu đồng, bao gồm: Xây mới 38 công trình với 741 phòng học và 659 phòng chức năng; Cải tạo, nâng cấp 73 công trình với 713 phòng học và 189 phòng chức năng Sửa chữa và làm

Trang 27

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

mới công trình bổ trợ, gồm: 223.882 m2 sân chơi, 76.498 m2 vườn hoa, 174.257

m2 bãi tập, 960 m2 công trình vệ sinh, 1.780 m2 nhà để xe

- Trường trung học cơ sở

Tổng nhu cầu vốn 1.399.708 triệu đồng, bao gồm: Xây mới 27 công trình với 436 phòng học và 511 phòng chức năng; Cải tạo, nâng cấp 58 công trình với

272 phòng học và 217 phòng chức năng Sửa chữa, nâng cấp và làm mới công trình bổ trợ, gồm: 160.343 m2 sân chơi, 49.259 m2 vườn hoa, 138.425 m2 bãi tập,

397 m2 công trình vệ sinh, 1.507 m2 nhà để xe

d) Y tế

Tổng nhu cầu vốn 167.423 triệu đồng, bao gồm: Cải tạo, nâng cấp 78 trạm

y tế xã đã xây dựng từ năm 2005 – 2008 nay đã xuống cấp, bao gồm: xây dựng mới 379 phòng với 509 giường bệnh; cải tạo, nâng cấp 259 phòng với 296 giường

h) Chợ nông thôn: Tổng nhu cầu vốn 133.000 triệu đồng, gồm: Xây mới

Trang 28

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

i) Hệ thống cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn: Tổng

nhu cầu vốn xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường

nông thôn là 1.576.567 triệu đồng, trong đó:

- Hệ thống cung cấp nước sinh hoạt: Xây mới 11.845 giếng đào, 8.263 giếng khoan, 84 trạm cấp nước mini, 1.968 công trình tạo nguồn nước sinh hoạt, 24.302 bể nước; cải tạo, nâng cấp 15.400 giếng đào, 2.442 giếng khoan, 15 trạm cấp nước mini, 680 công trình tạo nguồn nước sinh hoạt và 14.234 bể nước Tổng nhu cầu vốn 564.257 triệu đồng

- Công trình vệ sinh: Xây mới 20.168 công trình nhà tiêu, 26.542 công trình nhà tắm; Cải tạo, nâng cấp 40.807 công trình nhà tiêu, 28.165 công trình nhà tắm Tổng nhu cầu vốn đầu tư các công trình vệ sinh 451.794 triệu đồng

- Xây dựng chuồng trại, chăn nuôi và hầm biôga: xây mới 23.840 công trình chuồng trại, 9.388 hầm biôga; cải tạo, nâng cấp 7.184 công trình chuồng trại

và 192 hầm Biôga Tổng nhu cầu vốn 238.572 triệu đồng

- Xử lý chất thải: Xây dựng mới hệ thống cống, rãnh thoát nước thải 850 công trình, cải tạo, nâng cấp ở 250 công trình; Xây mới điểm thu gom rác thải tập trung ở 1.050 điểm, cải tạo nâng cấp 85 điểm Tổng nhu cầu vốn đầu tư 166.490 triệu đồng

- Quy hoạch và tu sửa nghĩa trang, nghĩa địa: Quy hoạch mới 120 công trình; chỉnh trang, cải tạo 56 công trình; nhu cầu vốn 155.454 triệu đồng

1.5.4.3 Hỗ trợ phát triển sản xuất hàng hoá ở nông thôn và đào tạo kiến thức

về xây dựng nông thôn mới cho cán bộ quản lý các cấp:

Tổng nhu cầu vốn 2.200.000 triệu đồng, trong đó:

Hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn: 40.000 triệu đồng/năm x 10 năm = 400.000 triệu đồng

Hỗ trợ đầu tư các vùng sản xuất nông lâm thủy sản tập trung:

100.000 triệu đồng/năm x 10 năm = 1.000.000 triệu đồng

- Hỗ trợ đầu tư phát triển công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn: 60.000 triệu đồng/năm x 10 năm = 600.000 triệu đồng

Trang 29

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

- Củng cố, xây dựng các mô hình kinh tế và tổ chức sản xuất (Hợp tác xã, kinh tế trang trại…): 10.000 triệu đồng/năm x 10 năm = 100.000 triệu đồng

- Đào tạo, tập huấn chuyển giao KHKT công nghệ, đào tạo kiến thức về nông thôn mới: 10.000 triệu đồng/năm x 10 năm = 100.000 triệu đồng

1.5.4.4 Đào tạo, dạy nghề:

- Đào tạo nghề cho lao động nông thôn, giai đoạn 2011-2015 đào tạo 23.400 lượt người, giai đoạn 2016-2020 đào tạo 33.000 lượt người

- Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức xã: Tổng số lượt cán bộ được đào tạo giai đoạn 2010-2020 là 19.408 lượt cán bộ

Sở Lao động Thương binh và Xã hội xây dựng Đề án riêng thực hiện theo chương trình, nguồn vốn riêng (không thuộc phạm vi bố trí vốn này)

1.5.4.5 Chi phí tuyên truyền, triển khai, đánh giá, quản lý Chương trình Tổng nhu cầu vốn: 51.750 triệu đồng, trong đó:

- Quản lý chương trình (Ban chỉ đạo, Ban xây dựng nông thôn mới tỉnh): 1.000 triệu đồng/năm x 10 năm = 10.000 triệu đồng

- Hoạt động của Ban Chỉ đạo cấp huyện, xã:

100 triệu đồng/năm/huyện x 13 huyện x 10 năm = 13.000 triệu đồng

- Đánh giá công nhận hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới:

100 triệu đồng/xã x 125 xã = 12.500 triệu đồng

- Tuyên truyền triển khai chương trình:

+ Tuyên truyền thực hiện các nội dung về nông thôn mới:

- Lập quy hoạch: 68.854 triệu đồng

- Xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường: 13.439.029

Trang 30

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

- Hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, đào tạo kiến thức về nông thôn mới: 2.200.000 triệu đồng

- Đào tạo dậy nghề cho lao động nông thôn: 268.206 triệu đồng

- Công tác tuyên truyền, chi phí quản lý, triển khai, đánh giá chương trình xây dựng nông thôn mới: 51.750 triệu đồng

1.5.6 Phân bổ nguồn nguồn lực đầu tư:

Căn cứ Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ đã quy định; Căn cứ các cơ chế đầu tư hiện hành, phân bổ nguồn lực đầu tư

như sau (Chi tiết theo Biểu số 13A kèm theo):

6.336.471 triệu đồng (chiếm 51,6%

vốn ngân sách)

1.5.7 Phân kỳ đầu tư: (Chi tiết theo biểu số 13B)

* Giai đoạn 2010 – 2015: Hoàn thành các mục tiêu cụ thể của đề án, cơ

bản đạt các tiêu chí tỉnh nông thôn mới theo bộ tiêu chí quốc gia

Trang 31

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

Nhu cầu vốn Ngân sách trung bình/1 năm là 1.565 tỷ đồng

* Giai đoạn 2016 – 2020: Hoàn thành các chỉ tiêu cụ thể của Đề án, đạt

các chỉ tiêu tỉnh nông thôn mới theo bộ tiêu chí Quốc gia

Trang 32

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

Kết luận Chương I

Trên cơ sở một số lý luận cơ bản về mô hình nông thôn mới, những tiêu chí của mô hình nông thôn mới theo Bộ tiêu chí quốc gia và những đặc điểm của mô hình nông thôn mới từ Đề án của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn một lần nữa có thể khẳng định vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới là rất quan trọng, là hạt nhận, là chủ thể quyết định sự thành bại trong quá trình xây dựng nông thôn mới, vai trò của người dân được đặt lên hàng đầu, Nhà nước chỉ đóng vai trò định hướng, hỗ trợ và đưa ra những quan điểm, những cơ chế, chính sách phù hợp để vận dụng linh hoạt trong quá trình xây dựng nông thôn mới Từ những chủ trương, quan điểm, những cơ chế, chính sách được thể hiện thông qua các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của Tỉnh, Tỉnh Quảng Ninh đã xây dựng những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể trên từng lĩnh vực, từng tiêu chí và phân kỳ thực hiện trong từng giai đoạn, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương, trên cơ sở cân đối nguồn kinh phí đáp ứng nhu cầu vốn và yêu cầu đầu tư trong từng giai đoạn

Đây là cơ sở quan trọng, là nền tảng để đánh giá thực trạng tình hình nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Quảng Ninh hiện nay đang ở vị trí nào, với điểm xuất phát từ đâu để từ đó đề ra các giải pháp, những hướng đi thích hợp trong thời gian tới và những năm tiếp theo để thực hiện việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có hiệu quả

Trang 33

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VÀ XÂY DỰNG MÔ HÌNH NÔNG THÔN MỚI HIỆN NAY

Ở TỈNH QUẢNG NINH

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên:

2.1.1 Vị trí địa lý: Quảng Ninh là một tỉnh miền núi, biên giới và hải đảo nằm ở phía Đông Bắc của Tổ quốc, với diện tích tự nhiên 609.897,94 ha Tỉnh có

14 đơn vị hành chính, gồm 10 huyện, 01 thị xã và 03 thành phố; vị trí địa lý ở toạ

độ từ 20o40' đến 21o40' vĩ độ Bắc và 106o26' đến 108o31' kinh độ Đông; Phía Bắc giáp Trung Quốc, có đường biên giới dài 132,8 km; Phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ,

có bờ biển dài 250 km; Phía Nam giáp với các thành phố: Hải Phòng và Hải Dương; Phía Tây giáp tỉnh: Bắc Giang và Lạng Sơn

2.1.2 Đặc điểm địa hình:

Quảng Ninh là tỉnh có đặc điểm vừa là miền núi, trung du và ven biển Phía Bắc và Tây Bắc là vùng đồi thấp, tiếp đó là dãy núi cao thuộc cánh cung Đông Triều, Móng Cái Phía Nam cánh cung này là dãy núi thấp đồi cao tiếp giáp với vùng phù sa ven biển và hàng ngàn hòn đảo, phần lớn là núi đá vôi chạy suốt từ Đông Triều đến Móng Cái tạo thành một bức bình phong chắn gió cho đất liền

Nhìn chung địa hình địa thế của tỉnh đa dạng, phức tạp hạn chế lớn tới việc xây dựng các cơ sở hạ tầng, sản xuất nông, lâm nghiệp với quy mô lớn, nhưng lại

là tiềm năng trong ngư nghiệp và đa dạng hoá cây trồng vật nuôi

Trang 34

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

Diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 609.897,94 ha, trong đó:

- Đất nông nghiệp: 404.917,36 ha, gồm: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp

là 53.348,68 ha; Diện tích đất lâm nghiệp 331.445,82 ha; Đất nuôi trồng thủy sản: 20.001,08 ha; Đất làm muối: 3,8 ha; Đất nông nghiệp khác: 117,98 ha

- Đất phi nông nghiệp: 80.262,31 ha

Đồi và rừng Quảng Ninh có tiềm năng trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và nhiều loài cây công nghiệp

2.2.3 Tài nguyên nước:

Về nước mặt: Lượng nước các sông khá phong phú, ước tính 8.776 tỷ m3

phát sinh trên toàn lưu vực Dòng chảy lên tới 118 l/s/km2 ở những nơi có mưa lớn Cũng như lượng mưa trong năm, dòng chảy của sông ngòi cũng chia làm 2 mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9 có lượng nước chiếm 75 - 80% tổng lượng nước trong năm, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 có lượng nước chiếm 20

- 25% tổng lượng nước trong năm

Về nước ngầm: Theo kết quả thăm dò, trữ lượng nước ngầm tại vùng Cẩm Phả là 6.107 m3/ngày, vùng Hạ Long là 21.290 m3/ngày

Nếu cộng tất cả, toàn tỉnh có từ 2.500 ha đến 3.000 ha mặt nước ao, hồ, đầm có điều kiện nuôi trồng thuỷ sản Tỉnh đã xây dựng 53 hồ đập chứa nước vừa

và lớn với tổng dung tích 300 triệu m3, phục vụ những mục đích kinh tế - xã hội của tỉnh như hồ Yên Lập (dung tích 127 triệu m3), hồ Chúc Bài Sơn (15 triệu m3

),

hồ Quất Đông (10 triệu m3)

2.2.4 Tài nguyên biển:

Trang 35

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

Với bờ biển dài 250 km, Quảng Ninh có nhiều ngư trường khai thác hải sản Hầu hết các bãi cá chính có sản lượng cao, ổn định, đều phân bố gần bờ và quanh các đảo, rất thuận tiện cho việc khai thác Ngoài ra, còn có trên 40.000 ha bãi triều, 20.000 ha eo vịnh và hàng vạn ha các vũng nông ven bờ, là môi trường

thuận lợi để phát triển nuôi và chế biến hải sản xuất khẩu

Ven biển có nhiều khu vực nước sâu, kín gió là lợi thế đặc biệt quan trọng thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản, xây dựng và phát triển kinh tế thủy sản

2.3 Nguồn nhân lực:

Quảng Ninh có 14 huyện, thị xã, thành phố với tổng số 186 xã, phường, thị trấn Trên địa bàn tỉnh có 22 dân tộc đang sinh sống Theo kết quả điều tra sơ bộ của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân số toàn tỉnh có 1.144.381 người, trong đó: Tỷ lệ dân số sống ở khu vực thành thị là 575.939 người (chiếm tỷ

lệ 50,3%); Dân số ở khu vực nông thôn là 568.442 người Tỷ lệ tăng dân số bình quân từ năm 1999 đến 2009 là 1,3%

Giai đoạn 2006 – 2010 toàn tỉnh đã đào tạo 12.680 lao động nông thôn; Tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh năm 2010 khoảng 48%, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề khoảng 38%, cao hơn mức bình quân của cả nước

Tóm lại: Quảng Ninh là một tỉnh miền núi, trung du, ven biển và hải đảo,

có tiềm năng tự nhiên, kinh tế xã hội để phát triển một nền nông nghiệp đa dạng

và xây dựng nông thôn mới, góp phần quan trọng trong tiến trình công nghiệp

hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của tỉnh

2.4 Tình hình phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh Quảng Ninh

2.4.1 Đánh giá chung:

Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế của tỉnh Quảng Ninh tăng trưởng khá và liên tục; giai đoạn 2006 - 2010 tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 12,7% /năm; quy mô kinh tế (GDP tính theo giá

so sánh) năm 2010 gấp 1,8 lần so với năm 2005; cơ cấu tổng sản phẩm trong tỉnh đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ: Khu vực nông - lâm - thuỷ sản vẫn tăng về số tuyệt

Trang 36

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

dịch vụ đã tăng đáng kể Năm 2010 cơ cấu GDP dự kiến: nông, lâm, ngư nghiệp 5,6%; công nghiệp, xây dựng 54,7%; dịch vụ 39,7%

Lĩnh vực phát triển nông thôn đã được tỉnh tập trung chỉ đạo và đạt được một số kết quả: Kinh tế nông thôn có bước phát triển; kết cấu hạ tầng - kinh tế xã hội vùng nông thôn, nhất là hệ thống giao thông, thủy lợi, điện, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế, chợ, các thiết chế văn hóa… được đầu tư; nhiều giống mới

có năng suất cao, chất lượng tốt được đưa vào sản xuất; các cụm công nghiệp, làng nghề phát triển, đã góp phần phát triển sản xuất, tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo; diện mạo nông thôn có nhiều đổi mới, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện

Tuy nhiên, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn còn chậm; sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, phân tán; công nghiệp chế biến nông sản, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề chưa phát triển nhanh; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp so với yêu cầu; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực nông thôn còn bất cập; môi trường nông thôn một số nơi còn nhiều bức xúc; đời sống văn hóa, tinh thần của một bộ phận nông dân còn thiếu thốn, khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn còn lớn

Để giải quyết những vấn đề tồn tại nêu trên, việc xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 là cơ sở triển khai thực hiện Nghị quyết số 26 - NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Khoá X; Chương trình hành động

số 22 - CTr/TU của Tỉnh uỷ Quảng Ninh về thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình xây dựng nông thôn mới là việc làm cần thiết, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ mới, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân

2.4.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp:

Trong 5 năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vực nông, lâm nghiệp và

thuỷ sản tăng bình quân 5,4%/năm Cơ cấu tổng sản phẩm trong tỉnh đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ: Khu vực nông - lâm - thuỷ sản giảm dần nhưng vẫn tăng

về số tuyệt đối, khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ đã tăng đáng kể; đến

Trang 37

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

năm 2010: nông, lâm, ngư nghiệp chiếm tỷ trọng 5,6%; công nghiệp - xây dựng 54,7%; dịch vụ 39,7% Sản xuất nông nghiệp vượt qua nhiều khó khăn về thiên tai, dịch bệnh, giữ vững ổn định và có bước phát triển mới, giá trị sản xuất (giá cố định) tăng bình quân 6,3 %/năm, tổng giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản 5 năm đạt 12.453 tỷ đồng

Về trồng trọt: Đã thực hiện có kết quả chương trình chuyển dịch cơ cấu

mùa vụ, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, năng suất, sản lượng lương thực tăng, cơ bản đảm bảo cân đối được lương thực ở khu vực nông thôn Mặc dù diện tích gieo trồng cây lương thực có giảm do chuyển đổi mục đích sang làm khu công nghiệp và xây dựng cở

hạ tầng nhưng tổng sản lượng lương thực cây có hạt 5 năm qua ổn định ở mức

227 - 230 ngàn tấn/năm, năng suất lúa bình quân đạt 44,7 tạ/ha

Đến nay giá trị sản phẩm trồng trọt, nuôi trồng thủy sản trên 1 đơn vị diện tích bình quân đạt khoảng 47 triệu đồng/ha Cơ cấu cây trồng vật nuôi có sự chuyển biến mạnh Đã hình thành một số vùng chuyên canh như: 8.956 ha cây ăn quả (vải, nhãn chiếm 71%) trong đó: có 300 ha vải chín sớm ở Xã Bình Khê (Đông Triều), Phương Nam (Uông Bí), 700 ha na dai, 300 ha củ đậu ở xã Việt Dân, An Sinh (Đông Triều); Có 1.170 ha chè tập trung tại 2 huyện Hải Hà và Đầm Hà, trong đó có 500 ha chè kinh doanh, 670 ha chè trồng mới Một số địa phương ở Hoành Bồ, Hạ Long, Cẩm Phả, Đông Triều đã xây dựng thành công các

mô hình trồng rau, hoa theo hướng công nghệ cao, giá trị thu nhập bình quân 1 ha đạt từ 500 - 800 triệu đồng/ha

Chăn nuôi: ổn định, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát Chú trọng phát triển

chăn nuôi gia súc, gia cầm theo quy mô trang trại, mang tính sản xuất hàng hoá, nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần chuyển dịch tích cực cơ cấu nông nghiệp nông thôn Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp từ 32,4% năm 2005 lên 38% năm 2009 Mấy năm gần đây đàn gia súc phát triển ổn định và tăng bình quân 2,5%

Tính đến 01/10/2010, đàn lợn 367.500 con, đàn trâu 63.500 con, đàn bò 28.000 con, dê 6.500 con, đàn gia cầm 2,36 triệu con; sản lượng thịt hơi đạt khoảng 44.066 tấn

Trang 38

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

trại chăn nuôi lợn công nghiệp Trên địa bàn tỉnh có 30 trang trại có quy mô từ 30 - 200 con lợn thịt; 53 trang trại nuôi bò, có 13 trang trại nuôi gia cầm có quy mô 2.000 - 8.000 con/trang trại

Lâm nghiệp: phát triển khá, khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai, lao

động và các nguồn vốn tham gia trồng, bảo vệ rừng Trong 5 năm qua, bằng các nguồn vốn của Trung ương, ngành than, địa phương và của nhân dân toàn tỉnh đã trồng được 74.396 ha, bình quân mỗi năm trồng được 14.879 ha Diện tích đất trống, đồi núi trọc đã thu hẹp đáng kể; Đến nay, diện tích đất có rừng trong toàn tỉnh đã đạt 301.752 ha, trong đó rừng trồng các loại là 152.560 ha, nâng độ che phủ rừng từ 45,2% năm 2005 lên 50% năm 2010

Thực hiện chuyển đổi 08 Lâm trường quốc doanh thành các Công ty Lâm nghiệp; sau chuyển đổi hoạt động của các đơn vị có hiệu quả đã góp phần chuyển

từ nền lâm nghiệp truyền thống sang lâm nghiệp xã hội, đời sống người lao động được nâng lên, người trồng rừng đã có thể sống bằng nghề rừng Năm 2010, sản lượng khai thác gỗ rừng trồng 68.370 m3, khai thác và thu mua nhựa thông là 11.000 tấn; chế biến gỗ 6.340 m3; dịch vụ gỗ trụ mỏ 125.000m3; tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chế biến từ nhựa thông đạt 7,5 triệu USD

Về thủy sản: Toàn tỉnh hiện có 12.205 tàu, thuyền làm nghề khai thác thuỷ

sản (trong đó có 162 tầu công suất từ 90 CV trở lên) Năm 2010, tổng sản lượng thuỷ sản 78.562 tấn (trong đó đánh bắt 51.240 tấn; nuôi trồng các loại 27.332 tấn), tăng 23.697 tấn so với năm 2005, giá trị xuất khẩu đạt 45,95 triệu USD Trong những năm qua ngành Thuỷ sản có tốc độ tăng trưởng khá, đã tập trung quy hoạch, mở rộng vùng nuôi, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất giống và nuôi trồng Công tác chuyển dịch cơ cấu giống, mùa vụ trong nuôi trồng thuỷ sản cũng được quan tâm đúng mức, đã đưa nhiều tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, nhất là các loại giống có năng suất, giá trị cao vào nuôi trồng như tôm Sú, cá Song, cá Giò,

Tu Hài, Ba Ba

Công nghiệp chế biến nông lâm sản: Toàn tỉnh hiện có 605 cơ sở chế biến

nông lâm sản, trong đó có 7 Công ty chế biến gỗ với công suất thiết kế là 20 nghìn

Trang 39

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

m3/năm và các cơ sở chế biến khác chế biến từ 7- 9 nghìn m3 gỗ/năm; 03 Công ty sản xuất dăm giấy với công suất 340 nghìn tấn/năm; Ván ghép thanh 2.000m3/năm; Ván MDF 5.000m3; Sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy 10.500 tấn/năm; Có 02 xưởng chế biến chè công suất 3.000 tấn/năm; 03 cơ sở chế biến thức ăn chăn nuôi công suất 3.000 tấn/năm; chế biến nhựa thông 9.000 tấn/năm Ngoài ra, còn có hàng trăm cơ sở chế biến bảo quản nông sản quy mô hộ gia đình

Cơ sở chế biến thủy sản: Có 06 nhà máy chế biến thủy sản trong đó có 2 xí nghiệp mắm Cái Rồng và Đại Yên; 4 công ty xuất khẩu thủy sản Các cơ sở chế biến nông - lâm - thủy sản đã quan tâm đầu tư đổi mới hệ thống trang thiết bị, dây chuyền máy móc hiện đại, ứng dụng các quy trình chế biến theo công nghệ cao, tạo ra các sản phẩm có chất lượng xuất khẩu sang các thị trường Châu Âu, Nhật Bản

2.4.3 Xây dựng kết cấu hạ tầng:

- Giao thông: Đã đưa vào sử dụng mới 49 km đường huyện, 130 km đường

xã, thôn, bản Toàn tỉnh có 764 km đường huyện, đã cứng hoá mặt đường 455 km (chiếm 60%); 2.233 km đường xã, đã cứng hoá mặt đường 527 km (chiếm 24%)

Hệ thống đường giao thông nông thôn, miền núi được quan tâm đầu tư nâng cấp, tạo ra một mạng lưới giao thông đồng bộ, thông suốt giữa các vùng, miền trong tỉnh và giữa các xã với trung tâm huyện, thị xã, thành phố, góp phần tích cực phát triển kinh tế xã hội nông thôn, miền núi, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân Số xã, phường có đường ô tô đến trung tâm xã tăng từ 130 xã, phường năm 2005 lên 186 xã, phường năm 2011

- Thủy lợi: Đã đầu tư, đưa vào sử dụng hồ Đầm Hà Động và các tuyến đê

biển: Hà Nam, Bắc Cửa Lục, Đông Yên Hưng; hoàn thành 424 km kênh mương tưới tiêu cấp II, III Đến nay đã chủ động tưới tiêu cho 74% diện tích gieo trồng

- Hệ thống điện nông thôn: Hệ thống điện được quan tâm đầu tư tạo điều

kiện để điện khí hóa nông thôn, phục vụ sản xuất và đời sống Đến nay 100% số xã trong đất liền có điện lưới quốc gia (xã đảo có điện diezen); có trên 96% số hộ dân nông thôn được sử dụng điện theo giá nhà nước Đã hoàn thành bàn giao lưới điện

Trang 40

Trần Tiến Dũng Luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh

nông thôn cho ngành điện quản lý, phối hợp hỗ trợ vốn để ngành điện đầu tư điện lưới đến các thôn, bản vùng sâu, vùng xa của tỉnh

- Cơ sở vật chất giáo dục: Hệ thống giáo dục của tỉnh tương đối hoàn

chỉnh, thống nhất và đa dạng, mạng lưới trường lớp được xây dựng, củng cố và phát triển đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân Trên địa bàn tỉnh hiện có 02 Trường Đại học, 02 Trường cao đẳng nghề, 05 Trường cao đẳng chuyên nghiệp, 01 Trường trung cấp chuyên nghiệp, 03 Trường trung cấp nghề,

06 Trung tâm dạy nghề và 15 cơ sở khác đăng ký hoạt động dạy nghề, 415 Trường phổ thông, 183 Trường mầm non, 15 Trung tâm giáo dục thường xuyên

và 186 Trung tâm học tập cộng đồng

Đến hết năm 2011, sẽ có 47,6% Trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia; cơ bản hoàn thành mục tiêu kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên theo Đề án của Chính phủ trước cả nước 2 năm Cơ sở vật chất trường học được đầu tư xây dựng trong những năm qua đã tạo ra diện mạo mới cho vùng nông thôn, đặc biệt ở miền núi, biên giới và hải đảo

- Cơ sở vật chất y tế: Xây dựng, đưa vào sử dụng Bệnh viện đa khoa tỉnh

và đầu tư nâng cấp hầu hết các Bệnh viện đa khoa khu vực, Bệnh viện tuyến huyện Hiện nay, toàn tỉnh có 15 Bệnh viện, 09 phòng khám đa khoa khu vực, 10 Trung tâm y tế tuyến tỉnh, 14 Trung tâm y tế tuyến huyện, 186 Trạm y tế xã, phường; tỷ lệ dân số được tiếp cận dịch vụ y tế đạt trên 92%; đạt tỷ lệ 30 giường bệnh trên 10.000 dân và 8 bác sỹ trên 10.000 dân Tỷ lệ xã đạt chuẩn y tế quốc gia tăng từ 46,7% (năm 2005) lên 100% (năm 2011)

- Cơ sở vật chất văn hoá, thông tin: Nhà văn hóa thôn, bản đã và đang được đầu tư xây dựng theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm ở các huyện Tính đến cuối năm 2011 toàn tỉnh có 1.232/1.529 thôn, khu phố đã xây dựng xong nhà văn hóa và đi vào hoạt động đạt hiệu quả tốt, chiếm 80%

Hệ thống phát thanh, truyền hình, bưu chính viễn thông phát triển nhanh đáp ứng các nhu cầu cơ bản của người dân và phục vụ tốt du lịch, dịch vụ Tỷ lệ phủ sóng phát thanh – truyền hình đạt trên 95% Tỷ lệ máy điện thoại cố định và di động

Ngày đăng: 20/01/2021, 12:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w