Kế toán HTX nông nghiệp
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hợp tác xã (viết tắt là HTX) của bạn có quan tâm tới lợi nhuận không? Chắc hẳn khi kinh doanh, các HTX phải quan tâm tới lợi nhuận và mong muốn lợi nhuận ngày càng cao
Để tăng cường quản lý kinh tế nhằm tối đa hóa lợi nhuận, HTX cần nhiều công
cụ quản lý khác nhau, trong đó có Kế toán Với vai trò quan trọng của Kế toán, Liên minh HTX Việt Nam đã và đang triển chương trình bồi dưỡng kế toán HTX với mục đích cập nhật và nâng cao năng lực kế toán cho các HTX trên toàn quốc
Nhằm phục vụ chương trình bồi dưỡng kế toán trưởng HTX giai đoạn
2011-2015, Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ HTX – Liên minh HTX Việt Nam đã biên soạn
“Giáo trình bồi dưỡng Kế toán trưởng HTX” với các nội dung cơ bản như sau:
Chương 1 Tổng quan về kế toán
Chương 2 Chứng từ kế toán
Chương 3 Tài khoản kế toán
Chương 4 Tính giá và kế toán một số quá trình kinh doanh chủ yếu
Chương 5 Sổ kế toán
Chương 6 Báo cáo tài chính
Trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã tham khảo và sử dụng các tài liệu về kế toán của Bộ Tài chính, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Học viện Tài chính với mong muốn cung cấp những thông tin cập nhật và có độ tin cậy cao Mặc dù, chúng tôi đã có rất nhiều cố gắng, song do trình độ và thời gian có hạn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Chúng tôi mong muốn nhận được ý kiến góp ý, phê bình của độc giả để tiếp tục hoàn thiện
Trang 2CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HTX NÔNG NGHIỆP
VÀ KẾ TOÁN HTX NÔNG NGHIỆP
Trong một buổi tranh luận với chủ nhiệm HTX Nông nghiệp Tân Tiến về tình
hình tài chính của HTX, chủ nhiệm HTX hỏi bạn: “Bạn biết gì về kế toán?”, câu hỏi
tưởng như đơn giản, nhưng là một người làm kế toán, bạn sẽ trả lời thế nào cho câu hỏi này?
Bài học này sẽ giúp bạn trả lời cho câu hỏi trên cũng như giúp bạn tìm hiểu về kế toán trong các HTX
Nắm được bản chất của kế toán, vai trò
của kế toán; Các yêu cầu đối với thông
tin kế toán
Phân biệt được kế toán tài chính và kế
toán quản trị
Hiểu và phân biệt được các khái niệm
sau: tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn, nợ
phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh
thu, thu nhập, chi phí
Nắm vững các nguyên tắc và yêu cầu kế
Trang 31.1 Tổng quan về HTX nông nghiệp
Hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp là một nhu cầu khách quan Đó là con đường phát triển tất yếu của kinh tế hộ nông dân Bởi lẽ, do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, cây trồng, vật nuôi đều là những cơ thể sống, chịu ảnh hưởng trực tiếp của ngoại cảnh như thời tiết, khí hậu và các sinh vật khác Cùng với các điều kiện thuận lợi, sản xuất nông nghiệp gặp không ít khó khăn, trở ngại do tác động của thời tiết, khí hậu
và các yếu tố sâu bệnh, thú dữ phá hoại v.v
Từ thời xa xưa, các hộ nông dân đã có nhu cầu hợp tác với nhau để hỗ trợ, giúp nhau vượt qua khó khăn, nâng cao hiệu quả sản xuất
Khi nền sản xuất còn mang nặng tính tự cung tự cấp thì quá trình hợp tác mang tính chất hợp tác lao động theo mùa vụ, đổi công, cùng làm giúp nhau v.v nhằm đáp ứng yêu cầu thời vụ, hoặc tăng thêm sức mạnh để giải quyết những công việc mà từng
hộ gia đình không có khả năng thực hiện, hoặc làm riêng rẽ không có hiệu quả như phòng chống thiên tai, thú dữ, sâu bệnh, đào kênh dẫn nước, v.v
Quá trình hợp tác này còn mang đặc điểm tình cảm, tâm lý truyền thống cộng đồng đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau vượt qua khó khăn trong sản xuất và đời sống
Đặc điểm cơ bản của hợp tác kiểu này là hợp tác theo vụ, việc hợp tác ngẫu nhiên, không thường xuyên, chưa tính đến giá trị ngày công Đây là các hình thức hợp tác xuất hiện từ trước chủ nghĩa tư bản
Khi nền nông nghiệp hàng hoá phát triển, nhu cầu dịch vụ cho quá trình tát sản xuất ngày càng tăng cả về qui mô và chất lượng dịch vụ, như dịch vụ về giống, phòng trừ sâu bệnh, chế biến và tiêu thụ nông sản, thuỷ lợi v.v Trong điều kiện này, từng hộ nông dân tự đảm nhiệm tất cả các khâu cho quá trình sản xuất sẽ gặp khó khăn, hoặc không đủ khả năng đáp ứng, hoặc hiệu quả kinh tế thấp kém hơn so với hợp tác Từ đó nảy sinh nhu cầu hợp tác ở trình độ cao hơn, đó là hợp tác thường xuyên, ổn định, có tính đến giá trị ngày công – giá trị dịch vụ, dẫn đến hình thành HTX Như vậy, sự ra đời của HTX trong nông nghiệp là nhu cầu khách quan, gắn với quá trình phát triển nền nông nghiệp hàng hoá
Sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển cùng với quá trình phân công chuyên môn hoá nảy sinh các chuyên ngành, như sản xuất lương thực, hoa, rau, quả, cây công nghiệp như chè, cà phê v.v Đồng thời, cũng xuất hiện nhiều loại dịch vụ chuyên ngành
Trang 4phục vụ cho nông nghiệp như: cung ứng vật tư, vận chuyển, chế biến tiêu thụ nông sản v.v.
Như vậy, trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, không phân biệt chế độ chính trị,
xã hội, xuất phát từ mục tiêu kinh tế nông dân đều có nhu cầu hợp tác từ hình thức giản đơn đến phức tạp, từ đơn ngành đến đa ngành Lực lượng sản xuất càng phát triển thì nhu cầu hợp tác càng tăng, mối quan hệ hợp tác ngày càng sâu rộng, do đó tất yếu hình thành và ngày càng phát triển các hình thức kinh tế hợp tác ở trình độ cao hơn
Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, sự hình thành và phát triển HTX của các hộ, trang trại gia đình nông dân còn xuất phát từ nhu cầu kết hợp để làm tăng sức mạnh giúp
đỡ lẫn nhau chống lại sự chèn ép, lũng đoạn của tư bản độc quyền lớn nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển của kinh tế hộ và trang trại gia đình nông dân Đây là tầng lớp người
có khó khăn hơn và chịu nhiều thiệt thòi, rủi ro hơn trong xã hội tư bản Từ góc độ này
mà kinh tế hợp tác của nông dân còn được coi là loại hình kinh tế mang bản chất xã hội – nhân đạo Nó là hình thức kinh tế cần thiết cho những người nghèo có tiềm lực kinh tế yếu hơn trong xã hội chống lại xu hướng chèn ép, “cá lớn nuốt cá bé” trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh tàn khốc
Xuất phát từ nhu cầu khách quan và vai trò, vị trí của HTX trong lĩnh vực nông nghiệp, ở nhiều nước trên thế giới, HTX nông nghiệp đã có lịch sử hình thành và phát triển hơn 100 năm Đồng thời, Chính phủ của các nước này đều đã dành sự quan tâm giúp đỡ đáng kể cho khu vực kinh tế HTX
Năm 1844, lần đầu tiên ở nước Đức, những nguyên tắc về HTX được nêu ra là:
tự do gia nhập; quản lý dân chủ, thực hiện nguyên tắc “một người – một phiếu”; góp tỷ suất lợi nhuận vào các phần của hội; chia lợi tức tỷ lệ với sự hoạt động của doanh số; trả tiền mặt cho các sản phẩm mua; đào tạo và giáo xã viên không tham gia chính trị và tôn giáo
Đây là cơ sở cho những nguyên tắc hoạt động mà các tổ chức HTX quốc tế đã phê chuẩn sau này
Năm 1847, tổ chức phúc lợi nông thôn đầu tiên ở Đức đã được thành lập, sau đó các HTX nông nghiệp phát triển và trở thành một lực lượng kinh tế – xã hội quan trọng của Cộng hoà Liên bang Đức
Ở nhiều nước trên thế giới, Chính phủ đã ban hành rất sớm các Thông tư, pháp lệnh, luật về HTX Có nước còn qui định tính hợp hiến của HTX trong hiếp pháp nhằm
Trang 5mục đích hướng dẫn, giúp đỡ nông dân Khi họ thực sự có nhu cầu thì tự nguyện liên kết với nhau thành HTX để vượt qua khó khăn, phát triển sản xuất.
Đến nay, ở hầu khắp các nước trên thế giới, nhiều hình thức kinh tế HTX trong nông nghiệp vẫn được duy trì, phát triển và có hiệu quả rõ rệt Tuy nhiên, một số nước không thành công ở một số mô hình HTX cụ thể do tác động của nhiều nguyên nhân khác nhau
Ở Hà Lan, HTX nông nghiệp đã ra đời hơn 100 năm Ngay từ đầu, các HTX đã thực hiện chức năng thương nghiệp chuyên ngành vì mục tiêu kinh tế Đa số hộ nông dân tham gia từ 2 – 4 HTX khác nhau Ngày nay, hệ thống các loại hình HTX ở Hà Lan vẫn phát triển và có vị trí quan trọng đối với lĩnh vực cung cấp sản phẩm nông nghiệp cho xã hội Thí dụ, với sản phẩm bột khoai tây khu vực kinh tế HTX đã cung cấp 100%
số lượng sản phẩm trên thị trường Tương tự, với sản phẩm bơ là 94%, pho mát 92%, thức ăn gia súc 90%, sữa 87% v.v
Ở Mỹ, hệ thống các HTX nông nghiệp đã hình thành trên 100 năm và trở nên cần thiết đối với các chủ trang trại Ngay từ năm 1914, Nhà nước đã thành lập Cục HTX để
hỗ trợ cho khu vực kinh tế này, kể cả việc đảm nhận công tác đào tạo cán bộ quản lý HTX Chính phủ liên bang cũng như ở từng bang đều giành một khoản kinh phí nhất định cho hoạt động của Cục HTX Ngày nay, các Cục HTX tự nguyện và có hiệu quả của các thủ trưởng nông trại có vai trò to lớn trong nền nông nghiệp hiện đại của Mỹ
Ở Nhật Bản, đại đa số nông trại đều tham gia HTX Từ năm 1947, Chính phủ Nhật bản đã ban hành Luật HTX nông nghiệp Đến năm 1967, Nhật Bản thông qua chính sách cơ bản về hợp tác hoá nhằm phát triển nông nghiệp Nhờ vậy, phong trào hợp tác hoá đã được triển khai trên phạm vi toàn quốc
Ở một số nước trong khối ASEAN như Inđônêxia, Thái Lan, v.v HTX cũng xuất hiện khá sớm Chính phủ các nước này cũng đã có những chủ trương, biện pháp cụ thể để khuyến khích việc thành lập HTX hay “hiệp hội” nông dân để giúp đỡ nhau, phát triển sản xuất Đồng thời, các Chính phủ đều ban hành sự quan tâm hỗ trợ đáng kể cho khu vực kinh tế HTX và các nông trại Thí dụ, Chính phủ Thái Lan đã thành lập hệ thống “phát triển nông thôn quốc gia” từ cấp trung ương đến cơ sở Nhà nước Inđônêxia
đã nêu rõ chủ trương nền kinh tế quốc dân phải được xây dựng trên nguyên tắc tương trợ và hợp tác Nhà nước đề ra những chính sách ưu tiên đối với khu vực kinh tế HTX
và đã tiến hành cải tiến HTX theo một số hướng cơ bản như:
Trang 6- Cải tiến tổ chức và quản lý HTX trong phạm vi toàn quốc.
- Cải tiến và nâng cao hiệu quả của hệ thống thông tin quản lý HTX, đào tạo kỹ năng cho cán bộ điều hành, quản lý HTX
- Chú trọng hơn đến nâng cao vị trí, uy tín của HTX và quyền lợi kinh tế cho xã viên HTX
- Sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ về kinh tế của Chính phủ đối với HTX v.v
Ở Liên xô (trước đây), các nước Đông Âu và Trung Quốc, phong trào hợp tác hoá trong nông nghiệp được triển khai rầm rộ, rộng rãi và nhanh chóng để thành lập các nông trang tập thể, công xã nhân dân, v.v nhằm mục tiêu đưa nông nghiệp, nông dân đi lên chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, mô hình HTX “tập thể hoá” đã chứa đựng những yếu
tố không phù hợp với nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá trong điều kiện cơ chế thị trường Do vậy, trong những năm qua, ở các nước nói trên, khu vực kinh tế này đã và đang tiến hành quá trình “đổi mới”, “cải tổ” Song, điều đó hoàn toàn không phủ nhận tính tất yếu khách quan của kinh tế hợp tác trong nông nghiệp
Mặc dù các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin không có nhiều điều kiện nghiên cứu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; song, khi nói đến nhiệm vụ đưa nông nghiệp, nông dân đi lên chủ nghĩa xã hội, các ông đều nhấn mạnh vai trò quan trọng của hình thức kinh tế hợp tác và coi đó là con đường để đưa nông dân đi tới chủ nghĩa xã hội Sau khi giành chính quyền, các ông cho rằng, nhiệm vụ của chúng ta đối với tiểu nông trước hết phải hướng quyền sở hữu cá thể và nền kinh doanh cá thể của họ vào con đường hợp tác, không phải bằng bạo lực mà bằng tấm gương và bằng sự giúp đỡ của xã hội Rằng, cần tổ chức cho nông dân vào các HTX của chủ nghĩa xã hội, nhưng phải bảo đảm nguyên tắc tự nguyện Rằng, chúng ta kiên quyết đứng về phía người tiểu nông, chúng ta phải tìm đủ mọi cách để làm cho số phận của họ được dễ chịu hơn, để cho họ được chuyển sang HTX dễ dàng hơn, nếu họ quyết chuyển như thế và thậm chí để cho
họ có thời gian suy nghĩ với tư cách là người sở hữu mảnh đất của họ Con đường chủ yếu để thu hút nông dân vào lối làm ăn XHCN là hợp tác hoá Chỉ có thống nhất qua hợp tác hoá mới lôi cuốn được những người sản xuất cá thể vào công cuộc xây dựng XHCN
Kế thừa và phát triển tư tưởng của Mác, ăngghen về nông nghiệp, nông dân và hợp tác hoá vào hoàn cảnh cụ thể của nước Nga, Lênin đã dành sự quan tâm đặc biệt
Trang 7đến quá trình nghiên cứu về con đường hợp tác hoá để đưa nông dân đi lên chủ nghĩa xã hội.
Trong tác phẩm Bàn về chế độ HTX, Lênin đã nêu lên những vấn đề lý luận cơ bản về chế độ hợp tác dưới chủ nghĩa xã hội Người chỉ rõ vai trò quan trọng của HTX
và cho rằng đó là “bước quá độ sang một chế độ mới bằng con đường giản đơn nhất, dễ dàng nhất, dễ tiếp thu nhất đối với nông dân”
Cũng trong tác phẩm này, Người đã nêu lên phương châm, nguyên tắc xây dựng HTX nông nghiệp, với vai trò, trách nhiệm của Chính quyền Xôviết đối với HTX Đó là những chỉ dẫn quý báu cho việc đề ra đường lối, chiến lược, chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn của các Đảng cộng sản sau khi giành chính quyền
Vận dụng tư tưởng của Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng XHCN ở nước ta Người khẳng định, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta phải bắt đầu từ nông dân Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp, nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, nông nghiệp một phần lớn Muốn cho nông nghiệp và nông dân giàu lên cần phải xây dựng HTX
Nói về sự cần thiết khách quan, ý nghĩa của HTX trong nông nghiệp, Chủ tịch
Hồ Chí Minh giải thích: “Tuy cách làm thì có khác nhau ít nhiều, nhưng mục đích thì nước nào cũng như nhau… trong lời tuyên ngôn của HTX Anh đã nói: “Cốt làm cho những người vô sản giai cấp hoá ra anh em… làm giùm nhau, nhờ lẫn nhau Bỏ hết thói tranh cạnh Làm sao cho ai trồng cây thì được ăn trái, ai muốn ăn trái thì giùm vào trồng cây… Tục ngữ An Nam có những câu: “Nhóm lại thành giàu, chia nhau thành khó” và
“Một cây làm chẳng nên non, nhiều cây nhóm lại thành hòn núi cao” Lý luận HTX đều
ở trong những điều ấy” Từ ý nghĩa đó, Người kêu gọi nông dân: “Muốn làm hòn núi cao, phải vào tổ đổi công và HTX”, vì nhiều người họp lại thì làm được nhiều, được tốt,
“nông dân ta mới có thêm sức để cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất Do đó mà đưa nông thôn… đến chỗ ấm no, sung sướng”
Hợp tác tạo nên sức mạnh của tập thể, giúp các hộ nông dân thực hiện những công việc mà từng hộ gia đình không có khả năng thực hiện, hoặc thực hiện kém hiệu quả hơn hợp tác, như phòng chống thiên tai, xây dựng công trình thuỷ nông, phòng trừ sâu bệnh v.v Ngoài mục tiêu kinh tế, hợp tác còn thực hiện các mục tiêu xã hội quan
Trang 8trọng Theo Hồ Chí Minh, hợp tác góp phần xây dựng tình đoàn kết xóm làng, tinh thần tương thân tương ái nhằm xây dựng cộng đồng xã hội tốt đẹp ở nông thôn Nhờ vậy mà tạo nên sức mạnh có thể vượt qua khó khăn, trở ngại trong sản xuất đời sống, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Đối với nước ta, mục đích việc tổ chức HTX còn là, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “để cải thiện đời sống nông dân, làm cho nông dân được no ấm, mạnh khoẻ, được học tập, làm cho dân giàu, nước mạnh” Vì vậy, HTX là con đường đưa nông dân
đi lên chủ nghĩa xã hội Đó là mục đích riêng và mục đích chung của việc xây dựng HTX
Thực tế lịch sử thế giới hơn 100 năm qua đã chứng minh tính đúng đắn của quan điểm về sự cần thiết khách quan của quan điểm về sự cần thiết khách quan của kinh tế hợp tác trong quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Ngày nay, kinh tế hợp tác, HTX tiếp tục phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới với lực lượng quan trọng, bao gồm hơn 760 triệu xã viên và một tổ chức quốc tế – Liên minh HTX quốc tế (ICA) (Việt Nam chính thức tham gia ICA từ năm 1988)
Ở Việt Nam, gần nửa thế kỷ qua, phong trào hợp tác hoá trải qua những bước thăng trầm
Thời kỳ cao điểm cả nước có hàng trăm ngàn tổ chức kinh tế hợp tác, bao gồm cả HTX và các hình thức kinh tế hợp tác giản đơn như: tập đoàn sản xuất, tổ hợp tác, tổ đổi công, v.v thu nạp tới hơn 90% số hộ nông dân và hơn 80% diện tích canh tác, gần 90%
số hộ tiểu thương, tiểu chủ và những người lao động cá thể Nhờ vậy mà kinh tế hợp tác, HTX đã có những đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ sản xuất, đời sống, góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc
Tuy vậy, mô hình HTX “kiểu cũ” ngày càng tỏ ra không phù hợp với đặc điểm, yêu cầu phát triển kinh tế trong điều kiện mới, phong trào hợp tác hoá chuyển sang giai đoạn suy thoái, tan rã
Đồng thời, với quá trình nêu trên, trong thực tế lại diễn ra một xu hướng trái ngược Trong khi nhiều hộ nông dân không thiết tha với HTX “kiểu cũ” thì không ít hộ lại gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh cá thể do không thể tự lo được tất cả các khâu sản xuất, như giống, vốn, thuỷ lợi, phòng trừ sâu bệnh, tiêu thụ sản phẩm, v.v Chính từ thực tế đó, nông dân ở nhiều địa phương đã tự nguyện góp vốn và
Trang 9công sức hình thành các hình thức kinh tế hợp tác đa dạng để giúp nhau trong sản xuất
và đời sống
Rõ ràng là trong khi mô hình HTX “kiểu cũ” tan rã thì các hình thức kinh tế hợp tác do nông dân tự nguyện thành lập xuất phát từ nhu cầu thực sự của họ đã phát huy tác dụng, được nông dân thừa nhận và tích cực tham gia
Thực tế đó một lần nữa chứng minh tính đúng đắn, khoa học về sự cần thiết khách quan phải phát triển các hình thức kinh tế hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp Không thể vì những thiếu sót, sai lầm của mô hình HTX “kiểu cũ” mà phủ nhận vai trò, tác dụng và sự cần thiết tất yếu của nó trong quá trình phát triển nền nông nghiệp hàng hoá Điều quan trọng là phải tôn trọng các nguyên tắc và lựa chọn các mô hình kinh tế phù hợp, thực sự đem lại hiệu quả cho kinh tế hộ nông dân
Tại Điều lệ mẫu HTX Nông nghiệp ban hành kèm theo Nghị định số 43/CP ngày
29/3/1997 của Chính Phủ “Hợp tác xã Nông nghiệp là tổ chức kinh tế tự chủ, do nông dân và những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật đề phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho kinh tế hộ gia đình của xã viên và kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và kinh doanh các ngành nghề khác ở nông thôn, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp”.
Cùng với quan điểm về hợp tác xã nông nghiệp như Nghị định 43/CP ngày 29/3/1997, Thông tư liên tịch 74/2008/TTLT/BTC-BNN ngày 14 tháng 8 năm 2008 của
Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp hướng dẫn chế độ quản lý tài chính HTX nông nghiệp và Thông tư 24/2010/TT-BTC ngày 23 tháng 02 năm 2010 hướng dẫn chế độ kế toán cho HTX nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, nghề muối đều nhóm các hợp tác nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và nghề muối thành một nhóm, gọi chung là HTX nông nghiệp
Vì thế, các nội dung trong tài liệu này áp dụng cho các HTX nông nghiệp nói chung, gồm HTX nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, nghề muối
1.2 Tổng quan về kế toán HTX nông nghiệp
1.2.1 Bản chất của kế toán
Khái niệm kế toán
Trang 10Có nhiều quan điểm khác nhau về kế toán: Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế
(IFAC): “Kế toán là nghệ thuật ghi chép, phản ánh, tổng hợp theo một cách riêng có bằng chứng về những khoản tiền, các nghiệp vụ và các sự kiện mà chúng có ít nhất một phần tính chất tài chính và trình bày kết quả của nó” Theo Ủy ban thực hành kiểm toán quốc tế: “Một hệ thống kế toán là hàng loạt các nhiệm vụ ở một doanh nghiệp, đơn vị
mà nhờ hệ thống này các nghiệp vụ được xử lý như một phương tiện các ghi chép tài chính”,
Tại Việt Nam, theo Điều 4, Luật Kế toán năm 2003, “Kế toán là việc thu thập,
xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”.
Chức năng của kế toán: Chức năng phản ánh và chức năng giám đốc.
Chức năng phản ánh (chức năng thông tin): Chức năng phản ánh được biểu hiện
ở việc kế toán theo dõi toàn bộ các hiện tượng kinh tế, tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động của đơn vị thông qua việc tính toán, ghi chép, phân loại, xử lý và tổng hợp các dữ liệu liên quan đến hoạt động sử dụng vốn bao gồm cả giai đoạn trước khi thành lập và trong quá trình hoạt động kinh doanh của đơn vị Từ đó, kế toán tiến hành cung cấp thông tin kinh tế cho từng đối tượng kế toán để ra các quyết định quản lý, đầu
tư, cho vay…
Chức năng giám đốc (chức năng kiểm tra): Chức năng giám đốc (giám sát và
đôn đốc) thể hiện ở việc thông qua các số liệu đã được phản ánh, kế toán nắm được một cách có hệ thống toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động của đơn vị, làm cơ sở cho việc đánh giá, kiểm soát chặt chẽ tình hình chấp hành luật pháp, việc thực hiện các mục tiêu
đã đề ra nhằm giúp cho hoạt động mang lại hiệu quả cao
Hai chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: Phản ánh là cơ sở của giám đốc, đồng thời thông qua giám đốc sẽ giúp việc phản ánh được chính xác, rõ ràng và đầy đủ hơn Hai chức năng này được thể hiện bởi một hệ thống các phương pháp của kế toán như chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, ghi sổ kép, tính giá, tổng hợp-cân đối
Lưu ý:
Với hai chức năng phản ánh và giám đốc, kế toán trở thành một công cụ quan trọng trong quản lý của bản thân các đơn vị kế toán Nó cũng rất cần thiết và quan trọng đối với các đối tượng có quyền lợi trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động của HTX như Ngân hàng, Nhà nước, xã viên,
Trang 111.2.2 Tổ chức bộ máy kế toán, vai trò, nhiệm vụ của kế toán trưởng
Tổ chức bộ máy kế toán.
*Yêu cầu của việc tổ chức bộ máy kế toán.
Tổ chức bộ máy kế toán là việc sắp xếp, bố trí, phân công việc cho những người làm công tác kế toán trong đơn vị, sao cho bộ máy kế toán phải phù hợp với quy mô sản xuất, kinh doanh và yêu cầu quản lý DN/HTX
Bộ máy kế toán phải đảm bảo chỉ đạo và thực hiện toàn diện thống nhất và tập trung công tác kế toán, thống kê, thông tin kinh tế của đơn vị
Bộ máy kế toán phải gọn nhẹ, hợp lý, chuyên môn hóa, đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ của kế toán đơn vị
* Nhiệm vụ của bộ máy kế toán.
Thu nhập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công việc
kế toán, theo chuẩn mực và chế độ kế toán
Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, các nghĩa vụ thu, nộp, thanh toán nợ; kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản; phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán
Phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham mưu đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán
Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật
Ngoài ra, bộ máy kế toán còn phải tham gia công tác kiểm kê tài sản, kiểm tra
kế toán, tổ chức bảo quản lưu trữ hồ sơ, tài liệu kế toán theo quy định
* Trách nhiệm của DN/DN/HTX trong việc tổ chức bộ máy kế toán.
DN/DN/HTX phải tổ chức bộ máy kế toán, bố trí người làm kế toán hoặc thuê làm kế toán phải bố trí người làm Kế toán trưởng Trường hợp chưa bố trí được người làm Kế toán trưởng thì phải cử người phụ trách kế toán hoặc thuê người ngoài làm Kế toán trưởng
* Các phương pháp tổ chức bộ máy kế toán.
Tổ chức bộ máy kế toán là việc sử dụng nhân viên kế toán đảm nhiệm các phần việc kế toán bao gồm: việc xác định biên chế đội ngũ và công việc đảm nhiệm của từng
kế toán Đó chính là việc xác định phương pháp tổ chức bộ máy và việc bố trí người làm công tác kế toán trong các DN/DN/HTX
Trang 12Thứ nhất: Tổ chức bộ máy kế toán theo phương pháp trực tuyến: Với phương pháp này, các nhân viên trong bộ máy kế toán của DN/DN/HTX chịu sự chỉ đạo trực tiếp của kế toán trưởng hay người phụ trách kế toán theo sơ đồ sau:
Đặc điểm của phương pháp này:
+ Thông tin kế toán được truyền đạt nhanh, chính xác
+ Tính chuyên môn hoá không cao
+ Thường áp dụng cho các đơn vị có quy mô nhỏThứ hai: Tổ chức bộ máy kế toán theo phương pháp trực tuyến chức năng: Với phương pháp này, thông tin kế toán được truyền đạt thông qua các phòng ban chuyên môn kế toán Khi biểu diễn trên sơ đồ bộ máy kế toán sẽ điều hành như sau:
KẾ TOÁN TRƯỞNG DN/HTX (hoặc người phụ trách kế toán)
Phòng kế toán
tổng hợp
Phòng kế toán Quản trị
Phòng quản trị tàichính
Các kế toán viên (Kế toán các phần hành kế toán)
Trang 13Đặc điểm và điều kiện áp dụng của phương pháp này:
+ Mang tính chuyên môn hoá cao
+ Thường áp dụng cho các đơn vị có quy mô lớnThứ ba : Tổ chức bộ máy kế toán theo phương pháp kinh doanh khu vực: Theo phương pháp này: Kế toán trưởng hoặc người phụ trách kế toán DN/HTX quản lý các đơn vị thông qua trưởng các đơn vị Nếu biểu diễn trên sơ đồ thì bộ máy kế toán sẽ được điều hành như sau: (mô hình hỗn hợp)
Đặc điểm và điều kiện áp dụng của phương pháp này:
+ Mang tính phân cấp cao
+ Thường áp dụng cho các đơn vị có quy mô lớn
* Vai trò của kế toán trưởng
Xuất phát từ vị trí quan trọng của công tác kế toán trong quản lý kế toán, kế toán trưởng có chức năng giúp Chủ nhiệm DN/HTX tổ chức và chỉ đạo toàn diện công tác kế toán, thống kê, thông tin kinh tế và quản lý sản xuất kinh doanh cũng có vị trí đặc biệt quan trọng
Kế toán trưởng chịu sự lãnh đạo của Chủ nhiệm DN/HTX; trường hợp có đơn vị
kế toán cấp trên thì đồng thời chịu sự chỉ đạo và kiểm tra của kế toán trưởng cấp trên về chuyên môn, nghiệp vụ
KẾ TOÁN TRƯỞNG DN/HTX (Người phụ trách kế toán của HTX)
Kế toán viên DN/HTX
(Kế toán các phần hành) Phụ trách kế toán các đơn vị cơ sở
Kế toán viên các đơn
vị cơ sở
Ghi chú:
Chỉ đạo toàn diện
Chỉ đạo nhân sự
Trang 14Trường hợp DN/HTX cử người phụ trách kế toán thay Kế toán trưởng thì người phụ trách kế toán phải có các tiêu chuẩn quy định của người làm kế toán và phải thực hiện nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền quy định cho Kế toán trưởng.
* Nhiệm vụ của Kế toán trưởng
Tổ chức công tác và tổ chức bộ máy kế toán, thống kê gọn nhẹ, phù hợp với tổ chức sản xuất, kinh doanh và yêu cầu quản lý của đơn vị
Tổ chức thu thập xử lý kiểm tra phân tích và cung cấp thông tin chính xác, trung thực, kịp thời, đầy đủ tình hình tài sản, vật tư, tiền vốn quá trình sản xuất kinh doanh, kết quả và phân phối kết quả kinh doanh
Tính toán và trích nộp đầy đủ, kịp thời các khoản phải nộp ngân sách, nộp cấp trên, các quỹ để lại và trả nợ ngân hàng, các khoản nợ khác
Tham gia kiểm kê tài sản, phản ánh kịp thời kết quả kiểm kê và xử lý chênh lệch kiểm kê, chênh lệch thừa thiếu tài sản trong các trường hợp
Lập đầy đủ và nộp đúng hạn các báo cáo tài chính
Tổ chức kiểm tra kế toán trong nội bộ DN/HTX
Phổ biến và hướng dẫn thi hành kịp thời các chế độ, thể lệ tài chính, kế toán, thông tin kinh tế trong DN/HTX
Thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, xây dựng đội ngũ cán bộ nhân viên kế toán DN/HTX
Tổ chức phân tích hoạt động kế toán, đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh, phát hiện những lãng phí và bất hợp lý trong kinh doanh, đề xuất biện pháp phát huy khả năng tiềm tàng trong DN/HTX
Tham gia nghiên cứu cải tiến tổ chức sản xuất, kinh doanh và quản lý, đưa hoạt động của DN/HTX phù hợp với điều kiện mới, không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế
*Kế toán tài chính và kế toán quản trị
Thông tin kế toán phục vụ cho nhiều đối tượng, bao gồm cả đối tượng bên trong
và bên ngoài HTX Mỗi đối tượng cần thông tin ở những mức độ khác nhau Vì thế, kế toán cung cấp thông tin với những mức độ khác nhau Có thể khái quát sơ đồ sử dụng thông tin kế toán của HTX theo sơ đồ sau:
Nhà đầu tư, thành viên góp vốn (xã viên)
Nhà cung cấp
Người lao động Khách
hàng
Trang 15HTX là trung tâm trong việc trao đổi các dòng kinh tế giữa HTX với các đối tác của mình Các đối tượng bên trong HTX (Ban Chủ nhiệm, đại hội xã viên, ) muốn có các thông tin kế toán thường xuyên, liên tục và kịp thời nhưng các đối tượng bên ngoài lại mong muốn những thông tin có giá trị pháp lý, công khai và minh bạch Để đáp ứng các nhu cầu này, kế toán được chia thành 02 loại: Kế toán tài chính và Kế toán quản trị.
Tại Điều 6, Luật Kế toán năm 2003, "Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán".
Tại Điều 7, Luật Kế toán năm 2003: "Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế - tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế - tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán".
Từ hai khái niệm này, chúng ta nhận thấy Kế toán tài chính và Kế toán quản trị cùng tồn tại trong mỗi HTX Cả hai loại này đều là hạch toán kế toán và có mối quan hệ chặt chẽ với thông tin kế toán Tuy nhiên, do mục đích khác nhau nên chúng có nhiều điểm khác biệt Để hiểu rõ hơn, chúng ta cùng xem xét những điểm giống và khác nhau giữa chúng
Phân biệt Kế toán tài chính và Kế toán quản trị
* Giống nhau:
- Đều sử dụng các kỹ thuật của kế toán, trong đó Kế toán quản trị sử dụng số liệu ghi chép ban đầu của Kế toán tài chính
Trang 16- Phản ánh thông tin liên quan đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX Bao gồm: Tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí,
- Số liệu của Kế toán tài chính và Kế toán quản trị đều được xuất phát từ chứng
từ gốc phản ánh các sự kiện kinh tế diễn ra ở HTX
- Thông tin Kế toán tài chính và Kế toán quản trị đều phục vụ cho công tác quản
Phản ánh quá khứChính xác
Tuân thủ nguyên tắc kế toánBiểu hiện dưới hình thức giá trị
Phạm vi báo
cáo
Từng bộ phận, từng khâu, từng công việc
và điều chỉnh phù hợp với nhu cầu và khả năng quản lý của HTX
Kế toán tài chính phải tôn trọng các nguyên tắc
kế toán, phải đảm bảo tính thống nhất theo các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán nhất định để mọi người có cách hiểu giống nhau về thông tin kế toán Báo cáo tài chính và kế toán tài chính phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là những yêu cầu quản lý tài chính
Tính pháp lý Không mang tính pháp
lý
Tính pháp lý cao
1.2.2 Đối tượng nghiên cứu của kế toán
Kế toán nghiên cứu tài sản, nguồn hình thành tài sản và sự vận động của chúng
Cụ thể như sau:
Trang 17* Tài sản
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01: “Tài sản là nguồn lực do HTX kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai Kiểm soát là việc HTX có quyền định đoạt, quyền hưởng lợi và gánh chịu rủi ro liên quan đến nguồn lực kinh tế đó Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản là tiềm năng làm tăng nguồn tiền và các khoản tương đương tiền của HTX hoặc làm giảm bớt các khoản tiền mà HTX phải chi ra”.
Tài sản ngắn hạn: Tài sản ngắn hạn là các tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý
của HTX, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi (hay có thể chuyển đổi thành tiền) trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh bình thường như tiền, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, hàng hoá,…
Tài sản ngắn hạn bao gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn, phải thu, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác
Tài sản dài hạn: Tài sản dài hạn là các tài sản của HTX có giá trị lớn, thời gian
luân chuyển thu hồi dài, lớn hơn 1 năm hoặc hơn 1 chu kỳ kinh doanh như phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, đầu tư tài chính dài hạn, tài sản dài hạn khác
Nguồn vốn (nguồn hình thành tài sản): Nguồn vốn (còn gọi là nguồn hình thành
tài sản của HTX) là toàn bộ nguồn lực HTX huy động để hình thành nên tài sản của mình Căn cứ vào nguồn hình thành (tài trợ), toàn bộ tài sản của HTX được hình thành
từ nguồn vốn của chủ sở hữu (NVCSH) và nợ phải trả
Ví dụ:
Một nhóm 7 người góp vốn với nhau để thành lập HTX Nông nghiệp Tân Tiến vào tháng 4 năm 2011, với tổng số vốn góp dự kiến 800 triệu đồng Các thành viên đã góp vốn bằng một dây chuyền sản xuất trị giá 400 triệu đồng và 400 triệu đồng bằng tiền mặt Tuy nhiên, để có nhiều tiền hơn cho đầu tư, kinh
doanh, HTX đã vay thêm 200 triệu của ngân hàng (vay ngắn hạn) và để nó tại ngân hàng dưới dạng tiền gửi giao dịch
Như vậy, tại tháng 4 năm 2011, HTX Nông nghiệp Tân Tiến có :
Tổng giá trị tài sản = tiền mặt + tiền gửi ngân hàng + dây truyền SX
= 400 +200 + 400 = 1.000 triệu đồng
Số tài sản này được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu (do các xã viên góp) và
Trang 18nguồn vốn vay = Tổng nguồn vốn của HTX.
Tổng nguồn vốn của HTX = 400 triệu + 400triệu +200 triệu =1.000triệu đồng
Nợ phải trả: Theo đoạn 18, Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01: “Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của HTX phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà HTX phải thanh toán bằng các nguồn lực của mình như trả bằng tiền, trả bằng tài sản khác, cung cấp dịch vụ hay thay thế nghĩa vụ này bằng nghĩa vụ khác hoặc chuyển đổi từ nghĩa vụ
nợ phải trả thành vốn chủ sở hữu (vốn góp của xã viên)”.
Nợ phải trả phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua, như mua hàng hoá chưa trả tiền, sử dụng dịch vụ chưa thanh toán, vay nợ, cam kết bảo hành hàng hoá, cam kết nghĩa vụ hợp đồng, phải trả nhân viên, thuế phải nộp, phải trả khác
Nợ phải trả có thể hiểu là số tiền mà HTX đi vay, đi chiếm dụng của các đơn vị, tổ chức cá nhân và do vậy, HTX có trách nhiệm phải trả
Nguồn vốn chủ sở hữu: “Nguồn vốn chủ sở hữu là số vốn mà HTX không phải cam kết thanh toán Nguồn vốn chủ sở hữu có thể do xã viên đóng góp hoặc hình thành
từ lợi nhuận để lại của HTX.
Vốn chủ sở hữu được tính bằng số chênh lệch giữa giá trị tài sản của HTX trừ (-) tổng nợ phải trả” (Đoạn 18, Chuẩn mực Kế toán Việt Nam - Số 01)
Nguồn vốn chủ sở hữu được phản ánh trong Bảng cân đối kế toán, gồm vốn của Nhà đầu tư (xã viên), thặng dư vốn cổ phần (nếu có), lợi nhuận giữ lại, lợi nhuận chưa phân phối, chênh lệch tỷ giá và chênh lệch đánh giá lại tài sản
Ví dụ, để thấy rõ tình hình tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn, nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu của HTX Nông nghiệp Tân Tiến tại thời điểm thành lập HTX, tháng 4 năm 2011, ta có thể lập bảng tài sản và nguồn vốn của HTX Nông nghiệp Tân Tiến vào
tháng 4 năm 2011 như sau: (đơn vị tính: 1triệu đồng)
1.2 Tiền gửi ngân hàng 200
Tài sản cố định (dây truyền SX) 400 Vốn chủ sở hữu 800
(Tiền mặt và Tài sản cố định được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu, tiền gửi ngân hàng được hình thành từ nguồn vốn vay)
Tóm lại:
Trang 19Một tài sản có thể được hình thành từ một hay nhiều nguồn vốn khác nhau Ngược lại, một nguồn vốn có thể tham gia hình thành nên một hay nhiều loại tài sản Tuy nhiên, tài sản và nguồn vốn chỉ là hai mặt khác nhau của một nguồn lực Do đó, về mặt lượng, tổng tài sản bao giờ cũng bằng tổng nguồn vốn Xuất phát từ đó ta có:Tổng Tài sản = Tổng Nguồn vốn
Hay: Tổng Tài sản = Tổng Nợ phải trả + Tổng Vốn chủ sở hữu
* Sự vận động của tài sản
HTX Nông nghiệp Tân Tiến thành lập vào tháng 4 năm 2011 và chúng ta đã xác định được tình hình tài sản, nguồn vốn (nguồn hình thành tài sản) của HTX Tuy nhiên, công việc kế toán không chỉ dừng lại ở đó, vì Ban Chủ nhiệm và những người quan tâm đến tình hình sản xuất kinh doanh của HTX còn muốn có được thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh của HTX Từ những tài sản ban đầu, HTX tiến hành sản xuất kinh doanh, hoạt động sản xuất kinh doanh làm tài sản của HTX thay đổi về cả hình thái và giá trị Để đánh giá sự vận động của tài sản kế toán nghiên cứu doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh
(1) Doanh thu, thu nhập khác
Khái niệm: Theo đoạn 31, Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 01: “Doanh thu và thu nhập khác là tổng giá trị các lợi ích kinh tế HTX thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của HTX, góp phần làm tăng vốn sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu Doanh thu và thu nhập khác là khoản thu về hoặc sẽ thu về được khi hàng hóa, dịch vụ của HTX thực hiện được giá trị hay khi HTX tiêu thụ được hàng hóa, dịch vụ”.
Phân loại: Từ định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy doanh thu và thu nhập có 2
loại:
Doanh thu là các khoản thu về hoặc sẽ thu về phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của HTX, bao gồm: Doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch vụ, cổ tức, lợi nhuận được chia…
Ví dụ:
Ngày 20/05/2011 xuất bán hàng cho HTX Ánh Dương, số lượng 400 thành phẩm
K, đơn giá 185.000đ/chiếc, công ty Ánh Dương chưa thanh toán
Trang 20Doanh thu được xác định bằng số tiền bán hàng không kể đến việc đã thu tiền hay chưa (HTX Ánh Dương chưa thanh toán tiền)
Doanh thu = 400 thành phẩm x 185.000đ = 74.000.000đ
Thu nhập khác là các khoản thu về hoặc sẽ thu về phát sinh từ các hoạt động ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu như thu từ thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng
Ví dụ:
HTX không có chức năng cho thuê văn phòng nhưng do HTX có phòng dôi dư và cho HTX khác thuê làm văn phòng hoặc cửa hàng trong thời gian ngắn thì khoản thu này được gọi là thu nhập khác của HTX
(2) Chi phí
Khái niệm: Theo đoạn 31, Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01: “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”.
Đặc điểm: Chi phí là các khoản HTX đã chi ra và đã sử dụng hết trong kỳ liên
quan đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập cho HTX Ví dụ, khấu hao TSCĐ trong bộ phận sản xuất, bộ phận bán hàng, bộ phận quản lý HTX, tiền lương trả cho công nhân viên trong kỳ, tiền điện, nước, điện thoại trong kỳ…
Phân loại: Có nhiều cách phân loại chi phí, tuy nhiên có thể phân loại chi phí
thành 2 loại cơ bản như sau:
Chi phí sản xuất kinh doanh: Là các khoản chi phí phát sinh trong quá trình hoạt
động kinh doanh thông thường của HTX như giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý HTX, chi phí lãi tiền vay, và những chi phí liên quan đến hoạt động cho các bên khác sử dụng tài sản sinh ra lợi tức, tiền bản quyền,…Những chi phí này phát sinh dưới dạng tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao máy móc thiết bị
Chi phí khác: Bao gồm các chi phí ngoài các chi phí sản xuất, kinh doanh phát
sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiêp như chi phí
về thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, các khoản tiền bị khách hàng phạt do vi phạm hợp đồng…
(3) Kết quả kinh doanh
Trang 21Lợi nhuận là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của HTX Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập khác, chi phí Đây là các chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh doanh của HTX.
Lợi nhuận = (Doanh thu + Thu nhập khác) – (Chi phí sản xuất kinh doanh + chi phí khác)
Lợi nhuận > 0: HTX lãi tăng nguồn vốn chủ sở hữu
Lợi nhuận = 0: HTX hoà vốn nguồn vốn chủ sở hữu không thay đổi Lợi nhuận < 0: HTX lỗ giảm nguồn vốn chủ sở hữu
1.2.3 Các yêu cầu và nguyên tắc kế toán
a Các yêu cầu kế toán
Để kế toán có thể cung cấp được các thông tin kinh tế tài chính cần thiết cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng, các thông tin phải thỏa mãn các yêu cầu bắt buộc Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 01, các yêu cầu này gồm có:
Trung thực: Các thông tin và số liệu phải được ghi chép vào báo cáo trên cơ sở
các bằng chứng đầy đủ, khách quan đúng với thực tế hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo
đúng thực tế không bị xuyên tạc, bị bóp méo
Đầy đủ: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải
được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót
Kịp thời: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép kịp thời, đúng và
trước thời hạn quy định, không được chậm chễ
Dễ hiểu: Các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong báo cáo tài chính phải rõ
ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng Người sử dụng ở đây được hiểu là có hiểu biết về kinh doanh, kinh tế, tài chính, kế toán tài chính ở mức trung bình Thông tin về những vấn đề phức tạp trong báo cáo tài chính phải được giải trình trong phần thuyết minh
Có thể so sánh: Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một
HTX và giữa các HTX chỉ có thể so sánh được khi tính toán và trình bày nhất quán Trường hợp không nhất quán, phải giải trình trong phần thuyết minh để người sử dụng báo cáo tài chính có thể so sánh được thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các HTX hoặc giữa các thông tin thực hiện thông tin dự toán, kế hoạch
Lưu ý: Các yêu cầu trên của công tác kế toán phải được thực hiện đồng thời.
Trang 22Các nguyên tắc kế toán: Mục tiêu của các nguyên tắc kế toán này là chuẩn hoá
mọi việc ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong công tác kế toán, tạo ra sự thống nhất, có thể so sánh được về thông tin kế toán Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số
01, có 7 nguyên tắc kế toán sau:
Cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của HTX liên quan đến tài sản,
nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí được ghi vào sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền
Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của HTX trong quá khứ, hiện tại và tương lai
Hoạt động liên tục: Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là HTX
đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, nghĩa là HTX không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt động hoặc thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình
Trường hợp thực tế khác với giả định hoạt động liên tục, báo cáo tài chính phải lập trên một cơ sở khác và giải thích cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo
Nguyên tắc này nhằm thể hiện tính kế thừa, phát triển liên tục của HTX trong báo cáo tài chính Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc sử dụng các báo cáo tài chính để đánh giá tình hình hoạt động của HTX khi quyết định đầu tư, liên doanh, hợp tác kinh doanh… Từ nguyên tắc này, pháp luật về kế toán sẽ quy định cụ thể
về cơ sở lập báo cáo trong các trường hợp HTX bị giải thể, phá sản, hợp nhất, chia, tách
Giá gốc: Tài sản được ghi nhận theo giá gốc Giá gốc của tài sản được tính theo
số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài
Trang 23sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể.
Ví dụ:
Tháng 7 năm 2011, HTX Nông nghiệp Tân Tiến mua một máy photocopy tại Hải
Phòng với giá 75triệu đồng, tiền thuê vận chuyển từ Hải Phòng về Hà Nội là 2 triệu đồng Như vậy, tổng giá trị của máy photocopy mà HTX đã mua là tổng số tiền đã chi
để có được máy photocopy 75 tr +2 tr =77 triệu
Nguyên tắc phù hợp: Nguyên tắc này đòi hỏi việc ghi nhận doanh thu và chi phí
phải phù hợp với nhau Khi ghi nhận một khoản doanh thu, phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó
Nguyên tắc nhất quán: Các chính sách và phương pháp kế toán HTX đã chọn
phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm Khi HTX bắt đầu một
kỳ kế toán năm, HTX cần phải xác định rõ các khái niệm, chính sách, các nguyên tắc, các chuẩn mực, các phương pháp… mà kế toán sử dụng Điều này đảm bảo tính liên tục, nhất quán, không thay đổi từ kỳ này sang kỳ khác
Mọi thay đổi và ảnh hưởng của nó qua các thời kỳ kế toán đều phải được giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh bài báo cáo tài chính Nguyên tắc này tạo điều kiện sử dụng các tài liệu, báo cáo kế toán và đưa ra nhận xét, đánh giá sự vận động về tài chính của HTX, làm căn cứ để đưa ra các quyết định quản lý
Ví dụ, HTX Nông nghiệp Tân Tiến áp dụng phương pháp bình quân gia quyền để tính trị giá xuất hàng tồn kho, phương pháp này áp dụng thống nhất trong ít nhất một kỳ
kế toán năm
Nguyên tắc thận trọng: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết
để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn Nguyên tắc này đòi hỏi
Trang 24có đảm bảo, ở mức độ có thể, rằng các rủi ro liên quan đến một HTX được phản ánh trong các thông tin kế toán của HTX đó Khi lập dự phòng, nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:
- Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn;
- Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập;
- Không đánh giá thấp nợ và chi phí;
- Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có các bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh
Nguyên tắc trọng yếu:Thông tin được coi là trọng yếu Trong trường hợp nếu
thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệnh đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Tính trọng yếu phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính
Như vậy, theo nguyên tắc này, kế toán phải tiến hành ghi nhận các yếu tố trọng yếu còn các yếu tố không trọng yếu thì kế toán có thể bỏ qua
Yếu tố trọng yếu là các yếu tố mà sự thiếu sót, sai lệch hoặc không chính xác sẽ làm ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thông tin Còn các yếu tố mà sự không chính xác hoặc sai lệch của nó không làm ảnh hưởng đến quyết định của người
sử dụng thông tin
Ví dụ:
Các tài sản có hình thái vật chất đều có sự hao mòn, kể cả tài sản có giá trị nhỏ (như hàng tồn kho) hay tài sản dài hạn, có giá trị lớn (như tài sản cố định) Tuy nhiên, do TSCĐ của HTX có giá trị lớn nên hao mòn TSCĐ là yếu tố trọng yếu
Vì thế, nó được thể hiện thành một chỉ tiêu riêng biệt trên bảng Cân đối kế toán, trong khi đó hao mòn của tài sản hàng tồn kho - với giá trị nhỏ nên được xem xét là yếu tố không trọng yếu
Chứng từ kế toán
Chứng từ kế toán là những giấy tờ và vật mang tin phản ánh nghiệp vụ kinh tế,
tài chính phát sinh và đã hoàn thành, làm căn cứ ghi sổ kế toán (Luật kế toán, điều 4, khoản 7)
Các nội dung bắt buộc của chứng từ kế toán:
Trang 25 Tên gọi và số hiệu của chứng từ kế toán
Ngày, tháng, năm lập chứng từ
Tên, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân lập chứng từ kế toán
Tên, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân nhận chứng từ kế toán
Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh
Số lượng, đơn giá và số tiền của nghiệp vụ kinh tế, tài chính ghi bằng số; tổng số tiền của chứng từ kế toán dùng để thu, chi tiền ghi bằng số và bằng chữ
Chữ ký, họ và tên của người lập, người duyệt và những người có liên quan Ngoài 7 nội dung chủ yếu của chứng từ kế toán nêu trên, chứng từ kế toán có thể
có thêm những nội dung khác theo từng loại chứng từ (theo điều 17 Luật kế toán)
Tài khoản kế toán
Tài khoản kế toán dùng để phân loại và hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế, tài chính theo nội dung kinh tế
Doanh nghiệp vừa và nhỏ, HTX phải căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán của Chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ ban hành theo Quyết định 48/2006/QĐ-BTC
để chọn hệ thống tài khoản kế toán áp dụng ở đơn vị
Đơn vị kế toán được chi tiết các tài khoản kế toán đã chọn phục vụ yêu cầu quản
lý của đơn vị
5.3 Sổ kế toán
Sổ kế toán dùng để ghi chép, hệ thống và lưu giữ toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế, tài chính đã phát sinh theo nội dung kinh tế và theo trình tự thời gian có liên quan đến doanh nghiệp
Doanh nghiệp/HTX được áp dụng 1 trong 4 hình thức kế toán sau:
Hình thức kế toán Nhật ký chung;
Hình thức kế toán Nhật ký - Sổ Cái;
Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ;
Hình thức kế toán trên máy vi tính
Trong mỗi hình thức sổ kế toán có những quy định cụ thể về số lượng, kết cấu, mẫu sổ, trình tự, phương pháp ghi chép và mối quan hệ giữa các sổ kế toán
Trang 26CHƯƠNG 2 KẾ TOÁN NGUỒN VỐN
4.1 Kế toán nguồn vốn chủ sở hữu
Nguồn vốn chủ sở hữu là số vốn mà HTX/DN không phải cam kết thanh toán Nguồn vốn chủ sở hữu có thể do xã viên đóng góp, hình thành từ lợi nhuận để lại của HTX/DN, từ việc nhận vốn góp liên doanh, từ sự hỗ trợ của Nhà nước,…
4.1.1 Nguồn vốn kinh doanh
Nguồn vốn kinh doanh của HTX nông nghiệp được phản ánh trên TK411
“nguồn vốn kinh doanh” TK411 có 5 tài khoản cấp 2:
4111 Nguồn vốn góp của xã viên
4112 Nguồn vốn tích luỹ của HTX
4113 Nguồn vốn nhận liên doanh
4114 Nguồn vốn hỗ trợ đầu tư của Nhà nước
4118 Nguồn vốn khác
Một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu liên quan đến nguồn vốn kinh doanh được hạch toán như sau:
(1) Nhận vốn góp của xã viên (thực nhận), của các bên liên
doanh, căn cứ vào hợp đồng góp vốn, phiếu thu và các chứng
từ liên quan kế toán ghi:
Nợ TK421: Số vốn kinh doanh được bổ sung từ lợi nhuận
Có TK411(4112): Số vốn kinh doanh được bổ sung từ lợi nhuận
(3) Khi nhận được các khoản hỗ trợ của Nhà nước:
Trang 27Nợ 811: số lỗ do chênh lệch giá tài sản (nếu có)
Có TK711 số lãi do chênh lệch giá tài sản (nếu có)
Có TK155,152: Giá xuất kho nguyên vật liệu, hàng hóa, thành phẩm
Hoàn trả bằng tài sản cố định:
Nợ TK411: Số vốn hoàn trả
Nợ 811: số lỗ do chênh lệch giá tài sản (nếu có)
Nợ TK214: Số khấu hao lũy kế của TSCĐ
Có TK711 số lãi do chênh lệch giá tài sản (nếu có)
Có TK211: nguyên giá TSCĐ
Lưu ý:
Trường hợp HTX/DN trả lại vốn góp cho xã viên, bên đối tác góp vốn liên doanh bằng tài sản, tài sản mang trả được hai bên thỏa thuận hoặc thành lập hội đồng đánh giá lại Chênh lệch giữa giá được 2 bên thỏa thuận hoặc được hội đồng đánh giá và giá ghi sổ của tài sản được hạch toán vào chi phí khác hoặc thu nhập khác
4.1.2 Kế toán các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu
a Quy định chung
Các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu của HTX/DN gồm Quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng và các quỹ khác Việc trích lập các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu của HTX/DN phải tuân theo quy định của pháp luật và Điều lệ hoạt động của HTX Mức trích lập các quỹ
do Đại hội xã viên quyết định hoặc theo Điều lệ hoạt động của HTX nhưng không thấp hơn quy định tại Điều 17, Nghị định 177/2004/NĐ-CP ngày 12/10/2004
b Tài khoản sử dụng
Kế toán sử dụng tài khoản 418 “Các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu” để phản ánh
việc trích lập và sử dụng các quỹ thuộc vốn Chủ sở hữu của HTX/DN Tài khoản 418 có
3 tài khoản cấp2:
TK4181-Quỹ phát triển sản xuất kinh doanh
Trang 28TK4182-Quỹ dự phòng
TK4188-Quỹ khác
c Kế toán một số nghiệp vụ chủ yếu
(1) Trích lập các quỹ:
Nợ TK421: số trích lập quỹ từ lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp
Có TK418: số trích lập quỹ từ lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp
(2) Sử dụng Quỹ phát triển sản xuất :
- Sử dụng Quỹ phát triển sản xuất để đầu tư mua sắm, xây dựng TSCĐ:
+ Mua sắm TSCĐ:
Nợ TK211: Giá mua
Nợ TK133: thuế GTGT nếu có
Có TK111,112: tổng giá thanh toán TSCĐ
Đồng thời kết chuyển nguồn vốn đầu tư:
Nợ TK4181: Tổng số tiền đầu tư mua sắm TSCĐ
Có TK411: Tổng số tiền đầu tư mua sắm TSCĐ
+ Đầu tư xây dựng cơ bản để hình thành TSCĐ
Tập hợp chi phí đầu tư xây dựng cơ bản:
Nợ TK241: chi phí đầu tư xây dựng cơ bản
Có TK241: Chi phí đầu tư xây dựng cơ bản
Đồng thời kết chuyển nguồn vốn đầu tư:
Nợ TK4181: Tổng số tiền đầu tư xây dựng TSCĐ
Có TK411: Tổng số tiền đầu tư xây dựng TSCĐ
+ Sử dụng Quỹ phát triển sản xuất để đào tạo bồi dưỡng cán bộ HTX/DN:
HTX/DN được sử dụng quỹ phát triển sản xuất để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trừ những trường hợp, những khoản được Nhà nước hỗ trợ Căn cứ vào số tiền thực tế chi cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, kế toán ghi:
Nợ TK 4181: số kinh phí thực tế chi cho đào tạo, bồi dưỡng
Trang 29Có TK111,112: số kinh phí thực tế chi cho đào tạo, bồi dưỡng
Sử dụng Quỹ phát triển sản xuất để phục vụ công tác khuyến nông: Căn cứ vào
số kinh phí thực tế được phê duyệt, kế toán ghi:
Nợ TK 4811: số kinh phí thực tế chi cho khuyến nông
Có TK111,112,331,334: số kinh phí thực tế chi cho khuyến nông
* Sử dụng quỹ dự phòng: Quỹ dự phòng được sử dụng để bù đắp các thiệt hại do
nguyên nhân bất khả kháng, bù lỗ hoạt động sản xuất, kinh doanh:
4.2.2 Tài khoản kế toán
- Kế toán sử dụng TK311 “Vay” để theo dõi các khoản vay ngắn hạn và dài hạn
của HTX - không bao gồm các khoản vay của xã viên
- TK311 “vay” có 2 tài khoản cấp 2:
Nợ TK 111,112: Khoản tiền vay thực nhận được
Có TK311: khoản vay (nợ gốc) thực nhận được (theo số giải ngân thực tế)
- Phản ánh tài sản cầm cố, nếu có:
Trang 30Nợ TK214: Số hao mòn lũy kế của TSCĐ mang cầm cố - nếu có.
Nợ TK244: giá trị khoản cầm cố- tính theo giá trị còn lại của TSCĐ
Có TK211: nguyên giá TSCĐ mang đi cầm cố
(2) Lãi vay:
- Lãi vay của hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường, trả hàng kỳ:
Nợ TK635: khoản lãi vay hoạt động kỳ này
Có TK111,112: số tiền lãi trả cho bên cho vay
- Lãi vay của hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường, trả trước:
+ Khi trả lãi trước cho bên cho vay, kế toán ghi:
Nợ TK142, 242: chi phí trả trước (lãi vay trả trước)
Có TK111,112: số tiền lãi trả trước
+ Định kỳ kết chuyển chi phí lãi vay đã trả trước vào chi phí kỳ này:
Nợ TK635: số lãi kỳ này
Có TK142,242: số lãi trả trước
- Lãi vay của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản: trong quá trình đầu tư nếu thỏa mãn điều kiện được vốn hóa, chi phí lãi vay trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản được hạch toán vào chi phí đầu tư xây dựng cơ bản:
Nợ TK241: chi phí lãi vay được vốn hóa
Có TK111,112: số tiền lãi vay trả cho bên cho vay
Số không được vốn hóa được tính vào chi phí tài chính như lãi vay cho hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường
Trang 31CHƯƠNG 3 KẾ TOÁN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
Hợp tác xã nông nghiệp là các HTX có các hoạt động đặc thù như khuyến nông, tưới tiêu, phòng trừ sâu bệnh, chế biến nông - lâm sản,… Liệu bạn có ứng dụng được các nội dung kế toán đã học ở các bài trước để kế toán các hoạt động của HTX nông nghiệp?
độ kế toán, Thông tư số 24/2010/TT-BTC ngày 23/02/2010 Hướng dẫn kế toán áp dụng cho HTX nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và nghề muối và các văn bản hướng dẫn hiện hành vào công tác kế toán của các hợp tác xã Nông – Lâm - Ngư - Diêm nghiệp
Trang 325.1 Tính giá các đối tượng kế toán
5.1.1 Khái niệm và các nguyên tắc kế toán ảnh hưởng đến tính giá
Khái niệm:Tính giá là phương pháp kế toán sử dụng thước đo tiền tệ để tính
toán, đo lường và biểu hiện các đối tượng hạch toán kế toán Nói cách khác, tính giá là phương pháp biểu hiện giá trị các đối tượng kế toán bằng tiền phù hợp với các nguyên tắc và các qui định của pháp luật
► Thực chất của việc tính giá là xác định giá trị (số tiền) của hàng hoá, dịch vụ để ghi sổ kế toán
5.1.2 Tính giá các đối tượng kế toán chủ yếu
a Tính giá tài sản, dịch vụ mua ngoài
Tài sản mua ngoài gồm có: Tài sản ngắn
hạn mua ngoài (như nguyên vật liệu, công cụ
dụng cụ, hàng hóa, bán thành phẩm) và tài sản dài
hạn (tài sản cố định), giá trị tài sản mua ngoài
được tính theo nguyên tắc giá gốc - tức là giá tính
đến thời điểm tài sản sẵn sàng sử dụng Vì thế, giá trị tài sản, dịch vụ mua ngoài được tính theo công thức sau:
Giá thực tế
nhập kho =
Giá mua ghi trên hóa đơn
+ Các khoản thuế không
Chi phí thu mua -
Khoản giảm giá hàng muaCác khoản thuế không được hoàn lại là các khoản thuế không được hoàn lại như thuế Nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt,…
Chi phí thu mua bao gồm: Chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản, phân loại, chi phí bảo hiểm, chi phí thuê kho, chi phí của bộ phận thu mua độc lập
Hiểu sự cần thiết của tính giá các đối
tượng kế toán
Hiểu rõ và vận dụng được các nguyên tắc
và qui định về tính giá các đối tượng kế
Tìm đọc Chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 33Khoản giảm giá hàng mua: Là khoản tiền mà người bán đồng ý giảm trên giá bán cho người mua trong trường hợp khi hàng đã mua không đủ chất lượng hoặc sai qui cách, phẩm chất theo yêu cầu của người mua đã đặt ra Hoặc khoản chiết khấu thương mại - là khoản tiền giảm trừ mà người mua được hưởng
khi mua hàng với số lượng lớn hoặc là những khách hàng
thường xuyên
Tuy nhiên, trong quá trình mua tài sản, dịch vụ, có
thể phát sinh các chi phí chung, khi đó, để tinh giá từng
loại tài sản, dịch vụ kế toán phải tiến hành phân bổ các
chi phí chung này Việc phân bổ thường được dựa trên các tiêu thức nhất định như số lượng hàng mua, giá trị hàng mua, với công thức phân bổ như sau:
Mức chi phí phân bổ
cho từng đối tượng =
Tổng chi phí cần phân bổ
x Tiêu thức phân bổ của từng đối tượngTổng tiêu thức phân bổ
Ví dụ: Xem nghiệp vụ số 8 của HTX Nông nghiệp Tân Tiến trong tháng 5 năm 2011
8 Ngày 16/05, mua nguyên vật liệu của công ty Ngọc Anh theo hoá đơn GTGT ngày 16/05, tiền hàng chưa thanh toán Vật liệu A (vải): 100kg, đơn giá chưa có thuế:
700.000đ/kg, thuế GTGT: 10% Vật liệu B: (phụ liệu) giá mua chưa thuế 10.000.000đ, thuế GTGT 10% Chi phí vận chuyển 1.600.000đ đã thanh toán bằng tiền mặt Chi phí vận chuyển phân bổ cho vật liệu chính và vật liệu phụ theo giá trị mua vào thực tế
HTX Nông nghiệp Tân Tiến phân bổ chi phí vận chuyển theo giá trị vật liệu, ta có:
CP Vận chuyển phân
bổ cho vật liệu A
= Tổng CP Vận chuyểnTổng giá trị vật liệu A và B
= 1.600.000(70.000.000+10.000.000)
CP vận chuyển phân
bổ cho vật liệu B = Tổng CP Vận chuyển - CP VC phân bổ cho VL A
= 1.600.000 -1.400.000 = 200.000đNhư vậy:
Giá ghi sổ vật liệu A = 70.000.000 + 1.400.000 = 71.400.000đ
Giá ghi sổ vật liệu B = 10.000.000 + 200.000 = 10.200.000đ
b.Tính giá thành phẩm (sản phẩm HTX tự sản xuất)
Thành phẩm là tài sản do HTX tự sản xuất, chế tạo ra Để sản xuất, chế tạo ra sản phẩm, HTX phải bỏ ra chi phí, gọi là chi phí sản xuất Hiện nay, chi phí sản xuất sản phẩm được phân thành ba khoản mục chi phí là: Nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung
Trang 34Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
-Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ chuyển sang kỳ sau
Đơn giá thành phẩm = Tổng giá thành / số lượng thành phẩm
Trong đó:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là những chi phí về
nguyên vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm,
như: Gỗ trong sản phẩm là đồ gỗ, vải trong sản phẩm là
hàng may mặc,
Chi phí nhân công trực tiếp: Là chi phí về lao động trực
tiếp tham gia vào sản xuất sản phẩm bao gồm tiền
lương và các khoản trích theo lương mà HTX phải chi
trả
Chi phí sản xuất chung: Là các chi phí phục vụ cho sản
xuất sản phẩm trong phạm vi phân xưởng như: tiền
lương của nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí vật
liệu phục vụ cho công tác quản lý phân xưởng, chi phí
công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao nhà xưởng, máy móc
thiết bị, chi phí dịch vụ mua ngoài,
► Nếu có các chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối
tượng tính giá thành kế toán phải phân bổ chi phí này
Cách phân bổ tương tự như phân bổ chi phí phần mua
tài sản, dịch vụ
Sản phẩm dở dang là những sản phẩm đang chế tạo, việc xác định giá của chúng thường mang tính ước tính
Có nhiều phương pháp khác nhau để xác định giá trị sản phẩm dở dang: Theo sản lượng ước tính tương đương, theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, theo 50% chi phí chế biến hoặc phối hợp giữa các phương pháp này với nhau Việc lựa chọn phương pháp nào tuỳ thuộc vào đặc trưng từng HTX, từng doanh nghiệp
c Tính giá xuất kho của hàng tồn kho (HTK)
(1) Đối với các HTX áp dụng phương pháp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ:
Trị giá HTK
xuất trong kỳ =
Trị giá HTK tồn đầu kỳ +
Trị giá HTK nhập trong kỳ -
Trị giá HTK tồn cuối kỳ
Trong đó, trị giá hàng tồn kho cuối kỳ xác định được nhờ kiểm kê kho, trị giá hàng tồn kho nhập trong kỳ xác định trên cơ sở chứng từ mua vào trong kỳ
Trang 35Phương pháp kiểm kê định kỳ: Là phương pháp kế toán hàng tồn kho mà trong
kỳ chỉ theo dõi các nghiệp vụ nhập vào, cuối kỳ tiến hành kiểm kê hàng tồn kho rồi từ
đó xác định giá trị hàng tồn kho xuất trong kỳ như công thức trên
(2) Đối với các HTX áp dụng phương pháp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên:
Phương pháp kê khai thường xuyên: Là phương pháp theo dõi và phản ánh một cách thường xuyên, liên tục tình hình nhập, xuất, tồn kho của hàng tồn kho như nguyên vật liệu, hàng hoá, sản phẩm trên sổ kế toán sau mỗi nghiệp vụ nhập hoặc xuất hàng tồn kho
Theo phương pháp kế toán kê khai thường xuyên, vào mọi thời điểm người ta đều có thể tính được giá trị hàng tồn kho theo công thức dưới đây:
Trị giá HTK
tồn cuối kỳ =
Trị giá HTK tồn đầu kỳ +
Trị giá HTK nhập trong kỳ -
Trị giá HTK xuất trong kỳ
Trong đó:
Trị giá hàng tồn đầu kỳ được chuyển số liệu từ kỳ trước sang;
Trị giá HTK nhập trong kỳ được xác định trên cơ sở nhập thực tế (đã đề cập ở phần tính giá tài sản mua)
Trị giá hàng tồn kho xuất trong kỳ được xác định bằng một trong 4 phương pháp tính giá xuất kho sau đây (Theo CMKTVN số 02):
Phương pháp giá đích danh: Giá trị hàng tồn kho xuất ra thuộc lần nhập kho nào
thì lấy đích danh giá nhập kho của lần nhập đó làm giá xuất kho
Phương pháp đơn giá bình quân: Vào cuối mỗi kỳ kế toán phải xác định đơn giá
bình quân của hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá xuất kho theo công thức sau đây:
Bình quân cả kỳ dự trữ (bình quân cuối kỳ):
Giá đơn vị
bình quân = Giá trị thực tế hàng tồn đầu kỳ
+Giá trị thực tế hàng nhập trong kỳ
Số lượng thực tế hàng tồn đầu kỳ
+ Số lượng thực tế hàng nhập trong kỳ
Bình quân sau mỗi lận nhập (bình quân liên hoàn):
Phương pháp nhập trước xuất trước: Hàng tồn kho xuất ra được tính theo giá
của lô hàng nhập trước nhất, nếu không đủ về mặt số lượng thì lấy tiếp giá của lô hàng
Giá đơn vị bình quân sau
mỗi lần nhập
= Giá trị thực tế hàng tồn kho sau mỗi lần nhập
Số lượng thực tế hàng tồn kho sau mỗi lần nhập
Trang 36nhập vào tiếp theo theo thứ tự từ trước đến sau Nói cách khác, giá thực tế của hàng mua trước sẽ được dùng làm giá để tính giá thực tế hàng xuất trước, vì thế, giá trị hàng tồn kho cuối kỳ sẽ là giá trị thực tế của hàng mua vào sau cùng trong kỳ.
Phương pháp nhập sau xuất trước: Hàng tồn kho xuất ra được tính theo giá của
lô hàng nhập sau cùng, nếu không đủ về mặt số lượng thì lấy tiếp giá của lô hàng nhập trước lô hàng sau cùng và cứ như vậy tính ngược lên theo thời gian Đây là phương pháp ngược với phương pháp nhập trước xuất trước
Ví dụ: Xem nghiệp vụ số 9 trong tháng 5/2011 HTX Nông nghiệp Tân Tiến Ngày 17/8, xuất kho vật liệu A sản xuất sản phẩm K: 100 kg, sản xuất sản phẩm Q: 80kg, phiếu xuất kho số 78
Do HTX Nông nghiệp Tân Tiến áp dụng phương pháp bình quân liên hoàn (bình quân sau mỗi lần nhập) để tính giá vật liệu xuất kho, nên để tính được đơn giá của vật liệu A xuất kho trong kỳ, kế toán phải có số liệu vật liệu tồn đầu kỳ, vật liệu mua trong
kỳ Sau đó áp dụng công thức tính như sau:
Giá xuất kho bình quân
Trị giá vật liệu A xuất dùng cho sản xuất sản phẩm K = 695.000đ/kg x 100kg = 69.500.000đ
Trị giá vật liệu A xuất dùng cho sản xuất sản phẩm Q = 695.000đ/kg x 80kg = 55.600.000đ
Lưu ý
Chuẩn mực kế toán số 02 - Hàng tồn kho, có 4 phương pháp tính giá xuất kho:
Phương pháp đích danh;
Phương pháp bình quân gia quyền;
Phương pháp nhập trước - xuất trước (FIFO);
Phương pháp nhập sau - xuất trước(LIFO)
5.2 Kế toán một số quá trình kinh doanh chủ yếu
Hoạt động sản xuất, kinh doanh của HTX nông nghiệp gồm 2 hoạt động cơ bản,
đó là sản xuất, dịch vụ (sản xuất) hoặc thương mại (kinh doanh) Vì thế, kế toán các hoạt động này cũng gồm hai phần cơ bản: Kế toán sản xuất (áp dụng với sản xuất và
Trang 37dịch vụ nông nghiệp), kế toán thương mại (áp dụng với các hoạt động kinh doanh, mua bán vật tư nông nghiệp, giống cây, con Tuy nhiên, do đặc thù của các hoạt động nông nghiệp là khó xác định đối tượng tập hợp chi phí, đối tượng tính giá thành,… nên nội dung kế toán hoạt động sản xuất, kinh doanh của HTX nông nghiệp sẽ trình bày theo từng hoạt động cụ thể của các HTX
Lưu ý: Thuế Giá trị gia tăng (GTGT)
Thuế GTGT là loại thu đánh trên giá trị gia tăng của hàng hoá dịch vụ HTX chỉ thu thuế hộ Nhà nước rồi nộp cho Nhà nước Có hai phương pháp tính thuế GTGT là phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp.Phương pháp trực tiếp: Thuế GTGT được tính vào giá trị hàng hoá (cả ở khâu mua, khâu bán);
Phương pháp khấu trừ: Thuế GTGT được phản ánh riêng, độc lập với hàng hoá, dịch vụ:
Thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua về: HTX, doanh nghiệp đã trả tiền thuế cho người bán, do đó phải thu lại khoản này từ Ngân sách nhà nước Khoản
phải thu phản ánh trên tài khoản tài sản (TK133 "thuế GTGTđược khấu trừ")
Thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra: HTX, doanh nghiệp thu thuế của người mua,
do đó phải trả lại cho Nhà nước khoản phải trả tài khoản nguồn vốn (TK 333.1 - thuế và các khoản phải nộp Nhà nước)
Cuối kỳ, đối chiếu số liệu giữa khoản phải thu và phải trả này (TK133, TK 333.1 để xác định số tiền thuế phải nộp Nhà nước
5.2.1 Kế toán hoạt động trồng trọt
a Tổng quan về hoạt động trồng trọt
Hoạt động trồng trọt là hoạt động sản xuất trực tiếp của HTX Nếu HTX chỉ làm dịch vụ cho bà con nông dân thì không áp dụng nội dung này (xem phần kế toán dịch vụ)
- Kỳ tính giá thành thường không trùng với kỳ kế toán;
- Đối tượng tập hợp chi phí, tính giá thành là từng cây, từng sản phẩm hoặc từng nhóm từng loại sản phẩm - tùy theo nhu cầu tính giá thành của HTX;
- Trên cùng một diện tích đất, nếu trồng nhiều loại cây thì chi phí cần được tập hợp riêng hoặc phân bổ cho từng loại cây để tính giá thành riêng biệt cho từng loại cây trồng;
Trang 38- Phế phẩm, phế liệu thu hồi từ trồng trọt nếu có giá trị, khoản thu hồi này được trừ ra khỏi chi phí sản xuất trước khi tính giá thành sản phẩm.
- Kế toán sử dụng các tài khoản: TK155, 154, 152, 334,… để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trồng trọt
b Trường hợp trồng cây cho thu hoạch một lần
Quy định chung: Cây trồng cho thu hoạch 1 lần dù ngắn ngày hay dài ngày cũng
tương đương với sản xuất hàng hóa, vì thế kế toán trường hợp trồng cây cho thu hoạch 1 lần tương tự kế toán sản xuất Toàn bộ chi phí từ mua giống, trồng trọt, chăm sóc, thu hoạch,… đều được tính vào giá thành sản phẩm
Tập hợp chi phí: Chi phí được tập hợp từ khi bắt đầu trồng trọt đến khi thu
hoạch Dù HTX tự tổ chức trồng trọt hay giao khoán cho các hộ tổ chức trồng trọt thì việc tập hợp chi phí sản xuất cũng như nhau Toàn bộ chi phí phát sinh cho trồng trọt được tập hợp vào chi phí sản xuất (TK154), kể cả chi phí phát sinh trực tiếp ở HTX hay chi phí phát sinh ở các tổ, độ, hộ xã viên
Đến cuối kỳ kế toán vẫn chưa được thu hoạch thì toàn bộ chi phí trồng trọt được xác định là chi phí sản xuất dở dang và kết chuyển sang kỳ sau
Giá thành sản phẩm: Khi thu hoạch, kế toán xác định giá thành sản xuất như sau:
+
Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
- Phế liệu thu hồi (nếu có)
Giá trị sản phẩm dở dang: Giá trị sản phẩm cuối kỳ trước chuyển sang là tổng
chi phí trồng trọt tính từ khi bắt đầu trồng đến cuối năm (cuối niên độ kế toán trước) được chuyển sang kỳ này Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ trước chuyển sang chỉ phát sinh khi cây được trồng từ năm trước (cuối năm trước) Giá trị sản phẩm dở dang cuối
kỳ này là toàn bộ chi phí trồng trọt, chăm sóc đã phát sinh mà chưa thu hoạch nông sản
Lưu ý
Tự trồng trọt là việc HTX tự tổ chức quá trình trồng trọt: Từ việc mua, sản xuất cây giống đến việc chăm sóc, thu hoạch Với việc tự tổ chức thực hiện quá trình trồng trọt, hợp tác xã sẽ phát sinh các chi phí liên quan như chi phí mua cây giống, chi phí nhân công cho việc trồng và chăm sóc, bảo vệ thực vật,… thu hoạch, bán sản phẩm.Khoán cho các hộ, tổ trồng trọt là trường hợp các HTX không trực tiếp sản xuất mà chỉ là đầu mối tổ chức thức hiện, các hoạt động trồng trọt, chăm sóc, bảo vệ thực
Trang 39vật, thu hoạch đều do các hộ, tổ thực hiện HTX là người cung cấp giống, kỹ thuật, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón,… và thu lại nông sản
Toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình trồng trọt được hạch toán vào TK154
“Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang”):
+ Mua cây giống:
Nợ TK154: Giá mua
Nợ TK133: Thuế GTGT nếu có
Có TK111,112,331
+ Chi phí chăm sóc, bảo vệ thực vật, thu hoạch:
Nợ TK154: Chi phí chăm sóc trong quá trình trồng trọt
Nợ TK133: Thuế GTGT (nếu có)
Có TK112,111,334,… Chi phí chăm sóc trong quá trình trồng trọt
+ Phế phẩm, sản phẩm phụ trong quá trình trồng trọt thu được:
NợTK152: Giá trị sản phẩm phụ, phế phẩm thu được ước tính (chưa bán)
Nợ TK111,112: Giá trị sản phẩm phụ, phế phẩm bán thu được
Có TK154: Giá trị sản phẩm phụ, phế phẩm thu được, được trừ ra khỏi giá thành+ Giá thành sản xuất (cách tính như đã hướng dẫn ở đầu mục này):
Nợ TK632: Giá vốn nông sản bán được
Có TK155: Giá vốn nông sản bán được
c.Trường hợp trồng cây một lần cho thu hoạch nhiều lần
(1) Quy định chung:
Trồng cây cho sản phẩm nhiều lần được chia thành 2 giai đoạn: Giai đoạn 1, từ khi bắt đầu trồng trọt đến khi cho thu hoạch lần đầu Giai đoạn thu hoạch - tính từ lần thu hoạch đầu tiên
Trang 40Cây con Cây trưởng
thành
Cây cho sản phẩm
Cây cho sản phẩm
♣
Giai đoạn 1: Trồng trọt và chăm sóc Nếu giá trị cây trồng lớn, thỏa mãn là tiêu chuẩn là tài sản cố định, toàn bộ chi phí giai đoạn 1 được tập hợp trên tài khoản “Chi phí xây dựng cơ bản dở dang” Đến cuối giai đoạn 1, khi cây trồng cho sản phẩm lần đầu thì toàn bộ chi phí giai đoạn 1 được kết chuyển từ “Chi phí xây dựng cơ bản dở dang” sang tài khoản “Nguyên giá tài sản cố định” Nếu giá trị cây trồng không thỏa mãn tiêu chuẩn là tài sản cố định, toàn bộ chi phí giai đoạn 1 được tập hợp vào “chi phí trả trước”.
Giai đoạn 2: Thu hoạch Giai đoạn này cây trồng cho sản phẩm và kế toán có
nhiệm vụ tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm Giá thành sản phẩm được xác định bằng tổng chi phí chăm sóc giai đoạn này cộng (+) với một phần chi phí của giai đoạn trước được phân bổ sang hoặc khấu cho giai đoạn này
(2) Cây trồng là tài sản cố định: Là cây trồng có giá trị lớn, thỏa mãn tiêu chuẩn
là tài sản cố định, ví dụ cây cao su, cây hồi, cây quế,… Kế toán các trường hợp cụ thể như sau:
Giai đoạn 1: Trồng trọt, chăm sóc:
Nợ TK241: Toàn bộ chi phí mua cây giống, chăm sóc,…
Nợ TK133: Thuế GTGT nếu có
Có TK111,112,331, 334
Giai đoạn 2: Giai đoạn thu hoạch:
- Kết chuyển giá trị giai đoạn 1 thành tài sản cố định:
Nợ TK211: Tổng chi phí giai đoạn 1
Có TK241: Tổng chi phí giai đoạn 1
- Tập hợp chi phí chăm sóc vụ thu hoạch:
Giai đoạn trồng trọt
Giai đoạn thu hoạch