Phân tích mối quan hệ giữa trình độ thể lực chung và kết quả học tập môn GDTC nội khóa của nữ sinh viên trường đại học Dân Lập Thăng LongĐể phân tích mối quan hệ giữa trình độ thể lực ch
Trang 1KẾT QUẢ NGHIÊN CỨUĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ CHẤT CỦA NỮ
SINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP THĂNG LONG.
3.1 Đánh giá trình độ thể lực chung của nữ sinh trường Đại học Dân Lập Thăng Long.
Ngày nay, đánh giá trình độ thể lực chung được nhiều tác giả trong vàngoài nước xem xét trên 3 mặt: Về mặt hình thái học (các chỉ số bên ngoài cơthể); các chỉ số về chức năng (trạng thái chức năng của các hệ cơ quan trong
cơ thể như hô hấp, tuần hoàn) và các chỉ số biểu thị tố chất thể lực chung baogồm: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, độ dẻo và sự khéo léo (xem bảng 3.2).Trên bảng 3.2 trình bày các số liệu đo được từ nghiên cứu
Để đánh giá trạng thái chức năng, chúng tôi lựa chọn 2 chỉ số dung tíchsống (lít) và chỉ số Harvard, các chỉ số hình thái được chọn là chiều cao (cm),cân nặng (kg); chu vi lồng ngực (cm), chỉ số Pinhê Các tố chất thể lực chungđược đánh giá gồm 6 test (bài thử): sức nhanh (chạy 50m); sức bền C(chạy500m); sức mạnh (bật xa tại chỗ, nằm sấp chống đẩy); độ dẻo (gập với sâu vềtrước) và khéo léo (phối hợp động tác)
3.1.1.Đánh giá trạng thái chức năng cơ thể:
a)Về dung tích sống: Trị số dung tích sống thay đổi theo năm học, thayđổi lớn nhất là từ năm thứ nhất đến năm thứ hai Nếu năm thứ nhất, dung tíchsống trung bình của nữ sinh là 2,54 lít - 0,16, thì ở năm thứ hai là 5,65 lít -0,13 Năm thứ ba, giảm đi là 2,54 lít - 0,14 và ở năm thứ tư dung tích sốngtrung bình đạt 2,55 lít - 0,19 Khi so sánh thống kê học chỉ thấy khác biệt có ýnghĩa thống kê giữa nhóm nữ sinh viên năm thứ nhất so với năm thứ hai, tínhđược t = 2,18, P < 0,05 (5%) các trường hợp còn lại có khác biệt theo chiềugiảm dần, song không đạt được độ tin cậy thống kê cần thiết, t < 2, P > 5%
b)Chỉ số Harvard (công năng tim):
Cũng giống như ở các chỉ số dung tích sống; chỉ số Harvard tăng chủyếu từ năm thứ nhất đến năm thứ hai, nghĩa là từ 64,80 - 3,88 (nhóm nữ sinhnăm thứ nhất) đến 73,10 - 3,77 (nhóm nữ sinh năm thứ hai) Sau đó, các chỉ số
Trang 2này giảm dần 68,95 - 4,05 (nhóm nữ sinh năm thứ ba); 66,36 - 4,16 (năm thứtư) Về mặt thống kê, chỉ thấy sự khác biệt có ý nghĩa giữa năm thứ hai so vớinăm thứ tư, giá trị tính được là t = 2,85; P < 0,05.
Các chỉ số còn lại của các năm không thấy sự khác biệt nhau (P > 0,05Điều đáng lưu ý là: Chỉ số công năng tim ở mức dưới trung bình của đầu nămthứ nhất (64,80 < 65), cuối năm thứ hai đã đạt xấp xỉ mức trung bình 73,10 sovới 74 của bảng phân loại công năng tim Các chỉ số này ở cuối năm thứ ba vàcuối năm thứ tư đều trở về mức thấp của trung bình
3.1.2 Các chỉ số hình thái.
Trong 4 chỉ số hình thái, chiều cao, cân nặng, chu vi lồng ngực, và chỉ
số Pinhê có 3 chỉ số có khác biệt rõ giữa các nhóm sinh viên năm thứ nhất vớisinh viên năm thứ hai Thí dụ, về cân nặng: Nếu ở nhóm nữ sinh năm thứ nhấttrọng lượng cơ thể trung bình là 43,96 kg ± 3,84, thì năm thứ hai trọng lượngtrung bình là 46,67 kg ± 3,10 Về chu vi lồng ngực ở năm thứ nhất số đo trungbình của nhóm là 74,38 cm ± 2,52, ở năm thứ hai là 78,16 cm ± 3,05 Chỉ sốPinhê tính được ở nhóm nữ sinh năm thứ nhất P = 35,77 ± 3,37, xếp loại yếuthì ở năm thứ hai P = 32,26 ± 2,80, xếp loại sức khoẻ trung bình Sau đó, ở cácnăm thứ ba và thứ tư, chỉ số Pinhê của các nhóm nữ sinh lại tăng đến 33,80 ±3,44 (năm thứ ba) và 34,92 ± 3,27 (năm thứ tư) Trong 4 chỉ số kể trên sự khácbiệt thống kê chỉ thấy ở 3 chỉ số hình thái là cân nặng, chu vi lồng ngực và chỉ
số Pinhê Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê chỉ thấy giữa năm thứ hai với nămthứ nhất, tương ứng là: về cân nặng giá trị tính được là t = 2,75, P < 5%; vềchu vi lồng ngực giá trị t = 3,40, P < 1% và chỉ số Pinhê giá trị t = 2,76, P <0,05
Như vậy: Chỉ số hình thái cũng giống như chỉ số công năng sự khác biệtchủ yếu diễn ra giữa năm thứ hai so với năm thứ nhất
3.1.3.Các tố chất về thể lực chung:
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trên bảng 2 trong 6 bài thử, có 4 bài thử cókhác biệt rõ giữa năm thứ hai so với năm thứ nhất là các bài thử bật xa tại chỗ,
Trang 3nằm sấp chống đẩy (đánh giá sức mạnh); bài thử tập với sâu (đánh giá độ dẻo)
và bài thử phối hợp động tác (đánh giá sự khéo léo) Các bài thử chạy 50mđánh giá sức nhanh và chạy 500m đánh giá sức bền có khác biệt về hình thức,song về thống kê học không thấy khác biệt có ý nghĩa thống kê
- Ở chỉ số bật xa tại chỗ: nếu năm thứ nhất thành tích trung bình của nữsinh đạt được là 155,60 cm ± 5,8, thì ở năm thứ hai thành tích trung bình là166,17 cm ± 4,48, có giá trị t = 3,57, P < 0,01 (1%)
- Ở bài thử nằm sấp chống đẩy: Nếu thành tích trung bình ở năm thứnhất là 8,90 lần ± 2,16 thì ở năm thứ hai đạt được 12,35 lần ± 3,05 có giá trị t =3,84; P < 0,01 (1%)
- Ở bài thử gập với sâu: Thành tích trung bình năm thứ nhất là 14,65 cm
± 5,06 thì ở năm thứ hai thành tích trung bình của nhóm là 2,26 cm ± 4,45, cógiá trị t = 3,90, P < 0,01 (1%)
- Ở bài thử phối hợp động tác: Thành tích trung bình ở năm thứ nhất đạtđược là 6,67 điểm ± 1,80, ở năm thứ hai là 7,85 điểm ± 0,67, có giá trị t =2,25 P < 0,05 (5%)
Như vậy đối với các tố chất thể lực chung, trong số 5 tố chất, chỉ có sứcmạnh, độ dẻo, sự khéo léo có khác biệt giữa năm thứ nhất và năm thứ hai; hai
tố chất là sức nhanh, sức bền chỉ khác biệt về mặt hình thức, chưa thấy sự khácbiệt có ý nghĩa thống kê; ở các năm sau các chỉ số thu được cả 5 tố chất đều có
xu hướng giảm dần so với năm thứ hai, song không thấy sự khác biệt có ýnghĩa thống kê
Nhận xét sơ bộ: Từ kết quả nghiên cứu đánh giá trình độ thể lực chungcủa nữ sinh có thể nhận thấy:
- Sự khác biệt đều xảy ra ở các mặt trạng thái chức năng, chỉ số hìnhthái và tố chất thể lực chung
- Song sự khác biệt diễn ra rõ hơn giữa năm thứ hai so với năm thứ nhất
Đa số các chỉ số tính được của năm thứ hai đều hơn hẳn năm thứ nhất và có ýnghĩa thống kê từ mức 5% - 1%
Trang 4- Các năm học tiếp theo (năm thứ ba và năm thứ tư) các chỉ số về cơnăng, hình thái cơ năng, các tố chất thể lực chung đều có xu hướng giảm dầntrở lại mức ban đầu khi chưa tập luyện TDTT.
- Nguyên nhân của sự giảm thấp các chỉ số hình thái, cơ năng tố chất thể lựcchủ yếu do sau học kỳ 5 sinh viên ít tập luyện TDTT thường xuyên
Trang 5Bảng 3.1: Kết quả trình độ thể lực chung của nữ sinh viên đại học Dân Lập Thăng Long (n = 216)
Chiều cao (cm)
Cân nặng (kg)
Chu vi vòng Ngực (cm)
Pinhê
Chạy 50m (giây)
Chạy 500m (phút)
Bật xa tại chỗ (cm)
Nằm sấp chống đẩy (lần)
Gập với sâu (cm)
Phối hợp động tác (điểm)
Trang 63.2 Kết quả phỏng vấn nữ sinh viên Đại học Dân Lập Thăng Long.
Trước khi tiến hành đánh giá trình độ thể chất, chúng tôi tiến hànhphỏng vấn nữ sinh viên trường đại học Dân Lập Thăng Long Tổng số ngườiđược phỏng vấn là 216 người, bao gồm 58 người năm thứ 1; 48 người năm thứ2; 56 người năm thứ 3 và 54 người năm thứ 4 Các nữ sinh viên nói trên đượctrực tiếp kiểm tra phát triển thể chất, kết quả thể hiện ở bảng 3.1
Câu hỏi thứ nhất: Sinh viên tự đánh giá tình hình sức khỏe của bản thân
Có 5 mức đánh giá: rất tốt, tốt, trung bình, kém và rất kém Kết qủa như sau:Rất tốt có 16 người, chiếm tỷ lệ 7,40% Tốt có 34 người trả lời, chiếm tỷ lệ15,74% Trung bình có 85 người trả lời, chiếm tỷ lệ 40,7% Kém có 70 ngườitrả lời, chiếm tỷ lệ 32,40% Rất kém có 8 người trả lời, chiếm tỷ lệ 3,7% Nhưvậy, số tự đánh giá sức khỏe tốt trở lên có 23,16% Mức trung bình trở xuống
có 78,64% Trong đó, mức kém và rất kém chiếm 36,10%
Câu hỏi thứ hai: Về nguyên nhân của tình hình sức khỏe ở mức trungbình, yếu kém, chúng tôi chỉ tiến hành phỏng vấn câu hỏi này ở 166 ngườithuộc diện trên Các nguyên nhân được liệt kê gồm: Do giờ nội khóa ít (chỉ có
1 lần trong tuần), do không có thời gian tập ngoại khóa, do không có ngườihướng dẫn, do cơ sở vật chất dụng cụ tập luyện thiếu, do thiếu thông tin và tàiliệu tham khảo, do không quy định về tiêu chuẩn kiểm tra thể lực, do bệnh tật,
do bản thân lười biếng Kết qủa thu được như sau: Có 140/166 người cho rằnggiờ nội khóa 1 tiết/tuần là rất ít, chiếm tỷ lệ 84,33%; nguyên nhân không cóthời gian nhàn rỗi để tập ngoại khóa, có 135 người trả lời, chiếm tỷ lệ 81,32%;nguyên nhân do cơ sở vật chất, dụng cụ tập luyện thiếu có 147 người trả lời,chiếm tỷ lệ 88,05%; nguyên nhân thiếu người hướng dẫn tập luyện có 133người trả lời, chiếm tỷ lệ 80,12%; nguyên nhân thiếu thông tin và tài liệu thamkhảo có 150 người chiếm tỷ lệ 90,36%; nguyên nhân bộ môn GDTC khôngquy định kiểm tra thể lực trong năm học là 146 người chiếm tỷ lệ 87,95 Nhưvậy, 6 nguyên nhân nói trên được sinh viên trả lời khá tập trung có tỷ lệ phầntrăm cao đều từ 80,12 đến 90,36% Riêng hai nguyên nhân do bản thân lười
Trang 7tập luyện và do bệnh tật chiếm tỷ lệ rất thấp tương ứng là 9,63% và 3,61% Do
đó, có thể khẳng định là sinh viên đa số có nhận thức đúng đắn với việc pháttriển thể lực, rất ít sinh viên lười biếng Điều này, sẽ được thể hiện ở câu hỏithứ 3
Câu hỏi thứ 3: Nhận thức của sinh viên về việc nâng cao sức khỏe vàphát triển thể lực Có bốn mức độ được đặt ra: rất quan trọng, quan trọng, bìnhthường và không quan trọng Ý kiến thu được như sau: có 80 sinh viên trả lời
là rất quan trọng, chiếm tỷ lệ 37,03%; mức quan trọng có 116 sinh viên, chiếm
tỷ lệ 53,70%; mức bình thường có 14 sinh viên, chiếm tỷ lệ 6,48% và mứckhông quan trọng có 6 sinh viên, chiếm tỷ lệ 2,77% Như vậy, tỷ lệ 90,73% sốngười được hỏi có mức quan trọng trở lên Các nhận thức khác, chiếm tỷ lệthấp là 9,25%
Câu hỏi thứ 4: Về nguỵên vọng của sinh viên với công tác GDTC trongnhà trường Chúng tôi chuẩn bị 8 phương án gồm: nghiên cứu tăng chất lượnggiờ nội khóa; tăng cường giờ học ngoại khóa (nhất là ngoại khóa bắt buộc);đảm bảo sân bãi dụng cụ tập luyện đầy đủ; thường xuyên cung cấp thông tin,tài liệu tham khảo; quy định bắt buộc kiểm tra thể lực hàng năm; có ngườihướng dẫn tập luyện; xây dựng CLB thể thao môn tự chọn và tổ chức các giảitthi đấu thể thao thường xuyên Kết quả thu được từ phỏng vấn sinh viên có198/216 sinh viên trả lời cần tăng các giờ ngoại khóa bắt buộc, chiếm tỷ lệ91,66% Nguyện vọng xây dựng CLB thể thao môn tập tự chọn cóa 196 người,chiếm 90,74% Có 184 người đề nghị nên thường xuyên tổ chức các giải thiđấu thể thao chiếm tỷ lệ 85,18% Có 160 người mong muốn nâng cao chấtlượng các giờ tập luyện các giờ thể dục nội khóa, tỷ lệ 74,07% Có 153 người
đề nghị được cung cấp thông tin, tài liệu tham khảo về bài tập và phương pháptập chiếm 70,83% Các nguyện vọng đảm bảo về sân bãi dụng cụ tập luyện, cóquy định bắt buộc kiểm tra thể lực hàng năm, có người hướng dẫn tập luyện,
có tỷ lệ phần trăm tương đối cao (từ 60,18% đến 68,05%)
Trang 8Câu hỏi thứ 5 : Về việc lựa chọn môn thể thao tự chọn do phần đôngsinh viên là nữ cho nên các nữ sinh đều mong muốn được tập luyện các mônthể thao phù hợp với giới tính và trình độ sức khỏe Vì vậy, các ý kiến trả lời
đã phản ánh đúng nguyện vọng của nữ sinh với việc tập luyện môn thể thao tựchọn sau khi kết thúc chương trình TDTT nội khóa ở học kỳ 5 (năm thứ 3)
Môn thể thao được lựa chọn đông nhất là môn Thể dục tổng hợp cổtruyền, có 195/216 người tán thành, chiếm tỷ lệ 90,27% ; Môn có nguyện vọngthứ hai là môn cầu lông, có 150 nữ sinh đồng ý, chiếm tỷ lệ 62,96%; Mônbóng bàn chiếm vị trí thứ ba, có 136 người nhất trí, chiếm tỷ lệ 62,96% ; Haimôn còn lại cũng được nữ sinh ưa thích có tỷ lệ số ý kiến tán thành trên 50%
là các môn võ có 123 em có nguyện vọng, chiếm 56,94% và môn bơi lội có
114 sinh viên lựa chọn, chiếm 52,77% Các môn còn lại là các môn bóng nhưbóng đá, bóng rổ, bóng chuyền có tỷ lệ lựa chọn thấp (từ 16 - 38%)
Câu hỏi thứ 6: Ý kiến về số buổi tập môn thể thao tự chọn trong tuần.Trong các phương án trả lời, xếp theo trình tự từ 1 buổi và từ 4 buổi trở lên, ýkiến trả lời như sau: Tập 3 buổi/tuần được nhiều người lựa chọn hơn cả có148/216, chiếm tỷ lệ 58,61% Số buổi tập là 2, có 46 người đồng ý, chiếm tỷ lệ21,99%, số buổi tập 1 và 4 buổi trở lên, có tỷ lệ phần trăm trả lời thấp, tươngứng là 8,33 và 1,85%
Bảng 3.2 Kết qủa phỏng vấn nữ sinh viên trường Đại học Dân Lập Thăng
7,4015,7440,74
Trang 92
Nguyên nhân dẫn đến sức khỏe trung bình,
yếu kém
-Do giờ nội khóa ít thời gian
-Do không có thời gian ngoại khóa
-Do cơ sở vật chất, dụng cụ tập thiếu
-Do thiếu người hướng dẫn
-Do thiếu thông tin và tài liệu
-Do lười tập luyện
-Do không quy định kiểm tra thi lại
-Do bệnh tật
140135147133150161466
84,3381,3268,0580,1290,369,6387,953,61
Phỏngvấn 166ngườithuộcdiệnsứckhỏenày
37,0353,706,482,77
Trang 10Nguyện vọng với công tác GDTC
-Nâng cao chất lượng giờ nội khóa
-Tăng giờ ngoại khóa bắt buộc
-Đảm bảo sân bãi, dụng cụ tập luyện đủ
-Cung cấp thông tin, tài liệu tham khảo
- Quy định kiểm tra thể lực bắt buộc
-Có người hướng dẫn tập
-Xây dựng CLB TDTT, môn tự chọn
-Tổ chức giải thi đấu thể thao
160198147153141130196184
74.0791,6668,0570,8365,2760,1890,745,18
5 Lựa chọn môn thể thao tự chọn
90,2718,9816,6638,8836,1152,7
Trang 11756,9469,4462,967,40
8,3321,9968,511,85Nhận xét: Từ kết quả phỏng vấn nữ sinh viên về các vấn đề có liên quanđến trạng thái thể lực và nguyện vọng phát triển thể lực của nữ sinh, thấy tìnhhình sức khỏe thể lực của nữ sinh trường đại học Dân Lập Thăng Long Hà nội
đa số ở mức trung bình và dưới mức trung bình Nhất là số có tình hình sứckhỏe yếu kém tương đối lớn (36,10%) Nguyên nhân của tình hình sức khỏenói trên có rất nhiều (6/8 nguyên nhân đặt ra trong phiếu phỏng vấn) Tuynhiên, sinh viên ngày nay đã nhận thức rõ vai trò của việc nâng cao sức khỏephát triển thể lực Đa số được mong muốn có giờ tập luyện thêm TDTT; đượcxây dựng thêm các CLB TDTT tự chọn; được tổ chức thường xuyên các giảithi đấu; được nâng cao chất lượng các giờ thể dục nội khóa, cung cấp thông tin
và tài liệu tham khảo Các môn tự chọn ở hai năm học cuối cùng được đa số nữsinh lựa chọn là môn Thể dục tổng hợp cổ truyền, (90,27%) và một số môn tậphợp với sức khỏe và giới tính, đó là cầu lông, bóng bàn Đa số nữ sinh mongmuốn có 3 buổi tập/tuần (68,51%) ý kiến Điều này, hoàn toàn phù hợp với sốbuổi tập luyện trong một tuần để nâng cao sức khỏe
Trang 123.3 Phân tích mối quan hệ giữa trình độ thể lực chung và kết quả học tập môn GDTC nội khóa của nữ sinh viên trường đại học Dân Lập Thăng Long
Để phân tích mối quan hệ giữa trình độ thể lực chung và kết quả học tậpmôn GDTC trong chương trình nội khóa, chúng tôi tính hệ số tương quan giữacác chỉ số chức năng, hình thái, các tố chất thể lực cơ bản (đã nghiên cứu ởchương 3) với kết quả học tập môn học GDTC mà nữ sinh viên đạt được trongquá trình học tập, ở năm thứ nhất và năm thứ hai, kết quả học tập là điểm thimôn GDTC cuối năm, vào thời điểm đánh giá trình độ thể lực chung Riêngnăm thứ ba vì cuối học kỳ 5, sinh viên kết thúc môn GDTC, nên tôi lấy điểmhọc tập môn GDTC vào thời điểm cuối học kỳ này
3.3.1.Mối tương quan giữa trình độ thể lực chung và kết quả học tập môn GDTC của nữ sinh năm thứ nhất,
Phân tích kết quả nghiên cứu cho thấy:
a)Về trạng thái chức năng: Hai chỉ số dung tích sống và công năng tim
có tương quan ở mức trung bình với thành tích học tập môn GDTC nội khóa,tương ứng r = 0,605 và 0,589
b)Về hình thái cơ thể: Trong số 4 chỉ số là chiều cao, cân nặng, chu vilồng ngực và chỉ số Pinhê, thấy có 3 mối tương quan đồng biến ở mức trungbình với thành tích học tập môn GDTC nội khóa Đó là cân nặng, chu vi vòngngực và chỉ số Pinhê, tương ứng là 0,610; 0,570 và 0,562, trừ chỉ số này ảnhhưởng không nhiều tới kết quả thuận với thành tích học tập, có thể là chỉ sốnày ảnh hưởng không nhiều tới kết quả học tập môn học GDTC có trongchương trình nội khóa (Xem bảng 3.3)
c)Về các chỉ số tố chất thể lực chung:
Trong số 6 bài thử biểu thị 5 tố chất thể lực cơ bản là sức nhanh, sứcmạnh, sức bền, độ dẻo và sự khéo léo, thì 5/6 bài thử có tương quan đồng biếnvới kết quả học tập môn GDTC Đó là chạy 50m r = 0,554; chạy 500m r =0,548; bật xa tại chỗ r = 0,720; nằmg sấp chống đẩy, r = 0,625; phối hợp động
Trang 13tác, r = 0,572 Chỉ có một trường hợp ở bài thử gập dẻo trước, mối tương quanthu được ở mức dưới trung bình r = 0,401.
Như vậy: Qua phân tích 12 hệ số tương quan giữa trạng thái chức năng,hình thái cơ thể và tố chất thể lực chung với kết quả thi môn GDTC ở cuốinăm thứ nhất thì 10/12 chỉ số thu được mối tương quan đồng biến với kết quảhọc tập mon GDTC nội khóa, trong đó bật xa tại chỗ có mối tương quan cao r
= 0,72
Nhận xét: Từ kết quả phân tích tương quan có thể nhận thấy giữa các chỉ
số biểu thị trình độ thể lực chung với kết quả học tập môn GDTC ở năm thứnhất đa số các trường hợp tính được biểu thị mối tương quan thuận r đạt từ0,50 trở lên
Bảng 3 3: Mối tương quan giữa trình độ thể lực chung và kết quả học tập
môn GDTC của nữ sinh năm thứ nhất (n = 216)
với kết quả học tập Ghi chú
Điểm thi GDTC cuốihọc kỳ 2, năm thứ nhất
Điểm thi GDTC cuốihọc kỳ 2, năm thứ nhất
Điểm thi GDTC cuốihọc kỳ 2, năm thứ nhất
Trang 15TRẠNG THÁI CHỨC NĂNG MTQ HÌNH THÁI CƠ THỂMTQ TỐ CHẤT THỂ LỰCBIỂU ĐỒ1: MỐI TƯƠNG QUAN TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC CHUNG VỚI KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN GDTC NĂM THỨ 1
Trang 163.3.2 Mối tương quan giữa trình độ thể lực chung và kết quả học tập môn GDTC của nữ sinh viên năm thứ hai.
Kết quả được trình bày trên bảng 3.4 và sơ đồ kèm theo Phân tích kếtquả nghiên cứu cho thấy:
a)Trạng thái chức năng:
Khác với năm thứ nhất, ở năm thứ hai chỉ số dung tích sống và côngnăng tim có mối tương quan cao với kết quả học tập môn GDTC: chỉ số dungtích sống r = 0.750, chỉ số công năng tim r = 0.767
b)Về hình thái cơ thể:
Trong số 4 chỉ số hình thái có tương quan đồng biến mức cao với kếtquả học tập môn GDTC, đó là chỉ số cân nặng r = 0.718; chu vi vòng ngực r =0.695 và chỉ số Pinhê r = 0.645 Trừ chỉ số chiều cao, cũng giống như ở nămthứ nhất, hệ số tương quan tính được r = 0.470 thấp hơn mức tương quan trungbình Tuy nhiên, chỉ số này cũng cao hơn chỉ số cùng loại của nữ sinh năm thứnhất
c)Về tố chất thể lực chung: Trong số 6 bài thử của 5 tố chất, thì 5/6 cótương quan đồng biến đến tương quan cao với kết quả học tập môn GDTC.Bài thử chạy 50m r = 0.710; chạy 500m r = 0.640, bật xa tại chỗ r = 0.783;nằm sấp chống đẩy r = 0,672; phối hợp động tác r = 0,669
Như vậy: Trong tổng số 12 chỉ số được phân tích thì tương tự với kếtquả thu được của nữ sinh năm thứ nhất, ở nhóm nữ sinh năm thứ hai có 10/12
có tương quan đồng biến đến mức cao, trừ các chỉ số chiều cao (của hình thái)
và độ gập dẻo trước (của tố chất mềm dẻo) có hệ số tương quan thấp hơn mứctrung bình Khác với nữ sinh năm thứ nhất, số mối tương quan cao giữa trình
độ thể lực chung và kết quả học tập môn GDTC nội khóa đã tăng: có 5 mốitương quan cao là dung tích sống, công năng tim, cân nặng, chạy 50m và bật
xa tại chỗ
Nhận xét: Kết quả nghiên cứu mối tương quan của nữ sinh viên năm thứhai, cho thấy mối quan hệ giữa trình độ thể lực với thành tích học tập ngày
Trang 17càng có mối tương quan chặt chẽ hơn, biểu thị bằng số mối tương quan caohơn năm thứ nhất Các chỉ số tương quan tính được mặc dù ở mức trung bìnhsong đều lớn hơn các chỉ số tương ứng đạt được ở năm thứ nhất.
Bảng 3.4 Mối tương quan giữa trình độ thể lực chung và kết quả học tập
môn GDTC của nữ sinh năm thứ 2 (n = 216)
với kết quả học tập Ghi chú
điểm thi GDTC cuốihọc kỳ 2, năm thứ nhất
Trang 18TRẠNG THÁI CHỨC NĂNG MTQ HÌNH THÁI CƠ THỂMTQ TỐ CHẤT THỂ LỰCBIỂU ĐỒ2: MỐI TƯƠNG QUAN TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC CHUNG VỚI KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN GDTC NĂM THỨ 2
VÙNG TƯƠNG QUAN CAO
VÙNG TƯƠNG QUAN THẤP