Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập trung vào các vấn đề sau: - Tìm hiểu về công tác hoạch định tài chính của một số doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
Trang 1TÓM LƯỢC 4
LỜI CẢM ƠN 5
LỜI MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Phạm vi nghiên cứu 7
3 Mục tiêu nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
4.1 Các tài liệu nghiên cứu 7
4.2 Các phương pháp nghiên cứu 8
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 8
6 Kết cấu của luận văn 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 10
1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp, quản trị tài chính và hoạch định tài chính doanh nghiệp 10
1.2 Mục đích và ý nghĩa của hoạch định tài chính 13
1.2.1 Mục đích của hoạch định tài chính 13
1.2.2 Ý nghĩa của hoạch định tài chính trong doanh nghiệp 14
1.3 Nội dung và các chỉ tiêu hoạch định tài chính 15
1.3.1 Nội dung cơ bản của quá trình hoạch định tài chính bao gồm: 15
1.3.1.1 Dự báo doanh thu 16
1.3.1.2 Dự báo nhu cầu vốn bổ sung 16
1.3.1.3 Cách lập báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh dự toán và cân đối kế toán dự toán 18
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá khi hoạch định tài chính của doanh nghiệp 20
1.3.2.1 Phân tích cơ cấu tài sản 20
1.3.2.2 Phân tích cơ cấu nguồn vốn 22
1.3.2.3 Phân tích khả năng thanh toán 23
1.3.2.4 Phân tích khả năng quản lý vốn vay 24
1.3.2.5 Phân tích khả năng quản lý tài sản 25
1.3.2.6 Phân tích khả năng sinh lợi 27
1.3.2.7 Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp qua đẳng thức Dupont 28
1.4 Quy trình hoạch định tài chính 29
Trang 21.5 Các phương pháp hoạch định tài chính 31
1.5.1 Phương pháp giản đơn 31
1.5.2 Phương pháp trung bình 32
1.5.3 Phương pháp trung bình động 32
1.5.4 Phương pháp trung bình động có trọng số 32
1.5.5 Phương pháp san bằng hàm số mũ 33
1.6 Căn cứ và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác hoạch định tài chính 33
1.6.1 Các căn cứ hoạch định tài chính 33
1.6.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác hoạch định tài chính 33
1.7 Tổ chức công tác hoạch định tài chính 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HOẠCH ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TẠI ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN 39
2.1 Khái quát chung về doanh nghiệp doanh nghiệp sản xuất tại địa bàn Hưng Yên 39
2.1.1 Đặc điểm vị trí địa lý và tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hưng Yên 39
2.1.2 Quy trình và đặc điểm của doanh nghiệp sản xuất 40
2.2 Dự án điều tra thực trạng công tác hoạch định tài chính trong các doanh nghiệp sản xuất tại địa bàn tỉnh Hưng Yên 41
2.2.1 Mục tiêu đề ra 41
2.2.2 Phương pháp điều tra 42
2.2.2.1 Thiết lập mẫu phiếu điều tra: 42
2.2.2.2 Phương pháp thu thập 44
2.2.2.3 Lập kế hoạch chọn mẫu 45
2.2.2.4 Tập hợp kết quả điều tra 45
2.2.3 Quy mô của dự án 45
2.2.4 Phản hồi của doanh nghiệp từ phiếu điều tra 46
2.3 Phân tích kết quả điều tra về thực trạng công tác hoạch định tài chính của một số doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 47
2.3.1 Nhận thức về mục tiêu hoạch định tài chính 48
2.3.2 Nhận thức về nội dung hoạch định tài chính 49
2.3.3 Nhận thức về quy trình hoạch định tài chính 53
2.3.4 Nhận thức về phương pháp hoạch định tài chính 55
2.3.5 Nhận thức về tài liệu sử dụng trong công tác hoạch định tài chính 57
2.3.6 Về tổ chức và nhân sự sử dụng trong công tác hoạch định tài chính 59
2.3.7 Thực trạng một số hiểu biết về thuật ngữ và chỉ tiêu tài chính 60
Trang 3CHƯƠNG III : ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HOẠCH ĐỊNH TÀI CHÍNH CHO MỘT SỐ DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
HƯNG YÊN 66
3.1 Phương hướng hoàn thiện 66
3.2 Một số đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác hoạch định tài chính cho một số doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 66
3.2.1 Hoàn thiện về mục tiêu hoạch định tài chính 66
3.2.2 Hoàn thiện về nội dung và chỉ tiêu hoạch định tài chính 67
3.2.2.1 Tiến hành dự báo doanh thu 68
3.2.2.2 Tính toán vốn cần huy động bổ sung (AFN) 68
3.2.2.3 Doanh nghiệp cần lập kế hoạch huy động vốn và phản ánh các ảnh hưởng của kế hoạch vào các báo cáo tài chính 70
3.2.2.4 Xây dựng các báo cáo tài chính dự kiến và tính toán các chỉ số tài chính mục tiêu 71
3.2.2.5 Phân tích vị thế tài chính của doanh nghiệp và đưa ra các giải pháp tài chính mục tiêu 72
3.2.3 Hoàn thiện về quy trình hoạch định tài chính 72
3.2.4 Hoàn thiện về phương pháp hoạch định tài chính 82
3.2.4.1 Sử dụng mô hình toán học để hoàn thiện việc dự báo 82
3.2.4.2 Sử dụng các tỷ số tài chính để hoàn thiện công tác dự báo tài chính 83
3.2.5 Hoàn thiện về hệ thống tài liệu sử dụng trong công tác hoạch định tài chính. 86
3.2.5.1 Các tài liệu sử dụng trong công tác hoạch định tài chính 86
3.2.5.2 Lựa chọn và kiểm tra các tài liệu sử dụng trong công tác hoạch định 90
3.2.6 Hoàn thiện tổ chức hoạch định tài chính tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn 91
3.3 Giải pháp về đào tạo lại cán bộ được sử dụng trong công tác hoạch định tài chính 92
3.4 Điều kiện để dự án được thực hiện khả thi 93
3.4.1 Về phía doanh nghiệp 93
3.4.2 Về phía nhà nước 93
Trang 4TÓM LƯỢC
Sau khi đã trình bày và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về hoạch định tài chính, đánh giá thực trạng công tác hoạch định tài chính của một số doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên Kết quả phân tích thực trạng công tác hoạch định tài chính và làm rõ những hạn chế cơ bản cần phải hoàn thiện trên hai phương diện: công tác quản trị và công tác kế toán Luận văn cũng trình bày các dự báo, triển vọng về sự phát triển của các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn Hưng Yên trong thời gian tới Các đề xuất, kiến nghị về công tác hoạch định tài chính cũng đặt
ra các hướng nghiên cứu tiếp theo cho tác giả luận văn để có thể áp dụng các đề xuất này cho các doanh nghiệp trong địa bàn lân cận, vùng, miền khác nhau
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo TS Nghiêm Sỹ Thương Khoa Kinh tế và Quản lý Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội - Người đã tận tình chỉ dẫn tôi trong quá trình hoàn thành bài luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô Khoa Kinh tế và Quản lý, các thầy cô Khoa Sau đại học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tạo mọi điều kiện
để tôi hoàn thành bài luận văn cao học
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ lãnh đạo, các nhân viên đang công tác tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã hỗ trợ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thu thập tài liệu, thu thập bảng câu hỏi, phỏng vấn làm cơ sở thực tế hoàn thành bài khóa luận văn này
Trân trọng cảm ơn!
Trang 6Một trong những nền tảng để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp cũng là do công tác hoạch định tài chính Trong thực tiễn, công tác quản lý tài chính luôn nảy sinh nhu cầu dự báo để định hướng, để có bước đi chiến thuật và chiến lược Trong đó, dự báo về doanh số mở rộng thị trường là điểm khởi đầu cho hầu hết các dự báo tài chính, bởi lẽ muốn sản xuất kinh doanh bao giờ cũng cần vốn mà vốn nhiều hay ít lại phụ thuộc vào doanh thu nhiều hay ít Nhưng với một mức doanh thu nào đó cầ phải có sự cân bằng về một nhu cầu vốn nhất định
Nhu cầu vốn đã, đang và sẽ là vấn đề quan tâm của nhiều doanh nghiệp Việt Nam Do đó, phương thức tổ chức, quản lý, huy động và sử dụng vốn từ bên trong
và bên ngoài doanh nghiệp sẽ góp phần làm cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu đã đặt ra Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp gắn liền với chất lượng, hiệu quả của công tác quản lý và hoạch định tài chính
Trang 7Thông thường các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả là các doanh nghiệp có công tác hoạch định tài chính được tiến hành liên tục và có quy trình Công tác hoạch định tài chính là một chính sách quan trong trong công tác quản lý Đối với một số doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên thì công tác này chưa được quan tâm đúng mức hoặc nếu có thì vấn đề hoạch định tài chính chỉ là thứ yếu Chính vì, công tác hoạch định tài chính trung và ngắn hạn cho các doanh nghiệp là một vấn đề quan trọng và cần thiết
Xuất phát từ những điều kiện trên, tác giả đã lựa chọn hướng nghiên cứu của
đề tài luận văn thạc sỹ là: “Hoàn thiện công tác hoạch định tài chính cho một số doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên” nhằm góp phần nâng cao
công tác quản lý tài chính trong các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp sản xuất tại địa bàn Hưng Yên nói riêng
2 Phạm vi nghiên cứu
Hoạch định tài chính là một công việc quan trọng trong khâu quản lý tài chính của doanh nghiệp, có liên quan đến nhiều lĩnh vực: kế toán, tài chính, pháp luật, quản trị bán hàng, quản trị nhân sự…và các chính sách quản lý tài chính của nhà nước Phạm vi nghiên cứu của đề tài nhằm thực hiện công tác hoạch định tài chính cho một số doanh nghiệp sản xuất tại địa bàn tỉnh Hưng Yên
Công tác hoạch định tài chính gồm hai cấp độ: cấp độ chiến lược và cấp độ chiến thuật Trong đề tài này phạm vi hoạch định tài chính chỉ tập trung xem xét về hoạch định tài chính ở cấp độ chiến thuật
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập trung vào các vấn đề sau:
- Tìm hiểu về công tác hoạch định tài chính của một số doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
- Vận dụng cơ sở lý luận để tiến hành đánh giá công tác hoạch định tài chính của các doanh nghiệp nêu trên
- Các kiến nghị, đánh giá chung cần phải hoàn thiện công tác hoạch định tài chính của các doanh nghiệp này
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Các tài liệu nghiên cứu
- Nhóm tài liệu liên quan đến phương pháp nghiên cứu khoa học
Trang 8- Nhóm tài liệu liên quan đến kế toán, tài chính, kế toán quản trị
- Nhóm tài liệu về các văn bản pháp luật: thuế, luật doanh nghiệp, các hệ thống văn bản của nhà nước
- Nhóm tài liệu về lý thuyết tài chính doanh nghiệp, quản trị tài chính tài chính doanh nghiệp
4.2 Các phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, tác giải đã sử dụng các phương pháp:
(1) Phương pháp quan sát: Được sử dụng nắm vững tình hình thực hiện công tác hoạch định tài chính của một số chuyên viên hoạch định trong một số công ty sản xuất trên địa bàn thông qua việc trao đổi, phỏng vấn
(2) Phương pháp điều tra: Tác giả xây dựng một hệ thống câu hỏi điều tra về tình hình thực hiện, các vấn đề liên quan đến công tác hoạch định tài chính
(3) Phương pháp thống kê: Để xử lý và phân tích số liệu đã thu thập được (4) Các mô hình, phương pháp hoạch định tài chính: phương pháp dự báo theo doanh thu, phương pháp hỗn hợp…
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Luận văn có những đóng góp chủ yếu sau:
Luận văn đã phân tích, nghiên cứu cơ sở lý luận chung về tài chính doanh nghiệp Từ đó hệ thống hóa và góp phần phát triển những lý luận cơ bản về công tác tài chính trong các doanh nghiệp
Luận văn đã khảo sát tình hình thực tế về công tác hoạch định tài chính ở một số doanh nghiệp sản xuất hiện nay trên địa bàn tỉnh Hưng Yên từ đó có những nhận xét khách quan để làm cơ sở cho những đề xuất hoàn thiện công tác hoạch định tài chính của các doanh nghiệp sản xuất tại địa bàn tỉnh Hưng Yên
Đối với bản thân tác giả, luận văn đã bổ sung thêm những kiến thức lý luận
và thực tế về công tác hoạch định tài chính trong các doanh nghiệp Bên cạnh đó tác giả cũng có được những nhận thức ban đầu về phương pháp nghiên cứu khoa học từ việc nhận diện vấn đề, đặt vấn đề đến việc giải quyết vấn đề tạo tiền đề cho việc tiếp tục nghiên cứu ở bậc cao hơn
Trang 96 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần tóm lược, danh mục các bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục, luận văn chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạch định tài chính doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng công tác hoạch định tài chính của một số doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Chương 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác hoạch định tài chính cho một số doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Trang 10CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp, quản trị tài chính và hoạch định tài chính doanh nghiệp
Khái niệm về tài chính doanh nghiệp: Tài chính doanh nghiệp là một khâu
của hệ thống tài chính trong nền kinh tế, là một phạm trù khách quan gắn liền với sự
ra đời của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ Để tiến hành hoạt động kinh doanh, bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định, đó là một tiền
đề cần thiết Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Trong quá trình
đó, đã phát sinh các luồng tiền tệ gắn liền với hoạt động đầu tư vào các hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp, các luồng tiền tệ đó bao hàm các luồng tiền tệ đi vào và các luồng tiền tệ đi ra khỏi doanh nghiệp, tạo thành sự vận động của các luồng tài chính của doanh nghiệp
Gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các vốn tiền tệ của doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị tức là các quan
hệ tài chính trong doanh nghiệp
Trong các doanh nghiệp, có những quan hệ tài chính sau:
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước, được thể hiện qua việc nhà nước cấp vốn cho doanh nghiệp hoạt động (đối với các doanh nghiệp nhà nước) và doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước như nộp các khoản thuế và
lệ phí v.v
- Quan hệ giữa các doanh nghiệp đối với các chủ thể kinh tế khác như quan
hệ về mặt thanh toán trong việc vay và cho vay vốn, đầu tư vốn, mua hoặc bán tài sản, vật tư, hàng hoá và các dịch vụ khác
- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp, được thể hiện trong doanh nghiệp thanh toán tiền lương, tiền công và thực hiện các khoản tiền thưởng, tiền phạt với công nhân viên của doanh nghiệp; quan hệ thanh toán giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, trong việc phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp; việc phân chia lợi tức cho các cổ đông, việc hình thành các quỹ của doanh nghiệp
Từ những vấn đề trên có thể rút ra:
- Tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp Các hoạt động có liên quan đến việc tạo lập, phân
Trang 11phối và sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc các hoạt động tài chính của doanh nghiệp
- Các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp hợp thành các quan hệ tài chính của doanh nghiệp Tổ chức tốt các mối quan hệ tài chính trên cũng nhằm đạt tới các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp
Quản trị tài chính của doanh nghiệp: Quản trị tài chính doanh nghiệp là
việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết định
đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tài chính của doanh nghiệp, đó là tối đa hoá lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Quản trị tài chính có quan hệ chặt chẽ với quản trị doanh nghiệp và giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong quản trị doanh nghiệp Hầu hết mọi quyết định khác đều dựa trên những kết quả rút ra từ những đánh giá về mặt tài chính trong quản trị tài chính doanh nghiệp
Trong hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, có nhiều vấn đề tài chính nảy sinh đòi hỏi các nhà quản lý phải đưa ra những quyết định tài chính đúng đắn và tổ chức thực hiện các quyết định ấy một cách kịp thời và khoa học, có như vậy doanh nghiệp mới đứng vững và phát triển
Để tồn tại và phát triển trong hoạt động kinh doanh thì các hoạt động của doanh nghiệp phải được đặt trên cơ sở về mặt chiến lược và mặt chiến thuật, về mặt chiến lược, phải xác định ra mục tiêu kinh doanh, các hoạt đông dài hạn nhằm phát triển doanh nghiệp và chính sách tài chính của doanh nghiệp Ví dụ: việc quyết định đưa ra thị trường sản phẩm mới vào một thời điểm nào đó, việc tham ra liên doanh, việc sử dụng vốn cổ phần của công ty thay vì sử dụng nguồn vốn vay để tài trợ cho hoạt động kinh doanh, việc quyết định phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn góp đều là những quyết định có tính chiến lược
Về mặt chiến thuật, phải xác định công việc trong thời hạn ngắn những tác nghiệp thể để phục vụ cho kế hoạch chiến lược của doanh nghiệp Ví dụ việc đưa ra những quyết định thay thế một tài sản cố định mới, việc lựa chọn địa điểm thuê cửa hàng, việc xem xét giữa đi thuê hay mua một căn nhà, xem xét giá cả của hàng hoá lúc mới bán ra ở thời điểm đầu vụ, việc hạ giá theo mùa đều là những quyết định
về mặt chiến thuật
Các quyết định về mặt chiến lược và chiến thuật được lựa chọn chủ yếu dựa trên cơ sở phân tích, cân nhắc về mặt tài chính
Trang 12Từ những vấn đề trên có thể rút ra
- Quản trị tài chính doanh nghiệp là một bộ phận của quản trị doanh nghiệp thực hiện những nội dung cơ bản của quản trị tài chính đối với các quan hệ tài chính nảy sinh trong hoạt động sản xuất - kinh doanh nhằm thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp
- Quản trị tài chính doanh nghiệp được hình thành để nghiên cứu, phân tích
và sử lý các mối quan hệ tài chính trong doanh nghiệp, hình thành những công cụ quản lý tài chính và đưa ra những quyết định tài chính đúng đắn và có hiệu quả
Hoạch định tài chính doanh nghiệp:
- Hoạch định là quá trình xác định mục tiêu của tổ chức và phương pháp tốt nhất để đạt được mục tiêu đó Hay nói cách khác, hoạch định là “quyết định xem làm cái gì, làm như thế nào, khi nào làm và ai làm cái đó” Như vậy, hoạch định là phương thức xử lý và giải quyết các vấn đề một cách có kế hoạch cụ thể từ trước Hoạch định có liên quan đến mục tiêu cần phải đạt được cũng như phương tiện để đạt được cái đó như thế nào Nó bao gồm: việc xác định mục tiêu, xây dựng một chiến lược tổng thể, nhất quán với những mục tiêu đó, và triển khai một hệ thống các kế hoạch để thống nhất và phối hợp các hoạt động
- Hoạch định tài chính: Đó là quá trình thiết lập mục tiêu tài chính của doanh nghiệp với những ưu tiên trong quá trình hoạt động kinh doanh và đưa ra kế hoạch thực tiễn đối với mục tiêu đã đặt ra Với hoạch định tài chính, doanh nghiệp phải đưa vào đó sự cân nhắc không chỉ là tài sản và nghĩa vụ nguồn vốn mà còn là cách thức tổ chức điều hành, là thu nhập và chi phí tương lai
- Hoạch định tài chính là việc dự kiến chi tiết các chỉ tiêu tài chính trong hệ thống quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần thực hiện trong tương lai,
từ đó xác lập nguồn vốn đảm bảo cho các chỉ tiêu tài chính có thể thực hiện được, nhằm cung cấp thông tin phù hợp cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong công việc điều hành và qản lý kinh doanh để đưa ra những quyết định đúng đắn nhất cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả cao và đạt được các mục tiêu
đã xây dựng
- Thực chất hoạch định tài chính là lập ra các kế hoạch về tài chính, xây dựng các mục tiêu cần đạt được trong kỳ kế hoạch và xác định các bước thực hiện để đạt được mục tiêu đó
Trang 13Hoạch định là căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xây dựng kế hoạch hành động bởi vì nó đề ra các mục tiêu, các chương trình hành động trong tương lai của doanh nghiệp
Hoạch định tài chính được hiểu trước là định hướng nhằm để phát triển một
kế hoạch tài chính hoàn thiện hơn trong tương lai cho doanh nghiệp Đó là quá trình xác định mức tăng trưởng doanh thu, nhu cầu vốn bổ sung và tình hình tài chính trong tương lai của doanh nghiệp
1.2 Mục đích và ý nghĩa của hoạch định tài chính
1.2.1 Mục đích của hoạch định tài chính
Mục đích của hoạch định tài chính là nhằm hoàn thiện các mục tiêu của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch tới xuất phát từ quá khứ, hiện tại, tương lai doanh nghiệp và các yếu tố khác tác động tới doanh nghiệp
Hoạch định tài chính cần thiết cho chiến lược phát triển của doanh nghiệp
Nó gắn liền với môi trường cũng như ngoài doanh nghiệp nên hoạch định tài chính tốt phải xét tới các nhân tố ảnh hưởng của môi trường mà công tác tài chính chịu ảnh hưởng từ chúng
Hoạch định tài chính cần đạt được một số mục tiêu khi tiến hành xây dựng: + Hoạch định tài chính cần đạt được mục đích vận hành của doanh nghiệp thành những mục tiêu cụ thể, phải xác định được những kết quả bao nhiêu thì được coi là đạt mục đích
+ Hoạch đinh tài chính cho biết những công cụ phản hồi và điều chỉnh Bản chất việc hoạch định là sai lệch, điều chỉnh không thể tránh khỏi thậm trí mọi sai lệch sẽ cung cấp cho nhà quản lý thông tin về cảnh báo, cơ hội…
+ Hoạch định tài chính được chuẩn bị tốt là công cụ để dự báo vấn đề có thể phát sinh Chẳng hạn, nếu doanh nghiệp tăng trưởng quá nhanh là phát sinh hiện tượng thiếu hụt tiền mặt do có nhiều hàng tồn kho hoặc do lượng tiền tồn đọng ở trong các khoản phải thu quá lớn… Những điểm này sẽ được phản ánh toàn bộ và chi tiết trong công tác hoạch định tài chính Nếu chi phí năm sau phụ thuộc vào một thông số quan trọng trong năm trước thì sẽ được mô tả trong phần giả thiết mô hình
Trang 141.2.2 Ý nghĩa của hoạch định tài chính trong doanh nghiệp
Hoạch định tài chính trong doanh nghiệp có ý nghĩa sau:
- Hoạch định tài chính giúp cho doanh nghiệp lường được những rủi ro, những biến động về tài chính, từ đó có các giải pháp tránh được những nguy cơ, những thiệt hại do rủi ro về tài chính gây ra, hoạch định tài chính là dự đoán tương lai Trên thực tế kinh tế càng phát triển thì càng chứa nhiều yếu tố bất định và ngẫu nhiên (ví dụ: thiên tai, khách hàng phá sản, biến động trong hệ thống tài chính tiền
tệ, ngân hàng …) Chính vì vậy lường trước được những yếu tố giúp cho doanh nghiệp có kế hoạch đối phó và phần nào giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp
- Hoạch định tài chính sẽ đưa ra phương hướng nhằm hoàn thành mục tiêu cho doanh nghiệp Vì công việc của hoạch định là đưa ra các báo cáo mới, làm thay đổi các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh nên các tỷ số tài chính cũng sẽ thay đổi Từ đó doanh nghiệp lập kế hoạch đạt được mục tiêu đề ra
- Hoạch định tài chính sử dụng để ước tính nhu cầu tài chính trong tương lai của doanh nghiệp, là cơ sở để doanh nghiệp lập kế hoạch hành động tài chính nhằm xác định mục tiêu và cách thức để đạt được mục tiêu cho doanh nghiệp nên nó có vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp Bởi vì nếu hoạch định không chính xác thì gây lên các mục tiêu cũng không chính xác Điều này chưa phản ánh đúng hiện trạng của doanh nghiệp, có khi còn làm cho doanh nghiệp mất đi một số cơ hội trong kinh doanh
- Hoạch định tài chính giúp cho nhà lãnh đạo có căn cứ để kiểm tra công việc của cấp dưới
- Hoạch định tài chính bao gồm có lập kế hoạch về tài chính ngắn hạn và lập
kế hoạch về tài chính dài hạn, đồng thời quản lý có hiệu quả vốn hoạt động thực của doanh nghiệp Đây là công việc quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp vì nó ảnh hưởng đến cách thức và phương thức mà nhà quản lý thu hút vốn đầu tư, thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp
- Kế hoạch về tài chính ngắn hạn là việc lập kế hoạch về lợi nhuận, ngân quỹ của doanh nghiệp, phân tích tình hình giá cả
- Kế hoạch dài hạn thường mang tính chiến lược và liên quan đến thiết lập mục tiêu tăng trưởng doanh thu trong khoảng thời gian từ 3 đến 5 năm Kế hoạch tài chính dài hạn được thực hiện theo quy trình: xác lập tốc độ tăng trưởng mông muốn
Trang 15mà doanh nghiệp có thể thực hiện được; tính toán mức vốn cần thiết để trang trải các khoản hàng tồn kho, trang thiết bị, nhà xưởng và nhu cầu nhân sự cần thiết để đạt được tốc độ tăng trưởng doanh thu đó Nhà quản trị phải dự tính được chính xác
và kịp thời nhu cầu vốn để có kế hoạch thu hút vốn bên ngoài trong trường hợp ngân quỹ từ lợi nhuận không chia không đáp ứng đủ Có 02 nguồn trang trải cho nhu cầu vốn tăng trưởng đó là lợi nhuận và vay nợ
- Hoạch định tài chính cho phép các nhà quản trị quyết định nguồn nguyên liệu, chính sách dự trữ tiền mặt, chính sách đầu tư tài chính ngắn và dài hạn, chính sách thu tiền bán hàng, chính sách chi trả… Khi hoạch định tài chính doanh nghiệp cũng xác định được nguồn nhân lực mà doanh nghiệp cần
1.3 Nội dung và các chỉ tiêu hoạch định tài chính
1.3.1 Nội dung cơ bản của quá trình hoạch định tài chính bao gồm:
Dự báo doanh thu và đề ra chỉ tiêu doanh thu, các tỷ số tài chính mục tiêu của kỳ kế hoạch tới Dự báo doanh thu là ước tính doanh thu bằng đơn vị sản phẩm (và từ đó là bằng tiền) cho một kỳ hạn tương lai Dự báo doanh thu được tiến hành trên cơ sở số liệu thồng kê quá khứ có điều chỉnh để phù hợp với các dự báo về viễn cảnh kinh tế quốc gia, vùng lãnh thổ, khu vực kinh tế, nghành nghề… Trên cơ sở doanh thu dự báo, lập kế hoạch và xác định nhu cầu nguồn lực, ta xác định được nhu cầu vốn bổ sung… Đối với các doanh nghiệp sản xuất dự báo cần tiến hành xem xét giá trị dở dang của các sản phẩm trên dây chuyền, sản lượng sản phẩm và nguyên vật liệu tồn kho và ước thu hồi vốn trong kỳ kế hoạch tới và dựa vào nhu cầu của thị trường về sản phẩm và dịch vụ để dự báo doanh thu
Xác định mức tài sản để đáp ứng nhu cầu tăng doanh thu và chi tiêu tài chính đó Khi doanh thu tăng thì tài sản của công ty cũng tăng lên Ví dụ công ty thu được tiền từ bán hàng hóa và dịch vụ Khách hàng nợ tiền làm cho khoản thu phải tăng…
Đề ra kế hoạch cung cấp tài chính cho mức tài sản đó Khi phần tài sản tăng thì nguồn vốn cũng phải tăng cùng bên tài sản Ví dụ doanh thu tăng từ các sản phẩm mới cung ứng tăng thì đòi hỏi nhu cầu nguyên vật liệu tăng, từ đó làm cho khoản phải trả tăng, đồng thời công lao động và thuế cũng tăng Doanh nghiệp sẽ cần thêm vốn bổ sung để trang trải cho hoạt động và do vậy số khoản như vay ngắn hạn ngân hàng cũng tăng lên
Đề ra các hành động cần thiết khác để đảm bảo đạt được các tỷ số tài chính mục tiêu
Trang 161.3.1.1 Dự báo doanh thu
Dự báo doanh thu là ước tính doanh thu bằng đơn vị sản phẩm (và từ đó bằng tiền) cho một kỳ hạn trong tương lai Dự báo doanh thu thường được tiến hành trên cơ sở số liệu thống kê quá khứ có điều chỉnh để phù hợp với các dự báo về viễn cảnh thị trường nhất định
Doanh thu của doanh nghiệp trong thời kỳ xem xét (thường là 1 năm) là tổng giá trị hàng hoá dịch vụ mà doanh nghiệp đã bán được trong thời kỳ đó (đã xuất hoá
đơn bán hàng)
Vai trò của dự báo doanh thu
Điểm khởi đầu cho công tác hoạnh định tài chính là dự báo doanh thu của doanh nghiệp Dự báo doanh thu có vai trò sau:
+ Làm cơ sở cho công việc xây dựng các chiến lược, chính sách tài chính, chính sách sản phẩm, dự kiến các báo cáo tài chính
+ Quyết định cần phải đầu tư thêm hoặc bổ sung dự trữ, nguồn tài trợ
+ Giúp cho doanh nghiệp nghiên cứu, khai thác thị trường, phân loại thị trường
+ Là cơ sở để doanh nghiệp xây dựng phương hướng cải tiến và nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ
1.3.1.2 Dự báo nhu cầu vốn bổ sung
Khái niệm: Nhu cầu vốn bổ sung là lượng vốn mà công ty cần huy động
thêm từ bên ngoài để có được tài sản tăng thêm bằng cách vay hoặc phát hành trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu đại chúng
Sự gia tăng doanh thu đòi hỏi phải có tài sản tăng thêm, những tài sản này phải được tài trợ và doanh nghiệp có khả năng hoặc không có khả năng để có được tất cả nguồn huy động thêm cho kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy yếu
tố chính trong quá trình dự báo là xác định được nguồn tài trợ từ bên ngoài Quá trình chính xác trong dự báo yêu cầu là phát triển bản dự báo chi tiết về các báo cáo tài chính tương lai trên cơ sở nội dung sau:
- Xác định lượng vốn mà công ty sẽ phải cần đến cho một kỳ hạn định trước
- Xác định lượng vốn mà công ty có thể huy động nội tại từ chính hoạt động kinh doanh của mình (vốn từ phát sinh)
Trang 17- Xác định lượng vốn mà công ty cần phải huy động thêm từ bên ngoài
Công thức dự báo nhu cầu vốn bổ sung được xác định theo công thức:
Trong đó:
AFN = Vốn huy động cần tăng thêm
A* = Tài sản có mối quan hệ mật thiết với doanh thu và gia tăng khi doanh
thu gia tăng
S0 = Doanh thu năm trước hoặc năm hiện tại
A*/S0 = Tỷ lệ phần trăm tài sản so với doanh thu thể hiện giá trị tài sản cần
cho việc gia tăng một đồng doanh thu
L* = Nợ phải trả gia tăng (tự động) tương ứng với doanh thu bao gồm: phải
trả người bán, phải trả khác và không bao gồm nợ tính lãi, cổ tức
L*/S0 = Tỷ lệ phần trăm nợ phải tài trợ so với doanh thu, thể hiện nguồn tài
trợ tăng thêm trên một đồng doanh thu
S1 = Doanh thu dự báo năm tới
ΔS = Mức thay đổi doanh thu = S1 - S0
M = Tỷ lệ lãi ròng hay chính là lợi nhuận biên
d = Tỷ lệ chia cổ tức; (1-d) = tỷ lệ lợi nhuận giữ lại
Quy định huy động vốn dựa trên:
- Cơ cấu vốn mục tiêu
- Chỉ số hiện hành
- Thực trạng thị trường vốn vay dài hạn
- Các quy chế vay nợ hiện hành
Sau khi xác định được tổng số vốn bổ sung cần tiến hành phân chia nhu cầu vốn bổ sung Quyết định phân chia dựa trên các điều kiện trên và loại hình doanh nghiệp
-
Mức tăng vốn
tự phát (Số vốn chiếm dụng đương nhiên)
-Gia số lợi nhuận giữ lại (Số vốn để dành được) AFN
= (A*/S0)ΔS - (L*/S0)ΔS - MS1(1-d)
Trang 181.3.1.3 Cách lập báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh dự toán và cân đối kế toán dự toán
Cách lập bảng báo cáo thu nhập dự kiến: Có hai phương pháp được sử
dụng để chuẩn bị các báo cáo thu nhập: Phương pháp tỷ lệ phần trăm doanh thu và Phương pháp chỉ tiêu theo kế hoạch
Phương pháp tỷ lệ phần trăm doanh thu
Phương pháp tỷ lệ phần trăm doanh thu là phương pháp khá đơn giản Phương pháp này giả thiết cho rằng tất cả các chi phí thành phần sẽ chiếm một tỷ lệ
ổn định trong doanh thu bán tương lai, không thay đổi so với tỷ lệ của chúng trong quá khứ, các số liệu quá khứ được sử dụng là tỷ lệ trung bình của những năm gần đây nhất Thông thường lấy tỷ lệ trung bình của hai năm gần đây để tính toán ra tỷ
lệ trung bình
Sau khi tính toán ra tỷ lệ phần trăm trung bình so với doanh thu và dự toán được doanh thu tương lai ta nhân doanh thu dự toán được doanh thu tương lai, ta nhân doanh thu dự toán với tỷ lệ phần trăm trung bình để ra được giá trị các khoản mục Nếu doanh nghiệp phân chia lợi tức cổ phần thì còn tuỳ thuộc vào quyết định của hội đồng quản trị nên không dựa trên số liệu quá khứ
Phương pháp chỉ tiêu theo kế hoạch
Phương pháp tỷ lệ phần trăm trên doanh thu tuy khá đơn giản nhưng khá linh hoạt và nó được xây dựng dựa trên số liệu quá khứ Còn phương pháp chỉ tiêu kế hoạch được xây dựng dự trên những thông tin liên quan đến thời kỳ tương lai mà doanh nghiệp sẽ xây dựng báo cáo dự kiến cho nó Những thông tin này được doanh nghiệp sử dụng kinh nghiệm để thống kê một cách chính xác và tính toán ra các giá trị của khoản mục
Phương pháp kết hợp
Hai phương pháp trên đều có những mặt lợi và bất lợi, do đó một phương pháp được sử dụng là kết hợp của cả hai phương pháp trên để có thể đạt kết quả tốt nhất Bởi vì trong một bản báo cáo có những khoản mục có xu hướng tỷ lệ thuận với doanh thu như khoản phải trả, nợ định kỳ tăng… Một số khoản mục có xu hướng tăng không cùng tỷ lệ với doanh thu như lợi nhuận sau thuế hay khoản vay ngắn hạn…
Lựa chọn phương pháp thích hợp và càng chi tiết thì càng giúp cho doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh thích hợp, hoạt động hiệu quả hơn
Trang 19Cách lập bảng cân đối tài sản dự kiến: Quá trình lập bảng cân đối kế toán
cần lưu ý một số nội dung sau:
- Đối với bảng cân đối kế toán dự kiến, phần tài sản có thể lập bằng cách áp dụng phương pháp tỷ lệ phần trăm trên doanh thu và phương pháp được áp dụng chính xác nếu thông tin về tình hình tài chính chưa đầy đủ
- Bên phần trái quyền trên tài sản được thiết lập theo một số khoản mục tài sản có khuynh hướng thay đổi theo doanh thu như các khoản phải trả, nợ tích lũy (nợ lương, thuế…) Những nguồn này tạo thành nguồn tài trợ “tự động” bởi chúng
có khuynh hướng phình ra hoặc co lại theo mức độ hoạt động của doanh nghiệp
- Giá trị của khoản lợi nhuận nhập vốn trong bảng cân đối kế toán dự kiến bằng lợi nhuận giữ lại dự tính trên báo cáo thu nhập dự kiến của năm đó cộng với lợi nhuận giữ lại trong bảng cân đối kế toán của các kỳ trước Khi so sánh giá trị tài sản dự kiến nguồn tài trợ hiện có, bao gồm các khoản tài trợ “tự động” và lợi nhuận nhập vốn, cho phép ban lãnh đạo công ty xác định được tổng nhu cầu tài chính cần được tài trợ trong kỳ dự kiến Chỉ khi nào tìm được đầy đủ các nguồn tài trợ cho những tài sản dự kiến, thì bảng cân đối kế toán dự kiến mới được coi là hoàn thiện
- Sự tác động qua lại giữa báo cáo tài sản và báo cáo thu nhập dự kiến: Do mối quan hệ tương hỗ giữa bảng cân đối tài sản và báo cáo thu nhập, sự lệ thuộc vào nhau này xuất hiện khi chuẩn bị các báo cáo dự toán tài chính Có thể nói hoàn toàn chính xác, bảng cân đối tài sản dự kiến không thể hoàn thành trước báo cáo thu nhập dự kiến, bởi không có lợi nhuận nhập vốn dự kiến cho nó Ngược lại, khi chưa
có bảng cân đối tài sản dự kiến, thì cũng không thể hoàn thành được báo cáo thu nhập dự kiến bởi không có nguồn tài trợ bên trong doanh nghiệp và do đó không thể tính toán được chi phí lãi vay phải trả
- Tuy nhiên, vòng luẩn quẩn được phá vỡ bắt đầu từ thu nhập dự kiến Chi phí lãi vay được giữ nguyên mức cũ hoặc tăng theo tỷ lệ nào đó so với báo cáo cuối cùng Sau khi hoàn thành báo cáo tài chính, phần lợi nhuận giữ lại dự tính sẽ được
sử dụng để hoàn thành bảng cân đối tài sản Nếu dự kiến có những thay đổi lớn về doanh thu và tài sản, đồng thời xuất hiện sự thay đổi lớn trong chi phí trả lãi vay, chúng ta sẽ sử dụng phương pháp trên để lập được bảng cân đối tài sản dự kiến đầu tiên trong vòng lặp Trên cơ sở bảng cân đối tài sản này có thể dự kiến được các nguồn tài trợ và sau đó tính toán khoản chi phí lãi vay để hoàn thành báo cáo thu nhập Quá trình này có thể được lặp đi lặp lại để đạt được kết quả chính xác có thể chấp nhận được
Trang 201.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá khi hoạch định tài chính của doanh nghiệp
Để hoạch định được chính xác các nhà hoạch định luôn phải xem xét đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trong những năm hoạt động gần nhất Từ
đó nhận dạng được những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi khó khăn về mặt tài chính theo các tiêu chí sau:
- Hiệu quả tài chính (khả năng sinh lợi và khả năng quản lý tài sản)
- Rủi ro tài chính (khả năng thanh toán và khả năng quản lý nợ)
- Tổng hợp hiệu quả và rủi ro tài chính (cân đối tài chính, các đòn bẩy, và đẳng thức Dupont )
Bằng phương pháp áp dụng các tỷ số cho phép các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn để đánh giá đúng xu hướng thay đổi tình hình tài chính của doanh nghiệp
Nội dung của việc đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp bao gồm:
1.3.2.1 Phân tích cơ cấu tài sản
Tài sản doanh nghiệp cơ bản công bố trên bảng cân đối kế toán thể hiện cơ
sở vật chất, tiềm lực kinh tế doanh nghiệp dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh Phân tích khái quát về tài sản hướng đến đánh giá cơ sở vật chất, tiềm lực kinh tế quá khứ, hiện tại và những ảnh hưởng đến tương lai của doanh nghiệp Xuất phát từ mục đích này, phân tích khái quát về tình hình tài chính được thể hiện qua các vấn
đề cơ bản sau:
Đánh giá năng lực kinh tế thực sự của tài sản doanh nghiệp hiện tại
Để nhận định được năng lực kinh tế thực sự của tài sản doanh nghiệp, trước tiên người phân tích nên tiến hành thẩm định giá trị kinh tế thực của tài sản doanh nghiệp nắm giữ, xem xét tình hình chuyển đổi của chúng trên thị trường Cụ thể, việc xem xét này thường được tiến hành theo nội dung cơ bản sau:
- Xem xét và đánh giá các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp hiện nay trên thị trường có giá trị kinh tế hay không, so với giá trị kế toán trên báo cáo kế toán cao hay thấp hơn, khả năng chuyển đổi trên thị trường của các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn như thế nào Khi các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn doanh nghiệp đang nắm giữ có giá trị kinh tế cao hơn giá trị kế toán, khả năng chuyển đổi trên thị trường diễn thuận lợi thì đây là một dấu hiệu tốt về tiềm lực kinh
Trang 21tế các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp, dấu hiệu này ít nhất cũng tác động tích cực đến tiềm năng kinh tế của doanh nghiệp trong kỳ kế toán tiếp theo
- Xem xét các khoản phải thu trên bảng cân đối kế toán có thực hay không và tình hình thu hồi có diễn ra thuận lợi hay không Thông thường, khi xem xét năng lực kinh tế của các khoản phải thu chúng ta nên quan tâm đến những dấu hiệu của các con nợ về uy tín, về khả năng tài chính…
- Xem xét các mục hàng tồn kho của doanh nghiệp có tính hữu dụng trong sản xuất kinh doanh và có giá trị kinh tế thực sự trên thị trường hay không
- Xem xét tài sản lưu động khác có khả năng thu hồi hay không, có ảnh hưởng đến chi phí, thu nhập của doanh nghiệp tương lai hay không
- Xem xét tài sản cố định của doanh nghiệp hiện có nguyên giá bao nhiêu, hệ
số hao mòn như thế nào, giá trị hữu dụng và giá trị kinh tế của nó trên thị trường Nếu một doanh nghiệp có lực lượng tài sản cố định với tổng nguyên giá lớn, hệ số hao mòn nhỏ, tính hữu dụng và giá trị kinh tế trên thị trường cao thì doanh nghiệp
có một tiềm lực kinh tế cao Ngược lại, nếu một doanh nghiệp có lực lượng tài sản
cố định với tổng nguyên giá lớn, hệ số hao mòn cao, tính hữu dụng và giá trị kinh tế trên thị trường thấp thì doanh nghiệp có một tiềm lực kinh tế kém Nhiều lúc người phân tích dễ bị đánh lừa bởi số liệu khổng lồ về giá trị tài sản cố định trên bảng cân đối kế toán nhưng đó chỉ là những tài sản không còn hữu dụng mà doanh nghiệp không thể thanh lý, nhượng bán được Ngược lại, những tài sản cố định như quyền
sử dụng đất, tài sản vô hình lại có hướng tăng cao nếu không xem xét rõ năng lực kinh tế tài sản cố định rất dễ đánh giá thấp tiềm năng kinh tế của doanh nghiệp với
số liệu trên bảng cân đối kế toán
Phân tích sự biến động các khoản mục tài sản
Phân tích biến động các khoản mục tài sản nhằm giúp người phân tích tìm hiểu sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của tài sản qua các thời kỳ như thế nào, sự thay đổi này bắt nguồn từ những dấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phù hợp với việc nâng cao năng lực kinh tế để phục vụ cho chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay không Phân tích biến động các mục tài sản doanh nghiệp cung cấp cho người phân tích nhìn về quá khứ
sự biến động tài sản doanh nghiệp Vì vậy, phân tích biến động về tài sản của doanh nghiệp thường được tiến hành bằng phương pháp so sánh theo chiều ngang và theo quy mô chung Quá trình so sánh tiến hành quá nhiều thời kỳ thì sẽ giúp cho người phân tích có được sự đánh giá đúng đắn hơn về xu hướng, bản chất của sự biến
Trang 22động
Khi phân tích, ta cần xem xét tỷ suất đầu tư trang thiết bị tài sản cố định, đầu
tư dài hạn (hay còn gọi là tỷ suất tài sản cố định và nguồn vốn thường xuyên ) Việc đầu tư chiều sâu, mua sắm trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật thể hiện năng lực sản xuất và xu hướng pháp triển lâu dài Tỷ suất đầu tư được xác định theo công thức:
1.3.2.2 Phân tích cơ cấu nguồn vốn
Nguồn vốn phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo Phân tích cơ cấu nguồn vốn là phân tích khả năng tự tài trợ, phân tích khả năng chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Đánh giá tính hợp lý và hợp pháp nguồn vốn của doanh nghiệp
Để nhận định được tính hợp lý và hợp pháp của nguồn vốn doanh nghiệp, trước hết nên tiến hành xem xét những danh mục nguồn vốn trên báo cáo tài chính doanh nghiệp hiện có tại một thời điểm có thực không, nó tài trợ cho những tài sản nào, những nguồn vốn này doanh nghiệp được phép khai thác hợp pháp hay không
Cụ thể việc xem xét này thường được tiến hành theo nội dung sau:
- Xem xét và đánh giá các khoản nợ ngắn hạn doanh nghiệp đang khai thác như vay ngắn hạn, phải trả người bán, người mua trả trước, thuế các khoản phải nộp nhà nước có phù hợp với đặc điểm luân chuyển vốn trong thanh toán của doanh nghiệp hay do bị động trong hoạt động sản xuất kinh doanh hình thành
- Xem xét và đánh giá các khoản nợ dài hạn doanh nghiệp đang khai thác như vay dài hạn, nợ dài hạn khác có phù hợp với mục đích sử dụng dài hạn, phù hợp với đặc điểm luân chuyển vốn trong thanh toán dài hạn của doanh nghiệp hay
do bị động trong sản xuất kinh doanh hình thành
- Xem xét và đánh giá các khoản nợ khác như chi phí phải trả, tài sản thừa chờ xử lý, nhận ký quỹ ký cược dài hạn có thực sự tồn tại và phù hợp với mục đích
sử dụng vốn hay không Đặc biệt là chi phí phải trả cần phải được xem xét trong mối quan hệ với kế hoạch dài hạn của chi phí này, tính hiện thực của nó trong tương lai Chi phí phải trả có thể làm giảm lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp và lại làm tăng lợi nhuận trong tương lai Vì vậy, nếu không phân tích rõ nguồn gốc thì dễ nhận xét sai lầm về bức tranh tài chính của doanh nghiệp
Tài sản cố định và đầu tư dài hạn Nguồn vốn thường xuyên
Tỷ suất đầu tư =
Trang 23- Xem xét và đánh giá vốn chủ sở hữu doanh nghiệp đang khai thác như nguồn vốn kinh doanh, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản… có phù hợp với loại hình doanh nghiệp hay không, phù hợp với quy định tối thiểu về mức vốn cho từng doanh nghiệp, có phù hợp với mục đích trích lập từng loại quỹ hay không
Trên bảng cân đối kế toán, tỷ lệ và kết cấu của từng nguồn vốn trong tổng nguồn vốn hiện có phản ánh tính chất hoạt động và thực trạng tài chính của doanh nghiệp xét về mặt pháp lý, số liệu của chỉ tiêu nguồn vốn thể hiện đối với các khoản vốn mà doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng
Phân tích cơ cấu nguồn vốn nhằm đánh giá khả năng tự tài trợ (hay mức độ
tự chủ trong kinh doanh ) của doanh nghiệp Điều đó được thể hịên qua tỷ xuất tự tài trợ:
Tỷ suất này càng cao thể hiện khả năng độc lập cao của doanh nghiệp về mặt tài chính hay mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp càng tốt
Phân tích sự biến động các khoản mục nguồn vốn
Phân tích biến động các mục nguồn vốn nhằm giúp người phân tích tìm hiểu
sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của nguồn vốn qua các thời kỳ như thế nào, sự thay đổi này bắt nguồn từ những dấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phù hợp với việc nâng cao năng lực tài chính, tính tự chủ tài chính, khả năng tận dụng, khai thác nguồn vốn trên thị trường cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay không và có phù hợp với chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay không
1.3.2.3 Phân tích khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán ngắn hạn thể hiện khả năng đối phó với những nghĩa vụ trả nợ ngắn hạn hay năng lực thực hiện các cam kết và các món nợ khi chúng đến hạn của doanh nghiệp, bằng các tài sản lưu động có khả năng chuyển đổi nhanh chóng thành tiền trong một thời gian nhất định
Duy trì khả năng thanh toán là cơ sở giúp các doanh nghiệp tăng thêm uy tín đối với các chủ nợ ngắn hạn (ngân hàng, nhà cung cấp…), đảm bảo thanh toán các nhu cầu thanh toán, các cam kết khi đến hạn, giảm bớt khoản chi phí tài chính khi doanh nghiệp pháp sinh các nhu cầu vốn trong kinh doanh
Nguồn vốn chủ sở hữu Tổng nguồn vốn
Tỷ suất tài trợ =
Trang 24Khả năng thanh toán hiện hành = Tài sản lưu động và ĐTNH
Khả năng thanh toán hiện hành: Chỉ số này cho biết mức độ các khoản nợ
của các chủ nợ được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó
Khả năng thanh toán nhanh: Chỉ số này cho biết khả năng hoàn trả các hoản
nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ (tồn kho ), đó là các tài sản khó chuỵển thành tiền hơn trong tổng tài sản lưu động và dễ bị lỗ nếu được bán
Khả năng thanh toán tức thời: Tỷ số đánh giá khả năng thanh toán ngay tức
thời các cam kết đến hạn bằng tiền hoặc các loại tương đương với tiền mặt
1.3.2.4 Phân tích khả năng quản lý vốn vay
Chỉ số nợ cho biết nguồn vốn vay mượn dưới mọi hình thức chiếm bao nhiêu
phần trăm (%) trong tổng tài sản của doanh nghiệp Qua đó đo lượng mức độ rủi ro
mà doanh nghiệp có thể gánh chịu do ảnh hượng của nó đối với doanh lợi trong những điều kiện khác nhau
Thực tế cho thấy, các chủ nợ thường thích một chỉ số nợ vừa phải vì nó đảm bảo món nợ khi doanh nghiệp bị phá sản, ngược lại các chủ doanh nghiệp thường thích chỉ số nợ cao vì nó làm gia tăng lợi tức cho tất cả các cổ đông, mà không làm mất quyền kiểm soát, có hai loại:
Trang 25- Rủi ro chỉ số nợ thấp, mức độ an toàn tài chính cao, doanh nghiệp sẽ ít bị lỗ trong thời kỳ kinh tế suy thoái, nhưng mức độ lợi nhuận sẽ giảm, tăng chậm khi nền kinh tế phát triển, làm ảnh hưởng đến phí tổn vốn
- Rủi ro chỉ số nợ cao, mức độ an toàn tài chính giảm xuống, doanh nghiệp
sẽ có nhiều rủi ro và có thể bị lỗ nặng khi hoạt động kinh doanh không ổn định và khi điều kiện kinh tế gặp khó khăn do phí tổn vốn vay tăng cao nhưng ngược lại cũng có nhiều cơ hội để mang lại lợi nhuận cao
Khả năng thanh toán vay lãi: chỉ số này cho biết một đồng lãi vay được che
chở bởi bao nhiêu đồng lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT) Do lãi vay là một trong các nghĩa vụ ngắn hạn rất quan trọng của doanh nghiệp nên chỉ số này rất quan trọng đối với các chủ nợ, tăng rủi ro và nguy cơ phá sản của doanh nghiệp
Khả năng thanh toán tổng quát: Chỉ số này cho biết mức độ trang trả tổng nợ
phải trả bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp
1.3.2.5 Phân tích khả năng quản lý tài sản
Thực tế cho thấy tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng doanh nghiệp
mà khả năng quản lý tài sản sẽ được biểu thị khác nhau, nhưng thông qua sự biến động về mức độ quản lý tài sản cũng chứng minh được hiệu quả kinh doanh, hiệu quả của việc sử dụng các tiềm lực tài chính Có nhiều cách khác nhau để xác định, nhưng thường được sử dụng nhất so sánh giữa kết quả hoạt động với các loại tài sản
Sức sinh lợi của tổng tài sản = Doanh thu
Tổng tài sản bình quân
Sức sinh lợi của tài sản cố định = Doanh thu
Tài sản cố định bình quân
Sức sinh lợi của TSLĐ = Doanh thu
Tài sản lưu động bình quân
Vòng quay hàng tồn kho = Doanh thu
Hàng tồn kho bình quân
Kỳ thu nợ bán chịu = Khoản phải thu bình quân x 360 ngày
Doanh thu
Sức sinh lợi của tổng tài sản: Phản ánh hiểu quả của việc sử dụng toàn bộ tài
sản trong sản xuất kinh doanh, cho thấy cứ một đồng tài sản góp phần tạo ra được
Trang 26bao nhiêu đồng doanh thu có thể đem lại lợi nhuận, hoặc quay được bao nhiêu vòng Mức độ quay vòng càng cao, lợi nhuận hoạt động càng tốt
Vòng quay của tổng tài sản cao chứng tỏ các tài sản của doanh nghiệp có chất lượng cao, tận dụng đầy đủ, không bị nhàn rỗi và không bị giam giữ trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh
Vòng quay của tổng tài sản thấp là do yếu kém trong quản lý tài sản cố định, quản lý tiền mặt, quản lý các khoản phải thu, chính sách bán chịu, quản lý vật tư, quản lý sản xuất, quản lý bán hàng
Sức sinh lợi của tài sản cố định: Vòng quay tài sản cố định là chỉ số dùng để
đánh giá tình hình sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp Chỉ số này cho biết một đồng tài sản cố định góp phần tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ
- Vòng quay tài sản cố định cao, chứng tỏ tài sản cố định có chất lượng cao, được tận dụng đầy đủ, không bị nhàn rỗi và pháp huy được hết công suất Vòng quay tài sản cố định là cơ sở tốt để có lợi nhuận cao, nếu doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí sản xuất
- Vòng quay tài sản cố định thấp là do nhiều tài sản cố định không hoạt động, chất lượng tài sản kém, hoặc không hoạt động hết công suất
Sức sinh lợi của tài sản lưu động: Vòng quay tài sản lưu động là chỉ số dùng
để đánh giá khả năng hoạt động của tài sản lưu động góp phần tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ
Đây là chỉ tiêu để đánh giá chất lượng công tác sử dụng tài sản lưu động Chỉ
số này cho biết một đồng tài sản lưu động trong từng giai đoạn và trong cả quá trình sản xuất kinh doanh, tốc độ luân chuyển tài sản lưu động nhanh hay chậm nói nên tình hình tổ chức công tác cung ứng, sản xuất, tiêu thụ của công ty có hợp lý hay không, các khoản vật tư được sử dung tốt hay không
Vòng quay hàng tồn kho: Vòng quay hàng tồn kho là cơ sở tốt để có lợi
nhuận cao nếu doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí trên cơ sở sử dụng tốt các tài sản khác
Vòng quay hàng tồn kho thấp là do quản lý vật tư, tổ chức sản xuất, cũng như tổ chức bán hàng chưa tốt
Kỳ thu nợ bán chịu: Phân tích vòng quay thu nợ nhằm đo lường khả năng thu
hồi vốn trong thanh toán của doanh nghiệp
Trang 27Kỳ thu nợ dài phản ánh chính sách bán hàng táo bạo Có thể là dấu hiệu hiệu tốt nếu tốc độ tăng doanh thu lớn hơn tốc độ tăng khoản thu Nếu vận dụng đúng chính sách bán chịu là một công cụ tốt để mở rộng thị phần và tăng doanh thu
Kỳ thu nợ dài có thể do yếu kém trong việc thu hồi khoản phải thu doanh nghiệp phải bị chiếm dụng vốn, khả năng sinh lợi thấp
Kỳ thu nợ ngắn có thể do chính sách bán chịu quá chặt chẽ, dẫn tới đánh mất
cơ hội bán hàng và cơ hội mở rộng quan hệ trong kinh doanh
1.3.2.6 Phân tích khả năng sinh lợi
Khả năng sinh lợi phản ánh năng lực kinh doanh, là điều kiện tiền đề cho tương lai, cho phép doanh nghiệp đánh giá được tình trạng tiềm năng tăng trưởng, qua phân tích giúp doanh nghiệp điều khiển lại cơ cấu tài chính và hoạch định chiến lược ngăn ngừa rủi do ở mức tốt nhất, cũng như ở mức tăng trưởng trong tương lai
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh (ROS) = Lợi nhuận sau thuế
Chỉ số P/E = Giá thị trường của cổ phiếu
Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu
Giá thị trường/giá sổ sách = Giá thị trường của cổ phiếu
Giá sổ sách của cổ phiếu
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS): Chỉ tiêu này cho biết trong một trăm
đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lãi cho doanh nghiệp
Khả năng sinh lợi của tài sản (ROA): Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh
lợi của một trăm đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp thì tạo được bao nhiêu đồng lãi
Khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE): ROE là tiêu chuẩn phổ biến
dùng để đánh giá tình hình hoạt động tài chính của các nhà đầu tư và các nhà quản
Trang 28lý cấp cao ROE đo lường tính hiệu quả đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết: một trăm đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào doanh nghiệp tạo được bao nhiêu đồng lãi cho doanh nghiệp
1.3.2.7 Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp qua đẳng thức Dupont
Để thấy được rõ hơn làm thế nào để gia tăng ROE, chúng ta chia ROE thành
ba phần chủ yếu:
Muốn tăng ROE ta có các hướng sau:
- Muốn tăng ROS cần phải phấn đấu tăng lợi nhuận sau thuế bằng cách tiết kiệm chi phí và tăng giá bán
- Muốn tăng vòng quay tổng tài sản cần phấn đấu tăng doanh thu bằng cách giảm giá bán và tăng các hoạt động xúc tiến bán hàng
- Muốn tăng tổng tài sản bình quân / vốn chủ sở hữu bình quân, giảm vốn chủ hữu và huy động vốn để đầu tư vào tài sản
TTSBQ
TTSBQ
Trang 291.4 Quy trình hoạch định tài chính
- NNH
- NDH
- CTƯĐ
- CTĐC TNV
BCTN
dự kiến
NHU CẦU VỐN
BỔ SUNG
BCĐKT
Dự kiến
KẾ HOẠCH HUY ĐỘNG VỐN
Các tỷ số tài chính dự kiến
Các tỷ số tài chính mục tiêu
So sánh, nhận xét và
đề xuất biện pháp cải thiện vị thế tài chính
VỊ THẾ TÀI CHÍNH TƯƠNG LAI
Trang 30Hoạch định tài chính doanh nghiệp bao gồm nhiều dự báo cho quá trình sản xuất kinh doanh, song các dự báo đó lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống kế hoạch tài chính hệ thống kế hoạch đó bao gồm:
- Kế hoạch về tiêu thụ sản phẩm hàng hóa và dịch vụ
- Kế hoạch về chi phí sản xuất
- Kế hoạch chi phí bàn hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
- Kế hoạch mua sắm các loại tài sản cần thiết cho quá trình hoạt động kinh doanh
Trên cơ sở các kế hoạch nêu trên, nhà hoạch định cần thực hiện các bước trong quá trình hoạch định như sau:
Bước 1: Lập báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán Mục đích
của việc lập báo cáo này là để xác định phần lợi nhuận sau thuế của công ty trong
kỳ hoạt động tới
Quá trình lập báo cáo kết quả kinh doanh dự toán được tiến hành như sau:
Xác định các khoản mục dự kiến chịu tác dụng khi doanh thu tăng
Sử dụng phương pháp thích hợp để xác định các khoản mục sẽ thay đổi theo doanh thu Từ đó xác định được lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp Phần lợi nhuận này sẽ được đưa vào bảng cân đối kế toán dưới dạng phân phối cho các quỹ
và các khoản mục liên quan Trong trường hợp chưa quyết toán sau thuế thì nó chính là lợi nhuận chưa phân phối của doanh nghiệp
Các chỉ tiêu kế hoạch như giá thành sản xuất và một số chi phí được xác định dựa trên kế hoạch sản xuất và chi phí kết hợp với kế hoạch mua sắm của doanh nghiệp
Quá trình lập bảng cân đối kế toán được xác định như sau:
Xác định các khoản mục chịu ảnh hưởng từ doanh thu tăng Sau đó tính toán các khoản mục mới Với giả thiết là chưa biết nhu cầu vốn bổ sung trong năm là bao nhiêu nên các khoản mục như vay ngắn hạn, vay dài hạn sẽ không thay đổi trong lần điều chỉnh đầu tiên
Bước 2: Từ bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh của lần dự
báo đầu tiên xác định được vốn bổ sung lần thứ nhất
Bước 3: Phân tích cơ cấu vốn của công ty và quyết định huy động vốn
Trang 31Bước 4: Từ kế hoạch huy động vốn sẽ tác động ngược trở lại khoản mục nào
trên báo cáo kết quả hoạch động kinh doanh và bản cân đối kế toán (tức là khoản mục nào tăng lên và tăng lên bao nhiêu)
Bước 5: Sau khi xác định phần tăng lên thì Bảng cân đối kế toán mới và báo
cáo kết quả sản xuất kinh doanh mới sẽ được hình thành Tiếp tục các điều chỉnh cho đến khi cân đối giữa tài sản và nguồn vốn
Bước 6: Xuất phát từ Bảng cân đối kế toán đã điều chỉnh lần cuối và báo cáo
kết quả kinh doanh để tính ra được các chỉ số tài chính dự kiến cho công ty
Bước 7: Trên cơ sở các chỉ tiêu tài chính mà doanh nghiệp đã xây dựng, đối
chiếu với hệ thống chỉ tiêu tài chính đã được xác định trên báo cáo tài chính Doanh nghiệp đánh giá, xác định điểm mạnh, điểm yếu và đưa ra các biện pháp thích hợp
để cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp, tránh rủi ro về tài chính trong tương lai
Bước 8: Từ những đề xuất cải thiện tình hình tài chính ta lại xác định được
ảnh hưởng của các đề xuất này này lên hai báo cáo là Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh dự kiến
Bước 9: Xác định tình hình tài chính tương lai cho doanh nghiệp
1.5 Các phương pháp hoạch định tài chính
Có rất nhiều phương pháp dự báo doanh thu, tuỳ thuộc vào đặc điểm từng ngành mà các doanh nghiệp tiến hành lựa chọn phương pháp phù hợp với doanh nghiệp mình, một số phương pháp được sử dụng như sau:
1.5.1 Phương pháp giản đơn
Trang 321.5.2 Phương pháp trung bình
n
n
t t t
n : Tổng số khoảng thời gian
Phạm vi ứng dụng phương pháp này chỉ nên ứng dụng với các doanh nghiệp
có quy luật tiêu thụ dao động trong một khoảng nhất định nào đó Theo phương pháp này đòi hỏi số liệu thống kê phải đủ lớn
1.5.3 Phương pháp trung bình động
Là phương pháp kết hợp của phương pháp giản đơn và phương pháp trung
bình Số khoảng thời gian thường được chọn là n = 3 đến 5 năm
Khi đó, mức dự báo ở kỳ (t+1) sẽ là:
n
Y Y Y
t
2 1 1
dự báo cứ sau mỗi chu kỳ ta thêm vào một số liệu của kỳ kế tiếp và loại bỏ một số
dữ liệu của kỳ quá khứ
1.5.4 Phương pháp trung bình động có trọng số
Theo phương pháp này, mỗi số liệu trong quá khứ ta gắn một hệ số thể hiện mức độ ảnh hưởng của nó đến kết quả dự báo Khi đó mức dự báo tại kỳ (t+1) được xác định theo công thức sau:
Trang 331.5.5 Phương pháp san bằng hàm số mũ
Phương pháp bình quân động và bình quân động có trọng số có hai nhược điểm lớn đó là không sử dụng hết các số liệu trong quá khứ và số liệu lưu trữ khá lớn
Phương pháp san bằng hàm số mũ khắc phục hai nhược điểm trên và là phương pháp dự báo sử dụng tất cả các số liệu đã xảy ra trong quá khứ vào mô hình
dự báo với các trọng số giảm dần trong quá khứ theo quy luật hàm số mũ
Yt : Giá trị thực tế ở kì t hiện tại
Yt: Giá trị dự báo ở kì t hiện tại
Yt 1 : Giá trị dự báo ở kì (t + 1)
1.6 Căn cứ và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác hoạch định tài chính 1.6.1 Các căn cứ hoạch định tài chính
- Báo cáo quyết toán của kỳ trước
- Tình hình tài chính của doanh nghiệp hiện nay và các chỉ số tài chính mục tiêu của kỳ kế hoạch tới
- Phân tích SWOT (Strengths - Weaknesses - Opportunities - Threats)
- Kế hoạch thu vốn kỳ tới
- Báo cáo thu vốn cuối kỳ trước …
- Một số báo cáo khác liên quan …
1.6.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác hoạch định tài chính
Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác hoạch định tài chính trong doanh nghiệp nằm trong 2 môi trường: Môi trường vĩ mô và môi trường vi mô
Môi trường vi mô
- Khách hàng: Khách hàng là các cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp có nhu
cầu và có khả năng thanh toán về hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp mà chưa được đáp ứng và mong được thoả mãn Ví dụ đối với các doanh nghiệp sản xuất và
Trang 34lắp ráp xe máy thì khách hàng chính là người tiêu dùng, các cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu mua phương tiện dùng cho việc đi lại, làm việc, thông thương…
Phân loại được khách hàng có ảnh hưởng tới công tác hoạch định tài chính trong doanh nghiệp Từ đó có thể xây dựng kế hoạch thu nợ và có những chính sách thích hợp với từng nhóm khách hàng
- Tiềm năng và các mục tiêu của doanh nghiệp: Mỗi doanh nghiệp có một
tiềm năng phản ánh năng lực của doanh nghiệp trên thị trường Đánh giá đúng đắn, chính xác các tiềm năng của doanh nghiệp cho phép xây dựng các chiến lược, kế hoạch kinh doanh cũng như hoạch định tài chính trong doanh nghiệp, tận dụng tối
đa thời cơ với chi phí thấp để mang lại hiệu quả trong kinh doanh góp phần vào
thành công của hoạch định tài chính
Các nhân tố quan trọng để đánh giá tiềm năng của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh bao gồm:
- Sức mạnh về tài chính
- Thái độ quản lý và kỹ năng con người trong hoạt động kinh doanh
- Tình hình trang thiết bị hiện có
- Các bằng phát minh sáng chế
- Nhãn hiệu hàng hoá và uy tín của doanh nghiệp
- Hệ thống tổ chức quản lý, mạng lưới kinh doanh và quan điểm quản lý
- Sự đúng đắn của mục tiêu kinh doanh và khả năng kiên định trong quá trình hướng tới mục tiêu kinh doanh
- Nhà cung ứng: là tổ chức, doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ cần
thiết cho doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh Doanh nghiệp cần tiến hành phân loại người cung ứng để có quyết định mua đúng đắn lựa chọn đơn vị tốt nhất về chất lượng cũng như uy tín giao hàng, có độ tin cậy đảm bảo cao và giá thấp Điều này cũng góp phần vào kế hoạch giảm chi phí sản xuất vá giá thành của doanh nghiệp, làm nền tảng cho việc xây dựng và báo cáo tài chính dự kiến
- Đối thủ cạnh tranh: Đó là đối thủ cạnh tranh có mặt hàng giống như mặt
hàng của doanh nghiệp hoặc các mặt hàng có thể thay thế lẫn nhau Các đối thủ cạnh tranh này tiến hành cạnh tranh không chỉ về giá bán mà cả về chất lượng, công nghệ Tiến hành phân tích và phân loại đối thủ cạnh tranh cũng là một việc quan trọng để hoạch định tài chính chính xác và hiệu qủa hơn
Trang 35Môi trường vĩ mô
- Chính trị và phát luật: Để thành công trong kinh doanh các doanh nghiệp
phải phân tích, dự đoán về chính trị và pháp luật cùng xu hướng vận động của nó bao gồm:
- Sự ổn định về chính trị, đường lối ngoại giao
- Sự cân bằng các chính sách của nhà nước
- Vai trò và chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Chính phủ
- Sự điều tiết và khuynh hướng can thiệp của Chính phủ vào đời sống kinh tế
- Sự phát triển các quyết định bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- Hệ thống pháp luật, sự hoàn thiện và hiệu lực thi hành chúng
- Các yếu tố kinh tế bao gồm:
- Sự tăng trưởng kinh tế
- Sự thay đổi về cơ cấu sản xuất và phân phối
- Tiềm năng kinh tế và sự gia tăng đầu tư
- Lạm phát, thất nghiệp, sự phát triển ngoại thương
- Các chính sách tiền tệ, tín dụng
- Ảnh hưởng của tính chất ngành kinh doanh:
Ảnh hưởng này thể hiện trong thành phần và cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới quy mô của vốn sản xuất kinh doanh, cũng như tỷ lệ thích ứng để hình thành và sử dụng chúng, do đó ảnh hưởng tới tốc độ luân chuyển vốn (vốn cố định và vốn lưu động) ảnh hưởng tới phương pháp đầu tư, thể thức thanh toán chi trả
- Ảnh hưởng của tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh:
Tính thời vụ và chu kỳ sản xuất có ảnh hưởng trước hết đến nhu cầu vốn sử dụng và doanh thu tiêu thụ sản phẩm Những doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ ngắn thì nhu cầu vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm thường không có biến động lớn, doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng, điều đó giúp cho doanh nghiệp dễ dàng đảm bảo sự cân đối giữa thu và chi bằng tiền; cũng như trong việc tổ chức đảm bảo nguồn vốn cho nhu cầu kinh doanh Những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản phẩm có chu kỳ sản xuất dài, phải ứng ra một lượng vốn lưu
Trang 36động tương đối lớn, doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất có tính chất thời
vụ, thì nhu cầu vốn lưu động giữa các quý trong năm thường có sự biến động lớn, tiền thu về bán hàng cũng không được đều, tình hình thanh toán, chi trả, cũng thường gặp những khó khăn Cho nên việc tổ chức đảm bảo nguồn vốn cũng như đảm bảo sự cân đối giữa thu và chi bằng tiền của doanh nghiệp cũng khó khăn hơn
- Ảnh hưởng về giá cả thị trường, lãi suất và tiền thuế
Giá cả thị trường, giá cả sản phẩm mà doanh nghiệp tiêu thụ có ảnh hưởng lớn tới doanh thu, do đó cũng có ảnh hưởng lớn tới khả năng tìm kiếm lợi nhuận
Cơ cấu tài chính của doanh nghiệp cũng được phản ảnh nếu có sự thay đổi về giá cả
Sự tăng, giảm lãi suất và giá cổ phiếu cũng ảnh hưởng tới sự chi phí tài chính và sự hấp dẫn của các hình thức tài trợ khác nhau Mức lãi suất cũng là một yếu tố đo lường khả năng huy động vốn vay Sự tăng hay giảm thuế cũng ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình kinh doanh, tới khả năng tiếp tục đầu tư hay rút khỏi đầu tư
Tất cả các yếu tố trên có thể được các nhà hoạch định tài chính sử dụng để phân tích các hình thức tài trợ và xác định thời gian tìm kiếm các nguồn vốn trên thị trường tài chính
- Kỹ thuật và công nghệ: có ảnh hưởng đến hoạch định tài chính bởi các hoạt
động tài chính của doanh nghiệp đều sử dụng kỹ thuật và công nghệ Vì vậy xem xét kỹ thuật và công nghệ có tác dụng quan trọng đến hoạch định tài chính trong doanh nghiệp
- Yếu tố văn hoá, xã hội: ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và hành vi con
người, qua đó ảnh hưởng đến hành vi khách hàng, một nhân tố quan trọng trong hoạch định tài chính
- Môi trường tự nhiên và cơ sở hạ tầng: Doanh nghiệp cần chú ý đến các mối
đe doạ và tìm cơ hội phối hợp với các khuynh hướng môi trường tự nhiên như: sự thiếu hụt nguồn nguyên liệu thô, sự tăng chi phí năng lượng, mức ô nhiễm môi trường, đường xá, thông tin liên lạc… Xem xét các xu hướng vận động có tác dụng giúp doanh nghiệp có kế hoạch mua sắm, dự trữ… giảm bớt chi phí phát sinh do tăng giá nguyên vật liệu …
1.7 Tổ chức công tác hoạch định tài chính
Cùng với việc xác định về quy trình, mục tiêu của hoạch định tài chính, cần biết tổ chức lực lượng thực hiện quy trình Công tách hoạch định tài chính có thể quy về những loại công việc chủ yếu:
Trang 37- Lựa chọn cách kết hợp với các loại hình hoạch định phù hợp với mục tiêu
và nội dung của hoạch định tài chính
- Tổ chức lực lượng nhân lực và phương tiện, thiết bị phân tích
- Xây dựng quy trình tổ chức hoạch định phù hợp với mục tiêu và lực lượng cùng với các điều kiện hiện có
Để công tác hoạch định tài chính được chính xác và đạt mục tiêu thì công tác
tổ chức phải thu thập một số thông tin phục vụ như sau:
+ Thu thập thông tin bán hàng chúng ta đã biết các nhân tố quyết định cần phải được xác định trước Đối với một doanh nghiệp thương mại thì nhân tố này thường là sản lượng và doanh số bán hàng Vì thế, bộ phận bán hàng phải đưa ra ước tính của mình trước, sau đó mới tới bộ phận thu mua hay bộ phận sản xuất Tuy nhiên, trong thực tế thì các bộ phận của doanh nghiệp cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau khi hoạch định các ngân sách Sẽ là không phù hợp nếu bộ phận kinh doanh
dự báo lượng hàng bán ra nhiều hơn khả năng sản xuất hoặc bộ phận sản xuất dự kiến làm nhiều hơn khả năng tiêu thụ
Trưởng phòng kinh doanh (hoặc người chịu trách nhiệm về việc xây dựng chỉ tiêu doanh số bán hàng) có nhiệm vụ rất quan trọng phải dự đoán được lượng hàng hoá bán ra cho năm tiếp theo ở mức chính xác nhất có thể được Nếu như dự đoán này không chính xác thì các ngân sách của các bộ phận khác coi như vô ích Thông tin có thể được thu thập từ hai nguồn:
Thông tin nội bộ doanh nghiệp
Bao gồm các báo cáo của phụ trách kinh doanh khu vực hoặc từ các nhân viên phòng kinh doanh, các phân tích số liệu thống kê số lượng hàng hóa đã bán trước đây để dự đoán cho thời gian tới Nguồn thông tin nội bộ bao gồm các dữ liệu,
sổ sách, chứng từ của doanh nghiệp Việc dự báo số lượng hàng hóa bán ra cũng có thể thực hiện khá đơn giản bằng cách tổng hợp các dự báo của từng nhân viên phụ trách kinh doanh
Thông tin từ bên ngoài
Bao gồm các thông tin, số liệu nghiên cứu hành vi tiêu dùng và hoạt động của các đối thủ cạnh tranh; các báo cáo hay nhận xét tổng quan về tình hình kinh tế, giúp bạn dự đoán xu hướng tiêu dùng trên thị trường, mức chi tiêu và loại hàng hóa
Trang 38được tiêu thụ chủ yếu Nguồn thông tin từ bên ngoài liên quan đến các dữ liệu, nguồn thông tin bên ngoài doanh nghiệp
Thu thập thông tin cho các ngân sách khác
Một khi những dự báo quan trọng, như doanh thu chẳng hạn, được thực hiện, những dự báo khác được tính tương ứng Nhóm hoạch định ngân sách có thể hoạch định tiếp những ngân sách khác Kết quả tính toán sẽ thể hiện cụ thể bằng tiền Khi
có dự báo doanh số cùng mức tăng, giảm tồn kho, doanh nghiệp có thể tính toán được ngân sách sản xuất Sau khi hoạch định ngân sách sản xuất và dự báo mức sản xuất trong năm tới, doanh nghiệp bắt đầu lên kế hoạch sử dụng nguồn lực tương ứng Do vậy, bước hoạch định kế tiếp sẽ là ngân sách nguồn lực Trong thực tế, chỉ tiêu này bao gồm ba ngân sách chi phí sản xuất như sau:
Máy móc: Số giờ vận hành của từng máy hay nhóm máy và chi phí của số giờ này
Nguyên vật liệu: Số lượng và chi phí nguyên vật liệu tương ứng với mức sản xuất đã tính
Lao động: Số giờ công tương ứng với mức sản xuất đã tính và chi phí của số giờ này
Là người quản lý của bộ phận sản xuất, sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch và kiểm soát sử dụng nguồn lực Hậu quả có thể khác nhau nhưng một điều chắc chắn là việc giám sát, quản lý kém sẽ dẫn đến bội chi Dưới đây là một số hậu quả mà doanh nghiệp có thể lưu ý
Giám sát kém trong việc sử dụng máy móc dẫn đến hậu quả: Hỏng hóc nhiều hơn; Thời gian nhàn rỗi nhiều hơn; Chi phí bảo trì tăng; Phế liệu nhiều hơn
Giám sát kém trong việc sử dụng nguyên vật liệu dẫn đến hậu quả: Lượng phế liệu tăng; Thất thoát; Tắc nghẽn sản xuất hoặc thời gian nhàn rỗi tăng Giám sát kém trong việc sử dụng lao động dẫn đến hậu quả: Chất lượng công việc kém hoặc lượng phế liệu tăng; Việc chấm công không đạt yêu cầu; Tăng chi phí làm ngoài giờ
Trang 39CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HOẠCH ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA MỘT
SỐ DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TẠI ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN
2.1 Khái quát chung về doanh nghiệp doanh nghiệp sản xuất tại địa bàn Hưng Yên
2.1.1 Đặc điểm vị trí địa lý và tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hưng Yên
Tỉnh Hưng Yên nằm ở tả ngạn sông Hồng, thuộc châu thổ đồng bằng Bắc Bộ, phía Đông giáp Hải Dương, phía Nam giáp Thái Bình, phía Tây Nam giáp Hà Nam, Phía Bắc liền kề với thủ đô Hà Nội và Bắc Ninh Với vị trí địa lý tương đối thuận lợi cho phát triển kinh tế đó là nằm ở cửa ngõ Thủ đô, trong khu vực tam giác kinh tế của đồng bằng Bắc bộ và nhất là gần con đường giao thông huyết mạch nối Thủ đô với thành phố cảng Hải phòng Tỉnh Hưng Yên hiện đang được coi là một trong các tỉnh phát triển khá năng động với nhiều chính sách thu hút đầu tư thông thoáng
Sau khi được tái lập vào ngày 01/01/1997, cơ cấu kinh tế của tỉnh Hưng Yên
đã có những bước chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa Sản xuất công nghiệp tăng trưởng nhanh, giá trị sản xuất tăng bình quân 26,7% năm, hình thành một số ngành sản xuất có tính động lực như điện tử, dệt may, cơ khí và luyện thép… Trong đó ngành công nghiệp sản xuất được đánh giá là một trong những ngành mang lại nguồn thu chủ yếu cho ngân sách của tỉnh
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có khoảng 20.817 cơ sở sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, tăng 4.210 cơ sở so với năm 2005, tốc độ tăng trưởng bình quân trong 5 năm qua đạt 5,7%/năm
Trang 402.1.2 Quy trình và đặc điểm của doanh nghiệp sản xuất
Quy trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất được mô tả như sau:
Doanh nghiệp sản xuất trong thị trường hiện nay đang phải gánh chịu những cạnh tranh Công nghệ sản xuất sản phẩm luôn được cải tiến thay đổi nhằm nâng cao chất lượng và mẫu mã sản phẩm để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, hơn nữa sự cạnh tranh về giá cả và các hình thức khuyến mại, quảng cáo nhằm thu hút người tiêu dùng Không những thế, doanh nghiệp còn đương đầu với mọi thử thách, với những tác động vĩ mô của nền kinh tế trong nước và thế giới: ảnh hưởng của giá nguyên liệu, ảnh hưởng của lạm phát, ảnh hưởng của chính sách tiền
tệ, ảnh hưởng của chính sách đầu tư Do vậy, doanh nghiệp muốn đứng trên thị trường thì phải luôn có những quyết định kinh doanh đúng đắn với khả năng, môi trường và điều kiện của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp sản xuất có những đặc điểm cơ bản sau:
Đặc điểm của sản phẩm:
+ Các biến động theo mùa vụ: Một số mặt hàng sản xuất kinh doanh biến động rất lớn theo mùa vụ như bia, nước giải khát, may mặc…Do vậy, những doanh nghiệp này nên có kế hoạch dự trữ, sản xuất, đầu tư và tài trợ cho hợp lý theo tính chất sản phẩm kinh doanh của mình
+ Các biến động theo chu kỳ: Đó là những mặt hàng kinh doanh những sản phẩm tiêu dùng không bền lâu như thực phẩm, máy móc thiết bị, máy công cụ, gạch (vật liệu xây dựng), các mặt hàng điện tử.Dựa vào chu kỳ biến động của sản phẩm
Thị
trường
Các yếu tố đầu vào:
- Lực lượng lao động
- Đối tượng lao động
- Tư liệu lao động
Tạo ra GTGT
Quá trình biến đổi
Các loại sản phẩm
Thị trường Môi trường bên ngoài
Tác động của thị trường