1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (pci), hiện trạng và một số giải pháp nâng cao chỉ số cạnh tranh của tỉnh nam định

102 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các chỉ số thành phần này được nghiên cứu để phản ánh được tương đối đầy đủ những trở ngại đối với việc ra đời và phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam gồm: - Chi phí gia nhậ

Trang 1

Mục lục

Trang

2 Các chỉ tiêu đo lường, đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 8

2.2 Mô tả chi tiết các chỉ số thành phần và các chỉ tiêu của nó 9

1 Tổng quan về kết quả đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trên bình diện

Trang 2

trong thời gian tới

II Các giải pháp đề xuất để nâng cao chỉ số cạnh tranh của tỉnh Nam Định 77

1 Giải pháp thứ nhất: Tăng cường tính công khai minh bạch trong điều hành

phát triển kinh tế - xã hội

77

2 Giải pháp thứ hai: Tiếp tục cải cách hành chính Giảm chi phí gia nhập thị

trường và chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước

79

3 Giải pháp thứ ba: Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho người lao động 80

4 Giải pháp thứ tư: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức làm việc

trong lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến các hoạt động của doanh nghiệp, các

dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp

82

5 Giải pháp thứ năm: Phát triển dịch vụ hỗ trợ kinh doanh 83

Trang 3

Danh mục các từ viết tắt

CCHC: Cải cách hành chính

CNQSDĐ: Chứng nhận quyền sử dụng đất

DN: Doanh nghiệp

DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước

PCI: Provincial Competitiveness Index (Chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh) TNHH: Trách nhiệm hữu hạn

THPT: Trung học phổ thông

THCS: Trung học cơ sở

Trang 4

Ngay sau khi chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh được công bố, có rất nhiều phản ứng trái chiều về kết quả công bố bảng xếp hạng này Qua bảng xếp hạng, người ta thấy rằng có

mối liên hệ tương đối chặt chẽ giữa kết quả của bảng xếp hạng với thành công về phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp tư nhân Kết

quả công bố chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh được đại bộ phận doanh nghiệp hoan nghênh và đánh giá cao Việc nghiên cứu và công bố rộng rãi chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh là một áp lực dư luận rất tốt, để các vị lãnh đạo tỉnh có sự nhìn nhận lại về quá trình điều hành phát triển kinh tế của tỉnh mình Một câu hỏi lớn được đặt ra với các vị lãnh đạo của

tỉnh Khi đã loại trừ những lợi thế sẵn có, tại sao các tỉnh lại được các doanh nghiệp đánh giá khác nhau về chỉ số cạnh tranh? Năng lực điều hành phát triển kinh tế ảnh

hưởng như thế nào đối với đánh giá chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh

Tỉnh Nam Định được cộng đồng các doanh nghiệp đánh giá về chỉ số cạnh tranh

ở mức trung bình, và chỉ số cạnh tranh của tỉnh lại có nguy cơ ngày càng bị đánh giá

thấp đi Điều này, hiện đang làm các nhà lãnh đạo tỉnh Nam Định rất quan tâm và trăn trở Các nhà lãnh đạo của tỉnh cũng nhận thức sâu sắc rằng cần có sự thay đổi để tỉnh Nam Định có thể phát triển bứt phá

Trang 5

Hiện nay, tất cả các tỉnh đang ra sức để cải thiện môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế

xã hội của địa phương Nếu như Nam Định không hành động thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế - xã hội của mình, rất có thể sẽ bị tụt hậu xa so với các tỉnh khác trong khu vực Nam Định phải tìm ra con đường đi lên phía trước, tận dụng mọi thời cơ và nỗ lực từ chính bản thân địa phương để vươn lên

Trong bối cảnh như vậy thì việc đặt vấn đề nghiên cứu về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là hết sức cần thiết và hữu ích đối với tỉnh Nam Định Việc nghiên cứu

sẽ giúp phân tích, xác định rõ những nguyên nhân, tồn tại trong quá trình điều hành phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Nam Định còn có gì cản trở, hay trở ngại đối với sự phát triển của khối kinh tế tư nhân, đâu là nguyên nhân, hay rào cản làm cho chỉ số cạnh tranh của Nam Định chưa được cộng đồng DN đánh giá cao Từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị với các cấp lãnh đạo triển khai thực hiện để cải thiện chỉ số cạnh tranh của Nam Định, giúp thu hút đầu tư, thúc đẩy sự phát triển của khối kinh tế tư nhân và thúc đẩy chung sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Chính vì lý do đó em đã lựa chọn đề tài này để làm đề tài luận văn, góp phần nhỏ bé, chung tay cùng đưa Nam Định phát triển tốt hơn, xứng đáng là mảnh đất địa linh nhân kiệt, sản sinh ra nhiều nhà khoa học, chính trị lỗi lạc nhưng sự phát triển kinh

tế còn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có

Luận văn được chia thành 3 chương

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh

Chương II: Phân tích hiện trạng chỉ số cạnh tranh tỉnh Nam Định

Chương III: Một số giải pháp để nâng cao chỉ số cạnh tranh của tỉnh Nam Định

Trang 6

NỘI DUNG

C hương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh

1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh là khả năng cạnh tranh hiệu quả trong các lĩnh vực, đó là việc tạo ra năng suất, hiệu quả sử dụng các nguồn lực một cách tốt nhất để phục vụ cho mục tiêu phát triển

Năng lực cạnh tranh được chia ra làm các cấp độ khác nhau như:

1.1 Năng lực cạnh tranh quốc gia: Là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng

trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân

Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia đó là:

- Độ mở của nền kinh tế

- Vai trò và hiệu lực của Chính phủ

- Sự phát triển của hệ thống tài chính, tiền tệ

- Trình độ phát triển công nghệ

- Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng

- Trình độ quản lý doanh nghiệp

- Số lượng và chất lượng lao động

- Trình độ phát triển thể chế

1.2 Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh: Đo lường năng lực công tác điều hành kinh tế

của tỉnh dựa trên môi trường kinh doanh nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh

tế tư nhân Kinh tế tư nhân có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế của các tỉnh Các nguồn thu ngân sách của tỉnh chủ yếu do sự phát triển kinh tế tư nhân đem lại Do vậy, lãnh đạo các tỉnh rất quan tâm đến việc hỗ trợ, tạo điều kiện để kinh tế

tư nhân phát triển Khu vực kinh tế tư nhân đóng vai trò trung tâm trong tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam nói chung và kinh tế tỉnh Nam Định nói riêng

Trang 7

1.3 Năng lực cạnh tranh của ngành: Là năng lực bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận

hay nói cách khác là khả năng duy trì và phát triển các lợi thế của ngành

Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành gồm:

- Chất lượng và khả năng cung ứng, mức độ chuyên môn hoá đầu vào

- Công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ

- Nhu cầu đối với sản phẩm

- Mức độ cạnh tranh và vị thế của ngành

1.4 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Một số quan niệm về năng lực cạnh

tranh của doanh nghiệp đáng chú ý như sau:

Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng

thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với các đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp

Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấn công của doanh nghiệp khác; năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa

và dịch vụ trên thị trường thế giới; năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế” Tuy nhiên, quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lượng

Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế Theo M Porter (1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp

Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh

tranh Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, ; Năng lực cạnh tranh của doanh

Trang 8

nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững”

2 Các chỉ tiêu đo lường, đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

2.1 Khái niệm các chỉ số thành phần

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được tổng hợp từ mười chỉ số thành phần Các chỉ số thành phần này được nghiên cứu để phản ánh được tương đối đầy đủ những trở ngại đối với việc ra đời và phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam gồm:

- Chi phí gia nhập thị trường: Đo thời gian một doanh nghiệp cần để đăng ký kinh

doanh, xin cấp đất và nhận được mọi loại giấy phép, thực hiện tất cả các thủ tục cần thiết để bắt đầu tiến hành hoạt động kinh doanh

- Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất: Việc tiếp cận đất đai có dễ dàng

không và khi có đất rồi thì doanh nghiệp có được đảm bảo về sự ổn định, an toàn trong quá trình sử dụng đất hay không?

- Tính minh bạch và tiếp cận thông tin: Đánh giá khả năng mà doanh nghiệp có thể

tiếp cận những kế hoạch của tỉnh và văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh doanh, tính sẵn có của các tài liệu, văn bản này, liệu chúng có được đưa ra tham khảo ý kiến trước khi ban hành, mức độ tiện dụng của trang web của tỉnh đối với doanh nghiệp

- Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước: Đo lường thời gian mà

các doanh nghiệp phải tiêu tốn khi chấp hành các thủ tục hành chính, cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan nhà nước thực hiện việc thanh, kiểm tra

- Chi phí không chính thức: Đo lường mức chi phí không chính thức mà doanh

nghiệp phải trả và những trở ngại do những chi phí này gây nên đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc trả những chi phí không chính thức như vậy có đem lại kết quả hay “dịch vụ” như mong đợi không?

Trang 9

- Ưu đãi đối với doanh nghiệp Nhà nước (Môi trường cạnh tranh): Đánh giá tính

cạnh tranh của các doanh nghiệp tư nhân do ảnh hưởng từ sự ưu đãi của các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá của chính quyền cấp tỉnh, thể hiện dưới dạng các ưu đãi cụ thể, phân biệt về chính sách và việc tiếp cận nguồn vốn (Năm 2009, loại bỏ chỉ số này)

- Tính năng động và tiên phong của chính quyền tỉnh: Đo lường tính sáng tạo, sáng

suốt của tỉnh trong quá trình thực thi chính sách Trung ương cũng như việc đưa ra những sáng kiến nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đánh giá khả năng

hỗ trợ và áp dụng những chính sách đôi khi chưa rõ ràng của Trung ương theo hướng

có lợi cho doanh nghiệp

- Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh: Phản ánh chất lượng và tính hữu ích của các chính

sách cấp tỉnh để phát triển khu vực kinh tế tư nhân như xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin pháp luật cho doanh nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, cung cấp dịch vụ công nghệ cũng như phát triển các khu, cụm công nghiệp

- Đào tạo lao động: Phản ánh mức độ và chất lượng những hoạt động đào tạo nghề

và phát triển kỹ năng do tỉnh triển khai nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp địa phương cũng như tìm kiếm việc làm cho lao động địa phương

- Thiết chế pháp lý: Phản ánh lòng tin của doanh nghiệp tư nhân đối với các thiết

chế pháp lý của địa phương, việc doanh nghiệp có xem các thiết chế tại địa phương này như công cụ hiệu quả để giải quyết tranh chấp hoặc là nơi doanh nghiệp có thể khiếu nại những hành vi nhũng nhiễu của cán bộ, công chức địa phương hay không?

2.2 Mô tả chi tiết các chỉ số thành phần và các chỉ tiêu cụ thể

2.2.1 Chi phí gia nhập thị trường

- Thời gian chờ đợi để có mặt bằng sản xuất kinh doanh (số ngày)

- Phần trăm doanh nghiệp gặp khó khăn để có đủ các loại giấy phép cần thiết

- Phần trăm doanh nghiệp phải chờ hơn ba tháng để hoàn thành tất cả các thủ tục

để bắt đầu hoạt động

Trang 10

- Thời gian đăng ký kinh doanh (số ngày)

- Thời gian đăng ký bổ xung (số ngày)

- Số lượng giấy đăng ký và giấy phép cần thiết để chính thức hoạt động

- Thời gian chờ đợi để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

2.2 2 Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất

- Phần trăm doanh nghiệp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đang trong quá trình chờ nhận

- Phần trăm doanh nghiệp không có giấy CNQSDĐ và phải thuê lại đất của DNNN

- Phần trăm Doanh nghiệp cho biết sự khó khăn về đất đai và mặt bằng cản trở việc mở rộng sản xuất kinh doanh

- Đánh giá của doanh nghiệp về nỗ lực của chính quyền tỉnh trong việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất

- Doanh nghiệp không đánh dấu ô nào trong danh mục lựa chọn cản trở về mặt

bằng sản xuất kinh doanh

- Sự thay đổi khung giá đất của Chính phủ phản ánh sự thay đổi mức giá thị trường (% đồng ý)

- Nếu bị thu hồi đất, Doanh nghiệp sẽ được bồi thường thoả đáng (% luôn luôn

hoặc thường xuyên)

- Doanh nghiệp đánh giá rủi ro bị thu hồi đất

- Tỷ lệ diện tích đất trong tỉnh có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chính thức

- Phần trăm doanh nghiệp sở hữu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

2.2.3 Tính minh bạch và tiếp cận thông tin

- Khả năng tiếp cận thông tin (quy ra thang điểm 10)

- Phần trăm doanh nghiệp cho biết khả năng tiếp cận thông tin phụ thuộc nhiều vào việc doanh nghiệp phải có mối quan hệ với các cơ quan nhà nước của tỉnh

Trang 11

- Phần trăm doanh nghiệp cho biết gia đình và bạn bè có vai trò quan trọng để

hỗ trợ doanh nghiệp thương lượng với các quan chức nhà nước ở tỉnh

- Phần trăm doanh nghiệp cho biết đối với những chính sách pháp luật của Trung ương có ảnh hưởng quan trọng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, họ luôn luôn

và thường xuyên đoán trước được việc thực hiện các chính sách ở địa phương

- Phần trăm doanh nghiệp cho biết lãnh đạo tỉnh thường xuyên tiếp xúc với doanh nghiệp để thảo luận về các thay đổi pháp luật và chính sách

- Điểm trang WEB của tỉnh

- Phần trăm doanh nghiệp cho biết chất lượng dịch vụ tư vấn do cơ quan của

tỉnh cung cấp về thông tin pháp luật là tốt/rất tốt

- Các hiệp hội Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong tư vấn và phản biện các chính sách của tỉnh.1

2.2.4 Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước

- Các loại phí, lệ phí của nhiều thủ tục hành chính giảm sau khi thực hiện cải cách hành chính (% có)

- Thủ tục giấy tờ giảm sau khi thực hiện cải cách hành chính (% có)

- Số lần đi xin dấu và chữ ký của Doanh nghiệp sau khi cải cách hành chính

- Các cán bộ nhà nước làm việc hiệu quả hơn sau khi cải cách hành chính

- Số lần trung vị làm việc với thanh tra thuế

- Phần trăm doanh nghiệp sử dụng hơn 10% quỹ thời gian để thực hiện các quy đinh của nhà nước

- Số cuộc thanh tra trung vị (tất cả các cơ quan)

2.2.5 Chi phí không chính thức

- Phần trăm các doanh nghiệp cùng ngành đều trả chi phí không chính thức

- Phần trăm doanh nghiệp tốn hơn 10% doanh thu cho các loại chi phí không chính thức

1 Bổ xung năm 2009

Trang 12

- Chính quyền tỉnh sử dụng các quy định riêng của địa phương với mục đích trục lợi ( % đồng ý hoặc hoàn toàn đồng ý)

- Phần trăm doanh nghiệp cho biết cán bộ tỉnh sử dụng các quy định riêng của điạ phương để trục lợi

- Phần trăm doanh nghiệp cho biêt công việc được giải quyết sau khi đã chi trả chi phí không chính thức

2.2.6 Ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước (Môi trường cạnh tranh)

- Phần trăm doanh nghiệp cho rằng chính quyền có ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước

- Phần trăm doanh nghiệp đồng ý với nhận định chính quyền địa phương có thái

độ tích cực đối với khu vực kinh tế dân doanh

- Phần trăm doanh nghiệp cho rằng sự quan tâm của chính quyền đã được cải thiện kể từ khi Luật Doanh nghiệp ra đời

- Phần trăm doanh nghiệp cho biết sự quan tâm của chính quyền địa phương không phụ thuộc vào vào mức đóng góp của doanh nghiệp dân doanh cho sự phát triển

của địa phương (giải quyết lao động, nộp ngân sách…)

- Đánh giá của doanh nghiệp về chính sách cổ phần hoá (phần trăm doanh nghiệp hài lòng về chất lượng thực hiện chính sách cổ phần hoá)

- Phần trăm doanh nghiệp cho rằng chính quyền địa phương vẫn còn ưu đãi đối với doanh nghiệp cổ phần hoá và điều đó là trở ngại dối với hoạt động của doanh nghiệp dân doanh

- Tỷ trọng cho vay từ các ngân hàng thương mại quốc doanh đối với doanh nghiệp nhà nước

- Tỷ lệ tăng/giảm số lượng doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý

- Tương quan tỷ lệ giữa tỷ trọng nợ của doanh nghiệp nhà nước do địa phương

quản lý trong tổng số nợ của các doanh nghiệp của tỉnh so với tỷ trọng doanh thu của doanh nghiệp nhà nước trong tổng doanh thu của các doanh nghiệp của tỉnh

Trang 13

Năm 2009, loại bỏ chỉ số ưu đãi Doanh nghiệp Nhà nước Nhờ quá trình cổ phần hoá mạnh mẽ tại các địa phương, những ưu đãi đối với khu vực này đã không còn

là trở ngại lớn đối với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân

2.2.7 Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh

- Phần trăm doanh nghiệp cho rằng các quan chức cấp tỉnh nắm vững các chính sách, quy định hiện hành để giải quyết các vấn đề mà doanh nghiệp gặp khó khăn trong khuôn khổ pháp luật

- Phần trăm doanh nghiệp cho rằng quan chức cấp tỉnh sáng tạo và nhanh nhạy trong khuôn khổ pháp luật để giải quyết các vấn đề mà doanh nghiệp tư nhân đang gặp

- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cho

dịch vụ tư vấn về thông tin pháp luật (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tư vấn về thông tin pháp luật

- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cho dịch vụ tìm kiếm thông tin kinh doanh (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ tìm kiếm thông tin kinh doanh (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tìm kiếm thông tin kinh doanh (%)

- Số lượng các nhà cung cấp dịch vụ công là tư nhân

Trang 14

- Số hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức trong năm hoặc đăng ký tổ chức cho

năm nay

Năm 2009 bổ xung thêm các tiêu chí:

- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh (%)

- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp tư nhân trên cho dịch

vụ hỗ trợ tìm đối tác kinh doanh (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ xúc tiến thương mại (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cho dịch vụ xúc tiến

thương mại (%)

- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp dịch vụ tư nhân trên cho dịch vụ xúc tiến thương mại (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng các dịch vụ liên quan đến công nghệ (%)

- Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho các dịch vụ liên quan đến công nghệ (%)

- Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng nhà cung cấp tư nhân trên cho các dịch vụ liên quan đến công nghệ (%)

2.2.9 Đào tạo lao động

- Dịch vụ do cơ quan nhà nước tại địa phương cung cấp: Giáo dục phổ thông (% tốt)

- Dịch vụ do các cơ quan nhà nước tại địa phương cung cấp: Dạy nghề (% tốt)

- Số lượng trung tâm giới thiệu việc làm trên 100.000 dân

- Số lao động tốt nghiệp THCS (%)

Năm 2009, bổ xung thêm một số tiêu chí:

- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tuyển dụng và giới thiệu việc làm

- Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ việc làm nói trên của nhà cung cấp tư nhân (%)

- Doanh nghiệp có ý định sẽ sử dụng lại nhà cung cấp dịch vụ nói trên cho dịch

vụ giới thiệu việc làm (%)

Trang 15

- Phần trăm tổng chi phí kinh doanh dành cho đào tạo lao động

- Số lượng các trung tâm đào tạo nghề cấp huyện/tỉnh

- Phần trăm số cơ sở dạy nghề trong tỉnh do tư nhân thành lập

- Số lượng học viên tốt nghiệp trường đào tạo nghề/số lao động chưa qua đào tạo

- Tổng số cơ sở đào tạo/100.000 dân

- Doanh nghiệp tin tưởng vào khả năng bảo vệ của pháp luật

- Hệ thống tư pháp cho phép doanh nghiệp tố cáo hành vi tham nhũng của công chức

Năm 2009, bổ xung thêm một số tiêu chí:

- Doanh nghiệp sử dụng toà án hoặc các thiết chế pháp lý để giải quyết tranh

chấp (%)

- Số ngày trung vị để giải quyết vụ kiện tại toà

- Phần trăm chi phí (chính thức và không chính thức) để giải quyết tranh chấp trong tổng giá trị tranh chấp

3 Mục đích nghiên cứu chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh

Chỉ số Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) được xây dựng với mục tiêu giúp lý giải nguyên nhân tại sao một số tỉnh thành của đất nước lại tốt hơn tỉnh thành khác về sự phát triển năng động của khu vực kinh tế dân doanh, tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế, từ đó xác định nguyên nhân của những rào cản, cản trở và đưa ra các giải pháp để nâng cao

chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội chung

4 Phương pháp luận tính chỉ số cạnh tranh:

Trang 16

Thứ nhất, bằng cách loại trừ ảnh hưởng của các điều kiện truyền thống ban đầu

tới sự tăng trưởng kinh tế (những điều kiện này là các nhân tố căn bản cần thiết cho sự tăng trưởng nhưng rất khó hoặc thậm chí không thể đạt được trong thời gian ngắn), kết quả nghiên cứu cho thấy thực tiễn điều hành kinh tế tốt ở cấp tỉnh có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng và những thực tiễn này còn góp phần lý giải sự khác biệt về phát triển kinh tế giữa các tỉnh hoặc tại sao các tỉnh đạt kết quả phát triển kinh tế tương đồng mặc dù điều kiện truyền thống ban đầu của mỗi tỉnh này rất khác nhau Tập trung vận dụng các thực tiễn điều hành tốt sẽ góp phần cải thiện sự phát triển kinh tế mà không nhất thiết phải đòi hỏi ngay một sự thay đổi to lớn nào về mặt hạ tầng cơ sở vật chất hay con người ở vùng đó

Thứ hai, bằng cách chuẩn hóa điểm quanh các thực tiễn tốt nhất đã có ở Việt

Nam, chỉ số PCI hướng chính quyền địa phương vào cải thiện cách điều hành của họ, không nhất thiết cứ phải dựa vào chuẩn mực lý tưởng nào về mô hình điều hành mà có thể căn cứ ngay vào những thực tiễn tốt nhất đã sẵn có ở các tỉnh bạn và ngay trong cùng một hệ thống chính trị Vì vậy, về lý thuyết, bất cứ tỉnh nào cũng có thể đạt tới điểm tuyệt đối bằng cách áp dụng thực tiễn tốt sẵn có của Việt Nam Điều đó có nghĩa

là chẳng có lý gì để biện hộ cho sự điều hành yếu kém ở tỉnh mình khi mà chính quyền của bất cứ tỉnh nào đều có thể tự cải thiện để tạo ra môi trường kinh doanh hấp dẫn ngay tại địa phương mình

Thứ ba, bằng cách so sánh thực tiễn điều hành kinh tế với thực tế phát triển kinh

tế, chỉ số PCI cung cấp các đánh giá ban đầu về tầm quan trọng của thực tiễn điều hành đối với sức thu hút đầu tư và tăng trưởng Cuộc nghiên cứu này là một minh chứng cụ thể về mối tương quan giữa thực tiễn điều hành kinh tế tốt với đánh giá của doanh nghiệp, và đặc biệt quan trọng là với sự cải thiện phúc lợi của địa phương Mối quan hệ thứ hai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nó nêu rõ các chính sách và thực tiễn điều hành kinh tế tốt không chỉ làm lợi cho các doanh nghiệp mà còn làm lợi cho xã hội,

Trang 17

khu vực kinh tế tư nhân năng động sẽ tạo thêm việc làm, góp phần nâng cao mức sống cho nhân dân

Thứ tư, Các chỉ tiêu cấu thành chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được thiết kế

theo hướng dễ thực hiện, theo nghĩa đây là những chỉ tiêu cụ thể cho phép các cán bộ công chức của tỉnh đưa ra các mục tiêu phấn đấu và theo dõi được tiến bộ trong thực hiện Các chỉ tiêu này cũng rất hữu ích vì được doanh nghiệp nhìn nhận là các chính sách then chốt đối với sự thành công của họ và các nghiên cứu trước đây chỉ ra là có ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp

Phương pháp tính chỉ số PCI được chia làm ba giai đoạn:

- Thu thập thông tin dữ liệu điều tra và dữ liệu cứng

- Xây dựng chỉ số thành phần

- Xác định trọng số của các chỉ số thành phần để tính chỉ số PCI

+Thu thập thông tin số liệu: Có hai nguồn thông tin, số liệu được sử dụng để xây

dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh gồm:

- Tổ chức điều tra các doanh nghiệp (nhằm tìm hiểu đánh giá của các doanh nghiệp

về môi trường kinh doanh của tỉnh/thành)

- Kết hợp với các số liệu đã công bố chính thức

Chỉ số PCI đánh giá các tỉnh thành theo thang điểm 100 Mục tiêu là kết hợp số liệu khách quan và số liệu chủ quan để tính toán chỉ số tổng hợp cuối cùng

+ Xây dựng chỉ số thành phần

Một trong những ưu điểm quan trọng của PCI là so sánh chất lượng điều hành kinh

tế của mỗi tỉnh với thực tiễn tốt về điều hành kinh tế ở Việt Nam, chứ không phải so sánh với một chuẩn mực lý tưởng nào Mỗi chỉ tiêu được chuẩn hoá về thang điểm 10, trong đó tỉnh có thực tiễn tốt nhất sẽ tương ứng với điểm 10, tỉnh có thực tiễn kém nhất tương ứng với điểm 1, các tỉnh còn lại sẽ tương ứng với điểm nằm giữa 1 và 10

+Xây dựng chỉ số tổng hợp có trọng số

Trang 18

Căn cứ vào mười chỉ số thành phần theo thang điểm 10, công việc còn lại là tính toán chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp - chỉ số PCI Chúng ta có thể cộng giản đơn lại nhưng điều này không phù hợp nếu chúng ta muốn tính đến mức độ tác động khác nhau của từng chỉ số

Có ba nguyên nhân dẫn đến sự tác động khác nhau của từng chỉ số thành phần đến chỉ số tổng hợp:

- Các chỉ số thành phần không độc lập với nhau Sự tương tác của chúng với nhau thực chất có tác động tới kinh tế của tỉnh

- Điểm số của một số chỉ số thành phần gần như giống nhau giữa các tỉnh

- Phần lớn tác động của một số chỉ số thành phần có thể đã bao hàm trong tác động của các chỉ số thành phần khác

Ba chỉ tiêu năng lực cạnh tranh (biến kết quả) có tính đại diện rộng rãi cho khu vực kinh tế tư nhân ở cấp tỉnh gồm:

- Tỷ lệ số doanh nghiệp dân doanh ( bao gồm TNHH, Cổ phần, Doanh nghiệp tư nhân) đang hoạt động trên số dân cuả tỉnh

- Vốn đầu tư dài hạn của khu vực tư nhân tính bình quân đầu người thể hiện mức độ rủi ro mà doanh nghiệp chấp nhận

- Lợi nhuận bình quân trên một doanh nghiệp để thể hiện mức độ thành công của doanh nghiệp Lợi nhuận của doanh nghiệp trong một thời kỳ là một tín hiệu dự báo tốt

về tiềm năng đầu tư ở thời kỳ sau đó Các tỉnh có điểm PCI cao thường có thể xây dựng một môi trường kinh doanh tốt, ở đó tinh thần kinh doanh được cổ vũ và đền đáp bằng kết quả sản xuất kinh doanh

Tác động của các chỉ số thành phần: Để xác định trọng số của các chỉ số thành phần thì cách tốt nhất hồi quy tất cả mười chỉ số với 3 chỉ tiêu năng lực cạnh tranh, sau khi loại trừ tác động của các điều kiện truyền thống Trọng số sẽ là các hệ số tương ứng từ kết quả ước lượng của phép hồi quy, từng hệ số phản ánh tác động khi thay đổi một điểm trong chỉ số thành phần

Trang 19

Các chỉ số thành phần có quan hệ tương tác đa tuyến Các tỉnh đạt kết quả tốt ở chỉ

số này thì cũng tốt ở chỉ số kia Việc này sẽ dẫn đến sai số về mặt thống kê

Xác định các nhân tố không tương quan từ mười chỉ số thành phần để xử lý vấn đề

đa cộng tuyến bằng cách vận dụng phương pháp phân tích nhân tố Hệ số gắn bó nhân

tố về cơ bản là tương quan của các chỉ số thành phần với nhân tố tìm được, còn điểm nhân tố là tỷ lệ đóng góp theo phần trăm của mỗi chỉ số thành phần vào nhân tố đó Đối với mỗi loại nhân tố, khi cộng tổng các điểm nhân tố sẽ có kết quả tổng cộng là 1 Có

ba nhân tố được tạo ra trong quá trình này là:

- Nhân tố thứ nhất: bao gồm các chỉ số thành phần: Chính sách phát triển khu vực

kinh tế tư nhân, chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước, đào tạo lao động và tính năng động tiên phong Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và Đào tạo lao động là hai chỉ số điển hình đại diện cho các biện pháp can thiệp nhằm hỗ trợ sự vận hành của thị trường Dần dần những dịch vụ như tư vấn thông tin thị trường hoặc thành lập các trung tâm đào tạo góp phần cải thiện chất lượng nhân lực là những loại hình sẽ phải được tư nhân hoá

- Nhân tố thứ hai: Gồm các chỉ số thành phần: Tiếp cận và sử dụng ổn định đất đai,

Chi phí không chính thức và chính sách ưu đãi Doanh nghiệp nhà nước là những cải cách ban đầu giúp các tỉnh thu hút các công ty mới và khuyến khích chính thức hoá các hoạt động kinh doanh Về một khía cạnh nào đó, tính năng động cũng liên quan một phần đến chỉ số này

- Nhân tố thứ 3: bao gồm hai chỉ số thành phần có phương sai nhỏ giữa các tỉnh

trong toàn quốc : Chỉ số Chi phí gia nhập thị trường và chỉ số Thiết chế pháp lý Xác định trọng số của các chỉ số thành phần: Mỗi nhân tố sẽ được tính toán thông qua một chuỗi gồm ba hàm hồi quy với ba biến đầu ra là: đầu tư, lợi nhuận và số doanh nghiệp; ta tính toán được các trọng số

Trang 20

Chương II: Phân tích hiện trạng chỉ số cạnh tranh tỉnh Nam Định

1 Tổng quan về kết quả đáng giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trên bình diện quốc gia

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh lần đầu tiên được giới thiệu và công bố đã gây những dư luận trái ngược nhau trong quan điểm và nhận thức về năng lực cạnh tranh giữa các địa phương Ở đây Chỉ số năng lực cạnh tranh chỉ muốn đề cập đến năng lực điều hành của chính quyền cấp tỉnh mà thôi Như vậy, Chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh chỉ tính tới những điều kiện chính quyền địa phương có thể khắc phục trong tương lai gần Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh không phải là thước đo đánh giá cá nhân của từng người lãnh đạo mà ở đây mang tính chất cả một tập thể, bộ máy, hệ thống hoạt động của bộ máy chính quyền

Chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh xét đến hai nhóm đối tượng là chính quyền địa phương (chủ thể) và cộng đồng doanh nghiệp tư nhân (khách thể) Có một tỷ lệ thuận giữa chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và chỉ số hình ảnh thương hiệu địa phương Ngoài những ngoại lệ trong xác lập thương hiệu địa phương dựa trên “của trời cho” như sản vật, tài nguyên, hầu hết các lợi thế cạnh tranh (tạo nên năng lực cạnh tranh) đều do con người chúng ta tạo ra Tuy nhiên, nếu các địa phương thi nhau đưa ra các giải pháp “hạ giá” hoặc “phá giá” để thu hút nhà đầu tư, hoặc phát triển kinh tế tư nhân quá “nóng”, điều này sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng

Một ví dụ hết sức điển hình và sinh động về đánh giá của hai tỉnh Bình Dương

và Hà Tây, vì đây là hai tỉnh có điều kiện địa lý, nguồn nhân lực…khá giống nhau, nhưng trong đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh thì đây là hai tỉnh khá khác biệt Có thể coi đây là minh chứng rõ nét phản ánh về năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của

bộ máy chính quyền cấp tỉnh Rõ ràng những điều kiện vốn có không phải là nguyên nhân mang đến thành công, kết quả của từng tỉnh Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

đã giải thích vì sao lại có những khác biệt này mà những điều kiện vốn có không giải thích được Bình Dương có các chỉ số trên trung bình và gần như đứng đầu, trong khi

Trang 21

đó Hà Tây lại có nhiều chỉ số thấp thậm chí là đứng cuối bảng Yếu tố để giải thích sự khác biệt này là chất lượng điều hành nền kinh tế Bình Dương đã làm tốt tiêu chí minh bạch trong tiếp cận thông tin để giúp doanh nghiệp có thể ra những quyết định sáng suốt Lãnh đạo tỉnh Bình Dương cũng đã rất năng động “gỡ nút” cho doanh nghiệp khi chính sách của Trung ương còn chung chung hoặc chưa rõ ràng Thậm chí nhiều chính sách của tỉnh Bình Dương tại trở thành tiên phong và được nhiều tỉnh áp dụng Ngược lại ở Hà Tây, thì chỉ dựa vào chính sách của Trung ương mà chưa có sự vận dụng sáng tạo của tỉnh Đây là ví dụ hết sức quan trọng để minh chứng cho việc ảnh hưởng của chỉ số năng lực cạnh tranh đối với sự phát triển kinh tế xã hội của từng tỉnh

Việc đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hết sức có ý nghĩa Nếu từng địa phương của Việt Nam dùng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh để cải thiện môi trường kinh doanh, thì không chỉ riêng từng địa phương môi trường kinh doanh được cải thiện mà năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam sẽ được cải thiện trong tương lai không xa

2 Phân tích thực trạng các yếu tố cấu thành chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Nam Định

2.1 Biến động chỉ số năng lực cạnh tranh của Nam Định qua các năm

Trang 22

kinh tế của tỉnh Chính quyền tỉnh Nam Định cần có suy nghĩ như thế nào về việc này, đòi hỏi cần hành động ra sao để Nam Định thật sự là nơi có môi trường đầu tư thân thiện và cởi mở

Trước yêu cầu đó, Chính quyền tỉnh Nam Định đã đưa ra một số giải pháp và hành động để nhằm cải thiện môi trường đầu tư, làm cho mối quan hệ giữa doanh nghiệp các nhà đầu tư và chính quyền càng trở lên gắn bó và có niềm tin lẫn nhau Tuy nhiên, những công việc của tỉnh đã làm chưa thực sự tạo ra những đột phá, các công việc chưa được triển khai liên tục, thường xuyên và chưa có được một chương trình hành động tổng thể về việc này Bên cạnh đó, các tỉnh bạn xung quanh chúng ta cũng không ngừng ngày đêm có gắng để cải thiện môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư của mình Do vậy chỉ số năng lực cạnh tranh Nam Định chưa thật sự có chuyển biến tích cực, chưa tạo đột phá về cải thiện môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư do đó

chưa tạo được sức hút các nhà đầu tư đến với Nam Định Vậy để chỉ số năng lực cạnh tranh của Nam Định có những chiều hướng ngày càng tốt hơn, tuy rằng thứ tự chưa có

sự đột biến, nhưng điểm số phải được doanh nghiệp đánh giá và ghi nhận Chúng ta phải xác định xem vị trí hiện tại của mình đang ở đâu và sẽ hành động ra sao để có được sự cảm nhận tốt hơn của cộng đồng doanh nghiệp

Để cùng nhìn nhận một cách chi tiết và khách quan chúng ta phân tích từng chỉ

số thành phần cấu thành nên chỉ số cạnh tranh của tỉnh Nam Định

2.2 Biến động của từng chỉ số thành phần qua các năm

2.2.1 Chỉ số Chi phí gia nhập thị trường

- Diễn biến qua các năm

Trang 23

khi tham gia kinh doanh là rất dễ dàng Đây là điều kiện tốt để thúc đầy sự phát triển

của khu vực kinh tế tư nhân, từng bước cải thiện môi trường kinh doanh

Biểu đồ thể hiện điểm số của Chỉ số chi phí gia nhập thị trường qua các năm

Với sự cố gắng của các cấp chính quyền của tỉnh Nam Định, điểm số chi phí gia nhập thị trường đã có chuyển biến theo chiều hướng tích cực Tuy nhiên, năm 2009 điểm số này không tiếp tục được duy trì theo chiều hướng tăng dần nữa và đã bị giảm

so với năm 2008 Điều này, chứng tỏ việc duy trì công việc cải thiện môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư của tỉnh chưa được thường xuyên liên tục và chưa có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ từ cấp lãnh đạo Việc sao nhãng kiểm tra, giám sát trong quá trình tổ chức thực hiện sẽ dẫn đến hiệu quả công việc không cao, giảm thiện cảm

và những đáng giá tốt từ phía cộng đồng doanh nghiệp đối với chỉ số này

Trang 24

Khi bắt đầu tiến hành khảo sát, điểm số của Nam Định cũng được đánh giá khá cao, chỉ thấp hơn so với Ninh Bình, và đều cao hơn các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Hồng Đây là thời kỳ chúng ta mới áp dụng Luật Doanh nghiệp, do đó những rào cản như được phá bung ra đã tạo điều kiện tốt cho việc đăng ký thành lập doanh nghiệp mới, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp Các tổ chức, cá nhân trước đó muốn làm các thủ tục thành lập doanh nghiệp là điều không phải dễ dàng, nhưng sau khi có Luật Doanh nghiệp, thì công việc này trở nên thuận lợi hơn rất nhiều, các chi phí để có được giấy đăng ký kinh doanh đã giảm đáng kể Thời gian trung bình các tổ chức, các nhân muốn có được Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tại Nam Định vào khoảng 42 ngày

và số lượng các loại giấy tờ mà doanh nghiệp hiện có là: 3,73 , trong đó cao nhất là 7,47 giấy tờ các loại Tuy nhiên, trong khi đó thời gian đăng ký kinh doanh tại Nam Định (42,10 ngày) còn cao hơn nhiều so với thời gian đăng ký kinh doanh tại Ninh Bình (15,99 ngày) Đây là một trong những nguyên nhân làm điểm số của Nam Định

thấp hơn của Ninh Bình

Hà Nam Thái

Bình

Vĩnh Phúc

Bắc Ninh Hưng

Yên

Quảng Ninh

Hải Dương

Hà Tây

Trang 25

Bên cạnh sự cố gắng, nỗ lực của Nam Định thì các tỉnh khác cũng có những giải pháp để giảm chi phí gia nhập thị trường, tạo điều kiện cho sự phát triển doanh nghiệp

và đã được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao, đặc biệt Ninh Bình đã vươn lên gần đến điểm số tuyệt đối Đây là dấu hiệu tốt đối với việc hình thành các doanh nghiệp Các cá nhân, đơn vị không còn e dè khi muốn thành lập doanh nghiệp nữa Công việc giờ đã rất dễ dàng Việc điểm số của chỉ số này của Nam Định bị thấp hơn so với Ninh Bình là do nguyên nhân Thời gian chờ đợi để có mặt bằng sản xuất kinh doanh (113 ngày) và Thời gian đăng ký kinh doanh (15 ngày) của Nam Định cao hơn nhiều so với Ninh Bình với số liệu là (60 ngày) để có mặt bằng sản xuất kinh doanh và (7 ngày) cho

việc đăng ký kinh doanh

Hà Nam Thái

Bình

Vĩnh Phúc

Bắc Ninh Hưng

Yên

Quảng Ninh

Hải Dương

Hà Tây

Trang 26

giấy đăng ký và giấy phép cần thiết để chính thức đi vào hoạt động chỉ còn là 01 loại

giấy tờ

- So sánh với một số tỉnh năm 2009

Qua nhìn nhận vào đánh giá điểm số của các tỉnh trong khu vực, có một nhận xét cần rút ra đó là các tỉnh đều đang cố gắng hết mình để giảm chi phí gia nhập thị trường của cộng đồng doanh nghiệp, tuy nhiên có tỉnh đã làm và thực hiện duy trì tốt, nhưng cũng có tỉnh đã triển khai các giải pháp những việc duy trì còn hạn chế và bên cạnh đó thì các đòi hỏi của doanh nghiệp cũng cao hơn và có sự so sánh giữa các tỉnh khi có quan hệ làm ăn, dẫn đến việc thay đổi trong việc đánh giá điểm số của chỉ số này Hiện nay, hầu hết điểm số của chỉ số này của các tỉnh đều đã ở ngưỡng điểm số rất cao, cho nên việc nâng cao điểm số là việc hoàn toàn không dễ dàng với điều kiện chính sách chung, thống nhất toàn quốc, các tỉnh khó có thể đưa ra các giải pháp nào mang tính đột phá Tuy nhiên, đối với Nam Định cần phải duy trì tốt điểm số của chỉ số này Tuy nhiên tiêu chí Thời gian đăng ký kinh doanh (10 ngày) và đăng ký bổ xung (6 ngày) của Nam Định vẫn còn cao, chúng ta hoàn toàn có thể rút ngắn hơn nữa thời gian cho việc này Thời gian ngắn nhất cho việc đăng ký kinh doanh là 6,5 ngày, đăng ký bổ xung là 3 ngày

Chi phí gia nhập thị trường

Hải Dương

Trang 27

Tóm lại: Đối với chỉ số thành phần này, giải pháp mà Nam Định còn phải thực hiện để duy trì và nâng cao hơn nữa điểm số của chỉ số thành phần này là thực hiện rút ngắn thời gian đăng ký kinh doanh, thời gian đăng ký bổ xung và thời gian chờ đợi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

2.2.2 Chỉ số Tiếp cận đất đai và ổn định trong sử dụng đất

sự thụt lùi hết sức đáng buồn, gần như trở lại điểm số của năm 2006

Điều này được lý giải như sau: Cộng đồng doanh nghiệp chưa thật sự tin vào các chính sách về đất đai của Chính quyền Trung ương và những việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của chính quyền địa phương Chính sách về đất đai không có mức độ ổn định nhất định dẫn đến rất khó khăn trong việc thực thi kể cả đối với cấp chính quyền địa phương và đối với các doanh nghiệp Đó là việc ra đời Nghị định 69 của Chính phủ, việc Nghị định 69 ra đời đã gây không ít khó khăn cho các nhà đầu tư trong việc thu

Trang 28

hồi đất để có mặt bằng sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp triển khai từ các dự án từ trước khi Nghị định 69 có hiệu lực và chịu hiệu lực áp dụng của Nghị định

84, trong quá trình triển khai dự án, do khó khăn về khủng hoảng kinh tế thế giới và suy giảm kinh tế trong nước, các công ty gặp khó khăn về sản xuất đã không thể triển khai các dự án đầu tư được, nhưng khi kinh tế bắt đầu có dấu hiệu phục hồi thì khi thu hồi đất giải phóng mặt bằng các doanh nghiệp lại phải trả với mức đền bù cao hơn nhiều, doanh nghiệp đang có khó khăn về vốn, nay muốn mở rộng sản xuất kinh doanh thì lại càng khó khăn về vốn hơn

Bên cạnh đó các thủ tục về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng chưa thật sự thông thoáng, đôi lúc còn có sự gây khó khăn và đòi hỏi từ phía các cán bộ công chức của các cơ quan hành chính thực hiện nhiệm vụ này Việc doanh nghiệp có thể làm các thủ tục để thuê được đất mở rộng mặt bằng sản xuất kinh doanh cũng không phải là công việc đơn giản

- So sánh với một số tỉnh năm 2006

Về cơ bản, các tỉnh trong khu vực đều có sự đánh giá là tương tự như nhau, điểm số của chỉ số này không chênh lệch nhau nhiều, và cũng chỉ được đánh giá ở mức trung bình và trên trung bình một ít Điểm số của Ninh Bình cao hơn chúng ta một

Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất

Hà Nam Thái

Bình

Vĩnh Phúc

Bắc Ninh Hưng

Yên

Quảng Ninh

Hải Dương

Hà Tây

Trang 29

chút Có sự đánh giá chưa cao về chỉ số này, điều này chứng tỏ còn nhiều vấn đề khó khăn đối với doanh nghiệp khi có nhu cầu về đất đai để sản xuất kinh doanh Với chính sách như hiện nay quyền sử dụng đất có thể đem ra thế chấp vay vốn ngân hàng thì việc có được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và việc quy hoạch sử dụng đất ổn định là rất quan trọng đối với doanh nghiệp Điều này, nhìn chung là các tỉnh làm chưa thật tốt việc này Đối với Nam Định, điểm số ở mức trung bình nó phản ánh tình trạng:

Hiện nay mới chỉ có 51% các doanh nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất, các chỉ số khác như số doanh nghiệp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

ở các tỉnh trong khu vực cũng tương tư như nhau, dao động xung quanh con số 60% và

vẫn còn trên 30% số doanh nghiệp đánh giá còn cản trở về mặt bằng sản xuất

- So sánh với một số tỉnh năm 2007

Tương tự như năm 2006, đối chiếu với các tỉnh xung quanh chúng ta thì họ cũng có điểm số của chỉ số Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất tương tự chúng ta

và sự khác biệt là không lớn Như đã phân tích ở trên, về cơ bản điểm số là như nhau

và có chiều hướng tăng lên một chút, nhưng phần tăng thêm là không đáng kể Chứng

tỏ chính sách này còn dậm chân tại chỗ

Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất

Hà Nam Thái

Bình

Vĩnh Phúc

Bắc Ninh Hưng

Yên

Quảng Ninh

Hải Dương

Hà Tây

Trang 30

- So sánh với một số tỉnh năm 2008

Năm 2008, tình hình cũng gần giống như năm 2007 và theo chiều hướng được cải thiện một chút Việc tăng điểm không đáng kể là do việc tăng tỷ lệ các doanh nghiệp có giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất tăng chậm Điều này chứng tỏ, việc cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng chưa thật sự thông thoáng và còn có những khó khăn đối với doanh nghiệp

- So sánh với một số tỉnh năm 2009

Năm 2009, đối với hầu hết các tỉnh, điểm số của chỉ số này đều bị giảm Nguyên nhân

như đã giải thích tổng quát ở phần trên, nhưng điều đáng bàn ở đây là sự giảm sút điểm

số là đáng kể ở hầu hết các tỉnh, điều đó minh chứng nguyên nhân do ảnh hưởng của

Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất

Hà Nam Thái

Bình

Vĩnh Phúc

Bắc Ninh Hưng

Yên

Quảng Ninh

Hải Dương

Hải Dương

Trang 31

chính sách vĩ mô đem lại Ở đây có sự ảnh hưởng lớn từ các chính sách vĩ mô của Trung ương đến sự đánh giá của các doanh nghiệp đối với điểm số của chỉ số này Một chỉ tiêu đánh giá đó là việc thay đổi khung giá đất khi thực hiện đền bù giải phóng mặt

bằng theo Nghị định số 69 của Chính phủ Điều này gây rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp khi muốn có đất để sản xuất kinh doanh

Tóm tại: Để tăng điểm số của chỉ số thành phần này, việc Nam Định cần phải

thực hiện đó là: Đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các doanh nghiệp bằng cách đơn giản hoá các thủ tục hành chính đối với công việc này Điểm nút ở đây là đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ này

Một đóng góp quan trọng vào việc cải thiện điểm số của chỉ số này là tích cực thực hiện cải cách thủ tục hành chính tại tất cả các cơ quan quản lý nhà nước và chủ động

0 1 2 3 4 5 6 7

Tính minh bạch

Trang 32

công khai các thủ tục hành chính tại trụ sở các cơ quan và trên trang web của tỉnh Việc triển khai đồng loạt áp dụng cơ chế “một cửa” tại hầu hết các cơ quan hành chính của tỉnh và niêm yết công khai quy trình, thủ tục đã tạo sự tin tưởng của các doanh nghiệp khi thực hiện các công việc

Việc tiếp cận các luồng thông tin đã được cởi mở rất nhiều, đặc biệt các quy hoạch phát triển giao thông, quy hoạch sử dụng đất…khi tiến hành lập quy hoạch đều đã thực hiện tốt bước tham vấn cộng đồng theo quy định của pháp luật Đây là kênh thông tin chính thống giúp người dân nắm bắt được các quy hoạch cần thiết để hoạch định kế hoạch của riêng cá nhân, doanh nghiệp mình

Trước đây, việc tiếp cận những quy hoạch về giao thông, kế hoạch sử dụng đất là hết sức khó khăn Nhiều cán bộ, công chức nhà nước cố tình giấu, không công khai những

kế hoạch, quy hoạch này, không muốn phổ biến rộng rãi, nhằm giữ thông tin cho riêng mình với mục tích trục lợi cá nhân

Hà Nam Thái

Bình

Vĩnh Phúc

Bắc Ninh Hưng

Yên

Quảng Ninh

Hải Dương

Hà Tây

Trang 33

Như phân tích ở trên, vì lợi ích cá nhân hay một nhóm người, việc mù mờ về thông tin

là diễn ra phổ biến, các thông tin thường được quan trọng hoá và bí mật hoá Theo các chỉ tiêu đánh giá của chỉ số thành phần này thì nguyên nhân dẫn đến điểm số của chỉ số thành phần này bị thấp là do: năm 2006, điểm đánh giá về trang web của tỉnh là bằng 0,

Đa phần các tổ chức, cá nhân muốn có được thông tin phải bằng những con đường không chính thống, phải phụ thuộc vào các mối quan hệ cá nhân để có được thông tin cần thiết 63,56% DN phải sử dụng quan hệ cá nhân để có được các thông tin cần thiết Việc có được các thông tin một cách không chính thống nhiều khi bị “tam sao thất bản” làm cho việc xử lý thông tin không được chính xác gây hậu quả nghiêm trọng đến lợi ích của doanh nghiệp và hiện nay Việc gặp gỡ trao đổi mang tính thật sự cởi mở

giữa lãnh đạo tỉnh với các doanh nghiệp còn hạn chế

- So sánh với một số tỉnh năm 2007

Năm 2007, chỉ số tính minh bạch của tỉnh đã được đánh giá khả quan hơn rất nhiều, điểm số đã tăng lên 6,13, và điểm số của chỉ số này đã tương đương các tỉnh xung quanh chúng ta Đây là sự cố gắng rất cao của chính quyền các cấp so với năm 2006 khi công bố chỉ số này Nguyên nhân dẫn đến điểm số của Nam Định được tăng nên đó là: Trang web của tỉnh đã có điểm đánh giá, các thông tin đã cởi mở hơn, % số doanh nghiệp phải sử dụng quan hệ cá nhân để có được thông tin đã giảm xuống, còn 56%

Hà Nam Thái

Bình

Vĩnh Phúc

Bắc Ninh Hưng

Yên

Quảng Ninh

Hải Dương

Hà Tây

Trang 34

- So sánh với một số tỉnh năm 2008

Năm 2008, điểm số của Nam Định về chỉ số này lại bị sụt giảm, minh chứng cho việc cải thiện chỉ số này chưa thật sự bền vững Nguyên nhân xác định điểm số của chỉ số này bị giảm là do: Đánh giá về trang web của tỉnh bị giảm, số % doanh nghiệp cho biết

chất lượng dịch vụ tư vấn do cơ quan của tỉnh cung cấp là tôt/rất tốt giảm từ 46,34%

xuống còn 13,39% và đòi hỏi của doanh nghiệp ngày một cao hơn và thực tế hơn

Hà Nam Thái

Bình

Vĩnh Phúc

Bắc Ninh Hưng

Yên

Quảng Ninh

Hải Dương

Hải Dương

Trang 35

Năm 2009 tỉnh lại không duy trì được điểm số của chỉ số này, điểm số của chỉ

số này lại giảm Nguyên nhân ở đây được xác định là: tỷ lệ % doanh nghiệp lại phải sử dụng các mối quan hệ cá nhân để có được các tài liệu liên quan lên đến 67,57%, trang web của tỉnh, vai trò của hiệp hội doanh nghiệp trong tư vấn và phản biện các chính sách của tỉnh vẫn bị đánh giá thấp, đồng thời với đó là việc các công chức thực thi nhiệm vụ đã không nghiêm túc trong triển khai những quy định đã đặt ra và các chỉ đạo của lãnh đạo cấp trên và việc kiểm tra, giám sát chưa được thực hiện một cách thường xuyên liên tục Tác phong, nề lối làm việc của đại bộ phận cán bộ, công chức chưa thật

sự chuyển biến

Tóm lại: Giải pháp để nâng cao điểm số của chỉ số thành phần này đó là: Cải thiện thông tin cung cấp trên trang web của tỉnh (công bố rộng rãi các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch giao thông…); tăng cường các buổi gặp mặt, làm việc giữa lãnh đạo tỉnh với các doanh nghiệp để hiểu những mong muốn và nhu cầu của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát triển bền vững

2.2.4 Chỉ số Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước

Điểm số của Chỉ số Chi phí thời

gian để thực hiện các quy định

của nhà nước

Một trạng thái diễn biến thất thường nữa lại xuất hiện đối với điểm số của chỉ số này, lúc tăng, lúc giảm Tuy nhiên, các năm sau điểm số của chỉ số này đều đạt trên trung bình Điều đó chứng tỏ việc thực hiện chương trình cải cách thủ tục hành chính

đã từng bước thu được kết quả Từ ban đầu điểm số của chỉ số này chỉ đạt 4,48, dưới mức trung bình, nhưng năm 2007 điểm số đã có chuyển biến rõ nét tăng lên 7,57 điểm Tuy nhiên, với cách làm theo kiểu tháng cao điểm, phát động chiến dịch cho nên điểm

số này năm 2008 lại bị tụt xuống

Trang 36

- So sánh với các tỉnh năm 2006

Năm 2006, so sánh với các tỉnh trong khu vực thì tình cảnh chung là như nhau, một số tỉnh còn có điểm số thấp hơn nhiều khi so với Nam Định như Vĩnh Phúc, Bắc Ninh Nhìn chung các doanh nghiệp đều đánh giá điểm số của chỉ số này không cao, hầu hết các tỉnh đều có điểm số dưới trung bình, điều đó đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tốn quá nhiều thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước Hay nói cách khác, đó là

cơ quan nhà nước đặt ra quá nhiều thủ tục giấy tờ có thể nói là không cần thiết với mục

Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước

Hà Nam Thái

Bình

Vĩnh Phúc

Bắc Ninh Hưng

Yên

Quảng Ninh

Hải Dương

Hà Tây

0 1 2 3 4 5 6 7 8

Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước

Trang 37

đích là để làm sao quản lý cho chặt, chứ chưa đặt mình vào vai là doanh nghiệp, chưa thông cảm và đồng hành với doanh nghiệp, nhiều khi còn hàm ý ban phát đối với doanh nghiệp, gây tâm lý bức xúc trong cộng đồng doanh nghiệp, chính vì vậy điểm số chưa được đánh giá cao Theo các tiêu chí đánh giá của chỉ số thành phần này thì nguyên nhân được xác định chủ yếu là do: % doanh nghiệp sử dụng hơn 10% quỹ thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước còn cao (hơn 20%) và số cuộc thanh tra quá nhiều 45 Điểm số của Ninh Bình cao hơn ta là do chỉ tiêu % doanh nghiệp sử dụng hơn 10% quỹ thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước là 9,62% và số cuộc thanh tra trung vị là 01

- So sánh với các tỉnh năm 2007

Một sự chuyển biến rõ nét đã được nhìn thấy, điểm số của chỉ số này năm 2007

đã được cải thiện mạnh mẽ, hầu hết các tỉnh đã được đánh giá trên điểm trung bình, ngoại trừ Vĩnh Phúc có điểm số dưới trung bình (mặc dù điểm số của Vĩnh Phúc cũng

đã tăng 1,23 điểm) Nam Định cũng đã có sự chuyển mình tích cực, điểm số của chỉ số này của Nam Định được đánh giá một cách vượt bậc Đây là một trong những thành công của công tác cải cách thủ tục hành chính nói chung (đó là việc áp dụng cơ chế

Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước

Hà Nam Thái

Bình

Vĩnh Phúc

Bắc Ninh Hưng

Yên

Quảng Ninh

Hải Dương

Hà Tây

Trang 38

“một cửa’ tại hầu hết các cơ quan hành chính nhà nước) và việc chấn chỉnh tác phong làm việc, kỹ năng giao tiếp của đội ngũ cán bộ công chức nói riêng cùng với việc triển khai cơ chế “một cửa” liên thông giữa hai cơ quan sở Kế hoạch Đầu tư và Cục Thuế tỉnh Hai tiêu chí của chỉ số thành phần năm 2006 đánh giá thấp thì năm 2007 đã được

cải thiện: % số doanh nghiệp sử dụng hơn 10% quỹ thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước chỉ còn 12,5% và số cuộc thanh tra trung vị chỉ còn 26,62 Thái Bình có điểm số tương tự như Nam Định và các chỉ tiêu chi tiết cũng phản ánh tương tự: % số doanh nghiệp sử dụng hơn 10% quỹ thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước

là 11,01% và số cuộc thanh tra trung vị là: 20,34

Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước

Hà Nam Thái

Bình

Vĩnh Phúc

Bắc Ninh Hưng

Yên

Quảng Ninh

Hải Dương

Hà Tây

Trang 39

họ không có bộ phận pháp chế trong doanh nghiệp nên khi chưa kịp làm quen với các quy định hiện tại thì các quy định này đã được thay thế bằng các văn bản quy định khác Đây là nguyên nhân mà doanh nghiệp đánh giá không cao về điểm số của chỉ số này đối với các hoạt động của cơ quan nhà nước

Khi doanh nghiệp gặp khó khăn hay quá tốn kém vào các chi phí không đáng có, làm cho chi phí sản xuất tăng cao, việc này làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường không những trong tỉnh mà các thị trường khác

- So sánh với các tỉnh năm 2009

Năm 2009, tín hiệu tích cực lại đã lặp lại và có khởi sắc rõ nét, điểm số của chỉ

số này đã tăng, trong đó phải kể đến Ninh Bình Kết quả này có được là do Thủ tướng Chính phủ và các địa phương đã chỉ đạo triển khai mạnh mẽ và quyết liệt đề án 30 về đơn giản thủ tục hành chính Sau bước 1 của quá trình rà soát thủ tục hành chính và đã công khai dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính trên cổng thông tin điện tử, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các bộ ngành, địa phương đơn giản tối thiểu 30% các thủ tục hành chính Chính nhờ yêu cầu quyết liệt đó mà số thủ tục hành chính được đơn giản đáng kể, doanh nghiệp đã được tiếp cận một cách dễ dàng các quy trình, thủ tục hành

Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước

Hải Dương

Trang 40

chính, các doanh nghiệp đã giảm một phần thời gian khi phải thực hiện các quy định của nhà nước Minh chứng là điểm số của chỉ số Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước đã tăng trở lại, lòng tin của doanh nghiệp đã được đã được nâng lên khi dư luận cả xã hội đang đánh giá cao những kết quả của việc thực hiện đề án 30 đem lại Nhưng công việc duy trì việc đơn giản hoá thủ tục hành chính cũng là vấn đề phải bàn Nếu như chúng ta không thực hiện tốt việc này, thì những năm sau, điểm số sẽ khó được giữ vững, vì đòi hỏi của doanh nghiệp ngày càng cao dựa theo xu hướng nền hành chính chuyển sang phục vụ là chủ yếu Chỉ khi thay đổi được cơ bản cả về thủ tục hành chính và cơ chế thì lúc đó mới giải quyết được tận gốc của vấn đề Điểm số của Ninh Bình được đánh giá cao do 3 tiêu chí của chỉ số này được đánh giá tốt đó là: Các

loại phí, lệ phí của nhiều thủ tục hành chính giảm sau khi thực hiện cải cách hành chính: 25,23; Thủ tục giấy tờ giảm sau khi thực hiện cải cách hành chính 62,16; cán bộ nhà nước làm việc hiệu quả hơn sai khi thực hiện cải cách hành chính: 54,95 Trong khi đó các chỉ tiêu của Nam Định tương ứng là : 28,33; 47,22 và 36,67 Chứng tỏ số

thủ tục giấy tờ và hiệu quả làm việc của cán bộ công chức của Nam Định còn chưa tốt

bằng của Ninh Bình

Tóm lại: Đẩy mạnh cải cách hành chính, tập trung cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hoá các thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả, chất lượng làm việc của đội ngũ cán bộ công chức là giải pháp quan trọng để nâng cao điểm số không những của chỉ số thành phần này mà nó còn có ảnh hưởng tốt đến điểm số của các chỉ số thành ph ần khác

Ngày đăng: 20/01/2021, 11:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w