Xuất phát từ thực tế đó, đề tài luận văn về: Phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh viễn thông của Tổng công ty Điện lực miền Bắc là một
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Viện đào tạo sau đại học, Khoa Kinh
tế & Quản lý, cùng các thầy cô giáo Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tận tình giản dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện nghiên cứu đề tài này
Đặc biệt, xin được trân trọng và gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo - Tiến sỹ
Nguyễn Thị Mai Anh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu đề tài
Xin cảm ơn Ban Tổng giám đốc, Ban Kinh doanh viễn thông và công nghệ thông tin, các Ban liên quan và các đồng nghiệp trong Tổng công ty Điện lực miền Bắc đã cung cấp tài liệu và tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài này
Mặc dù rất nỗ lực cố gắng nhưng bản luận văn này khó tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết nhất định, tác giả kính mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp của các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp để đề tài này hoàn thiện hơn nữa
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 1
DANH MỤC CÁC BẢNG 2
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 2
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn 4
4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 5
5 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 6
1.1 CẠNH TRANH VÀ THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH 6
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh 6
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh 7
1.1.3 Các hình thức cạnh tranh 11
1.2 NĂNG LỰC CẠNH TRANH 13
1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh 13
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh 15
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh 15
1.2.4 Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp 22
1.3 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DỊCH VỤ VIỄN THÔNG 26
1.3.1 Khái niệm về doanh nghiệp viễn thông và KDVT 26
1.3.2 Đặc điểm của dịch vụ viễn thông 26
1.3.3 Nội dung phân tích năng lực cạnh tranh của DN KDVT 28
1.4 TÓM TẮT CHƯƠNG I 31
CHƯƠNG II PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG KDVT TẠI EVNNPC 32
Trang 32.1 GIỚI THIỆU VỀ EVNNPC, EVNTELECOM, QUAN HỆ HỢP TÁC
GIỮA EVNNPC VÀ EVNTELECOM 32
2.1.1 Giới thiệu tổng quan về EVNNPC 32
2.1.2 Giới thiệu tổng quan về EVNTelecom 39
2.1.3 Quan hệ hợp tác giữa EVNNPC và EVNTelecom 45
2.2 CÁC DOANH NGHIỆP KDVT TRÊN THỊ TRƯỜNG HIỆN NAY 47
2.2.1 Giới thiệu tổng quan về các doanh nghiệp KDVT 47
2.2.2 Kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp KDVT năm 2010 49
2.2.3 Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của các đối thủ chính 53
2.3 ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA EVNNPC TRÊN THỊ TRƯỜNG 55
2.3.1 Về giá cước dịch vụ 55
2.3.2 Về chất lượng dịch vụ 56
2.3.3 Về công tác hỗ trợ và chăm sóc khách hàng 57
2.3.4 Về hoạt động xúc tiến bán hàng 58
2.3.5 Về cơ cấu tổ chức đội ngũ lao động 60
2.3.6 Về vị thế của DN trên thị trường và sự trung thành của khách hàng 61
2.4 TÓM TẮT CHƯƠNG II 62
CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG KDVT CỦA EVNNPC 63
3.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 63
3.1.1 Luật pháp và chính sách 63
3.1.2 Kế hoạch phát triển viễn thông của EVNNPC 67
3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA EVNNPC 69
3.2.1 Quan điểm đề xuất nâng cao sức cạnh tranh 69
3.2.2 Mục tiêu nâng cao sức cạnh tranh 69
3.2.3 Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của EVNNPC 70
3.3 TÓM TẮT CHƯƠNG III 83
Trang 4KẾT LUẬN 84 DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC 87
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
3G Công nghệ mạng thế hệ thứ ba
ADSL Internet băng thông rộng
BTS Trạm thu phát sóng viễn thông
CBCNV Cán bộ công nhân viên
CDMA Công nghệ mạng đa truy nhập
CDMA450 CDMA450 2000 1x - Mạng đa truy nhập tần số 450 MHz
ĐTXD Đầu tƣ xây dựng
E-Com Điện thoại cố định không dây
E-Line Kênh thuê riêng
E-Mobile Điện thoại di động toàn quốc
E-Net Internet (ADSL, qua mạng truyền hình cáp)
E-Phone Điện thoại di động nội vùng
E-Tel Điện thoại cố định có dây
EVN Tập đoàn Điện lực Việt Nam
EVNNPC Tổng công ty Điện lực miền Bắc
EVNTelecom Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực
FTTx Internet băng thông rộng bằng cáp quang
KDVT Kinh doanh viễn thông
QLVH Quản lý vận hành
SXKD Sản xuất kinh doanh
TBĐC Thiết bị đầu cuối
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
VTCC Viễn thông công cộng
WCDMA Công nghệ đa truy cập phân mã băng rộng
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng tổng hợp doanh thu, lợi nhuận các DN KDVT năm 2010 49Bảng 2.2 Bảng tổng hợp thị phần các dịch vụ viễn thông cơ bản của các doanh nghiệp viễn thông năm 2010 52
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Các yếu tố của môi trường kinh tế quốc dân 16Hình 1.2 Mô hình 5 yếu tố cạnh tranh của Michael Porter 19
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập kinh tế, Việt Nam dần đã tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực, đặc biệt là Tổ chức thương mại quốc tế - WTO Trên quan điểm của Nhà nước ta là xây dựng nền kinh tế thị trường có điều tiết theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải thích ứng một cách năng động với sự biến chuyển của thời đại, phải luôn tự làm mới mình để phù hợp với nhu cầu, xu thế thị trường, để chủ động đón nhận mọi thách thức trong môi trường cạnh tranh Tổng công ty Điện lực miền Bắc - EVNNPC - là một doanh nghiệp Nhà nước cũng nằm trong sự phát triển chung của xã hội EVNNPC có hai nhiệm vụ chính đó là sản xuất, phân phối, kinh doanh điện năng và kinh doanh viễn thông công cộng Sản xuất, phân phối, kinh doanh điện năng là nhiệm vụ chính trị
mà EVNNPC cũng như các Tổng công ty và các Công ty trực thuộc EVN được Chính phủ giao nhiệm vụ từ khi thành lập vào năm 1969 đến nay Nhưng kinh doanh viễn thông công cộng là một nhiệm vụ mới được giao gần đây
Thị trường viễn thông là một thị trường cạnh tranh gay gắt do hiện nay đã có rất nhiều doanh nghiệp tham gia vào thị trường này Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế, nhu cầu tiêu dùng, thông tin liên lạc, giải trí ngày càng tăng cao, thị trường viễn thông đã rộng mở cùng với nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia, tạo nên bức tranh sôi động và cạnh tranh khắc nghiệt Mặc dù mới triển khai KDVT công cộng nhưng EVNNPC đã đạt được những thành công bước đầu, tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, đời sống cho người lao động, đóng góp vào việc nâng cao các chỉ tiêu kinh tế của ngành, của đất nước Tuy nhiên, hiệu quả kinh doanh c n chưa cao, chưa thật ổn định, tính cạnh tranh còn hạn chế
Để tồn tại và phát triển bền vững cần thiết doanh nghiệp phải có một chiến lược hợp lý, phải nhận thức được vị thế của mình và phải liên tục nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường Cạnh tranh trong KDVT ở đây không chỉ là cạnh tranh với các doanh nghiệp ngoài ngành mà còn là cạnh tranh với chính các doanh nghiệp trong ngành do EVN cho phép tất các các đơn vị trực thuộc đều có thể KDVT
Trang 8Nâng cao năng lực cạnh tranh giúp EVNNPC phát triển và có thể trở thành Tổng công ty có thương hiệu hàng đầu trong lĩnh vực KDVT công cộng trong ngành, góp phần xây dựng, phát triển thương hiệu viễn thông điện lực nói chung, cũng như trở thành doanh nghiệp kinh doanh viễn thông có tiếng trên thị trường
Xuất phát từ thực tế đó, đề tài luận văn về: Phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh viễn thông của Tổng công ty Điện lực miền Bắc là một yêu cầu cấp thiết để có thể giúp cho EVNNPC chủ động nâng cao hiệu quả kinh doanh, phát triển và cạnh tranh thành công trên thị trường viễn thông trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu: EVNNPC
Phạm vi nghiên cứu: Trên cơ sở các lý luận cơ bản về cạnh tranh kết hợp với nghiên cứu thực tiễn, phân tích, đánh giá thực trạng và xu hướng cạnh tranh của của Tổng công ty Điện lực miền Bắc, đề tài sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty Điện lực miền Bắc trong việc kinh doanh các dịch vụ viễn thông công cộng
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Phân tích thực trạng như tổng quan về hệ thống viễn thông điện lực, tổng quan về Tổng công ty Điện lực miền Bắc, phân tích môi trường kinh doanh viễn thông trong ngành (giữa các đơn vị trực thuộc EVN) và ngoài ngành (các doanh nghiệp kinh doanh viễn thông khác) Từ đó sẽ phân tích năng lực cạnh tranh của Tổng công ty Điện lực miền Bắc trên các mảng như cơ cấu tổ chức bộ máy, hoạt động marketing, năng lực quản lý, năng lực tài chính, hoạch định chiến lược kinh doanh
Từ kết quả phân tích trên, đề tài sẽ xây dựng định hướng phát triển cho việc kinh doanh viễn thông của Tổng công ty Điện lực miền Bắc và đề xuất một số giải pháp để tăng cường năng lực cạnh tranh như nâng cao năng lực quản trị, điều hành, đào tạo bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực,
Trang 9tăng cường các hoạt động marketing và hoạch định chiến lược kinh doanh một cách đúng đắn, có hiệu quả
4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Phương pháp thống kê, phân tích, hệ thống, mô hình hoá, dự báo, nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu thực tế
Nguồn số liệu được lấy từ Tổng công ty Điện lực miền Bắc, Tập Đoàn Điện lực Việt Nam, Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực, các báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, các trang báo mạng và website của các đơn vị liên quan
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng, hình vẽ, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày thành 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
Chương II: Phân tích hiện trạng năng lực cạnh tranh trong KDVT tại EVNNPC
Chương III: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong KDVT của EVNNPC
Trang 10CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1.1 CẠNH TRANH VÀ THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
Các học thuyết kinh tế thị trường, dù ở trường phái nào đều thừa nhận rằng: cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, nơi mà cung - cầu và giá cả hàng hóa là những nhân tố cơ bản của thị trường, là đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, cạnh tranh là linh hồn của sản phẩm Cạnh tranh là điều kiện sống còn của mỗi doanh nghiệp, nó ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực, các thành phần kinh tế
Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp, do có các cách tiếp cận khác nhau nên có các định nghĩa khác nhau về cạnh tranh như sau:
Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã chọn định nghĩa về cạnh tranh, cố gắng kết hợp
cả các doanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau: "Khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế" Định nghĩa này phản
ánh khái niệm cạnh tranh quốc gia nằm trong mối liên hệ trực tiếp với hoạt động cạnh tranh của các doanh nghiệp
Trong Đại từ điển Tiếng Việt có ghi: "Cạnh tranh là một khái niệm được
sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Để đơn giản hoá, có thể hiểu cạnh tranh là một sự ganh đua giữa một nhóm người mà sự nâng cao vị thế của người này sẽ làm giảm vị thế của những người còn lại Điều kiện cho sự cạnh tranh trên một thị trường là: có ít nhất là hai chủ thể quan hệ đối kháng và có sự tương ứng giữa sự cống hiến và phần được hưởng của mỗi thành viên trên thị trường" Đây là định nghĩa tương đối dễ hiểu và
được nhiều người chấp nhận
Trang 11Tóm lại, chúng ta có thể hiểu một cách khái quát về cạnh tranh như sau: Cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể (nhà sản xuất, người tiêu dùng) trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện có lợi trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa để thu nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ra giữa các nhà sản xuất với nhau hoặc có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp Đối với mỗi doanh nghiệp mục tiêu đặt ra khi tham gia thị trường thường là tối đa hoá lợi nhuận; để đạt được mục tiêu đó doanh nghiệp cần phải tìm các biện pháp để giành cho mình một
vị thế nào đó trên thị trường Đặc biệt khi nền kinh tế phát triển mạnh mẽ như hiện nay thì việc giành vị thế trên thị trường còn là một vấn đề sống c n đối với doanh nghiệp Khi đó doanh nghiệp nào giành được nhiều thị trường thì sẽ dễ dàng thành công trong hoạt động SXKD của mình
Cạnh tranh trong một môi trường như hiện nay đồng nghĩa với ganh đua: ganh đua về giá cả, chất lượng, dịch vụ hoặc kết hợp các yếu tố này với các nhân tố khác để tác động đến khách hàng Điều kiện để xuất hiện cạnh tranh là phải có ít nhất hai chủ thể có quan hệ đối kháng và phải có sự tương ứng giữa sự cống hiến và phần được hưởng của mỗi thành viên
Ngày nay, vấn đề cạnh tranh ngày càng được các doanh nghiệp coi trọng Để chống lại việc cạnh tranh không lành mạnh, các quốc gia đã và đang nỗ lực ban hành và hoàn thiện các điều luật về cạnh tranh Điều này sẽ là một công cụ điều tiết đảm bảo việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa, trong lĩnh vực kinh tế, là một động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đó cao hơn, … để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng Cạnh tranh làm cho người sản xuất năng động
Trang 12hơn, nhạy bén hơn, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế
Cạnh tranh cũng có những tác động tiêu cực khi cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp pháp luật
Được thừa nhận là một hiện tượng kinh tế, là môi trường vận động của cơ chế thị trường, cạnh tranh thực sự tồn tại như một quy luật khách quan, là động lực thúc đẩy và điều tiết mọi hoạt động kinh tế Cạnh tranh có vai trò quan trọng đối với
cả nền kinh tế, người tiêu dùng và quan hệ đối ngoại
1.1.2.1 Đối với nền kinh tế, xã hội quốc gia
Cạnh tranh điều chỉnh cung cầu hàng hoá trên thị trường: Khi cung một
hàng hoá nào đó lớn hơn cầu, cạnh tranh giữa những người bán làm cho giá cả thị trường giảm xuống, chỉ những doanh nghiệp nào đủ khả năng cải tiến công nghệ, kỹ thuật, phương thức quản lý và hạ được giá bán sản phẩm mới có thể tồn tại Với ý nghĩa đó cạnh tranh là nhân tố quan trọng kích thích việc ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong sản xuất Ngược lại khi cung hàng hoá nào đó thấp hơn cầu, hàng hoá đó trở nên khan hiếm trên thị trường, giá cả tăng lên tạo ra lợi nhuận cao hơn mức bình quân, khi đó người kinh doanh sẽ đầu tư vốn xây dựng thêm cơ sở sản xuất mới hoặc nâng cao năng lực sản xuất của những cơ sở sản xuất sẵn có Đó là động lực quan trọng nhất làm tăng thêm lượng vốn đầu tư cho SXKD, nâng cao năng lực sản xuất trong toàn xã hội
Cạnh tranh hướng việc sử dụng các nhân tố sản xuất vào những nơi có hiệu quả nhất: Do tính hiệu quả và mục đích tối đa hoá lợi nhuận, các chủ
thể kinh doanh khi tham gia thị trường có tính cạnh tranh không thể không cân nhắc khi quyết định sử dụng các nguồn lực về vật chất và nhân lực của mình vào hoạt động SXKD Họ luôn phải sử dụng một cách tối ưu và hợp
lý nhất các nhân tố sản xuất này sao cho chi phí sản xuất thấp nhất nhưng
Trang 13lại phải đạt được hiệu quả cao nhất Chính đặc điểm này mà các nguồn lực luôn được vận động, chu chuyển hợp lý về mọi mặt để phát huy hết khả năng vốn có, đưa lại năng suất cao
Cạnh tranh tạo môi trường thuận lợi để sản xuất thích ứng với biến động của cầu và công nghệ sản xuất: Khi hoạt động trong điều kiện kinh tế thị
trường, nếu như lợi nhuận là yếu tố thôi thúc các chủ thể tham gia tiến hành SXKD thì cạnh tranh lại bắt buộc và thúc đẩy họ phải điều hành các hoạt động này sao cho đạt kết quả cao nhất Điểm mấu chốt của kinh tế thị trường là quyền lựa chọn và nhu cầu của người tiêu dùng Sức tiêu thụ và
sở thích của người tiêu dùng là trung tâm thị trường; là thước đo trung thực về hình thức, kiểu dáng và chất lượng của sản phẩm hàng hoá dịch vụ Người tiêu dùng có quyền lựa chọn những sản phẩm mà theo họ là tốt nhất
và phù hợp với yêu cầu của họ Nếu một sản phẩm không đáp ứng được yêu cầu thị trường thì sự lựa chọn của người tiêu dùng và quy luật cạnh tranh sẽ buộc nó phải tự định hướng và hoàn thiện Các chủ thể SXKD sản phẩm này phải chủ động đổi mới công nghệ, áp dụng những kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ và phương thức kinh doanh để thoả mãn yêu cầu thị trường, nâng cao vị thế của chủ thể cạnh tranh và sản phẩm
Cạnh tranh có chức năng phân phối và điều hoà thu nhập: Cạnh tranh tạo
áp lực đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, vì vậy không thể một chủ thể kinh doanh nào có thể mãi mãi thu lợi nhuận cao và thống trị hệ thống phân phối trên thị trường Các đối thủ cạnh tranh khác liên tục tìm kiếm những giải pháp hữu ích để ganh đua Trong từng thời điểm một sản phẩm hàng hoá với những ưu việt nhất định thoả mãn yêu cầu của người tiêu dùng có thể chiếm được ưu thế trên thị trường, song vị trí của nó luôn bị đe dọa bởi các sản phẩm cùng loại khác tiến bộ hơn Có cạnh tranh các nhà kinh doanh không thể lạm dụng được
Trang 14ưu thế của mình Và vì vậy cạnh tranh sẽ tác động một cách tích cực đến việc phân phối và điều hoà thu nhập
Cạnh tranh là động lực thúc đẩy đổi mới: Giống như những quy luật tồn
tại và đào thải của tự nhiên, quy luật cạnh tranh trong kinh tế luôn khẳng định chiến thắng thuộc về kẻ mạnh - những chủ thể kinh doanh có tiềm năng, có trình độ quản lý và tri thức về kỹ thuật công nghệ, có tư duy kinh
tế và kinh nghiệm thương trường sẽ tồn tại và phát triển Còn những chủ thể kinh doanh yếu kém, không đủ năng lực cạnh tranh sẽ bị đào thải ra khỏi thị trường Do đó cạnh tranh trở thành động lực phát triển không chỉ thôi thúc mỗi cá nhân các chủ thể kinh doanh, mà còn là động lực phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia
1.1.2.2 Đối với người tiêu dùng
Cạnh tranh tạo ra một áp lực liên tục với giá cả, buộc các doanh nghiệp phải
hạ giá bán sản phẩm để tiêu thụ sản phẩm Mặt khác cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải phản ứng tự phát để phù hợp với mong muốn đã thay đổi của người tiêu dùng về chủng loại, mẫu mã, chất lượng hàng hoá và dịch vụ Vì thế các doanh nghiệp phải quan tâm mở rộng cung cấp ngày càng tốt hơn những sản phẩm hàng hoá dịch vụ có chất lượng cao, mẫu mã đa dạng, giá cả thấp cho người tiêu dùng Như vậy cạnh tranh đảm bảo quyền tự do lựa chọn của người tiêu dùng; cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng mạnh thì lợi ích của người tiêu dùng càng tăng vì khi
đó họ được hưởng những sản phẩm dịch vụ có chất lượng, giá cả hợp lý, …
1.1.2.3 Đối với quan hệ đối ngoại
Cạnh tranh có tác động thúc đẩy các doanh nghiệp mở rộng thị trường, tìm kiếm thị trường mới; liên doanh, liên kết kinh tế với các doanh nghiệp nước ngoài nhằm huy động nguồn vốn, lao động, khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, Thêm vào đó cạnh tranh với hàng nước ngoài còn có tác dụng tích cực giúp các nhà sản xuất trong nước nhìn thấy những khuyến tật của hàng nội để khắc phục, vươn lên tìm lợi thế của mình để chiến thắng trong cạnh tranh Nói cách khác thông qua cạnh tranh quốc tế sẽ tạo điều kiện cho các quốc gia trên thế giới tham gia sâu rộng
Trang 15vào phân công lao động và hợp tác kinh doanh quốc tế, khai thác có hiệu quả lợi thế
so sánh của từng quốc gia, góp phần thúc đẩy tăng trưởng cho nền kinh tế quốc dân
Tóm lại: trong môi trường hoạt động tồn tại quy luật cạnh tranh, cạnh tranh
có thể đưa lại lợi ích cho người này và thiệt hại cho người khác, song xét dưới góc
độ lợi ích cho toàn xã hội, cạnh tranh luôn có những tác động tích cực
1.1.3 Các hình thức cạnh tranh
Một doanh nghiệp khi tham gia thị trường cạnh tranh, để có thể cạnh tranh được thường áp dụng rất nhiều hình thức cạnh tranh Sau khi phân tích môi trường, xác định được ưu nhược điểm của mình các doanh nghiệp tiến hành xây dựng chiến lược cạnh tranh và lựa chọn các hình thức cạnh tranh cho các sản phẩm, dịch vụ của mình Các hình thức cạnh tranh có thể là:
1.1.3.1 Cạnh tranh về sản phẩm, dịch vụ
Để cạnh tranh được thì đ i hỏi sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp phải thoả mãn tốt nhất nhu cầu khách hàng mục tiêu Cạnh tranh về sản phẩm có thể là cạnh tranh về chất lượng dịch vụ (chất lượng kỹ thuật), chất lượng phục vụ, sự đa dạng hóa các dịch vụ GTGT Chiến lược sản phẩm là xương sống cho các chiến lược khác của doanh nghiệp Khi trình độ SXKD càng cao, cạnh tranh càng gay gắt thì vai trò của chiến lược sản phẩm càng quan trọng Không có chiến lược sản phẩm thì các chiến lược khác không thể tồn tại được
Trong môi trường cạnh tranh gay gắt hiện nay cạnh tranh về sản phẩm dịch
vụ là sự cạnh tranh về những gì mà doanh nghiệp hoàn chỉnh cho sản phẩm của mình; dưới hình thức bao gói, dịch vụ, quảng cáo, tư vấn cho khách hàng, những đặc điểm giao hàng, dịch vụ lưu kho Cạnh tranh về sản phẩm có thể là hoàn thiện sản phẩm hiện có bằng cách cải tiến các thông số chất lượng của sản phẩm dịch vụ hay tiến hành nghiên cứu phát triển để đưa ra các sản phẩm dịch vụ mới thoả mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng mục tiêu, cạnh tranh bằng việc đa dạng hoá sản phẩm, đa dạng hoá các thông số của sản phẩm dịch vụ
Trang 161.1.3.2 Cạnh tranh về giá
Doanh nghiệp nghiên cứu nhu cầu thị trường, sự giãn nở nhu cầu sản phẩm cạnh tranh theo giá, giá các sản phẩm cạnh tranh, giá của đối thủ cạnh tranh, so sánh chi phí cho sản phẩm của mình để từ đó có cơ sở hình thành giá
Doanh nghiệp có thể áp dụng các chính sách giá phân biệt nhằm khai thác triệt để độ co giãn của các mức cầu bao gồm:
Giá thay đổi theo số lượng sử dụng sản phẩm
Giá thay đổi theo thời gian sử dụng sản phẩm
Giảm giá cho các tầng lớp xã hội, đối tượng ưu tiên, các vùng ưu tiên
Giảm giá tạm thời
Giá cả là một vũ khí lợi hại để doanh nghiệp tiến hành cạnh tranh, nhưng để thực hiện hiệu quả đ i hỏi doanh nghiệp phải có sự nghiên cứu kỹ lưỡng những phản ứng từ phía khách hàng, đối thủ cạnh tranh để tránh xảy ra một cuộc chiến về giá, hơn nữa sử dụng công cụ này phải tuân theo các quy định của nhà nước
1.1.3.3 Cạnh tranh về phân phối sản phẩm, dịch vụ
Để sản phẩm đến tay người tiêu dùng thì đ i hỏi doanh nghiệp phải có được
hệ thống phân phối hoạt động đủ mạnh, có hiệu quả Ví dụ: khi hai sản phẩm có chất lượng, giá cả tương tự nhau thì sản phẩm nào thuận tiện với người tiêu dùng hơn sẽ chiếm ưu thế hơn Hiện nay bên cạnh chú trọng hoàn thiện đa dạng hoá sản phẩm, cạnh tranh về giá thì các doanh nghiệp còn cạnh tranh với nhau về hệ thống phân phối như mạng lưới đại lý, các hình thức chuyển giao sản phẩm tới tận tay khách hàng Chọn kênh phân phối nào là một quyết định quan trọng ảnh hưởng lâu dài đến công tác đầu tư, phân đoạn khách hàng và toàn bộ chiến lược Marketing của
Trang 17được thiết kế tinh vi hơn Thông qua truyền thông, quảng cáo doanh nghiệp thu hút khách hàng chú ý đến sản phẩm của doanh nghiệp, thuyết phục họ về các ưu việt của sản phẩm so với các sản phẩm cạnh tranh Truyền thông, quảng cáo giúp doanh nghiệp tăng doanh số của các sản phẩm hiện tại, tạo ra sự nhận biết và ưa thích của khách hàng đối với các sản phẩm mới, và xây dựng một hình ảnh đẹp về doanh nghiệp trong mắt người tiêu dùng
Khuyến mại bao gồm các hoạt động kích thích khách hàng mua sản phẩm và các trung gian nỗ lực bán hàng Khuyến mại giúp đạt được các mục tiêu: gia tăng sự chú ý, nhận biết của khách hàng về thương hiệu dịch vụ; kích thích khách hàng mua hàng, tác động làm khách hàng chuyển từ việc sử dụng sản phẩm cạnh tranh sang sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp, …
Ngoài các hình thức cạnh tranh trên các doanh nghiệp còn cạnh tranh với nhau về các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất như: công nghệ, tài chính, nguồn nhân lực, …
1.2 NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Trong từ điển Tiếng Việt định nghĩa như sau: “Năng lực cạnh tranh là khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hoá cùng loại, trên cùng một thị trường tiêu thụ” Nhìn chung năng lực cạnh tranh có thể phân biệt theo
các cấp độ: năng lực cạnh tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của ngành/doanh nghiệp, và năng lực cạnh tranh của sản phẩm/dịch vụ:
Năng lực cạnh tranh của quốc gia: Là khả năng của một đất nước trong
việc nhận rõ mục đích của chính sách kinh tế tập trung nhất là đối với tăng trưởng thu nhập và việc làm mà không gặp khó khăn trong cán cân thanh toán Năng lực cạnh tranh quốc gia phụ thuộc vào khả năng khai thác các
cơ hội trên thị trường quốc tế
Năng lực cạnh tranh của ngành/doanh nghiệp: Là khả năng bù đắp chi phí,
duy trì lợi nhuận và được đo bằng thị phần sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường Theo đó doanh nghiệp có chi phí càng thấp, lợi
Trang 18nhuận và thị phần càng cao thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó càng lớn và ngược lại Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp (và sau
đó là ngành) trong nền kinh tế Việt Nam đang diễn ra song song với những biến đổi của môi trường cạnh tranh kinh tế chung Nhiều nhân tố như công nghệ, đào tạo, huấn luyện và sử dụng nguồn nhân lực, nghiên cứu và phát triển, liên kết kinh tế, phụ thuộc vào cả chính sách, các biện pháp hỗ trợ của Nhà nước và những nỗ lực của bản thân doanh nghiệp Hơn nữa, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào chi phí thấp, giá thành hạ, mà còn cả các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh về chất như: việc đánh giá các đối thủ cạnh tranh, sự thâm nhập ngành của các doanh nghiệp mới; các sản phẩm hay dịch vụ thay thế; vị thế đàm phán của các nhà cung cấp cũng như của người mua; trình độ đội ngũ nhân viên; kỹ năng tổ chức, quản lý
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm/dịch vụ: Là khả năng thoả mãn tốt
nhất các nhu cầu, mong muốn của khách hàng, nó được thể hiện bằng việc khách hàng lựa chọn sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của mình Do đó sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao là sản phẩm có chất lượng tốt, giá cả hạ
và sự tiện lợi cho khách hàng
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung, năng lực cạnh tranh cũng bao gồm thêm nhiều nhân tố mới Nhiều yếu tố như khả năng nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ, trình độ đội ngũ cán bộ quản lý, uy tín doanh nghiệp, khả năng nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, ngày càng được coi trọng Nắm được xu hướng phát triển tất yếu này, doanh nghiệp sẽ có khả năng phát huy tối đa năng lực của mình để giành phần thắng lợi trên thị trường Vì vậy khi nghiên cứu tìm biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm dịch
vụ của doanh nghiệp cần đặt doanh nghiệp trong mối quan hệ chặt chẽ với môi trường xung quanh để biết được doanh nghiệp hiện đang đứng ở vị thế nào trên thị trường, từ đó đề ra các biện pháp thích hợp
Trang 191.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh là một quy luật tất yếu khách quan
Nó diễn ra hết sức gay gắt và khốc liệt nhưng không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay thế Thay thế những doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả, sử dụng lãng phí nguồn lực xã hội bằng những doanh nghiệp khác làm ăn có hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu xã hội, thúc đẩy nền kinh tế quốc gia phát triển
Vì vậy, nếu doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu thị trường, biến nhu cầu thị trường thành đặc tính sản phẩm, làm cho sản phẩm phù hợp với nhu cầu về chất lượng, mẫu mã, giá cả, dịch
vụ bán hàng, … Từ những cố gắng nỗ lực đó doanh nghiệp đã dần nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm/dịch vụ, nói cách khác là tạo ưu thế cho sản phẩm về giá cả,
uy tín, chất lượng Tuy nhiên cũng phải lưu ý rằng để đạt được điều này không phải
là đơn giản bởi các đối thủ cạnh tranh cũng ý thức được điều kiện để tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường Đồng thời nó càng trở nên khó khăn hơn khi cạnh tranh không chỉ diễn ra trong một ngành, trong một quốc gia mà vượt ra cả bên ngoài, lan tỏa ra phạm vi khu vực và toàn cầu Doanh nghiệp sẽ không chỉ cạnh tranh với các đối thủ trong nước mà cả với các đối thủ nước ngoài Chính vì vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh càng cần thiết hơn nữa nếu doanh nghiệp không muốn bị đào thải và thôn tính
Tóm lại: Nâng cao năng lực cạnh tranh trở thành điều kiện cần và đủ để
doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong xu thế công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng như tiến trình thương mại hoá khu vực và thế giới
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
Trong phạm vi đề tài tác giả chỉ xem xét năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, do đó tác giả chỉ đưa ra những đánh giá về các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, không xét tới các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của quốc gia Đó là các nhân tố thuộc về môi trường như: môi trường vĩ mô và môi trường vi mô
Trang 20Hoạt động SXKD trong một môi trường chính trị luật pháp nhất định, doanh nghiệp cần nắm được các cơ hội và thách thức với mình để phát huy tốt nhất nguồn lực bên trong nhằm đạt tới mục tiêu đề ra một cách hiệu quả
Môi trường vật chất
Môi trường công nghệ
Môi trường chính trị
MÔI TRƯỜNG KINH TẾ QUỐC DÂN
Trang 21 Môi trường nhân khẩu học
Là yếu tố đầu tiên thiết lập thị trường Các số liệu về nhân khẩu học thường bao gồm tổng dân số, mật độ dân số thường trú, độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn Đây là những yếu tố cần thiết cung cấp các số liệu cho các nhà quản trị trong việc hoạch định kế hoạch phát triển thị trường
Môi trường nhân khẩu học thường được đề cập với 4 khía cạnh sau:
Qui mô và tốc độ dân số: Xét ở phương diện marketing thuần tuý thì qui
mô dân số đủ lớn cho phép phát triển một thị trường mục tiêu thích hợp
Những biến đổi trong cơ cấu gia đình, dịch chuyển nơi cư trú: Hiện nay do
sự tác động của công nghiệp hoá, việc dịch chuyển nơi cư trú của dân cư ngày càng nhiều, các luồng dân cư ra thành phố ngày càng đông, chính điều này cũng làm phát triển nhu cầu thông tin liên lạc và là tiềm năng để phát triển dịch vụ viễn thông
Những thay đổi trong việc phân phối lại thu nhập: Cùng với sự phát triển kinh tế là sự gia tăng về thu nhập và sức mua của người tiêu dùng ngày càng tăng dẫn đến sự phân phối lại thu nhập về hướng các ngành dịch vụ ngày càng nhiều
Trình độ học vấn của các tầng lớp dân cư đựơc cải thiện và nâng cao: Trình độ của người tiêu dùng càng cao thì việc tiếp cận với các dịch vụ mới càng dễ dàng; tuy nhiên họ cũng trở nên khó tính hơn, nhu cầu trở nên
đa dạng hơn, họ quan tâm nhiều đến chất lượng sản phẩm Nắm được các đặc điểm trên chúng ta có thể tận dụng tối đa cơ hội thị trường, khai thác đúng và hiệu quả các đoạn thị trường,
Môi trường văn hoá xã hội
Mọi doanh nghiệp đều hoạt động trong một môi trường văn hoá xã hội nhất định và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Các giá trị chung của xã hội, tập tục truyền thống, lối sống, tư tưởng tôn giáo đều có tác động mạnh doanh nghiệp
Môi trường văn hoá xã hội với những đặc điểm riêng biệt của nó sẽ điều chỉnh và tạo ra thời cơ cho tất cả các doanh nghiệp cùng kinh doanh trong hoạt động
Trang 22trong lĩnh vực kinh doanh viễn thông Vấn đề đặt ra là doanh nghiệp nào tận dụng được hiệu quả nhất các thời cơ có, nắm bắt kịp thời các nhân tố nhạy cảm của môi trường
Chính sách kinh tế quốc gia: thể hiện quan điểm của nhà nước về nền kinh
tế, nó thể hiện ở sự ưu đãi hoặc hạn chế với một hoặc một số lĩnh vực đặc biệt có sự ưu đãi phát triển công nghiệp cao, ngành hạ tầng then chốt cùng với yêu cầu đảm bảo an ninh quốc phòng
Môi trường công nghệ
Tiến trình đổi mới công nghệ làm cho v ng đời sản phẩm ngày càng ngắn, nhu cầu đ i hỏi sản phẩm mới ngày càng cao Yếu tố này tác động đến doanh nghiệp viễn thông theo hai cách:
Nó làm thay đổi lối sống khách hàng, xuất hiện những nhu cầu tiêu dùng mới và xuất hiện những sản phẩm mới có chất lượng cao hơn
Khoa học công nghệ trực tiếp tác động đến hệ thống marketing hỗn hợp bằng cách cung cấp các phương tiện hỗ trợ trong việc phân phối và truyền thông đồng thời góp phần giảm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm
Môi trường vật chất
Môi trường vật chất gồm hai yếu tố tài nguyên thiên nhiên và cơ sở hạ tầng
Trang 23 Nhờ công nghệ hiện đại thì việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên của con người ngày càng hiệu quả Nhưng các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm điều này ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp viễn thông
Cơ sở hạ tầng kinh tế bao gồm mạng lưới giao thông vận tải, đường sá, cầu cống, phương tiện vật chất, mạng lưới thông tin, nguồn nhân lực, tính hữu hiệu của dịch vụ ngân hàng tài chính đó là những điều kiện ảnh hưởng trực tiếp và lớn lao với việc kinh doanh viễn thông
1.2.3.2 Môi trường ngành
Được thể hiện qua mô hình 5 yếu tố cạnh tranh của Michael Porter:
Hình 1.2 Mô hình 5 yếu tố cạnh tranh của Michael Porter (Nguồn: Chiến lược và sách lược kinh doanh, Garry D Smith, Danny R Arnold, Bobby G Bizzell, NXB Thống kê, 1997)
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Sản phẩm thay thế
Sự đe dọa của người nhập mới
Nhà cung cấp
Áp lực của khách hàng
Các đối thủ cạnh tranh trong ngành
Cường độ cạnh tranh
Khách hàng
Áp lực của nhà cung cấp
Sự đe dọa của sản phẩm/dịch vụ thay thế
Trang 24 Các đối thủ cạnh tranh hiện tại
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại là các doanh nghiệp khác đang kinh doanh mặt hàng có thể thay thế mặt hàng của doanh nghiệp Sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh hiện tại làm bùng nổ sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường Khi một đối thủ cạnh tranh sử dụng các chiến thuật như: cạnh tranh về giá, tăng cường quảng cáo, giới thiệu sản phẩm và công tác chăm sóc khách hàng, … thì sẽ gây ra những ảnh hưởng nhất định đến các đối thủ khác, trong đó có doanh nghiệp Bởi nếu các chiến thuật được sử dụng hiệu quả sẽ có tác dụng hấp dẫn, thu hút khách hàng về phía họ, đồng nghĩa với việc làm xói mòn thị phần của doanh nghiệp và các đối thủ còn lại Điều này cũng có nghĩa là doanh nghiệp đã giảm năng lực cạnh tranh của mình Bên cạnh đó những chiến lược của đối thủ có thể kích thích doanh nghiệp chống trả lại nhằm giữ khách hàng hiện tại và thu hút thêm được khách hàng mới Muốn đạt được điều đó doanh nghiệp phải chiến thắng, tức là phải có năng lực cạnh tranh vượt trội Vì vậy có thể nói rằng những động thái của các đối thủ cạnh tranh
có tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Các sản phẩm, dịch vụ thay thế
Sản phẩm thay thế là những sản phẩm mang lại những lợi ích tiêu dùng như sản phẩm hiện tại hoặc cao hơn cho khách hàng Cạnh tranh từ phía sản phẩm thay thế là loại hình cạnh tranh gián tiếp
Một công cụ cạnh tranh đắc lực của sản phẩm thay thế là giá cả Các sản phẩm thay thế thường là kết quả của công nghệ mới, giá rẻ hơn nên khi sản phẩm của doanh nghiệp và sản phẩm thay thế có cùng các yếu tố như nhau về chất lượng, mẫu mã, sự thuận tiện, … thì các sản phẩm thay thế có giá càng rẻ sẽ càng hấp dẫn khách hàng hơn; làm thu hẹp thị trường doanh nghiệp, hạn chế mức lợi nhuận dẫn đến giảm bớt năng lực cạnh tranh
Nhà cung cấp
Doanh nghiệp cung cấp các yếu tố đầu vào hay còn gọi là người cung ứng có vai tr đặc biệt quan trọng tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp bởi sản xuất bất kỳ một sản phẩm nào đều cần tới các yếu tố đầu vào
Trang 25Nhà cung cấp có thể làm ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trong một số trường hợp như: chỉ có một số ít nhà cung cấp, khi không có sẵn sản phẩm thay thế, việc thay đổi nhà cung cấp dẫn đến chi phí lớn, … các nhà cung cấp thường tạo ra sức ép đối với doanh nghiệp thông qua việc đe dọa tăng giá hoặc làm giảm chất lượng hàng hoá cung ứng Cả hai sự đe dọa này đều có nguy cơ làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp bởi tăng giá và giảm chất lượng hàng hoá đều gặp phải những phản ứng bất lợi từ phía khách hàng Như vậy có được nhà cung cấp uy tín, đảm bảo cung cấp các yếu tố đầu vào với giá cả hợp lý và chất lượng tương xứng sẽ là một trong những yếu tố duy trì năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Chiến lược của các doanh nghiệp là liên doanh, liên kết chia sẻ quyền lợi, xây dựng mối quan hệ lâu dài thân thiện với các nhà cung cấp
Khách hàng
Người mua là những cá nhân, tổ chức có nhu cầu và khả năng thanh toán về hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp Ngày nay với nền kinh tế mở, sự xuất hiện của các nhà cung cấp ngày càng nhiều, các nhà cung cấp phải cạnh tranh trực tiếp với nhau để giữ khách hàng cho mình, như vậy khách hàng sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn hơn Với xu thế cạnh tranh ngày càng gia tăng, khách hàng đ i hỏi ngày càng cao không chỉ về chất lượng, giá cả, sự tiện lợi mà cả về thái độ và phong cách phục vụ Khách hàng có thể gây áp lực đối với doanh nghiệp bằng việc bắt ép giảm giá, đ i hỏi chất lượng tốt hơn… khiến doanh nghiệp đầu tư nhiều chi phí hơn cho việc nâng cao chất lượng sản phẩm, điều này tất yếu dẫn đến giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nhóm khách hàng thường gây áp lực là những nhóm khách hàng tập trung và mua với khối lượng lớn
Bên cạnh đó, sự thay đổi khách hàng cũng gây áp lực làm tụt giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp không theo kịp những thay đổi trong nhu cầu của khách hàng thì họ sẽ có xu hướng chuyển sang nhà cung cấp khác
có thể đáp ứng tốt hơn yêu cầu của họ Điều này sẽ dẫn đến thị phần của doanh nghiệp giảm chứng tỏ sự giảm sút năng lực cạnh tranh
Các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng
Trang 26Các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng có thể là những doanh nghiệp mới được thành lập, chọn mặt hàng của doanh nghiệp là mặt hàng kinh doanh hoặc là những doanh nghiệp muốn đa dạng hoá hoạt động thông qua việc xâm nhập vào thị trường của doanh nghiệp
Các đối thủ mới sẽ mang đến năng lực sản xuất mới với những chính sách hấp dẫn khách hàng hiệu quả, có thể tạo ra sự chuyển hướng tiêu dùng của khách hàng từ tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp sang tiêu dùng sản phẩm của đối thủ mới Như vậy sự xuất hiện của đối thủ cạnh tranh mới đương nhiên hạ thấp năng lực của doanh nghiệp Do đó áp lực cạnh tranh từ phía các đối thủ tiềm tàng sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp luôn hướng tới sự hoàn thiện sản phẩm của mình, cung cấp tới khách hàng những sản phẩm hoàn chỉnh nhất, giá cả hợp lý nhất nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.4 Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp
Như trong phần 1.2.1 đã nêu, năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận và được đo bằng thị phần sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường Theo đó doanh nghiệp có chi phí càng thấp, lợi nhuận và thị phần càng cao thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó càng lớn và ngược lại
Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp (và rộng hơn là ngành), trong nền kinh tế Việt Nam, đang diễn ra song song với những biến đổi của môi trường cạnh tranh kinh tế chung Nhiều nhân tố như công nghệ, đào tạo, huấn luyện và sử dụng nguồn nhân lực, nghiên cứu và phát triển, liên kết kinh tế, phụ thuộc vào cả chính sách, các biện pháp hỗ trợ của Nhà nước và những nỗ lực của bản thân doanh nghiệp Hơn nữa, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào chi phí thấp, giá thành hạ, mà còn cả các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh về chất như: việc đánh giá các đối thủ cạnh tranh, sự thâm nhập ngành của các doanh nghiệp mới; các sản phẩm hay dịch vụ thay thế; vị thế đàm phán của các nhà cung cấp cũng như của người mua; trình độ đội ngũ nhân viên; kỹ năng tổ chức, quản lý
Trang 27Để phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, ta có thể tiếp cận theo một số phương pháp sau:
Phân tích theo cấu trúc thị trường
Theo phương pháp này, năng lực cạnh tranh được xem xét theo 5 nhân tố như sau:
Sự tham gia của các công ty mới vào lĩnh vực kinh doanh;
Các sản phẩm hay dịch vụ thay thế;
Sức mạnh của doanh nghiệp cung ứng sản phẩm dịch vụ trên thị trường;
Sức mạnh của người mua trong việc lựa chọn người cung ứng trên thị trường sản phẩm và dịch vụ;
Mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
Phân tích lợi thế cạnh tranh trên cơ sở đánh giá lợi thế so sánh về chi
phí hay khả năng sinh lợi trên một đơn vị sản phẩm
Các chỉ số chi phí (theo giá so sánh quốc tế) cho phép xác định được mức độ đóng góp của doanh nghiệp vào nền kinh tế Các chỉ số đó (theo giá thị trường) cho biết năng lực cạnh tranh, duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong môi trường mà giá cả đã được xác định
Phân tích truyền thống theo lợi thế so sánh là phân tích tĩnh, trong khi năng lực cạnh tranh là một khái niệm động Hiện nay, phương pháp phân tích theo lợi thế
so sánh (tĩnh) đã được bổ sung bằng phương pháp phân tích theo năng lực cạnh tranh động Khi phân tích năng lực cạnh tranh động cần tính đến những dự báo về:
Biến động chu kỳ của sản phẩm, dịch vụ
Mức độ phổ biến công nghệ và tích luỹ kinh nghiệm
Chi phí đầu vào
Những thay đổi về đặc điểm dân số và khuynh hướng nhu cầu
Vai trò của các sản phẩm, dịch vụ thay thế và bổ sung
Những thay đổi trong chính sách của Chính phủ
Chi phí thấp mới chỉ là bước khởi đầu để có thể cạnh tranh Sự phát triển kinh doanh năng động sẽ tận dụng được lợi thế so sánh về chi phí; từ đó nâng cao
Trang 28thêm năng lực cạnh tranh về chất Các kỹ năng tổ chức, quản lý của nhà kinh doanh trong chu trình sản xuất kinh doanh: từ giai đoạn trước sản xuất (chẳng hạn như xác định và thiết kế sản phẩm, mua công nghệ và nguyên vật liệu, quản lý nguyên vật liệu và dự trữ) đến bản thân quá trình sản xuất (sử dụng lao động, nâng cao kỹ năng lao động và bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng), và sau sản xuất (bao gói, nhãn hiệu), giao nhận kịp thời có chất lượng, liên kết thương mại (theo kiểu liên doanh, đối tác chiến lược hay ký kết hợp đồng, tiếp thị, tiếp cận thị trường nước ngoài) cũng là những yếu tố quan trọng góp phần cải thiện và nâng cao thêm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Phân tích theo quan điểm tổng thể
Cách phân tích theo quan điểm tổng thể yêu cầu giải đáp ba vấn đề cơ bản khi nghiên cứu tính cạnh tranh của một doanh nghiệp:
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Những nhân tố thúc đẩy hay có đóng góp tích cực và những nhân tố hạn chế hay gây cản trở cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Những tiêu chí đặt ra cho chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, những chính sách, chương trình và công cụ của Chính phủ để đáp ứng được các tiêu chí đó
Quá trình điều chỉnh của doanh nghiệp và thay đổi cơ cấu ngành diễn ra song song với những biến đổi của môi trường cạnh tranh kinh tế chung Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố do doanh nghiệp tự quyết định nhưng cũng c n phụ thuộc vào những yếu tố do Chính phủ quyết định Ngoài ra nó còn phụ thuộc vào những yếu tố mà cả Chính phủ và doanh nghiệp chỉ kiểm soát được trong một mức độ hạn chế hoặc hoàn toàn không quyết định được Các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được chia thành 4 nhóm:
Các yếu tố do doanh nghiệp quyết định bao gồm chiến lược phát triển, sản phẩm chế tạo, lựa chọn công nghệ, đào tạo cán bộ, đầu tư nghiên cứu công
Trang 29nghệ và phát triển sản phẩm/dịch vụ, chi phí sản xuất và quan hệ với bạn hàng
Các yếu tố do Chính phủ quyết định tạo ra môi trường kinh doanh bao gồm thuế, lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái, chi ngân sách cho nghiên cứu khoa học và phát triển, cho giáo dục và đào tạo nghề, hệ thống luật pháp điều chỉnh quan hệ giữa các bên tham gia kinh doanh
Các yếu tố chỉ quyết định được ở mức độ nhất định thí dụ như giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào cho sản xuất, nhu cầu của người tiêu dùng hay môi trường thương mại quốc tế
Các yếu tố không quyết định được, thí dụ như môi trường tự nhiên
Để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần có sự nỗ lực trước hết của bản thân doanh nghiệp và một phần rất quan trọng khác là các chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh của Nhà nước
Nói tóm lại, về các tiêu chí để xác định năng lực cạnh tranh hay các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có rất nhiều và nhiều cách phân loại khác nhau Để xem xét một cách đầy đủ và trình tự như trên cần mất rất nhiều công phu Hơn nữa, tuỳ theo đặc điểm của từng doanh nghiệp hay từng ngành, tuỳ theo mức độ ảnh hưởng của các nhân tố có thể có những cách đánh giá về năng lực cạnh tranh khác nhau, cách tiếp cận khác nhau Cũng trên cơ sở này, nhóm nghiên cứu đề tài sẽ đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và đưa ra những đề xuất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh dựa trên các khía cạnh hay các yếu tố sau:
Các yếu tố tác động từ chính sách của Nhà nước
Các yếu tố về con người
Các yếu tố về giảm chi phí và hạ giá thành
Các yếu tố về chất lượng và đa dạng hoá dịch vụ
Các yếu tố về thị trường
Sự phân chia này tương đối bao hàm những nội dung và yêu cầu mà các doanh nghiệp KDVT đặt ra trong chiến lược kinh doanh, chiến lược cạnh tranh để
Trang 30nâng cao năng lực cạnh tranh với các doanh nghiệp cung cấp và khai thác các dịch
vụ bưu chính viễn thông hiện nay và trong bối cảnh hội nhập
1.3 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DỊCH VỤ VIỄN THÔNG
1.3.1 Khái niệm về doanh nghiệp viễn thông và KDVT
Điều 3 và 13 của Luật Viễn thông định nghĩa về doanh nghiệp viễn thông và kinh doanh viễn thông như sau:
Khái niệm về doanh nghiệp viễn thông
Doanh nghiệp viễn thông là doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật Việt Nam và được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông
Doanh nghiệp viễn thông bao gồm doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không có hạ tầng mạng
Khái niệm về kinh doanh viễn thông
Kinh doanh viễn thông bao gồm kinh doanh dịch vụ viễn thông và kinh doanh hàng hoá viễn thông
Kinh doanh dịch vụ viễn thông là hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng viễn thông công cộng, cung cấp dịch vụ viễn thông nhằm mục đích sinh lợi
Kinh doanh hàng hoá viễn thông là hoạt động đầu tư, sản xuất, mua bán, cho thuê phần mềm và vật tư, thiết bị viễn thông nhằm mục đích sinh lợi
1.3.2 Đặc điểm của dịch vụ viễn thông
Tính vô hình của dịch vụ
Dịch vụ viễn thông không phải là sản phẩm vật chất chế tạo mới, không phải
là hàng hoá cụ thể mà là hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức từ người gửi đến người nhận, thể hiện dưới dạng dịch vụ
Để thực hiện được một cuộc gọi đi từ mạng di động và nhận một cuộc gọi đến từ mạng khác hoặc nhận và gửi email chẳng hạn, cần có sự tham gia của các yếu tố sản xuất như: lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động
Lao động: Gồm lao động công nghệ, lao động quản lý, lao động phụ trợ
Trang 31 Tư liệu lao động: Là những phương tiện thiết bị thông tin dùng để truyền đưa tin tức như: thiết bị chuyển mạch, thiết bị thu phát sóng, đường truyền cáp quang,
Đối tượng lao động: Đó là nội dung tin tức mà người gửi muốn gửi đi qua
hệ thống viễn thông
Tin tức được truyền đưa qua mạng viễn thông phải đảm bảo không có bất kỳ
sự thay đổi nào ngoài sự thay đổi về vị trí không gian, do đó cần trang bị kỹ thuật, công nghệ, tổ chức sản xuất, để đảm bảo thông tin được truyền đi một cách nhanh chóng, an toàn và trung thực
Trong cơ cấu giá thành, chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng nhỏ, chi phí
cố định chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh vì vậy đối với dịch vụ viễn thông cần mở rộng hiện đại hoá mạng lưới, cải tiến hoàn thiện phương thức đăng ký dịch vụ và thanh toán
Quá trình sản xuất dịch vụ viễn thông mang tính chất dây chuyền
Để truyền đưa một tin tức hoàn chỉnh qua mạng di động từ người gửi đến người nhận thường phải do hai hay nhiều đơn vị cùng tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ với rất nhiều khâu khác nhau Thông tin từ một mạng di động có thể được truyền đưa trong nội bộ mạng, sang mạng di động khác hoặc sang mạng cố định Gửi email từ máy tính hoặc điện thoại của mình cho người khác cũng là một dây chuyền rất dài, thậm chí là qua nhiều quốc gia, trên nhiều đường truyền dẫn khác nhau (cáp quang, cáp đồng, vệ tinh, BTS, )
Quá trình cung cấp dịch vụ viễn thông gắn liền với quá trình sử dụng
dịch vụ
Do quá trình tiêu thụ không tách rời quá trình sản xuất nên yêu cầu đối với chất lượng dịch vụ phải thật cao, nếu không sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng Dịch vụ viễn thông phải đảm bảo truyền đạt nguyên vẹn nội dung tin tức của khách hàng, truyền đưa đúng người nhận và an toàn, nhanh chóng
Trang 32Do đặc điểm này mà các giao dịch viên phải thường xuyên tiếp xúc với khách hàng, vì vậy các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông phải quan tâm đến công tác đào tạo đội ngũ nhân viên, chú trọng tới công tác chăm sóc khách hàng
Tải trọng không đồng đều theo không gian và thời gian
Tải trọng dịch vụ viễn thông là lượng tin tức đến yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truyền đi hoặc nhận tới thông qua mạng viễn thông trong một khoảng thời gian nhất định Nhu cầu về truyền đưa tin tức rất đa dạng, nó xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, vào bất kỳ lúc nào; thường phụ thuộc vào nhịp độ sinh hoạt của xã hội
Sự dao động không đồng đều về tải trọng, cùng với các tiêu chuẩn chất lượng
đã được đặt ra khiến các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông không thể tích luỹ tin tức mà phải tiến hành truyền đưa tin tức đảm bảo thời gian truyền đưa thực
tế nhỏ hơn hoặc bằng thời hạn kiểm tra Để đảm bảo lưu thoát hết mọi nhu cầu về truyền đưa tin tức qua mạng viễn thông cần phải có một lượng dự trữ đáng kể về dung lượng tổng đài, thiết bị chuyển mạch, thiết bị thu phát sóng, lao động, … do
đó làm phức tạp thêm rất nhiều cho quá trình sản xuất, tổ chức lao động trong các doanh nghiệp
1.3.3 Nội dung phân tích năng lực cạnh tranh của DN KDVT
Nội dung phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông bao gồm các chỉ tiêu thể hiện sức mạnh của chính doanh nghiệp đó và các nhân tố nội tại của dịch vụ như sau:
1.3.3.1 Giá cước dịch vụ
Giá cước là một yếu tố nhạy cảm trong hầu hết các lĩnh vực kinh doanh, đặc biệt là trong kinh doanh dịch vụ Các dịch vụ viễn thông là các dịch vụ có lợi thế theo quy mô, đồng thời cùng với sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của công nghệ thì chi phí sản xuất ngày càng giảm
Giá cước là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Dựa vào giá cước dịch vụ người ta có thể đánh giá được thị phần của doanh nghiệp ra sao? Đối tượng sử dụng dịch vụ như thế nào? Trên thị trường dịch vụ viễn thông Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp mới ra đời luôn
Trang 33phải định giá cước rẻ hơn các doanh nghiệp khác nên ban đầu thường thu hút được một số lượng khách hàng nhất định Sự chia sẻ thị phần trên thị trường viễn thông của các doanh nghiệp KDVT đồng nghĩa với việc các DN phải tìm mọi biện pháp tăng năng lực cạnh tranh, và nguy cơ này càng lớn khi thị trường viễn thông Việt Nam tiến tới mở cửa hoàn toàn Để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, các DN KDVT cần có những chính sách giá cước linh hoạt, mềm dẻo và phù hợp
1.3.3.2 Chất lượng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ là một yếu tố không thể thiếu khi đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vì chất lượng dịch vụ ảnh hưởng trực tiếp tới cảm nhận của người tiêu dùng đối với sản phẩm, dịch vụ của công ty Chất lượng dịch vụ viễn thông thể hiện trên các mặt chủ yếu sau: độ ổn định cao, vùng phủ sóng rộng, tốc độ truyền đưa tin tức cao, độ an toàn của tin tức,
Người tiêu dùng khi sử dụng dịch vụ viễn thông luôn mong muốn có thể gọi, nhận cuộc gọi, sử dụng các dịch vụ GTGT, ở tất cả mọi nơi, thời gian chờ thực hiện yêu cầu ngắn, tin tức được đảm bảo an toàn, chính xác, trung thực, Nếu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không thực sự quan tâm tới các vấn đề trên khiến khách hàng không hài lòng về dịch vụ thì việc khách hàng rời bỏ dịch vụ của doanh nghiệp là điều tất yếu có thể xảy ra
Do đó doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ viễn thông cũng cần quan tâm tới việc ứng dụng công nghệ đảm bảo chất lượng dịch vụ của mình Điều này đặc biệt có ý nghĩa với các khách hàng lớn, doanh nghiệp là những đối tượng có yêu cầu cao về dịch vụ Với một dịch vụ giá không cao, việc tăng chất lượng sẽ thu hút được một lượng khách hàng lớn đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp Nhà cung cấp nào lợi dụng được ưu thế về quy mô, công nghệ để tăng chất lượng của mình sẽ tạo nên một lợi thế cạnh tranh trên thị trường
1.3.3.3 Hỗ trợ khách hàng
Công việc hỗ trợ khách hàng có thể bao gồm từ khâu tư vấn cho khách hàng lựa chọn dịch vụ phù hợp, thoả thuận phương thức thanh toán và các hoạt động cần thiết khác nhằm duy trì dịch vụ ở mức khách hàng mong đợi Ngoài chất lượng dịch
Trang 34vụ thì công tác hỗ trợ khách hàng của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng rất lớn tới cảm nhận của khách hàng Trong kinh doanh phải thường xuyên hỗ trợ khách hàng và phải luôn quan tâm tới công tác nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh đặc biệt là công tác hỗ trợ khách hàng của họ để có chiến lược đối phó nhằm lôi kéo khách hàng sử dụng dịch vụ của mình Một doanh nghiệp có dịch vụ khách hàng hoàn hảo sẽ giữ được khách hàng lâu dài và đảm bảo thị phần của mình Muốn vậy họ cần có một đội ngũ cán bộ nhân viên có nghiệp vụ chăm sóc khách hàng có hiệu quả
1.3.3.4 Xúc tiến bán hàng
Chiến lược kinh doanh tạo nên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp qua hai điểm chính là phân phối và khuyến mại quảng cáo Chiến lược khuyến mại quảng cáo là những chiến lược sử dụng kỹ thuật quảng cáo, yểm trợ nhằm mục đích cung cầu gặp nhau Có chiến lược quảng cáo khuyến mại phù hợp, hấp dẫn doanh nghiệp
sẽ dễ dàng đưa sản phẩm dịch vụ của mình đến với người tiêu dùng làm cho việc bán hàng dễ dàng hơn, kích thích việc tiêu thụ sản phẩm
Ngoài ra, chiến lược phân phối dịch vụ, các kênh phân phối cũng là những yếu tố hỗ trợ đắc lực cho việc bán hàng, đảm bảo việc kinh doanh an toàn, tăng khả năng liên kết, giảm cạnh tranh Các kênh phân phối càng hiệu quả doanh nghiệp càng tiếp cận với khách hàng nhiều hơn
1.3.3.5 Cơ cấu tổ chức đội ngũ lao động
Một cơ cấu tổ chức phù hợp, hiệu quả, gọn nhẹ sẽ tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có khả năng giảm giá thành mà vẫn thu được lợi nhuận; nhờ đó sức cạnh tranh của họ trên thị trường tăng lên Bên cạnh đó vai tr của đội ngũ lao động dày dặn kinh nghiệm, nhiệt tình, gắn bó với doanh nghiệp cũng là yếu tố thúc đẩy doanh nghiệp phát triển Trong lĩnh vực TTDĐ, VNPT đã
có đội ngũ lao động lâu năm, có nhiều kinh nghiệm làm việc hơn các doanh nghiệp non trẻ khác, song bộ máy còn cồng kềnh, không hiệu quả cần được cơ cấu, tổ chức lại đảm bảo tính cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường hiện nay
Trang 351.3.3.6 Sự trung thành của khách hàng và vị thế của DN trên thị trường
Việc tạo ra một thương hiệu uy tín, một thị phần lớn và khách hàng trung thành là vấn đề lâu dài và phức tạp Doanh nghiệp nào chiếm được sự tin tưởng của khách hàng, có khách hàng quen thuộc thì sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh Vị thế của DN hiện tại chỉ là tương đối, nếu không sớm nhanh nhạy thích nghi năng động với môi trường kinh doanh mới, doanh nghiệp rất
Chương I đã trình bày được các khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh
và giới thiệu Luật Cạnh tranh, Luật Viễn thông Đồng thời, chương này cũng trình bày các mô hình phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Mục đích của việc đưa các chỉ tiêu đánh giá nhằm lấy đó làm cơ sở cho việc nâng cao cạnh tranh của doanh nghiệp
Chương II sẽ đi sâu phân tích năng lực cạnh tranh của Tổng công ty Điện lực miền Bắc trong lĩnh vực kinh doanh viễn thông
Trang 36CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH
TRONG KDVT TẠI EVNNPC 2.1 GIỚI THIỆU VỀ EVNNPC, EVNTELECOM, QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA EVNNPC VÀ EVNTELECOM
2.1.1 Giới thiệu tổng quan về EVNNPC
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
EVNNPC là một doanh nghiệp hạng đặc biệt - thành viên hạch toán độc lập thuộc EVN, được thành lập theo: Công văn số 60/TTg-ĐMDN ngày 12/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập các Tổng công ty quản lý và phân phối điện lực trực thuộc EVN; Quyết định số 789/QĐ-BCT ngày 05/02/2010 của Bộ Công thương về việc thành lập Công ty mẹ - EVNNPC trực thuộc EVN trên cơ sở tổ chức lại Công ty Điện lực 1 và tiếp nhận quyền đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước của EVN tại các Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Điện lực Hải Phòng, Hải Dương, Ninh Bình, hoạt động theo hình thức Công ty mẹ - Công ty con
Tên đầy đủ: Tổng công ty Điện lực miền Bắc
Tên giao dịch quốc tế: Northern Power Corporation
Tên viết tắt: EVNNPC
Trang 37Công ty điện lực miền Bắc, trực thuộc Bộ Điện và Than Năm 1981, Công ty được đổi tên thành Công ty Điện lực 1, ban đầu trực thuộc Bộ Điện lực, sau trực thuộc Bộ Năng lượng Từ năm 1995 Công ty Điện lực 1, trực thuộc Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN)
Thực hiện chủ trương đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước, ngày 05/02/2010, EVNNPC ra đời trên cơ sở tổ chức lại Công ty Điện lực 1 và tiếp nhận quyền đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước tại các Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Phòng, Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương, Công ty TNHH MTV Điện lực Ninh Bình, hoạt động theo hình thức Công ty mẹ - Công ty con
Địa bàn hoạt động: 27 tỉnh miền Bắc và bắc Trung bộ (tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương từ Hà Tĩnh trở ra trừ Thủ đô Hà Nội)
Lập dự án đầu tư; Quản lý dự án; Giám sát, kiểm tra và quản lý chất lượng các dự án ĐTXD
Công nghiệp cơ khí điện lực; Sửa chữa, thí nghiệm và hiệu chỉnh trang thiết bị điện
Kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin
Trang 38 Xuất nhập khẩu và kinh doanh: Vật tư thiết bị ngành điện, sản phẩm cơ khí điện, VTCC và công nghệ thông tin; Truyền thông, quảng cáo, dịch vụ Internet, truyền hình cáp; Nguyên nhiên vật liệu cao su, xăng, dầu diesel, dầu mỡ, ga và vật tư, thiết bị, phụ tùng chuyên ngành điện, viễn thông và công nghệ thông tin
Sản xuất và kinh doanh vật liệu dẫn điện, vật liệu cách điện, cách nhiệt, các sản phẩm composite, polymer, PVC, vật liệu xây dựng
Sản xuất kết cấu thép cho xây dựng và các sản phẩm từ thép
Sản xuất dây cáp điện và dây diện
Sản xuất phần mềm, thiết kế trang Web, dịch vụ cung cấp thông tin trên Internet
Hợp tác liên doanh, liên kết với các tổ chức, doanh nghiệp trong nước và nước ngoài về các lĩnh vực: hoạt động điện lực, viễn thông, đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ
Kinh doanh, khai thác cảng và dịch vụ giao nhận, kho bãi, nhà xưởng, nhà văn ph ng, nhà ở; Cung cấp, lắp đặt hệ thống các thiết bị điện, điện tử, điện lạnh và thiết bị dẫn ga, khí
Kinh doanh khách sạn, du lịch
Đầu tư tài chính
Xuất khẩu lao động
Mua bán, cho thuê văn ph ng và kinh doanh bất động sản
Kinh doanh các ngành, nghề khác theo qui định của pháp luật
2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy
Chi tiết cơ cấu tổ chức bộ máy của EVNNPC được thể hiện trong sơ đồ trang
87 trong phụ lục của luận văn này
2.1.1.4 Kết quả sản xuất kinh doanh
Kết quả sản xuất kinh doanh tổng thể
Trong những năm vừa qua, do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tình hình sản xuất kinh doanh của hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề đều bị ảnh hưởng đáng kể
Trang 39Tuy nhiên, EVNNPC, với đặc thù ngành nghề, với lợi thế độc quyền Nhà nước vẫn giữ được nhịp độ sản xuất kinh doanh ổn định, hạn chế phần nào tác động tiêu cực của khủng hoảng tới kết quả sản xuất kinh doanh (đặc biệt là đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính là kinh doanh điện năng) Chi tiết kết quả sản xuất kinh doanh trong 3 năm gần đây của EVNNPC tại trang 88 trong phụ lục kèm theo
Kết quả sản xuất kinh doanh lĩnh vực Viễn thông điện lực
Kết quả cụ thể của hoạt động KDVT tại EVNNPC trong các năm gần đây thể hiện trong bảng dưới đây
Đối với EVNNPC, năm 2006 và 2007 là năm bản lề, khởi động mạnh mẽ hoạt động kinh doanh các dịch vụ viễn thông
Năm 2008, hoạt động KDVT của EVNNPC bị ảnh hưởng nặng nề bởi cắt điện trên diện rộng những tháng đầu năm; khủng hoảng tài chính toàn cầu những tháng cuối năm; thiếu vốn trầm trọng; cạnh tranh quyết liệt từ các nhà cung cấp khác; tuy nhiên thuê bao các dịch vụ CDMA450 vẫn tăng trưởng 46% so với năm 2007; tổng doanh thu viễn thông EVNNPC được hưởng tăng 109% so với năm
2007
Năm 2009, khi khủng hoảng kinh tế thế giới đi vào điểm rơi, Việt Nam chịu tác động kép bởi lạm phát phi mã, Nhà nước điều chỉnh mạnh giá cước viễn thông
và tiết giảm mạnh chỉ tiêu, định mức hỗ trợ viễn thông công ích, EVNTelecom cải
tổ mạnh về tổ chức, nhân sự, nên tốc độ tăng trưởng thuê bao và doanh thu của EVNNPC giảm mạnh, cụ thể: thuê bao các dịch vụ CDMA450 chỉ tăng 17% so với văn 2008; tổng doanh thu viễn thông EVNNPC được hưởng chỉ xấp xỉ bằng năm
2008
Năm 2010, nền kinh tế thế giới trong giai đoạn phục hồi nhưng tốc độ tăng trưởng thuê bao và doanh thu của EVNNPC cũng không tăng mạnh, cụ thể: thuê bao các dịch vụ CDMA450 chỉ tăng 8% so với năm 2009; do thực hiện một số chính sách về thu tiền thuê cột treo cáp viễn thông nên tổng doanh thu viễn thông EVNNPC vẫn tăng được 23% so với năm 2009
Trang 402.1.1.5 Đánh giá về tình hình sản xuất, kinh doanh của EVNNPC
Khái quát chung
Với đặc thù điện năng là hàng hoá đặc biệt, không thể dự trữ, không có tồn kho, quá trình sản xuất, truyền tải, phân phối, tiêu thụ phải diễn ra đồng thời Hiện nay, trong nền kinh tế Việt Nam, ngành điện là ngành độc quyền tự nhiên trong khâu truyền tải, phân phối, bán lẻ điện năng C n khâu sản xuất điện đang thực hiện theo cơ chế thị trường chào giá cạnh tranh
EVNNPC là một Tổng công ty phân phối, do đó đương nhiên có yếu tố độc quyền tự nhiên EVNNPC mua buôn điện đầu nguồn của EVN theo giá điều tiết của Tập đoàn, sau đó truyền tải, phân phối, bán lẻ đến khách hàng sử dụng điện trên địa bàn các tỉnh miền Bắc theo giá bán điện do Nhà nước thống nhất quy định Như vậy hoạt động sản xuất kinh doanh chính của EVNNPC lãi hay lỗ là do:
Phải đảm bảo thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật kế hoạch
cơ bản Tập đoàn giao như: điện thương phẩm, doanh thu, tỷ lệ tổn thất, giá bán điện bình quân,
Tiết kiệm chi phí hoạt động
Đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh để bổ trợ
Bên cạnh đó, EVNNPC cũng phải thực hiện và chia sẻ một phần vai trò công ích xã hội như: tiếp nhận lưới điện nông thôn, cung cấp điện cho vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, những khu vực không hề có hiệu quả nếu xét về khía cạnh kinh doanh
Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng phụ tải thường ở mức cao (10
- 15%/năm), nước ta thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu điện, đặc biệt là trong các tháng mùa khô Khi đó các Tổng công ty buộc phải cắt điện luân phiên, sa thải phụ tải dẫn đến ảnh hưởng lớn làm giảm sản lượng điện thương phẩm, giảm doanh thu bán điện, giảm lợi nhuận của các Tổng công ty
Năm 2010, EVNNPC đạt 23,89 tỷ kWh điện thương phẩm, tỷ lệ tổn thất 8,39%, tổng số khách hàng điện đạt trên 6,2 triệu (tăng gần 0,7 triệu so với năm 2009), doanh thu tiền điện đạt 22.560,26 tỷ đồng (tăng 26,9% so với năm 2009)