1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích và đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty tnhh xdct hùng vương

119 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải có chính sách phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh sao cho phù hợp với xu thế phát triển của xã hội bằng cách các doanh nghiệp phải tận dụng nhữ

Trang 1

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa quốc tế hóa với sự nghiệp đổi

mới của Đảng, Chính phủ, thêm vào đó năm 1997 Việt Nam gia nhập ASEAN, năm

1998 gia nhập APEC, năm 2006 gia nhập AFTA và WTO Các doanh nghiệp Việt

Nam có những cơ hội và điều kiện quan trọng để phát triển, đồng thời cũng đặt ra

những thách thức to lớn để giải quyết các vấn đề tồn tại và phát triển Điều đó đòi

hỏi các doanh nghiệp phải có chính sách phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh

sao cho phù hợp với xu thế phát triển của xã hội bằng cách các doanh nghiệp phải

tận dụng những nguồn lực sẵn có, đồng thời phải biết tiếp thu, chọn lọc những tiến

bộ khoa học kỹ thuật để tạo uy tín và khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp Đặc

biệt là phải đổi mới về mặt quản lý nhân lực làm sao cho phù hợp với thời đại sao

cho đạt được hiệu quả hoạt động cao và bền lâu của doanh nghiệp

Các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam xuất

nhập khẩu nói riêng trong nền kinh tế hội nhập nhất là trong bối cảnh nền kinh tế có

nhiều biến động hiện nay đã gặp không ít khó khăn trong quá trình hoạt đông sản

xuất kinh doanh Bên cạnh đó Công ty TNHH XDCT Hùng Vương hoạt động trong

lĩnh vực xây dựng cũng đã có sự tác động ảnh hưởng của thị trường

Xuất phát từ thực tế, và vì là một kỹ sư xây dựng tác giả đã mạnh dạn nghiên

cứu đề tài:”Phân tích và đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh

của Công ty TNHH XDCT Hùng Vương” cho luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh

của mình

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Nhằm phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty TNHH

XDCT Hùng Vương trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm tìm ra các điểm

mạnh, điểm yếu, các cơ hội, thách thức và từ đó đề xuất các giải pháp cũng như các

kiến nghị nhằm nâng cao năng lực canh tranh của công ty trong hoạt động sản xuất

kinh doanh

Trang 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH XDCT Hùng

Vương trong hoạt động sản xuất kinh doanh

- Phạm vi nghiên cứu: Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Công

ty TNHH XDCT Hùng Vương trong hoạt động sản xuất kinh doanh từ năm 2008

đến tháng 6 năm 2010, đồng thời dựa vào định hướng phát triển của công ty nhằm

đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH XDCT

Hùng Vương trong hoạt động sản xuất kinh doanh từ nay đến năm 2016

4 Những đóng góp của đề tài

- Hệ thống hóa lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong

điều kiện kinh tế thị trường

- Đánh giá năng lực cạnh tranh và làm rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức

của Công ty TNHH XDCT Hùng Vương

- Phân tích và đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty

TNHH XDCT Hùng Vương

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp

khác nhau Đó là các phương pháp nghiên cứu tài liệu, hệ thống hoá, phương pháp

thống kê, so sánh, phương pháp phân tích, nghiên cứu điển hình, điều tra thu thập

và phân tích những tư liệu thực tế để đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp

nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH XDCT Hùng Vương trong

hoạt động sản xuất kinh doanh

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh

nghiệp

Chương 2: Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH

XDCT Hùng Vương trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty

TNHH XDCT Hùng Vương trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 3

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ

NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 CẠNH TRANH VÀ VAI TRÒ CỦA CẠNH TRANH TRONG NỀN KINH

TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh

Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh trong các lĩnh vực

kinh tế và xã hội Một trong những khó khăn là không có một sự thống nhất rộng rãi

về định nghĩa khái niệm này Lý do là thuật ngữ này được sử dụng để đánh giá cho

tất cả các doanh nghiệp, các ngành, các quốc gia và cả các khu vực liên quốc gia

Nhưng những mục tiêu cơ bản được đặt ra khác nhau phụ thuộc vào góc độ xem xét

là của quốc gia hay doanh nghiệp Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu

chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh trong môi trường

quốc gia hay quốc tế thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống vật

chất và phúc lợi cho nhân dân Ở đây, thuật ngữ cạnh tranh được tiếp cận dưới góc

độ trong lĩnh vực kinh tế, một dạng cụ thể của cạnh tranh

Giáo trình Kinh tế học chính trị Mác-Lênin[1] nêu ra định nghĩa: Cạnh tranh

là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất - kinh

doanh với nhau nhằm giành được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất - kinh

doanh, tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Mục

tiêu của cạnh tranh là giành được lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và

phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh

Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất thì cạnh tranh trong kinh doanh được

hiểu là chạy đua hay ganh đua gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể tham gia kinh

Trang 4

doanh trên thị trường để giành giật những điều kiện kinh doanh thuận lợi nhất

nhằm đem lại cho mình nhiều lợi ích nhất

Kinh doanh trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, các doanh

nghiệp bắt buộc phải chấp nhận cạnh tranh, ganh đua với nhau, phải luôn không

ngừng phát triển để giành được ưu thế tương đối so với đối thủ Nếu như lợi nhuận

là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh

thì cạnh tranh bắt buộc họ phải tiến hành các hoạt động một cách có hiệu quả cao

nhất nhằm thu được lợi nhuận tối đa

1.1.2 Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường

1.1.2.1 Vai trò của cạnh tranh đối với doanh nghiệp

Cạnh tranh là quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường Bởi vậy, bất cứ

doanh nghiệp nào khi tham gia vào nền kinh tế thị trường cũng phải đối mặt với

cạnh tranh và phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình bằng cách tạo ra những

lợi thế cạnh tranh vượt trội hơn so với đối thủ

1.1.2.2 Vai trò của cạnh tranh đối với người tiêu dùng

Cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp theo đuổi các chiến lược khác nhau, sử

dụng hiệu quả các nguồn lực, áp dụng những công nghệ hiện đại để có thể đứng

vững trên thị trường, thu được lợi nhuận cao chính điều này đã làm cho người tiêu

dùng được hưởng nhiều điều kiện thuận lợi hơn như: Sự đa dạng chủng loại các mặt

hàng, sản phẩm có chất lượng tốt hơn mà giá lại rẻ hơn, các dịch vụ ngày càng

thuận tiện

1.1.2.3 Vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế

Cạnh tranh là động lực làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển vì cạnh

tranh loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả đồng thời khẳng định sự tồn

tại và phát triển của các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả Cạnh tranh thúc đẩy sự

Trang 5

phát triển bình đẳng của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường, góp

phần xoá bỏ sự độc quyền, sự bất bình đẳng trong kinh doanh Mặt khác, cạnh tranh

thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày

càng sâu rộng, tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng tốt hơn Từ đó,

góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng xã hội

1.1.3 Các hình thức cạnh tranh chủ yếu

1.1.3.1 Theo tính chất cạnh tranh

- Cạnh tranh lành mạnh (cạnh tranh mà có “sân chơi” bình đẳng)

- Cạnh tranh không lành mạnh (cạnh tranh mà có “sân chơi” không bình

đẳng)

1.1.3.2 Theo mức độ cạnh tranh

- Cạnh tranh hoàn hảo (cạnh tranh thuần túy)

- Cạnh tranh không hoàn hảo: Gồm Độc quyền nhóm và cạnh tranh mang

tính độc quyền

+ Độc quyền nhóm: Tồn tại trong các ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một ít

người sản xuất, mỗi người đều nhận thức được rằng giá cả các sản phẩm của mình

không chỉ phụ thuộc vào hoạt động của mình mà còn phụ thuộc vào hoạt động của

những kẻ cạnh tranh quan trọng trong ngành đó

+ Cạnh tranh mang tính độc quyền: Là hình thức cạnh tranh mà trong đó các

doanh nghiệp cạnh tranh với nhau bằng việc bán các sản phẩm phân biệt (đã được

làm cho khác sản phẩm của các doanh nghiệp khác), các sản phẩm này có thể thay

thế cho nhau ở mức độ cao nhưng không phải là thay thế hoàn hảo Người bán có

thể thu hút khách hàng bằng các cách hữu hiệu như quảng cáo, khuyến mại, dịch vụ

hậu mãi Loại hình cạnh tranh này rất phổ biến hiện nay

Trang 6

1.1.3.3 Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường

- Cạnh tranh giữa người bán và người mua

- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau

- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau

+ Cạnh tranh giữa người bán với người mua: Là cuộc cạnh tranh diễn ra

theo “luật” mua rẻ - bán đắt Người mua luôn muốn mua được rẻ, ngược lại, người

bán luôn có tham vọng bán đắt Sự cạnh tranh này được thực hiện trong quá trình “

mặc cả” và cuối cùng giá cả được hình thành và hành động bán, mua được thực

hiện

+ Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Là cuộc cạnh tranh trên cơ

sở quy luật cung cầu Khi một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó mà mức cung cấp nhỏ

hơn nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh càng trở nên quyết liệt và giá hàng hoá,

dịch vụ đó sẽ càng tăng Kết quả cuối cùng là người bán thu được lợi nhuận cao,

còn người mua thì phải mất thêm một số tiền Đây là cuộc cạnh tranh mà những

người mua tự làm hại chính mình

+ Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh chính

trên vũ đài thị trường, đồng thời cũng là cuộc cạnh tranh khốc liệt nhất, có ý nghĩa

sống còn đối với các doanh nghiệp Tất cả các Doanh nghiệp đều muốn giành giật

lấy lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần của đối thủ Kết quả để đánh giá doanh

nghiệp nào chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này là việc tăng doanh số tiêu thụ,

tăng tỉ lệ thị phần Cùng với nó là tăng lợi nhuận, tăng đầu tư chiều sâu, mở rộng

sản xuất Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, bởi thế, đã

bước vào kinh doanh thì bắt buộc phải chấp nhận

Thực tế cho thấy, khi sản xuất hàng hoá càng phát triển, số người bán càng

tăng lên thì cạnh tranh càng quyết liệt Trong quá trình ấy, một mặt sản xuất hàng

hoá với qui luật cạnh tranh sẽ lần lượt gạt ra khỏi thị trường những doanh nghiệp

Trang 7

không có chiến lược cạnh tranh thích hợp Nhưng mặt khác, nó lại mở đường cho

những doanh nghiệp nắm chắc “ vũ khí” cạnh tranh thị trường và dám chấp nhận

“luật chơi” phát triển

1.1.3.4 Căn cứ theo phạm vi lãnh thổ

- Cạnh tranh trong nước

- Cạnh tranh quốc tế

Trong bối cảnh hội nhập ngày nay thì cạnh tranh quốc tế ngày càng trở nên

gay gắt, cạnh tranh quốc tế đòi hỏi các chủ thể phải tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế,

thông lệ quốc tế

1.1.3.5 Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế

+ Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp

cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó Trong cuộc cạnh

tranh này, các doanh nghiệp thôn tính nhau Những doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở

rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường; những doanh nghiệp thua cuộc sẽ

phải thu hẹp kinh doanh, thậm chí bị phá sản

+ Cạnh tranh giữa các ngành: Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, hay

đồng minh các doanh nghiệp trong ngành kinh tế khác nhau, nhằm giành lấy lợi

nhuận lớn nhất Trong quá trình cạnh tranh này, các doanh nghiệp luôn say mê với

những ngành đầu tư có lợi nhuận nên đã chuyển vốn từ ngành ít lợi nhuận sang

ngành nhiều lợi nhuận Sự điều chuyển tự nhiên theo tiếng gọi của lợi nhuận này

sau một thời gian nhất định, vô hình chung hình thành nên sự phân phối vốn hợp lý

giữa các ngành sản xuất, để rồi kết quả cuối cùng là, các doanh nghiệp đầu tư ở các

ngành khác nhau với số vốn bằng nhau chỉ thu được lợi nhuận như nhau, tức là hình

thành tỷ suất lợi nhuận bình quân cho tất cả các ngành

Trang 8

1.2 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh

Cạnh tranh trong nền kinh tế nói chung và cạnh tranh doanh nghiệp nói riêng

đã được nghiên cứu từ rất lâu Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh và việc nghiên cứu

năng lực cạnh tranh một cách có hệ thống lại bắt đầu khá muộn và chỉ mới từ những

năm 1980 đến nay Theo kết qủa tổng hợp các công trình nghiên cứu về năng lực

cạnh tranh của các nhà kinh tế người Anh là Buckley, Pass và Precott, đến năm

1988 có rất ít định nghĩa về năng lực cạnh tranh được chấp nhận

Còn M.E Porter một chuyên gia hàng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh lại

chỉ ra rằng cho đến năm 1990, năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu một cách

đúng đắn, đầy đủ và chưa có một định nghĩa nào được chấp nhận một cách thống

nhất Năm 1996, Waheeduzzan và các cộng sự cho rằng “năng lực cạnh tranh vẫn là

một khái niệm được hiểu thiếu đầy đủ” Cho đến năm 2994, Henricsson và các cộng

sự chỉ rõ rằng khái niệm năng lực cạnh tranh vẫn còn nhiều tranh cãi giữa các nhà

hoạch định chính sách, các nhà kinh tế, các nhà báo và các học giả ở nhiều nước

Khi tổng thuật lại tài liệu nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, một số tác giả

như Thorne (2002, 2004), Momay (2002, 2005) chỉ ra rằng, bắt đầu từ những năm

1990 đến nay, lý thuyết về năng lực cạnh tranh trên thế giới bước vào thời kỳ bùng

nổ so với số lượng công trình nghiên cứu được công bố rất lớn Theo Thorne, các lý

thuyết về năng lực cạnh tranh tập trung lại thành 3 cách tiếp cận sau: Lý thuyết

thương mại truyền thống, lý thuyết tổ chức công nghiệp và trường phái quản lý

chiến lược

Lý thuyết thương mại truyền thống nghiên cứu năng lực cạnh tranh của

doanh nghiệp dựa trên cách tiếp cận của “kinh tế trọng cung”, chú trọng tới mặt

cung, chủ yếu quan tâm tới khâu “bán hàng” của người sản xuất - kinh doanh Theo

cách tiếp cận này, tiêu chí đầu tiên của năng lực cạnh tranh là giá cả và do đó sự

khác biệt về giá cả của hàng hóa, dịch vụ được coi là tiêu chí chính để đo lường

Trang 9

năng lực cạnh tranh

Trường phái quản lý chiến lược được coi là mô hình khá mạnh nghiên cứu về

năng lực cạnh tranh, làm rõ nguồn lực bảo đảm cho năng lực cạnh tranh

Một số nhà nghiên cứu đã có những công trình nghiên cứu công phu về năng

lực cạnh tranh Chẳng hạn như Momaya (2002), Ambastha và cộng sự (2005), hoặc

các tác giả người Mỹ như Henricson và các cộng sự (2004) đã hệ thống hóa và

phân loại các nghiên cứu và đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo 3

loại: nghiên cứu năng lực cạnh tranh hoạt động, năng lực cạnh tranh dựa trên khai

thác, sử dụng tài sản và năng lực cạnh tranh theo quá trình

Năng lực cạnh tranh hoạt động là xu hướng nghiên cứu năng lực cạnh tranh

chú trọng vào những chỉ tiêu cơ bản gắn với hoạt động kinh doanh trên thực tế như:

thị phần, năng suất lao động, giá cả, chi phí Theo những chỉ tiêu này, doanh

nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là những doanh nghiệp có các chỉ tiêu hoạt động

kinh doanh hiệu quả, chẳng hạn như năng suất lao động cao, thị phần lớn, chi phí

sản xuất thấp

Năng lực cạnh tranh dựa trên tài sản là xu hướng nghiên cứu nguồn hình

thành năng lực cạnh tranh trên cơ sở sử dụng các nguồn lực như nhân lực, công

nghệ, lao động Theo đó, các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là những

doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực hiệu quả như nguồn nhân lực, lao động, công

nghệ, đồng thời có lợi thế hơn trong việc tiếp cận các nguồn lực này

Năng lực cạnh tranh theo quá trình là xu hướng nghiên cứu năng lực cạnh

tranh như các quá trình duy trì và phát triển năng lực cạnh tranh Các quá trình bao

gồm: quản lý chiến lược, sử dụng nguồn nhân lực, các quá trình tác nghiệp (sản

xuất, chất lượng )

Theo thống kê trong nghiên cứu của Momaya và các cộng sự 2005 thì hướng

nghiên cứu coi năng lực cạnh tranh như quá trình duy trì và phát triển năng lực cạnh

Trang 10

tranh được nhiều nhà nghiên cứu chú trọng và phát triển nhất cho đến nay

Như vậy, cho đến nay, lý thuyết về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp trên thế

giới phát triển theo nhiều khuynh hướng khác nhau, nhiều trường phái và cách tiếp

cận khác nhau

Tuy nhiên, do ý nghĩa to lớn của việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh nên bất

chấp những bất đồng trong lý luận, một số nước như Mỹ, Anh và tổ chức quốc tế

như diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế

(OECD), Viện phát triển quản lý (IMD), Công ty Standard & Poor‟s, Công ty

Moody‟s vẫn nghiên cứu và công bố các kết quả tính toán năng lực cạnh tranh ở

các cấp độ khác nhau Các kết quả này được rất nhiều quốc gia, doanh nghiệp quan

tâm và tham khảo

Tuy nhiên, trong phạm vi và giới hạn đề tài nghiên cứu, tác giả sẽ chỉ đi sâu

nghiên cứu năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp

Có rất nhiều quan niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhưng quan

niệm cho rằng “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy

trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng

tốt nhất nhu cầu của khách hàng (so với các đối thủ cạnh tranh) và đạt được các

mục tiêu của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và quốc tế” có

lẽ là phù hợp hơn cả

Xuất phát điểm của năng lực cạnh tranh là lợi thế cạnh tranh - nghĩa là khả

năng sản xuất và cung cấp sản phẩm tốt hơn đối thủ Tuy nhiên không phải những

gì doanh nghiệp hơn đối thủ đều là lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh trước hết

phải là yếu tố thành công cơ bản, gắn liền với nhu cầu của khách hàng, đồng thời là

điểm mạnh của doanh nghiệp và luôn so sánh với đối thủ Vì thế điều sống còn đối

với mỗi doanh nghiệp là phải hiểu rất rõ lợi thế cạnh tranh của mình là gì, bắt nguồn

từ đâu và làm thế nào để duy trì và phát triển lợi thế cạnh tranh đó

Trang 11

1.2.2 Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2.2.1 Khái niệm

Lợi thế cạnh tranh là các yếu tố năng lực, nguồn lực mà doanh nghiệp có thể

sử dụng để tiến hành các hoạt động kinh doanh một cách có kết quả và có hiệu quả

hơn so với đối thủ cạnh tranh

Để có lợi thế cạnh tranh các doanh nghiệp cần phải có chi phí trên một đơn

vị sản phẩm là thấp hơn (LTCT về chi phí) hoặc là cho sản phẩm của mình khác

biệt với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh về một khía cạnh nào đó để có thể đặt giá

cao hơn so với đối thủ (LTCT về khác biệt sản phẩm) hoặc làm đồng thời cả hai

cách trên

Lợi thế về chi phí (được gọi là lợi thế cạnh tranh bên trong) dựa trên tính ưu

việt của doanh nghiệp trong việc làm chủ chi phí sản xuất Nó tạo nên giá trị cho

người sản xuất bằng cách tạo ra cho doanh nghiệp một giá thành thấp hơn so với đối

thủ cạnh tranh chủ yếu

Lợi thế về phân biệt hoá sản phẩm (LTCT bên ngoài) dựa trên chiến lược

phân biệt sản phẩm, hình thành nên giá trị cho người mua, hoặc bằng cách giảm chi

phí sử dụng hoặc bằng cách tăng khả năng sử dụng Lợi thế này tạo cho doanh

nghiệp “Quyền lực thị trường”

1.2.2.2 Các yếu tố cơ bản tạo nên lợi thế cạnh tranh

Để có được lợi thế cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải hoạt động tốt trên

bốn phương diện cơ bản: Hiệu suất và hiệu quả cao hơn, chất lượng tốt hơn, đổi mới

nhanh hơn và đáp ứng cho khách hàng nhanh hơn Đây là bốn cách cơ bản nhất để

giảm chi phí và đa dạng hóa mà bất kỳ doanh nghiệp nào ở một ngành nào đó cũng

có thể áp dụng

+ Hiệu suất và hiệu quả cao hơn: Hiệu suất được đo lường bởi mức độ tổn

Trang 12

hao các đầu vào cần thiết để sản xuất ra một sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định

Doanh nghiệp có hiệu suất càng cao, mức độ hao phí đầu vào cần thiết để sản xuất

ra một đơn vị đầu ra càng thấp Do đó, hiệu suất giúp doanh nghiệp đạt được lợi thế

cạnh tranh về chi phí Việc đạt được hiệu suất cao, đồng nghĩa với việc sử dụng tốt

nhất các đầu vào trong quá trình sản xuất

+ Chất lượng cao hơn: Sản phẩm chất lượng là hàng hóa và dịch vụ có độ

tin cậy cao trong quá trình sử dụng và có thể thực hiện tốt các chức năng mà nó

được thiết kế chế tạo ra Như vậy, chất lượng có thể được hiểu là sự phù hợp với

mục đính hay nhu cầu sử dụng của khách hàng Tác động của chất lượng sản phẩm

đến lợi thế cạnh tranh mang tính hai mặt

- Thứ nhất, việc cung cấp những sản phẩm có chất lượng cao tạo nên

uy tín cho thương hiệu những sản phẩm của doanh nghiệp Điều này cho phép

doanh nghiệp có thể bán các sản phẩm của mình với giá cao hơn

- Thứ hai, chất lượng cao hơn dẫn đến hiệu suất cao Chất lượng sản phẩm cao đồng nghĩa với việc giảm bớt thời gian hao phí để chỉnh sửa lỗi và khuyết

điểm của sản phẩm cũng như giảm bớt các dịch vụ phụ thêm Điều này dẫn đến việc

giảm tiêu hao nhân lực và tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm

+ Đổi mới nhanh hơn: Đổi mới được hiểu là bất cứ cái gì mới, có thể là cách

vận hành một doanh nghiệp hay những sản phẩm mà nó sản xuất ra Như vậy, đổi

mới bao gồm những tiến bộ trong việc sản xuất ra sản phẩm mới, các quy trình hoạt

động, hệ thống quản lý, đổi mới cơ cấu tổ chức và kể cả những chiến lược của

doanh nghiệp

+ Đáp ứng khách hàng nhanh hơn: Để đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng

doanh nghiệp cần cung cấp những hàng hoá, dịch vụ mà họ cần vào đúng thời điểm

khách hàng mong muốn Vì thế doanh nghiệp cần phải nghiên cứu nhu cầu khách

hàng để thoả mãn họ Nói cách khác, doanh nghiệp phải làm bất cứ điều gì để nhận

biết và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Như vậy, những nỗ lực để có chất lượng,

Trang 13

hiệu suất, hiệu quả và đổi mới hơn chính là những yếu tố giúp doanh nghiệp đạt

được khả năng sẵn sàng đáp ứng khách hàng

Một yếu tố khác giúp doanh nghiệp xây dựng lợi thế cạnh tranh là khả năng

làm theo yêu cầu của khách hàng Những khách hàng riêng biệt sẽ được doanh

nghiệp cung cấp những hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu

Doanh nghiệp có thể nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình bằng cách tập

trung giảm thiểu thời gian đáp ứng khách hàng, tức là thời gian của quá trình phân

phối hoặc tiêu dùng sản phẩm hay dịch vụ

Ngoài chất lượng, làm theo yêu cầu của khách hàng và thời gian đáp ứng

khách hàng, doanh nghiệp có thể nâng cao khả năng sẵn sàng đáp ứng khách hàng

bằng các dịch vụ trước, trong và sau bán hàng tốt hơn, thiết kế mẫu mã hàng hóa tốt

hơn, Tất cả những yếu tố này đều giúp cho doanh nghiệp tạo ra sự khác biệt hóa

so với đối thủ cạnh tranh, từ đó xây dựng uy tín và lòng trung thành của khách hàng

đối với thương hiệu của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có được mức giá tốt hơn

so với các đối thủ cạnh tranh

Hình 1.1: Các yếu tố cơ bản tạo nên lợi thế cạnh tranh của M Porter

Hiệu quả

Đổi mới

Lợi thế cạnh tranh

- CP thấp

- Sự khác biệt

Đáp ứng khách hàng Chất lượng

Trang 14

Có thể nói bốn yếu tố trên là bốn yếu tố quan trọng trong việc tạo được lợi thế cạnh

tranh của doanh nghiệp Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có thể sản xuất kinh doanh

có hiệu quả cao hơn, chất lượng tốt hơn, đổi mới và đáp ứng khách hàng nhanh hơn,

điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có năng lực đặc biệt (các nguồn lực và khả năng

nhất định)

Năng lực đặc biệt là điểm mạnh cho phép doanh nghiệp có được chất lượng,

hiệu quả, khả năng đổi mới và đáp ứng khách hàng tốt hơn so với đối thủ cạnh

tranh Các doanh nghiệp có thể xây dựng cho mình những năng lực đặc biệt ở

những lĩnh vực khác nhau Năng lực đặc biệt của một doanh nghiệp được xây dựng

trên hai yếu tố bổ trợ cho nhau là nguồn lực và khả năng

+ Nguồn lực của doanh nghiệp được hiểu là nguồn lực về tài chính, vật chất,

nhân sự, công nghệ và các nguồn lực về tổ chức Các nguồn lực này được chia

thành 2 loại:

- Nguồn lực hữu hình: Nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguồn lực tài chính

- Nguồn lực vô hình: Nhãn hiệu hàng hoá, uy tín, bản quyền, bí quyết công

nghệ hay tiếp thị

Để nâng cao năng lực đặc biệt, các nguồn lực của doanh nghiệp phải vừa có

giá trị vừa có tính độc nhất Nguồn lực độc nhất là nguồn lực mà không có tổ chức

nào khác có được Nguồn lực được coi là giá trị khi mà nó giúp tạo ra nhu cầu cao

đối với sản phẩm của doanh nghiệp Nói cách khác, tức là những nguồn lực tạo giá

trị cho khách hàng

+ Khả năng là những kỹ năng của một doanh nghiệp trong việc phối hợp các

nguồn lực này vào sản xuất một cách có hiệu quả Những kỹ năng này nằm trong

hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp, tức là trong cách thức ra quyết định quản lý

trong nội bộ của doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu doanh nghiệp đề ra Nói

một cách tổng quát hơn khả năng của doanh nghiệp là sản phẩm của cơ cấu tổ chức

Trang 15

và hệ thống kiểm tra nội bộ doanh nghiệp Nhưng để có lợi thế cạnh tranh thì các

nguồn lực và khả năng này phải được sử dụng có hiệu quả

Tóm lại, muốn có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh thì doanh nghiệp phải có

các nguồn lực có giá trị và các kỹ năng cần thiết để khai thác và quản lý có hiệu quả

các nguồn lực đó

Một vấn đề mà các doanh nghiệp cũng cần phải lưu ý đó là khi tạo ra được

lợi thế cạnh tranh rồi, thì lợi thế cạnh tranh đó kéo dài được bao lâu và làm thế nào

để duy trì được các lợi thế đó một cách lâu dài Vấn đề này phụ thuộc vào ba yếu tố:

Hàng rào cản trở việc bắt chước, khả năng của các đối thủ cạnh tranh và sự năng

động của môi trường ngành Tuy nhiên, bất kỳ một năng lực nào của doanh nghiệp

dù khó đến đâu cũng đều có thể bị đối thủ cạnh tranh bắt chước, vấn đề quan trọng

là thời gian Thời gian mà đối thủ cạnh tranh bắt chước càng lâu thì doanh nghiệp

càng có thời gian để củng cố vị trí, uy tín của mình trên thị trường, làm cho đối thủ

cạnh tranh khó lấn át và doanh nghiệp có thời gian để hoàn thiện lợi thế của mình

Nhìn chung các nguồn lực dễ bị sao chép hơn là các khả năng Do đó điều quan

trọng đối với doanh nghiệp là thiết lập được cơ sở cho lợi thế cạnh tranh lâu bền và

duy trì được lợi thế cạnh tranh đó

1.2.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Chính vì năng lực cạnh tranh được phân tích dưới nhiều góc độ và xuất phát

từ những quan điểm khác nhau, cho nên các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh

của doanh nghiệp cũng khác nhau, phụ thuộc vào mục đích đánh giá, phương pháp

luận, phương pháp đánh giá và mức độ sẵn có của số liệu về doanh nghiệp Các nhà

khoa học đưa ra nhiều phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp,

nhưng nhìn chung các quan điểm đó đều xoay quanh các tiêu chí cơ bản sau:

1.2.3.1 Khả năng duy trì và mở rộng thị phần

Khả năng duy trì và mở rộng thị trường của doanh nghiệp được thể hiện trên

Trang 16

2 khía cạnh đó là thị phần và tốc độ tăng trưởng thị phần Thị phần lớn tạo điều kiện

cho doanh nghiệp hạ thấp chi phí sản xuất do có lợi thế về quy mô, đồng thời củng

cố lòng tin của khách hàng Tuy nhiên nếu chỉ xét thị phần của doanh nghiệp trong

một thời kỳ nhất định thì chưa thấy hết năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Trong một thời kỳ cụ thể, thị phần chủ yếu thể hiện vị thế của doanh nghiệp tại thời

điểm đó hơn là thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó Cần nghiên cứu

sự biến đổi (tăng, giảm) của thị phần trong các thời kỳ khác nhau để hiểu rõ năng

lực cạnh tranh của doanh nghiệp

+ Thị phần của doanh nghiệp:

- Thị phần của doanh nghiệp so với toàn bộ thị trường là tỷ lệ % giữa doanh

số của doanh nghiệp so với toàn bộ thị trường

- Thị phần của doanh nghiệp so với phần khúc mà nó phục vụ là tỷ lệ % giữa

doanh số của doanh nghiệp so với toàn phân khúc

Tốc độ tăng trưởng thị phần hàng năm (Thn):

Nếu Thn > 0: Tức là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tăng nên có khả

Trang 17

Nếu Thn < 0: Tức là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp giảm nên không

có khả năng giữ vững được thị phần

1.2.3.2 Chất lượng của sản phẩm và các quá trình sản xuất

Chất lượng sản phẩm là tổng thể những chỉ tiêu, những thuộc tính của sản

phẩm thể hiện mức độ thỏa mãn những nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác

định với công dụng của sản phẩm Chất lượng sản phẩm đã trở thành một vũ khí

cạnh tranh quan trọng của các doanh nghiệp trên thị trường bởi nó biểu hiện sự thỏa

mãn nhu cầu của khách hàng về sản phẩm Chất lượng sản phẩm càng cao tức là

mức độ thỏa mãn nhu cầu càng tăng, làm tăng khả năng thắng thế trong cạnh tranh

của doanh nghiệp Bên cạnh đó chất lượng sản phẩm cao sẽ làm tăng uy tín cho

nhãn mác sản phẩm của doanh nghiệp và do vậy doanh nghiệp có khả năng định giá

cao hơn, đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp

Mặt khác, chất lượng của các quá trình trong nội bộ doanh nghiệp (thu mua

đầu vào, sản xuất, marketing và dịch vụ bán hàng) được nâng cao sẽ làm tăng hiệu

quả, hạ thấp chi phí đơn vị sản phẩm

1.2.3.3 Giá cả sản phẩm, dịch vụ

Đối với người mua "Giá cả của một sản phẩm hoặc dịch vụ là khoản tiền mà

người mua phải trả cho người bán để được quyền sở hữu, sử dụng sản phẩm hay

dịch vụ đó", còn đối với người bán " Giá cả của một hàng hóa, dịch vụ là khoản thu

nhập mà người bán nhận được từ việc tiêu thụ sản phẩm đó" Chính vì vậy, giá cả

vừa quan trọng cho cả người mua và người bán

Trong cạnh tranh, giá cả có vai trò rất quan trọng Nếu như chênh lệch về giá

giữa các doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh lớn hơn chênh lệch về giá trị sử dụng

sản phẩm của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp đã đem lại

lợi ích cho người tiêu dùng lớn hơn so với đối thủ cạnh tranh Vì lẽ đó sản phẩm của

doanh nghiệp sẽ ngày càng chiếm được lòng tin của người tiêu dùng và cũng có

Trang 18

nghĩa là sản phẩm của doanh nghiệp có vị trí cạnh tranh ngày càng cao Bên cạnh

đó giá cả cũng thể hiện được lợi thế về chi phí và khả năng hạ giá thành của sản

phẩm của doanh nghiệp

1.2.3.4 Hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả kinh doanh là biểu hiện cơ bản nhất thể hiện năng lực cạnh tranh

của doanh nghiệp Yếu tố này thể hiện trình độ tổ chức sản xuất và quản lý của

doanh nghiệp nhằm phát huy tối đa hiệu quả sử dụng các yếu tố vật chất cũng như

phi vật chất của doanh nghiệp Nếu hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cao thì

doanh nghiệp có khả năng tái sản xuất mở rộng, mở rộng phần thị trường tiềm năng,

nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhờ vào quy mô sản xuất ngày càng

được mở rộng, tạo lợi thế vượt trội so với đối thủ cạnh tranh Doanh thu, tỷ suất lợi

nhuận, tỷ trọng chi phí là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tính hiệu quả kinh doanh của

doanh nghiệp

Chỉ tiêu này cho thấy nếu thu được 100 đồng doanh thu thì sẽ có bao nhiêu

đồng lợi nhuận trong đó Nếu chỉ tiêu này cao chứng tỏ doanh nghiệp làm ăn hiệu

quả, đồng thời phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là cao

Chỉ tiêu này phản ánh để thu được 100 đồng doanh thu thì phải mất bao

nhiêu đồng chi phí Nếu chỉ tiêu này quá cao thì chứng tỏ doanh nghiệp có thể sử

dụng nguồn lực là chưa hiệu quả và cần có biện pháp giảm chi phí để tăng năng lực

cạnh tranh của doanh nghiệp

Lợi nhuận của doanh nghiệp

Tỷ suất lợi nhuận = x 100

Doanh thu của doanh nghiệp

Tổng chi phí

Tỷ trọng chi phí = x 100

Tổng doanh thu

Trang 19

1.2.3.5 Khả năng đổi mới của doanh nghiệp

Tiêu chí này biểu hiện sự nhạy bén của lãnh đạo doanh nghiệp Muốn thành

công, muốn chiến thắng đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp phải chủ động dự đoán

trước được những biến động của thị trường, đi trước đối thủ cạnh tranh trong việc

đáp ứng những thay đổi nhu cầu đó Không chỉ thế, doanh nghiệp cần phải tìm ra

những loại sản phẩm mới thay thế sản phẩm mà đối thủ cạnh tranh đang bán trên thị

trường, thậm chí phải thường xuyên thay đổi sản phẩm của chính doanh nghiệp theo

xu hướng tốt hơn về chất lượng và rẻ hơn về giá thành Sự ra đời của các sản phẩm

thay thế cho phép doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy lùi sự xâm lấn

của đối thủ trên thị trường mà doanh nghiệp đang tham gia Khả năng đổi mới của

doanh nghiệp sẽ cho phép doanh nghiệp đứng vững trong thị trường cạnh tranh

Khả năng đổi mới của doanh nghiệp được thể hiện trên nhiều khía cạnh: Khả

năng đổi mới của doanh nghiệp về cơ cấu tổ chức, quản lý, quá trình sản xuất, các

chiến lược mà doanh nghiệp xây dựng và thực hiện cũng như sự cải tiến hoặc sáng

tạo mới các sản phẩm, dịch vụ

1.2.3.6 Khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Muốn có năng lực cạnh tranh cao hơn doanh nghiệp cần phải xác định và

thoả mãn tốt hơn nhu cầu khách hàng so với đối thủ cạnh tranh Khả năng đáp ứng

nhu cầu khách hàng của doanh nghiệp được thể hiện trên nhiều khía cạnh:

- Khả năng cung cấp cho khách hàng đúng hàng hoá, dịch vụ họ cần, vào

đúng thời điểm mà họ muốn Để phân tích đánh giá chỉ tiêu này cần tập trung và

phân tích hệ thống phân phối sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp

- Sự đa dạng về sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Doanh nghiệp nào

cung ứng được nhiều loại và chủng loại sản phẩm sẽ có khả năng đáp ứng nhu cầu

đa dạng của khách hàng và do đó có năng lực cạnh tranh cao hơn

- Thời gian đáp ứng nhu cầu của khách hàng Điều này tuỳ thuộc vào hoạt

Trang 20

động đặc thù của doanh nghiệp, thời gian đáp ứng nhu cầu được tính toán khác

nhau Thời gian đáp ứng nhu cầu khách hàng càng được rút ngắn, năng lực cạnh

tranh càng cao

- Sự hoàn hảo của dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng đang ngày càng

trở thành nhân tố quan trọng thu hút sự trở lại của khách hàng, tăng uy tín cho

doanh nghiệp, nuôi dưỡng sự trung thành của khách hàng đối với sản phẩm của

doanh nghiệp và bản thân doanh nghiệp

1.2.3.7 Khả năng tiếp cận và khai thác có hiệu quả các nguồn lực phục vụ quá

trình kinh doanh

Nếu doanh nghiệp có khả năng tiếp cận và khai thác có hiệu quả các nguồn

lực phục vụ quá trình kinh doanh sẽ giúp cho doanh nghiệp tạo ra được các lợi thế

cạnh tranh so với đối thủ cạnh tranh và do đó nâng cao được năng lực cạnh tranh

của doanh nghiệp Khả năng tiếp cận và khai thác có hiệu quả các nguồn lực phục

vụ quá trình kinh doanh được thể hiện trên nhiều khía cạnh:

- Khả năng tiếp cận và xử lý các nguồn thông tin hữu ích phục vụ quá trình

ra quyết định kinh doanh của doanh nghiệp Các thông tin này bao gồm: thông tin

về năng lực cạnh tranh của các hàng hoá, dịch vụ cùng loại (về chất lượng, giá cả,

bảo đảm các tiêu chuẩn vệ sinh, môi trường, tốc độ cung ứng ); thông tin về cung

cầu và giá cả thị trường; thông tin về các công nghệ mới, thích hợp thông tin về

hoạt động và cả thủ đoạn của đối thủ cạnh tranh; thông tin về hệ thống luật lệ, chính

sách trong lĩnh vực kinh tế của Việt Nam và của các nước mà doanh nghiệp đang

tham gia kinh doanh

- Khả năng thu hút và phát triển nguồn lực có trình độ cao, chuyên sâu vào

từng hoạt động được giao Việc đánh giá khả năng này thông qua việc phân tích tình

hình tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng; phát triển đội ngũ lao động có trình độ và tay

nghề cao; nhất là phân tích năng suất lao động

Trang 21

- Khả năng tiếp cận và sử dụng với hiệu suất cao các nguồn lực vật chất cũng

là chỉ tiêu quan trọng phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Ưu thế của

doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thu mua các yếu tố đầu vào có

chất lượng với mức giá cả hợp lý Doanh nghiệp càng có khả năng tiếp cận các yếu

tố đầu vào có chất lượng và sử dụng chúng càng hiệu quả thì không những làm

giảm giá thành sản phẩm mà còn tăng chất lượng, tăng năng lực cạnh tranh

- Năng lực tài chính của doanh nghiệp thể hiện thông qua quy mô, cơ cấu tài

sản và nguồn vốn của doanh nghiệp, khả năng huy động các nguồn lực tài chính bên

trong và bên ngoài doanh nghiệp phục vụ các mục tiêu kinh doanh, khả năng sử

dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính trong quá trình sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp

1.2.3.8 Thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp

Uy tín của doanh nghiệp với các đối tác kinh doanh (người cung ứng, khách

hàng, đối tác liên minh ) cũng là yếu tố quan trọng tạo nên lợi thế và góp phần

nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chữ “tín” trong kinh doanh ngày

nay càng có ý nghĩa quan trọng vì nó giúp làm giảm thiểu các chi phí giao dịch,

nuôi dưỡng các mối quan hệ bền vững giữa doanh nghiệp và đối tác

Một vấn đề rất quan trọng liên quan đến nâng cao uy tín của doanh nghiệp là

khả năng doanh nghiệp sẽ phát triển thành công các thương hiệu mạnh Nếu sản

phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp có thương hiệu mạnh sẽ kích thích người mua

nhanh chóng đi đến quyết định mua, nhờ đó mà thị phần của doanh nghiệp gia tăng

Nhưng đánh giá thương hiệu của doanh nghiệp không chỉ ở số lượng các thương

hiệu mạnh mà doanh nghiệp đang có mà quan trọng là đánh giá được khả năng phát

triển thương hiệu của doanh nghiệp

1.2.3.9 Khả năng liên kết và hợp tác với doanh nghiệp khác và hội nhập kinh

tế quốc tế

Trang 22

Mỗi doanh nghiệp tồn tại trong mối liên hệ nhiều chiều với các đối tượng

hữu quan trong môi trường kinh doanh Trong kinh doanh thường xuất hiện các nhu

cầu liên kết và hợp tác qua nhiều đối tác với nhau làm tăng năng lực cạnh tranh

Khả năng liên kết và hợp tác của doanh nghiệp thể hiện ở việc nhận biết các cơ hội

kinh doanh mới, lựa chọn đúng đối tác liên minh và khả năng vận hành liên minh đó

một cách có kết quả và hiệu quả cao, đạt được các mục tiêu đã đặt ra Khả năng liên

kết và hợp tác cũng thể hiện sự linh hoạt của doanh nghiệp trong việc chủ động nắm

bắt các cơ hội kinh doanh trên thương trường

1.2.3.10 Mạng lưới phân phối sản phẩm

Mạng lưới phân phối sản phẩm là một trong những công cụ trong marketing

mix giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trong việc phân

phối sản phẩm

Tóm lại, trong phạm vi và giới hạn đề tài nghiên cứu, tác giả sẽ chỉ phân tích

và đánh giá năng lực cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của Công ty Hùng

Vương dựa trên một số các tiêu chí trong bộ tiêu chí đã nêu ở trên để phù hợp với

cấp độ kinh doanh của Công ty Hùng Vương

1.2.4 Các yếu tố tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2.4.1 Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài

Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài là các yếu tố bên ngoài doanh

nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp Chúng tạo ra những cơ hội cũng như thách thức cho doanh nghiệp Môi

trường bên ngoài gồm:

- Môi trường vĩ mô;

- Môi trường vi mô (môi trường ngành)

Trang 23

a Môi trường vĩ mô

Môi trường vĩ mô của doanh nghiệp là tổng hợp các nhân tố kinh tế, chính trị

- pháp luật, văn hoá - xã hội, tự nhiên, công nghệ, tự nhiên Các nhân tố có thể tác

động trực tiếp hoặc gián tiếp tới doanh nghiệp và doanh nghiệp không thể thay đổi

nó mà cần phải biết thích nghi một cách sáng tạo

+ Môi trường kinh tế:

- Mức tăng trưởng kinh tế hàng năm được đánh giá thông qua mức tăng GDP

và mức tăng thu nhập bình quân đầu người/năm Mức tăng trưởng kinh tế ảnh

hưởng trực tiếp đến quy mô và đặc trưng của các cơ hội cũng như thách thức đối

với doanh nghiệp Tăng trưởng kinh tế sẽ kéo theo tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm

hàng hoá, khai thác dịch vụ trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, từ đó tạo ra triển

vọng phát triển cho các doanh nghiệp và làm giảm bớt đi áp lực cạnh tranh trong

phạm vi của những ngành riêng biệt Ngược lại, khi nền kinh tế sa sút, suy thoái sẽ

làm giảm nhu cầu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ khai thác, đồng thời làm tăng

các lực lượng cạnh tranh Sự giảm sút của nền kinh tế cũng làm cho cuộc chiến về

giá sẽ trở nên khốc liệt hơn trong các ngành đang nằm trong thời kỳ trưởng thành

- Mức lãi suất, các chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái cũng có thể tạo ra một

vận hội mới cho doanh nghiệp nhưng cũng có thể là những nguy cơ đối với sự phát

triển của doanh nghiệp

- Mức độ lạm phát và những vấn đề chống lạm phát cũng là một nhân tố

quan trọng ảnh hưởng đến doanh nghiệp Thực tế, nếu tỷ lệ lạm phát quá cao có thể

làm mất ổn định nền kinh tế, hạn chế nhịp độ phát triển kinh tế, thúc đẩy việc nâng

cao tỷ lệ phần trăm cho vay vốn và tăng sự giao động về giá trao đổi ngoại tệ Lạm

phát tăng lên, dự án để tiến hành đầu tư trở nên mạo hiểm hơn, doanh nghiệp sẽ

phải cắt giảm đầu tư phát triển sản xuất

- Hệ thống thuế và mức thuế suất là những căn cứ cơ sở để Nhà nước điều

Trang 24

khiển mối quan hệ cung cầu các sản phẩm hàng hoá khác nhau trong nền kinh tế

Nó có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến thu nhập của các doanh nghiệp, hay tổ chức

tạo ra những nguy cơ hay triển vọng phát triển của doanh nghiệp

- Ngoài những nhân tố trên có những tác động trực tiếp và quan trọng đến

doanh nghiệp, nó còn có các nhân tố khác nữa như các phương pháp hoạt động của

thị trường, thị trường vốn, vòng quay và các chỉ số chứng khoán, cấu trúc về nền

kinh tế…

+ Môi trường chính trị - pháp luật:

Các nhân tố này tác động đến doanh nghiệp theo những hướng khác nhau

Chúng có thể tạo ra cơ hội, hay trở ngại, thậm chí là rủi ro thực sự cho doanh

nghiệp, tổ chức Chúng thường bao gồm:

- Chính phủ luôn là người tiêu dùng lớn nhất trong nền kinh tế quốc gia

- Sự ổn định về an ninh chính trị, nhất quán về quan điểm các chính sách lớn

luôn là môi trường tốt và sự hấp dẫn với các nhà đầu tư Hệ thống luật pháp được

ban hành và xây dựng hoàn thiện sẽ là cơ sở để các doanh nghiệp, tổ chức đó kinh

doanh ổn định

- Quyết định về các loại chính sách thuế các lệ phí có thể vừa tạo ra cơ hội

cũng lại vừa có thể là những thách thức để doanh nghiệp kinh doanh phát triển sản

xuất

- Luật lao động, bao gồm thu nhập, tiền lương, quy chế tuyển dụng, đề bạt,

chế độ hưu trí, trợ cấp thất nghiệp cũng là điều mà các doanh nghiệp phải tính đến

+ Môi trường khoa học công nghệ:

Đây là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến chiến lược kinh doanh trong các lĩnh

vực kinh tế, của ngành cũng như nhiều doanh nghiệp, tổ chức Thực tế thế giới đã

Trang 25

từng chứng kiến sự biến đổi của công nghệ làm chao đảo, thậm chí làm mất đi nhiều

lĩnh vực ngành nghề, nhưng đồng thời cũng làm xuất hiện nhiều ngành nghề lĩnh

vực kinh doanh mới, và hoàn thiện hơn

Thế kỷ XXI là của tiến bộ khoa học, công nghệ tri thức Nên các phân tích,

phán đoán mọi sự biến đổi công nghệ là rất quan trọng và cấp bách hơn lúc nào hết

Thực tế sự biến đổi khoa học công nghệ đã thật sự làm ảnh hưởng đến mọi doanh

nghiệp, mọi tổ chức thậm chí cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ Khi mà khoa học

công nghệ ngày càng phát triển thì nó sẽ tạo ra những cơ hội cũng như những nguy

cơ cho các doanh nghiệp Cho phép các doanh nghiệp ứng dụng những khoa học

hiện đại để tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh lớn và ngược lại nó cũng có thể

làm cho công nghệ hiện tại của doanh nghiệp trở nên lỗi thời

+ Môi trường văn hoá - xã hội:

Do những lối sống luôn thích ứng và tự thay đổi nhanh chóng theo hướng du

nhập những lối sống văn hoá mới, nên có thể làm nảy sinh ra những cơ hội kinh

doanh hoặc ngược lại Vì vậy, doanh nghiệp cần phải xác định rõ mục tiêu và tính

đến các khả năng này thông qua thái độ tiêu dùng, sự thay đổi của tháp tuổi, tỷ lệ

kết hôn sinh đẻ, vị trí vai trò của người phụ nữ tại nơi làm việc và gia đình

Sự xuất hiện của hiệp hội những người tiêu dùng là một cản trở đòi hỏi các

doanh nghiệp phải quan tâm, đặc biệt là chất lượng sản phẩm phải đảm bảo vì lợi

ích người tiêu dùng

Trình độ dân trí ngày càng cao đã, đang và sẽ là một thách thức đối với các

nhà sản xuất

Văn hoá truyền thống và văn hoá tiếp nhận thông qua các hình thức giao lưu

hình thành nền tảng văn hoá của các dân tộc trong mỗi quốc gia Nền tảng này có

tính hệ thống, có giá trị theo các mức độ khác nhau, có tính lịch sử, có mặt tích cực,

có mặt tiêu cực và đều ảnh hưởng đến tư duy, hành động của con người trong các

Trang 26

hoạt động thuộc các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội và có ảnh hưởng đến hành vi

tiêu dùng của người dân

Tóm lại, các yếu tố văn hoá - xã hội như: Phong tục tập quán, lối sống, thói

quen đều có ảnh hưởng đến hành vi của ngưới tiêu dùng Nếu doanh nghiệp có sự

hiểu biết và thích nghi sáng tạo phù hợp với môi trường văn hoá - xã hội thì có thể

tạo ra cho mình năng lực cạnh tranh cao hơn so với đối thủ

+ Môi trường dân cư:

Sự thay đổi dân cư dẫn đến sự thay đổi sâu sắc và quan trọng các quá trình

kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn thế giới Những quá trình này làm thay đổi môi

trường kinh tế và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

+ Môi trường tự nhiên:

Luôn là yếu tố đặc biệt quan trọng không chỉ đối với điều kiện đời sống của

con người, mà còn là yếu tố đầu vào hết sức quan trọng của các ngành kinh tế Môi

trường tự nhiên cần xét đến đó là các yếu tố vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, sông, suối,

ao hồ, biển, tài nguyên khoáng sản, rừng, môi trường sinh thái…

Nếu doanh nghiệp nào có thể khai thác hiệu quả, hợp lý các tài nguyên thiên

nhiên thì có thể tạo dựng được cho mình năng lực cạnh tranh cao

+ Môi trường quốc tế:

Xu thế tiến tới khu vực hoá và toàn cầu hoá đã và đang sẽ là một điều kiện

tất yếu mà mọi doanh nghiệp, mọi ngành, mọi chính phủ phải tính đến khi tiến trình

hội nhập nền kinh tế trên toàn thế giới đã được hình thành Do đó môi trường quốc

tế và toàn cầu hoá phát triển kinh tế sẽ phức tạp hơn, cạnh tranh càng quyết liệt hơn

từ những khác biệt về quan điểm xã hội văn hoá, cấu trúc thể chế, chính sách và

kinh tế trong mỗi quốc gia trên toàn thế giới

Trang 27

Việc gia nhập WTO đã giúp Việt Nam bước vào để chuyển động trong môi

trường thế giới đó Khi mà hội nhập ngày càng mở rộng thì nó mở ra cho các doanh

nghiệp cơ hội và những thách thức có thể làm tăng hoặc giảm năng lực cạnh tranh

của doanh nghiệp

b Môi trường vi mô

So với môi trường vĩ mô, môi trường vi mô có tác động trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành Theo Michel Porter thì có 5 lực lượng

chính có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đó là:

Hình 1.2: Mô hình gồm 5 lực lượng của Michel Poter

Mỗi lực lượng trong số 5 lực lượng trên càng mạnh thì càng hạn chế khả năng cho các doanh nghiệp tăng giá cả và kiếm được lợi nhuận Ngược lại, khi 1 lực

lượng nào đó mà yếu thì cơ hội để doanh nghiệp có được lợi nhuận sẽ càng khả thi

+ Đối thủ cạnh tranh hiện tại: Là những doanh nghiệp cùng tạo ra và cung

ứng một loại sản phẩm trên cùng một thị trường giống doanh nghiệp Cạnh tranh

Công nghệ

Những người muốn vào mới (cạnh tranh tiềm tàng)

Sản phẩm dịch vụ thay thế

Áp lực của các nhà cung cấp (cung ứng)

Doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh hiện tại

Áp lực của người mua (khách hàng) Chính trị – pháp luật

Kinh tế

Toàn cầu

Trang 28

với các đối thủ trực tiếp thường là gay gắt nhất Nếu đối thủ cạnh tranh có tiềm lực

lớn hơn so với doanh nghiệp thì sẽ là mối đe doạ lớn đối với doanh nghiệp Doanh

nghiệp muốn thắng được các đối thủ cạnh tranh thì cần phải nghiên cứu về họ thật

thận trọng để có thể đưa ra những chiến lược tác chiến hợp lý

+ Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn: Là những người có dự tính sắp gia nhập thị

trường, những người mới gia nhập Sự xuất hiện đối thủ cạnh tranh tiềm năng làm

cho cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn, có thể là yếu tố làm thu hẹp thị phần, giảm

lợi nhuận của doanh nghiệp

+ Những nhà cung cấp: Đó là những người cung ứng những đầu vào cho

doanh nghiệp Nhà cung ứng có thể gây áp lực mạnh cho doanh nghiệp về giá và

khối lượng cung ứng Điều này sẽ làm cho giá thành sản phẩm của doanh nghiệp

tăng cao, dẫn đến làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Do đó, doanh

nghiệp cần phải lựa chọn cho mình nhà cung ứng tốt nhất với giá cả và khối lượng

ổn định

+ Khách hàng: Khách hàng là người có ảnh hưởng lớn đến sự thành công

của doanh nghiệp Nếu khách hàng ép giá, giảm khối lượng mua, yêu cầu chất

lượng cao hơn mà mức giá như cũ hay yêu cầu cung cấp nhiều dịch vụ hơn hoặc từ

bỏ doanh nghiệp để lựa chọn doanh nghiệp khác thì có thể làm giảm lợi nhuận của

doanh nghiệp, và ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Do vậy,

muốn thành công thì doanh nghiệp phải tạo dựng được lòng tin nơi khách hàng

bằng cách thoả mãn tốt nhu cầu, thị hiếu của khách hàng

+ Sản phẩm thay thế: Khi giá cả mặt hàng mà doanh nghiệp cung ứng cao

thì khách hàng có xu hướng sử dụng các sản phẩm thay thế Nó có thể làm giảm thị

phần và làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, và ảnh hưởng đến năng lực cạnh

tranh của doanh nghiệp

Trang 29

1.2.4.2 Các nhân tố thuộc môi trường bên trong

Đó là những tiềm lực mà doanh nghiệp sử dụng để tạo ra những lợi thế cạnh

tranh so với đối thủ cạnh tranh

a Các nguồn lực

Đây là nhóm yếu tố cơ bản cần xem xét đánh giá đầu tiên, mục tiêu của

doanh nghiệp có đạt được hay không phần lớn phụ thuộc vào nhóm yếu tố nay:

+ Nguồn nhân lực: Yếu tố con người có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại

của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có đội ngũ công nhân viên lành nghề, giàu

kinh nghiệm, nhiệt tình với công việc, đoàn kết, trung thành với doanh nghiệp thì đó

sẽ là cơ sở làm tăng năng suất cho doanh nghiệp, giảm chi phí, nâng cao năng lực

cạnh tranh cho doanh nghiệp Đồng thời doanh nghiệp có đội ngũ cán bộ quản lý có

năng lực, có đức hạnh, nghị lực, nhạy bén với cơ chế thị trường sẽ giúp doanh

nghiệp có chiến lược cạnh tranh đúng đắn, dẫn dắt doanh nghiệp đi tới được mục

tiêu mà doanh nghiệp đã đặt ra

+ Nguồn vốn: Vốn là một nhân tố không thể thiếu trong quá trình sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời nó cũng là một nhân tố quyết định tạo

dựng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có quy mô tài chính

lớn, khả năng huy động vốn tốt, chi phí huy động vốn thấp, cơ cấu tài chính hợp lý,

phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn vốn sẽ cho phép doanh nghiệp theo đuổi những

chiến lược lâu dài, thích ứng với những điều kiện biến động và dành thắng lợi

trong cạnh tranh

+ Nguồn thông tin: Thông tin môi trường mà doanh nghiệp thu thập dưới

nhiều hình thức khác nhau, được sử dụng làm cơ sở ra quyết định, quản lý môi

trường kinh doanh được xem như một nguồn lực quan trọng trong bối cảnh hiện

nay Nếu thông tin thu thập được cặp nhật thường xuyên, đầy đủ, phù hợp nhu cầu

quản lý của các bộ phận chuyên môn và sử dụng có hiệu quả sẽ làm cho doanh

Trang 30

nghiệp chiếm được lợi thế trong lĩnh vực kinh doanh

+ Trình độ công nghệ: Là một yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất và

chất lượng của sản phẩm Do đó, nó có ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của

doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có máy móc với công nghệ hiện đại, cập nhật, sẽ

cho phép doanh nghiệp tăng năng suất, chất lượng sản phẩm.

b Triết lý kinh doanh: Nội dung nhiệm vụ, hệ thống các mục tiêu, các kế

hoạch chiến lược, các chính sách và các chương trình hành động của tổ chức trong

từng kỳ Nhà quản trị các cấp của tổ chức phân tích những nội dung này để đánh giá

hiệu quả hoạt động của các bộ phận chuyên môn đồng thời xác định điểm mạnh,

điểm yếu của tổ chức so với các đối thủ cạnh tranh, thực hiện việc điều chỉnh, bổ

sung phù hợp với môi trường luôn biến đổi theo từng khu vực thị trường

c Cơ cấu tổ chức: Nếu doanh nghiệp có một cơ cấu thích hợp và linh hoạt sẽ

cho phép doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh và có khả năng ứng biến với

những sự thay đổi của môi trường

d Văn hoá doanh nghiệp: Doanh nghiệp mà có bầu không khí và nề nếp tổ

chức tốt, phát triển được các mối quan hệ phi chính thức tốt đẹp của doanh nghiệp,

ban lãnh đạo có sự quan tâm tới người lao động, các thành viên đoàn kết, cởi mở sẽ

khuyến khích các thành viên của doanh nghiệp hoạt động tích cực, có hiệu quả từ

đó làm cho hoạt động của doanh nghiệp tăng lên, góp phần nâng cao năng lực cạnh

tranh của doanh nghiệp

1.2.5 Các mô hình và phương pháp để đánh giá năng lực cạnh tranh của

doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được xét ở các góc độ khác nhau vì

vậy tác giả xin giới thiệu một số các mô hình nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh

của doanh nghiệp

Trang 31

1.2.5.1.Đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bằng ma trận các yếu

tố bên trong (Ma trận IFE)

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực

của doanh nghiệp Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ

được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị

doanh nghiệp một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh

tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường Trên cơ sở các

so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập

được lợi thế so sánh với đối tác của mình Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thỏa

mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lội kéo được khách hàng

của đối thủ cạnh tranh

Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ

tất cả những yêu cầu của khách hàng Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt

này và có hạn chế về mặt khác; vấn đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết được

điều này và cố gắng phát huy đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp,

cần phải xác định được các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực

hoạt động khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và định

lượng Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực

khác nhau có các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau Mặc dù vậy, vẫn

có thể tổng hợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp

bao gồm: giá cả sản phẩm và dịch vụ; chất lượng sản phẩm và bao gói; kênh phân

phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng; thông tin và xúc tiến thương mại; năng lực

nghiên cứu và phát triển; thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp; trình độ lao động;

thị phần sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thị phần; vị thế tài chính;

năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp

Nhiều doanh nghiệp hiện nay, thông qua phương pháp so sánh trực tiếp các

yếu tố nêu trên để đánh giá năng lực cạnh tranh của mình so với đối tác cạnh tranh

Đây là phương pháp truyền thống và phần nào phản ánh năng lực cạnh tranh của

Trang 32

doanh nghiệp Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là không cho phép doanh

nghiệp đánh giá tổng quát năng lực cạnh tranh của mình với đối tác cạnh tranh mà

chỉ đánh giá được từng mặt, từng yếu tố cụ thể Để khắc phục nhược điểm trên, việc

nghiên cứu vận dụng các mô hình đánh giá các yếu tố môi trường nội bộ và đánh

giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp, qua đó, giúp doanh

nghiệp so sánh năng lực cạnh tranh tổng thể của mình với các đối thủ trong ngành là

một giải pháp mang tính khả thi cao

Quá trình xây dựng công cụ ma trận này không quá khó khăn lắm đối với các

doanh nghiệp Vấn đề đặt ra là cần xây dựng thang điểm và thang đo hợp lý Đồng

thời, trên cơ sở các số liệu điều tra từ nhà quản trị doanh nghiệp, các chuyên gia tư

vấn, hay tập hợp ý kiến trực tiếp của khách hàng, doanh nghiệp có thể đánh giá

khách quan tầm quan trọng của các yếu tố được đưa vào ma trận Các bước cụ thể

để xây dựng công cụ ma trận đánh giá các yếu tố môi trường nội bộ doanh nghiệp

gồm:

Bước 1: Lập danh mục các yếu tố có vai trò quyết định đến năng lực cạnh tranh của

doanh nghiệp trong một ngành kinh doanh (từ 10 đến 20 yếu tố)

Bước 2 : Ấn định tầm quan trọng bằng cách phân loại từ 0,0 (không quan trọng)

đến 1,0 (quan trọng nhất) cho mỗi yếu tố Cần lưu ý, tầm quan trọng được ấn định

cho các yếu tố cho thấy tầm quan trọng tương đối của yếu tố đó với thành công của

các doanh nghiệp trong ngành kinh doanh Như thế, đối với các doanh nghiệp trong

ngành thì tầm quan trọng của các yếu tố được liệt kê trong bước 1 là giống nhau

Bước 3: Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố đại diện (thực tế có thể định khoảng

điểm rộng hơn) Cho điểm yếu lớn nhất khi phân loại bằng 3 và điểm mạnh lớn nhất

khi phân loại bằng 4 Như vậy, đây là điểm số phản ánh năng lực cạnh tranh từng

yếu tố của doanh nghiệp so với các đối thủ trong ngành kinh doanh

Bước 4: Tính điểm cho từng yếu tố bằng cách nhân mức độ quan trọng của yếu tố

đó với điểm số phân loại tương ứng

Trang 33

Bước 5: Tính tổng điểm cho toàn bộ các yếu tố được đưa ra trong ma trận bằng

cách cộng điểm số các yếu tố thành phần tương ứng của mỗi doanh nghiệp Tổng số

điểm này cho thấy, đây là năng lực cạnh tranh tuyệt đối của doanh nghiệp

Theo đó, nếu tổng số điểm của toàn bộ danh mục các yếu tố được đưa vào

ma trận IFE từ 2,50 trở lên, thì doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tuyệt đối trên

mức trung bình Ngược lại, tổng số điểm trong ma trận IFE nhỏ hơn 2,50 thì năng

lực cạnh tranh tuyệt đối của doanh nghiệp thấp hơn mức trung bình

Nếu ký hiệu yếu tố cần đánh giá là i, tầm quan trọng của yếu tố là h, điểm số

phân loại cho yếu tố là M, năng lực cạnh tranh tuyệt đối của doanh nghiệp là ASI =

h*Mi, năng lực cạnh tranh tuyệt đối của đối thủ cạnh tranh là ASC, năng lực cạnh

tranh tương đối của doanh nghiệp là RS, ta có các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh

tranh của doanh nghiệp bằng các công thức sau:

Năng lực cạnh tranh tương đối của doanh nghiệp: RS= ASI/ASC

1.2.5.2.Đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bằng ma trận các yếu

tố bên ngoài (Ma trận EFE)

Ma trận EFE cho phép tóm tắt và đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố của môi

trường Vĩ mô bao gồm Kinh tế, Chính trị, Luật pháp, Công nghệ, Văn hóa – Xã hội

– Tự nhiên và đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố của môi trường Vi mô bao gồm

các Đối thủ cạnh tranh hiện tại, Khách hàng, Nhà cung cấp, Sản phẩm thay thế, Đối

thủ cạnh tranh tiềm năng

Có năm bước trong việc xây dựng một ma trận EFE:

- Bước 1: Liệt kê các yếu tố quan trọng đã được xác định , bao gồm cả cơ hội

và nguy cơ bên ngoài ảnh hưởng đến công ty

- Bước 2: Phân loại tầm quan trọng của từng yếu tố từ 0.00_ không quan trọng

đến 1.00_ rất quan trọng Tổng số các mức phân loại phải bằng 1

Trang 34

- Bước 3: Phân loại từ 1 đến 4 cho các yếu tố để thấy sự phản ứng hiện tại của

Công ty đối với các yếu tố này Phản ứng ít: 1; Phản ứng trung bình: 2; Phản

Cách đánh giá mức độ tác động mạnh yếu của môi trường bên ngoài tổ

chức : Tổng số điểm quan trọng trung bình là 2.5; Cao nhất là 4.0 và thấp nhất là

1.0 Tổng số điểm cao cho thấy tổ chức phản ứng tốt với các cơ hội và nguy cơ bên

ngoài và ngược lại

Bảng 1.3: Ma trận các yếu tố môi trường bên ngoài

STT Các yếu tố môi trường bên ngoài

Mức độ quan trọng (%)

Phân loại

Điểm quan trọng

1

2

Tổng số điểm

1.2.5.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bằng Ma trận các yếu

tố Bên trong – Bên ngoài (Ma trận IE)

Ma trận IE là cộng cụ kết hợp dựa trên 2 khía cạnh chủ yếu là tổng số điểm

quan trọng của ma trận IFE trên trục X và tổng số điểm quan trọng của ma trận EFE

trên trục Y với phân loại như sau:

o Tổng số điểm quan trọng từ 1.00 – 1.99: Yếu/ kém

Trang 35

o Tổng số điểm quan trọng từ 2.00 – 2.99: Trung bình

o Tổng số điểm quan trọng từ 3.00 – 4.00: Mạnh/ cao

Ma trận IE đặt các bộ phận khác nhau của tổ chức vào một hình bao gồm 9 ô

như hình bên dưới:

Hình 1.4: Ma trận các yếu tố Bên trong – Bên ngoài

Tổng số điểm quan trọng của ma trận IFE

Mạnh (3.00 – 4.00)

Trung bình (2.00 – 2.99)

Yếu kém (1.00 – 1.99)

Trung bình (2.00 – 2.99)

Yếu kém (1.00 – 1.99)

Ma trận IE được chia thành 3 phần chính, mỗi phần bao gồm những nhóm

chiến lược khác nhau

Phần thứ nhất, các bộ phận nằm trong ô I, II, IV được gọi là „‟phát triển và

xây dựng„‟ Các chiến lược tập trung (thâm nhập thị trường, phát triển thị trường và

phát triển sản phẩm) hay kết hợp (kết hợp về phía sau, phía trước hay theo chiều

ngang) là những chiến lược phù hợp cho các bộ phận này

Phần thứ hai, các bộ phận nằm trong ô III, V, VII được quản trị tốt nhất bằng

các chiến lược „‟nắm giữ và duy trì‟‟; thâm nhập thị trường và phát triển sản phẩm

là 2 chiến lược thường được sử dụng cho những bộ phận loại này

Trang 36

Phần thứ 3, các bộ phận rơi vào ô VI, VIII, IX là các bộ phận „‟thu hoạch và

loại bớt‟‟

1.2.5.4 Đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bằng Ma trận SWOT

SWOT là viết tắt của 4 chữ: Strength - điểm mạnh, Weaknesses - điểm yếu,

Opportunities – cơ hội, Threatens - đe dọa

Ma trận SWOT là ma trận cho phép Việt Nam đánh giá điểm mạnh, điểm

yếu của công ty và ước lượng những cơ hội, nguy cơ của môi trường kinh doanh

bên ngoài, để từ đó có sự phối hợp giữa khả năng của công ty với tình hình môi

trường Nếu doanh nghiệp có một ma trận SWOT phân tích kỹ lưỡng và chính xác,

công ty có thể nâng cao sức cạnh tranh qua việc phát huy hiệu quả năng lực bên

trong của mình song song việc nắm bắt tốt các cơ hội cũng như xác định các thách

thức trong thời gian tới Trái lại, khi doanh nghiệp không thể có được sự chính xác

trong đánh giá thị trường bằng mô hình này, doanh nghiệp sẽ không có những phản

ứng kịp thời trước những biến động từ bên ngoài và không phát huy hết các nguồn

lực sản xuất bên trong, từ đó dễ dẫn đến những sai lầm to lớn cho doanh nghiệp

Ma trận SWOT có tác dụng giúp doanh nghiệp xây dựng và phát triển 4 loại

chiến lược sau để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình:

- Các chiến lược điểm mạnh – cơ hội (S-O): Sử dụng những điểm mạnh bên

trong để tận dụng cơ hội bên ngoài

- Các chiến lược điểm yếu – cơ hội (W-O): Cải thiện những điểm yếu bên

trong để tận dụng cơ hội bên ngoài

- Các chiến lược điểm mạnh - đe dọa (S-T): Sử dụng các điểm mạnh để tránh

khỏi hay giảm bớt ảnh hưởng của mối đe dọa bên ngoài

- Các chiến lược điểm yếu – nguy cơ (W – T): Cải thiện điểm yếu bên trong

để tránh hay giảm bớt ảnh hưởng của mối đe dọa bên ngoài

Trang 37

Bảng 1.5: Mô hình ma trận SWOT

- Công nghệ sản xuất hiện đại, đồng bộ

- Có khả năng huy động tài chính cao

- Quy mô sản xuất ngày càng mở rộng

- Chi phí nhân công thấp

- Nhiều nhà cung cấp

- Sản phẩm chủ yếu là thị các tỉnh phía nam

- Có khả năng thu hút nhân công

- Khả năng kiểm soát nợ ngắn hạn xấu đi

- Tính tự chủ trong kiểm soát tài sản giảm

- Mẫu mã, chủng loại sản phẩm chưa đa dạng

- Tập trung vào một số thị trường nhất định

Cơ hội (O) Chiến lược kết hợp SO Chiến lược kết hợp WO

từ môi trường bên ngoài

Chiến lược đó có tên gọi là chiến lược khai thác khả năng tiềm tàng

Là chiến lược khắc phục điểm yếu bên trong bằng cách tận dụng cơ hội do môi trường bên ngoài mang lại

Chiến lược đó có tên gọi là chiến lược sản phẩm

Trang 38

tầng tăng theo

- Dự án nâng cấp đô thị Việt

Nam đƣợc thực hiện tại 4

Chiến lƣợc đó gọi là chiến lƣợc giá thấp

Là chiến lƣợc khắc phục điểm yếu bên trong và nguy

cơ từ bên ngoài, đƣợc gọi là chiến lƣợc tập trung vào các yếu tố then chốt

Trang 39

- Các đối thủ cạnh tranh

trong và ngoài nước ngày

càng khốc liệt

- Có nhiều sản phẩm thay thế

- Giá nguyên liệu đầu vào cao

- Máy móc thiết bị của

ngành đòi hỏi phải đầu tư

nhiều vốn

Hy vọng rằng, các công cụ đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

được giới thiệu trên đây sẽ góp phần giúp các doanh nghiệp đánh giá được năng lực

cạnh tranh của mình trong mối tương quan so sánh với các đối thủ cạnh tranh trên

thị trường mục tiêu, từ đó tìm ra được những lợi thế cơ bản nhằm nâng cao năng lực

cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

1.2.6 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Cạnh tranh là một trong những quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường

Bất cứ doanh nghiệp nào khi tham gia thị trường đều phải chấp nhận cạnh tranh

Cạnh tranh có hai mặt, một mặt nó đào thải những doanh nghiệp yếu kém, mặt khác

nó kích thích các doanh nghiệp không ngừng hoàn thiện nhằm tạo ra những lợi thế

so sánh quan trọng để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường phức tạp và luôn

biến động

Hơn nữa, để có thể hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá,

Việt Nam chúng ta chủ trương xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với các nước

trên thế giới, khuyến khích xuất khẩu và đồng thời thay thế hàng hoá nhập khẩu

bằng các sản phẩm hữu hiệu trong nước Với tinh thần đó, nước ta đã trở thành

thành viên chính thức của ASEAN từ năm 1995, đã ký kết Hiệp định thương mại tự

Trang 40

do ASEAN, là thành viên của APEC từ tháng 11 năm 1998, đã ký kết Hiệp định

thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (năm 2000) và gần đây, ngày

7/11/2006, Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế

giới (WTO) Khi tham gia hội nhập, thì các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có điều kiện

tiếp cận với các thành tựu khoa học - kỹ thuật tiên tiến và tiếp cận, thâm nhập thị

trường thế giới Nhưng khi Việt Nam tham gia các tổ chức kinh tế thế giới thì cũng

đồng nghĩa với việc chúng ta phải thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan, phải đối

mặt với sự cạnh tranh gay gắt hơn với hàng nhập khẩu, với các doanh nghiệp nước

ngoài ngay trên sân nhà Mặc dù các doanh nghiệp của ta với sự năng động, nhạy

bén với cơ chế thị trường đã và đang khẳng định vai trò to lớn của mình trong công

cuộc xây dựng và phát triển đất nước Nhưng thực tế cho thấy năng lực cạnh tranh

của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn rất yếu Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh

tế, với sự xâm nhập và bành trướng của các công ty đa quốc gia, và sự đòi hỏi đáp

ứng ngày càng cao của thị trường về chất lượng sản phẩm, dịch vụ, giá cả, các dịch

vụ bổ sung thì sức ép nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt

Nam để có thể thích nghi được với những điều kiện, đòi hỏi mới là một vấn đề thật

sự cấp bách

1.2.7 Phương hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Thông qua việc phân tích các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của

doanh nghiệp như đã nêu ở trên cho thấy: Để nâng cao năng lực cạnh tranh của

doanh nghiệp trong thời gian tới, ngoài việc hỗ trợ từ phía Nhà nước như: Tiếp tục

hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng minh bạch, ổn định, không phân biệt đối

xử giữa các loại hình doanh nghiệp; tạo lập và hoàn thiện hệ thống các loại thị

trường, nhất là thị trường lao động, thị trường tài chính, thị trường công nghệ ;

tăng cường đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật; đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là

cải cách các thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần

phải cần coi việc nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp trước hết là vấn đề của

chính doanh nghiệp để chủ động và tích cực hơn nữa trong việc triển khai thực hiện

Ngày đăng: 20/01/2021, 11:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w