1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

File WORD_Đề tài nghiên cứu khoa học: Đánh giá tác dụng điều trị bằng điện châm ở bệnh nhân liệt dây thần kinh vii ngoại biên

13 363 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 107,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Liệt dây thần kinh VII ngoại biên là một bệnh gặp tương đối phổ biến trên lâm sàng chiếm 2.95% bệnh thần kinh, tỷ lệ mắc bệnh khoảng 23100000 ngườinăm hay 16070 người trong suốt cuộc đời của họ và thường gặp ở mọi lứa tuổi, nguyên nhân thường do lạnh, nhiễm khuẩn, viêm tai, sang chấn sau mổ, tai biến mạch máu não, va chạm vỡ xương đá.1Về phương diện y học cổ truyền, liệt dây thần kinh VII ngoại biên được mô tả trong những bệnh danh: khẩu nhãn oa tà, trúng phong nuy chứng. Tuy bệnh không đe doạ đến mạng sống của bệnh nhân, nhưng gặp ảnh hưởng đến một số hoạt động hằng ngày như: nhai khó bên liệt, ăn uống bị đổ ra ngoài, mắt nhắm không kín…và điều quan trọng là mất thẩm mỹ khuôn mặt nên bệnh nhân thường đến khám bệnh rất sớm. Về biện pháp điều trị liệt dây thần kinh VII ngoại biên y học hiện đại thường áp dụng các phương pháp: corticoid, vitamine, phẩu thuật…tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là giá thành cao, có nhiều tác dụng phụ như: ảnh hưởng đến dạ dày, gan, thận, xương, tăng huyết áp…vì vậy y học cổ truyền đã nghiên cứu các phương pháp điều trị không dùng thuốc trong quá trình điều trị để vừa hạ giá thành, vừa tránh được những tai biến do dùng thuốc. Y học cổ truyến có rất nhiều phương pháp để điều trị liệt dây thần kinh VII ngoại biên như cứu, ôn châm, điện châm, laser châm, xoa bóp bấm huyệt…đặc biệt phương pháp điện châm hiện nay hầu như là chỉ định cần thiết cho điều trị bệnh này. Chính vì thế nhóm chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá tác dụng điều trị bằng điện châm ở bệnh nhân liệt dây thần kinh VII ngoại biên ”.

Trang 1

SỞ Y TẾ

BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KHOA ĐÔNG Y

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ BẰNG ĐIỆN CHÂM Ở BỆNH NHÂN LIỆT DÂY THẦN KINH VII NGOẠI BIÊN

Từ 01/04/ đến 31/08/

Nhóm nghiên cứu:

Người hướng dẫn đề tài:

BSCK1:

Trang 2

Mục lục:

1: Đặt vấn đề

2: Mục tiêu

3: Tổng quan tài liệu

4: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 5: Kết quả

6: Bàn luận

7: Kết luận

8: Kiến nghị

9: Tài liệu tham khảo

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ:

- Liệt dây thần kinh VII ngoại biên là một bệnh gặp tương đối phổ biến trên lâm sàng chiếm 2.95% bệnh thần kinh, tỷ lệ mắc bệnh khoảng 23/100000 người/năm hay 1/60-70 người trong suốt cuộc đời của họ và thường gặp ở mọi lứa tuổi, nguyên nhân thường do lạnh, nhiễm khuẩn, viêm tai, sang chấn sau mổ, tai biến mạch máu não, va chạm vỡ xương đá.[1]

-Về phương diện y học cổ truyền, liệt dây thần kinh VII ngoại biên được mô

tả trong những bệnh danh: khẩu nhãn oa tà, trúng phong nuy chứng Tuy bệnh không đe doạ đến mạng sống của bệnh nhân, nhưng gặp ảnh hưởng đến một số hoạt động hằng ngày như: nhai khó bên liệt, ăn uống bị đổ ra ngoài, mắt nhắm không kín…và điều quan trọng là mất thẩm mỹ khuôn mặt nên bệnh nhân thường đến khám bệnh rất sớm

- Về biện pháp điều trị liệt dây thần kinh VII ngoại biên y học hiện đại thường áp dụng các phương pháp: corticoid, vitamine, phẩu thuật…tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là giá thành cao, có nhiều tác dụng phụ như: ảnh hưởng đến dạ dày, gan, thận, xương, tăng huyết áp…vì vậy y học cổ truyền đã nghiên cứu các phương pháp điều trị không dùng thuốc trong quá trình điều trị để vừa hạ giá thành, vừa tránh được những tai biến do dùng thuốc

- Y học cổ truyến có rất nhiều phương pháp để điều trị liệt dây thần kinh VII ngoại biên như cứu, ôn châm, điện châm, laser châm, xoa bóp bấm huyệt…đặc biệt phương pháp điện châm hiện nay hầu như là chỉ định cần thiết cho điều trị bệnh này Chính vì thế nhóm chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá tác dụng điều trị bằng điện châm ở bệnh nhân liệt dây thần kinh VII ngoại biên ”

Mục tiêu:

- Đánh giá kết quả điều trị liệt dây thần kinh VII ngoại biên bằng phương pháp điện châm

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU:

1.1 Về y học hiện đại:

-Bệnh thường xảy ra đột ngột khi đi tàu xe hoặc tối ngủ nằm cạnh cửa sổ, bị gió tạt vào mặt, bệnh nhân nói cười khó,đánh răng súc miệng nước trào ra một bên mép, rõ nhất là mặt mất cân xứng, nếp nhăn rãnh mũi má bị mờ hoặc mất, miệng

và nhân trung bị lệch về bên lành Đặc biệt là bệnh nhân nhắm mắt không kín do liệt cơ khép vòng mi và nhãn cầu bị đẩy lên trên để lộ một phần lòng trắng, ngoài

ra bệnh nhân còn có một số triệu chứng khác như:

+ Cảm giác tê một bên mặt

+ Mất vị giác 2/3 trước lưỡi

+ Khô mắt do mắt nhấm không kín

1.2 Về y học cổ truyền:

a Được mô tả trong thể phong hàn phạm kinh lạc :

Thể bệnh lâm sàng thường xuất hiện trong những trường hợp liệt dây thần kinh VII ngoại biên:

- Liệt toàn bộ cơ mặt một bên, mất nếp nhăn trán, mất nếp nhăn rãnh má mũi, ảnh hưởng đến tiếng nói ,ăn uống

- Mắt nhắm không kín (Charles Bell: (+)

- Miệng và nhân trung lệch về bên lành

- Mất vị giác 2/3 trước lưỡi

- Người lạnh, tay chân lạnh

- Rêu lưỡi trắng mỏng , mạch phù

b Phương pháp điều trị:

- Chọn từng cặp huyệt theo từng nhóm cơ bị liệt đã xác định trên lâm sàng: [1]

+ Cơ mi: Tình minh-Toản trúc

Trang 5

Ngư yêu-Ty trúc không.

+ Cơ vòng miệng: Nhân trung-Thừa tương

+ Cơ má: Địa thương-Giáp xa

Nghinh hương-Quyền liêu

- Châm từng kim vào vị trí của từng huyệt sau đó mắc điện cực vào từng kim (kim châm cứu Tuệ Tĩnh, chọn loại kim đầu mặt)

- Thời gian mỗi lần châm 20 phút/24 giờ

- Tần sồ 15-20 nhịp/phút

- Loại máy châm: KWD-808

- Liệu trình điều trị tối đa là 4 tuần

- Sau 02 tuần đánh giá kết quả điều trị 01 lần

- Tai biến khi điện châm:hầu như rất ít gặp phải tai biến, nếu bệnh nhân cảm thấy khó chịu, chóng mặt… ngừng kích thích điện và rút kim ra.[3]

- Đánh giá hiệu quả hàng tuần dựa vào triệu chứng cơ năng và thực thể trên lâm sàng

- Vị trí huyệt:[2]

+ Tình minh: cách khoé mắt trong 2mm về phía sống mũi

+ Toản trúc: ngay đầu lông mày

+ Ngư yêu: huyệt ở giữa cung lông mày

+ Ty trúc không: huyệt ở cuối đuôi lông mày

+ Nhân trung: tại điểm nối ½ trên và 2/3 dưới rãnh nhân trung

+ Thừa tương: ở dưới môi dưới chổ lõm cằm

+ Địa thương: giao điểm của đường kéo dài từ khoé miệng ngang ra

và rãnh mũi miệng

+ Giáp xa: huyệt nằm trên bờ cao nhất của cơ nhai khi cắn chặt răng lại

+ Nghinh hương: giao điểm giữa chân cánh mũi kéo ra tới nếp mũi miệng

Trang 6

+ Quyền liêu: huyệt ở dưới xương gò má, giao điểm của đường chân cánh mũi kéo ngang ra và bờ ngoài của mắt kéo thẳng xuống

** Tiêu chuẩn đánh giá kết quả nghiên cứu:

-Loại 1: khỏi, mặt bên liệt trở lại bình thường

-Loại 2: đỡ, mắt nhấm kín hoặc nhấm có hơi kín, miệng cân đối nhưng khi cười có hơi méo, rãnh mũi má và nếp nhăn trán xuất hiện nhưng hơi mờ

-Loại 3: không đáp ứng, bệnh giữ nguyên không tiến triển

Trang 7

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

2.1Đối tượng:

Tất cả bệnh nhân bị liệt dây thần kinh VII ngoại biên đến khám và điều trị tại khoa Đông y

2.2 Địa diểm:

Khoa Đông y Bệnh viện đa khoa huyện

2.3 Thời gian nghiên cứu:

Ngày 01/04/ đến 31/08/

2.4 Phương pháp:

Nghiên cứu mở, tiền cứu

2.5 Xử lý số liệu:

Máy tính thông thường

2.6 Chọn mẫu:

Toàn bộ

2.7 Tiêu chuẩn chọn bệnh:

- Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán liệt dây thần kinh VII ngoại biên 2.8 Tiêu chuẩn loại trừ:

- Liệt dây thần kinh VII ngoại biên do chấn thương, tai biến mạch máu não

- Bệnh nhân không tuân thủ nguyên tắc điều trị

Trang 8

Chương 3 KẾT QUẢ

3.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu:

Bảng 3.1: Nhóm tuổi:

Nhóm tuổi Tần suất Tỷ lệ %

Nhận xét:Nhóm tuổi >50- 70 chiếm tỷ lệ cao

Bảng 3.2: Giới tính:

Giới tính Tần suất Tỷ lệ %

Nhận xét: Nữ chiếm tỷ lệ cao hơn nam

Trang 9

Bảng 3.3: Phân bố bệnh nhân đến điều trị sớm ( < 7 ngày ) theo giới tính Giới tính

Nhóm tuổi

Tần suất Tỉ lệ % Tần suất Tỉ lệ % Tần suất Tỉ lệ %

Nhận xét: Bệnh nhân đến điều trị sớm (< 7 ngày) tập trung vào nhóm tuổi

>50 – 70 trong đó nữ chiếm tỷ lệ cao

Bảng 3.4: Phân bố bệnh nhân đến điều trị muộn ( > 7 ngày ) theo giới tính Giới tính

Nhóm tuổi

Tần suất Tỉ lệ % Tần suất Tỉ lệ % Tần suất Tỉ lệ %

Nhận xét: Bệnh nhân đến điều trị muộn (> 7 ngày) tập trung vào nhóm tuổi

>15- 50 trong đó nữ chiếm tỷ lệ cao hơn nam

Trang 10

Bảng 3.5: Đánh giá kết quả điều trị sau 2 tuần bằng phương pháp điện châm.

Giới

tính

Nhóm

tuổi

suất

Tỉ lệ

% Tổng

cộng

cộng

cộng

Tần suất

Tỉ lệ (%)

Tần suất

Tỉ lệ (%)

Tần suất

Tỉ lệ ( %)

Tần suất

Tỉ lệ (%)

Tần suất

Tỉ lệ (%)

Tần suất

Tỉ lệ (%)

Nhận xét: Sau 2 tuần điều trị bệnh khỏi hẳn là 18cas, 4 cas không tiến triển,

5 cas hồi phục chậm

Trang 11

Chương 4 BÀN LUẬN

Qua kết quả nghiên cứu 27 trường hợp liệt VII ngoại biên chúng tôi nhận thấy rằng bệnh nhân mắc bệnh ở lứa tuổi trên 15 và tập trung đa số ở nhóm tuổi

>50- 70 chiếm 48,14%

Tỷ lệ nữ nhiều hơn nam chiếm 70,37%

Bệnh nhân thường đến sớm trong tuần đầu mắc bệnh< 7 ngày(chưa áp dụng phương pháp điều trị nào và đang điều trị bằng phương pháp điện châm) trong nhóm này thì tỷ lệ nữ nhiều hơn nam và tập trung vào nhóm tuổi >50-70 chiếm 30.43%

Bệnh nhân đến điều trị muộn > 7 ngày, (áp dụng các phương pháp điều trị dùng thuốc khác không hiệu quả và đang điều trị bằng phương pháp điện châm) trong nhóm này thì nữ nhiều hơn nam, tập trung vào nhóm tuổi >15- 50 chiếm 50%

Đa số bệnh nhân khỏi bệnh sau điều trị 02 tuần và được xếp ở loại 1, nữ chiếm tỷ lệ cao hơn nam chiếm 25,95 % ở nhóm tuổi > 50-70, loại 2 nữ nhiều hơn nam chiếm 7,4% ở nhóm tuổi >15-50, loại 3 nam và nữ ngang nhau chiếm 3,7%

Trang 12

KẾT LUẬN:

Sử dụng điện châm trong điều trị liệt dây thần kinh VII ngoại biện có tỷ lệ khỏi sau 2 tuần điều trị chiếm tỷ lệ cao

Đây là phương pháp điều trị ít gây tốn kém cho bệnh nhân

Phương pháp điều trị đơn giản, sử dụng tiện lợi dễ dàng, không gây dị ứng da

Là phương pháp điều trị có tính khả thi cao, có thể áp dụng được ở tất cả các

cơ sở y tế

KIẾN NGHỊ:

Cần tuyên truyền phổ biến phương pháp này đến các cơ sở y tế

Tập huấn cho nhân viên y tế về phương pháp và kỷ thuật tiến hành

Trang 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 Bệnh học và điều trị nội khoa (kết hợp Đông – Tây y)-PGS-TS Nguyễn

Thị Bay - Nhà xuất bản y học 2007

2 Châm cứu chữa bệnh - GS-TS Nguyễn Tài Thu - Nhà xuất bản y học

1998

3 Châm cứu học - TS-BS Phan Quan Chí Hiếu - Nhà xuất bản y học chi

nhành TPHCM 2002

Ngày đăng: 20/01/2021, 09:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w