1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

ỨNG DỤNG PHẦN MỀM PAINT TOOL SAI VÀO MÔN MĨ THUẬT CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ

41 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 18,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để từng bước nâng cao tay nghề của giáo viên bộ môn Mĩ thuật khi lên lớp, mạnh dạn, tự tin giảng dạy khi đứng trước tập thể học sinh, Sở Giáo dục và đạo tạo An Giang cần tổ chức nhiều [r]

Trang 3

II CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ TIẾN HÀNH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Giới thiệu sơ lược về phần mềm Paint Tool SAI

2 Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề (cách ứng dụng phần mềm Paint Tool SAI vào môn Mĩ thuật cấp Trung học cơ sở)

III CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Nguyên nhân thành công

2 Nguyên nhân tồn tại

IV KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1 Đối với bản thân

2 Đối với học sinh

3 Đối với tổ chuyên môn, đơn vị, ngành

C TÍNH THỰC TIỄN

I TÁC DỤNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1 Đối với bản thân

2 Đối với học sinh

3 Đối với tổ chuyên môn, đơn vị, ngành

II PHẠM VI ỨNG DỤNG

III NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM

D KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

A TÍNH MỤC ĐÍCH

Ngày nay, với sự tiến bộ không ngừng của khoa học công nghệ, con người từng bước hòa vào xu thế chung của sự phát triển trong đó có công nghệ thông tin

Trong lĩnh vực giáo dục, công nghệ thông tin cũng đã được ứng dụng rất phổ biến

và thường xuyên Bên cạnh đó, việc đổi mới phương pháp dạy - học trong các trường phổ thông cũng rất được chú trọng

Mĩ thuật là một môn học nhằm giúp học sinh tiếp xúc với cái đẹp, hiểu cái đẹp, biết cách làm đẹp và cảm thụ được cái đẹp Để thực hiện tốt điều này, người dạy ngoài việc ứng dụng các phương pháp đã được tìm hiểu, nghiên cứu (phương pháp quan sát, trực quan, vấn đáp, luyện tập, làm việc theo nhóm ), cần phải thường xuyên trau dồi kiến thức, rèn luyện những kĩ năng về chuyên môn theo hướng tích cực

Đổi mới phương pháp dạy - học là vấn đề cấp thiết mà ngành giáo dục nước ta luôn quan tâm sâu sát Bởi điều này hướng đến việc kích thích sự sáng tạo, tích cực và hứng thú học tập của học sinh - chủ thể của hoạt động học Trong quá trình đổi mới ấy, phương pháp trực quan được chú tâm sử dụng một cách thường xuyên trong hoạt động dạy - học Vì nó là con đường gần nhất để học sinh có thể lĩnh hội được tri thức

Là một giáo viên dạy Mĩ thuật, tôi nhận thấy điều cơ bản nhất để kích thích tính hứng thú, say mê học tập của học sinh là phải thể hiện được kĩ năng chuyên môn của người dạy, đó là kĩ năng vẽ Vì tâm lý của người học mĩ thuật bao giờ cũng thích được xem người dạy vẽ minh họa trong các tiết thực hành Với những yêu cầu thiết yếu đó, tôi

tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài “Ứng dụng phần mềm Paint Tool SAI vào môn

Mĩ thuật cấp Trung học cơ sở”

Về đối tượng, để thực hiện đề tài này, tôi đã nghiên cứu quá trình giảng dạy tại Trường trung học cơ sở Khánh An (nơi tôi đang công tác), đồng thời thông qua các tiết

dự giờ, thao giảng, chuyên đề của giáo viên và biểu hiện học tập của học sinh các trường trung học cơ sở trong toàn huyện An Phú từ năm học 2011 - 2012 đến nay

Về nội dung, tôi tìm hiểu và nghiên cứu các bài thực hành (các phân môn Vẽ theo mẫu, Vẽ tranh, Vẽ trang trí) ở chương trình sách giáo khoa Mĩ thuật các khối 6, 7, 8 và 9

Trong chương trình Mĩ thuật cấp Trung học cơ sở, kĩ năng vẽ minh họa phần lớn được thực hiện ở hoạt động hướng dẫn học sinh cách làm bài Đề tài này có một số điểm mới trong kết quả nghiên cứu, như:

- Phần mềm Paint Tool SAI giúp người dạy vẽ minh họa dễ dàng, hiệu quả bằng những công cụ hỗ trợ

- Giáo viên không cần mang dụng cụ truyền thống (viết chì, cọ, màu vẽ, giấy vẽ, thước, com-pa ) khi đến lớp để vẽ minh họa

- Kích thích tính hứng thú học tập của học sinh thông qua phần minh họa của người giáo viên, đồng thời học sinh cũng có thể tìm hiểu, tự học và biết cách thực hành

vẽ trên phần mềm này

- Giúp học sinh nắm rõ cách làm bài một cách trực tiếp theo kiểu “trình diễn”

Trang 5

B TÍNH KHOA HỌC

I THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ

Chúng ta cần khẳng định rằng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy

là nhu cầu cần thiết đối với mỗi giáo viên hiện nay Bởi lẽ, tác dụng của việc ứng dụng này sẽ mang đến cho người dạy những lợi ích đáng kể Nó giúp người dạy thực hiện nhanh chóng quá trình cung cấp tri thức cho người học từ trực quan sinh động đến tư duy

trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn (theo Triết học Mác - Lê nin)

Tuy nhiên, việc đầu tư soạn giảng giáo án điện tử, tìm tư liệu, tài liệu giảng dạy của giáo viên Mĩ thuật trong huyện có nhưng chưa nhiều và thiếu cập nhật nên dễ bị bất cập, lạc hậu về thông tin, kiến thức Mặt khác, do quá lạm dụng công nghệ thông tin nên người dạy ít chú ý và duy trì thường xuyên kĩ năng vẽ minh họa hay một số không nhỏ giáo viên sử dụng chưa thành thạo công nghệ thông tin nên còn ngại soạn giáo án điện tử hoặc dạy học trên máy tính

Bên cạnh đó, phần đông học sinh khi học môn Mĩ thuật hay bắt chước theo hình

đã có sẵn để vẽ lại, ít chịu khó động não, sáng tạo khi thực hiện bài tập Điều này dẫn đến việc học sinh không tích cực, chủ động học tập

Vấn đề khác, đồ dùng dạy học của bộ môn Mĩ thuật ở các trường trong huyện thiếu trầm trọng đồng thời chưa có phòng bộ môn nên việc giáo viên tự trang bị và mang

đồ dụng dạy học cồng kềnh khi lên lớp gặp không ít khó khăn (chẳng hạn như việc di chuyển từ lớp này sang lớp khác các vật dụng mẫu vẽ, màu vẽ, bút, cọ, bảng pha màu để minh họa trực quan rất bất tiện và mất thời gian)

Vì vậy, cần phải có biện pháp hiệu quả để khắc phục thực trạng này nhằm kích thích tính hứng thú, chủ động, tích cực học tập, sáng tạo của học sinh cũng như giúp giáo viên giảm bớt những đồ dùng dạy học khi lên lớp mà vẫn đảm bảo tính trực quan

II CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ TIẾN HÀNH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Giới thiệu sơ lược về phần mềm Paint Tool SAI

Trong thế giới vi tính, có rất nhiều phần mềm đồ họa nổi tiếng, được nhiều người

sử dụng như Photoshop, CorelDraw, Illustrator, 3D Max, Flash hay đơn giản nhất là Paint (chương trình được cài mặc định của Windows) hoặc Preview (mặc định của Mac OS) và dĩ nhiên trong đó có cả phần mềm Paint Tool SAI Vậy Paint Tool SAI là gì? Tại sao tôi lại chọn nó? Nó được vận hành thế nào?.v.v Hãy cùng tôi tìm hiểu sơ lược về Paint Tool SAI

Paint Tool SAI (gọi tắt là SAI) là phần mềm vẽ tranh dành cho Microsoft Windows được phát triển vào năm 2004 bởi tập đoàn phần mềm Systemax (Nhật Bản) Phát hành chính thức vào năm 2006 với phiên bản đầu tiên là Paint Tool SAI 1.0.0 Đến năm 2008, họ đã phát hành phiên bản 1.1.0 và chạy rất ổn định Gần đây nhất (năm 2013)

Trang 6

- Dung lượng thấp (chỉ dưới 4,0Mb, thấp hơn rất nhiều so với Photoshop, Corel )

- Cài đặt rất đơn giản

- Giao diện thân thiện, trực quan

- Dễ sử dụng kể cả những người mới bắt đầu tiếp xúc với nó

- Chạy rất ổn định trên nhiều hệ điều hành Windows (từ Windows 98 đến Windows 8)

- Vẽ bằng chuột hoặc trên bảng vẽ điện tử rất dễ dàng

- Tuy đơn giản nhưng vẫn tô, vẽ tuyệt vời không thua kém gì Photoshop, Corel

Để cài đặt, sau khi tải phần mềm về máy, chúng ta thực hiện các bước như sau:

- Giải nén tập tin vừa tải

- Click vào file cài đặt (sai-eng-pack-1.1.0.exe)

- Cài xong, đừng vội khởi động chương trình ngay Vì phần mềm này, nhà phát triển chỉ cho dùng thử 31 ngày Do đó, chúng ta cần phải bẻ khóa (crack) để sử dụng

phần mềm lâu dài Để crack, vào thư mục PaintTool SAI English Pack (trong file tải về), chép (copy) toàn bộ các tập tin và dán đè (paste and replace) vào thư mục vừa cài đặt

(thường là C:\Program Files\PaintTool SAI English Pack\) Lưu ý: Có thể xem cách

cài đặt trong tập tin huong dan crack.txt (file tải về)

- Biểu tượng phần mềm Paint Tool SAI sẽ xuất hiện trên màn hình desktop

- Thế là xong Click đúp chuột vào để sử dụng

1.2 Cách mở, đóng và lưu tập tin

Cách mở, đóng hay lưu một tập tin Paint Tool SAI cũng thực hiện tương tự các chương trình khác Sau khi chạy chương trình, ta thực hiện như sau:

- Tạo mới tập tin: Chọn File -> New (tổ hợp phím Ctrl + N)

- Mở tập tin có sẵn: Chọn File -> Open, chọn tập tin cần mở đã được lưu (tổ hợp phím Crtl + O)

- Đóng tập tin: Chọn File -> Close canvas Hoặc nhấp chuột vào biểu tượng ở góc phải phía trên chương trình

Trang 7

- Thoát chương trình: Chọn File -> Exit Hoặc nhấp chuột vào biểu tượng ở góc trái trên cùng của chương trình, chọn Close Hoặc nhấn vào biểu tượng ở góc phải trên cùng của chương trình Tổ hợp phím Alt + F4

- Lưu tập tin: File -> Save (tổ hợp phím Ctrl + S) Tập tin Paint Tool SAI có dạng

*.sai, tên mặt định là New canvas.sai

- Lưu tập tin với tên khác: từ tập tin đang làm việc, chọn File -> Save As (tổ hợp phím Shift + Ctrl + S)

1.2 Giao diện, công cụ và phím tắt

Hình 1 - Giao diện của phần mềm Paint Tool SAI

Giao diện của Paint Tool SAI rất thân thiện, tôi xin giới thiệu các vùng làm việc

và phím tắt của chương trình như sau (theo hình minh họa):

1.2.1 Standard panel (vùng chuẩn) (vùng số 1 trong Hình 1)

a) Từ trái sang phải: ẩn, phóng to và đóng file đang làm việc

b) File - tập tin (Alt + F) gồm các lệnh:

- New (Ctrl + N): tạo mới tập tin

- Open (Ctrl + O): mở tập tin

- Creat canvas from clipboard: tạo mới bảng vẽ từ bảng nhớ tạm

- Recent: mở lại tập tin gần đây

Trang 8

- Save (Ctrl + S): lưu tập tin

- Save As (Shift + Ctrl + S): lưu tập tin với tên khác

- Export: xuất tập tin sang các dạng sai (SAI), psd (Photoshop), bmp (Bitmap), jpg (JPEG), png (PNG), tga (TARGA)

- Enable custom file viewer: kích hoạt (khi đánh dấu chọn) hoặc không kích hoạt (khi bỏ dấu chọn) tính năng tùy chỉnh xem tập tin

- Open using custom file viewer: mở file sử dụng tính năng tùy chỉnh xem tập tin

- Save using custom file viewer: lưu file sử dụng tính năng tùy chỉnh xem tập tin

- Close canvas: đóng tập tin

- Exit: Thoát chương trình

c) Edit - hiệu chỉnh (Alt + E) gồm các lệnh:

- Undo (Ctrl + Z): hoàn tác

- Redo (Ctrl + Y): phục hồi lệnh hoàn tác

- Cut (Ctrl + X): cắt đối tượng

- Copy (Ctrl + C): sao chép đối tượng

- Paste (Ctrl + V): dán đối tượng - xuất hiện trên một layer mới

- Copy and Resize selected region: chép và thay đổi kích thước vùng chọn

d) Canvas - bảng vẽ (Alt + C) gồm các lệnh:

- Image size: kích thước ảnh

- Canvas size: kích thước bảng vẽ

- Trim to selection: cắt bớt bảng vẽ khi sử dụng công cụ vùng chọn (Marquee, Lasso)

- Horizontal flip: lật bảng vẽ theo chiều ngang

- Vertical flip: lật bảng vẽ theo chiều dọc

- Rotate 90o CCW: xoay trái bảng vẽ một góc 90 độ

- Rotate 90o CW: xoay phải bảng vẽ một góc 90 độ

e) Layer - lớp (Alt + L) gồm các lệnh:

- New layer: tạo một lớp mới

- New vector layer: tạo một lớp vector mới

- New folder: tạo một thư mục để chứa các lớp

- Duplicate layer: tạo một bản sao thư mục nằm ngay dưới nó

- Delete layer: xóa lớp

- Clear layer (D): tẩy sạch hình trên lớp

Trang 9

- Merge content (F): trộn (dịch chuyển) các hình từ lớp trên xuống lớp dưới

- Merge down (Ctrl + E): trộn (dịch chuyển) lớp dưới lên lớp trên

- Fill layer (Ctrl + F hoặc Alt + Delete): phủ đầy một màu cho lớp

- Reset position: đặt lại vị trí mặc định

- Desaturate: khử màu bão hòa cho lớp

- Transform (Ctrl + T): chỉnh sửa khích thước lớp

- Horizontal flip: lật lớp theo chiều ngang

- Vertical flip: lật lớp theo chiều dọc

- Rotate 90o CCW: xoay trái lớp một góc 90 độ

- Rotate 90o CW: xoay phải lớp một góc 90 độ

- Rename: đổi tên lớp

f) Selection - vùng chọn (Alt + S) gồm các lệnh:

- Deselect (Ctrl + D): hủy chọn

- Invert selection: đảo ngược vùng chọn

- Show selection (Ctrl + H): hiển thị nét bao vùng chọn

- Expand selection by 1px: mở rộng khoảng cách nét bao vùng chọn ra 1pixel

- Select points: kiểu chọn bằng điểm

- Select strokes: kiểu chọn bằng nét

- Clear selected points: xóa kiểu chọn bằng điểm

- Select all (Ctrl + A): chọn tất cả (trên một lớp)

g) Filter - bộ lọc (Alt + T) gồm các lệnh:

- Hue/Saturation (Ctrl + U): hiệu chỉnh sắc độ và độ bão hòa của ảnh

- Brightness/Contrast: hiệu chỉnh độ sáng và độ tương phản của ảnh

h) View - hiển thị (Alt + V) gồm các lệnh:

- New view: tạo mới vùng hiển thị bảng vẽ

- Close view (Ctrl + W): đóng vùng hiển thị bảng vẽ

- Close all view: đóng tất cả vùng hiển thị bảng vẽ

- Zoom in (PageUp hoặc Ctrl + dấu +): phóng to vùng hiển thị bảng vẽ

- Zoom out (PageDn hoặc Ctrl + dấu -): thu nhỏ vùng hiển thị bảng vẽ

- Horizontal flip (H): lật vùng hiển thị bảng vẽ theo chiều ngang

- Rotate CCW (Delete): xoay trái vùng hiển thị bảng vẽ

- Rotate CW (End): xoay phải vùng hiển thị bảng vẽ

Trang 10

- Zoom 100% (Shifl + Ctrl + 0): vùng hiển thị bảng vẽ ở chế độ 100%

- Reset position (Home hoặc Ctrl + 0): mặc định vùng hiển thị bảng vẽ

- Reset rotation (Insert): mặc định vị trí di chuyển xoay, lật như ban đầu

- Select from list: chọn một vùng hiển thị bảng vẽ từ danh sách

i) Window - cửa sổ (Alt + W) gồm các lệnh:

- Color wheel: cửa sổ vòng màu

- RGB sliders: cửa sổ bảng màu RGB

- HSV sliders: cửa sổ bảng màu HSV

- Color mixer: cửa sổ bảng trộn màu

- Swatches: cửa sổ bảng màu mẫu

- Mixer: cửa sổ bảng màu tạm

- Navigator: cửa sổ xem trước

- Quick bar: cửa sổ điều chỉnh bảng vẽ

- View selection bar: cửa sổ hiển thị bảng vẽ

- Status bar: cửa sổ trạng thái

- HSV mode: mã màu HSV

- Cursor show brush size: con trỏ chuột hiển thị kích thước nét vẽ

- Dot cursor: dấu chấm trong con trỏ chuột

- Hide panels (Tab): ẩn các vùng làm việc, chỉ hiển thị vùng làm việc chính

- Layers panel on the right: đặt vị trí vùng lớp (vùng 2) nằm bên phải màn hình

- Color and Tool panel on the right: đặt vị trí vùng màu và công cụ (vùng 3) nằm bên phải màn hình

- Reset all positions: mặc định tất cả vị trí

j) Help/Config - trợ giúp/cấu hình (Alt + O) gồm các lệnh:

- Help: trợ giúp

- Key config: phím tắt

- Options: tùy chỉnh

- System ID: số ID của hệ thống

- About: thông tin về phần mềm

1.2.2 Layer panel (vùng lớp) (vùng số 2 trong Hình 1)

Trang 11

- : phóng to, thu nhỏ, xoay hình

- : dệt hoa văn, bề mặt cho hình, nét

- : tạo nét viền đậm bên ngoài nét vẽ (hiệu ứng màu nước)

- : chế độ blend (hòa trộn màu sắc) và điều chỉnh Opacity (độ mờ của hình, nét)

- Từ trái sang phải: tạo layer mới, tạo layer vector mới, tạo group mới

+ Di chuyển hình vẽ từ layer trên xuống layer dưới

+ Gộp (trộn) layer với layer ngay dưới nó

+ Xóa mọi hình vẽ trên layer

+ Xóa layer

+ Gộp (trộn) layer với layer ngay dưới nó nhưng vẫn giữ layer mask (lớp mặt nạ)

- : Tạo mask

- : layer (lớp, tương tự photoshop)

1.2.3 Color and tool panel (vùng màu sắc và công cụ) (vùng số 3 trong Hình 1)

a) Color panel (vùng màu sắc)

Có nhiều tùy chọn cho các hệ màu theo thứ tự từ trái sang phải:

Trang 12

b) Tool panel (vùng công cụ)

- : vùng chọn, thứ tự từ trái sang phải, từ trên xuống dưới:

+ Marquee: nhấp giữ chuột trái để chọn khung hình vuông, hình chữ nhật

+ Lasso: nhấp giữ chuột trái để vẽ chọn (tụ do)

+ Magic wand: nhấn chuột trái để chọn

+ Move: nhấp giữ chuột vào hình vẽ để di chuyển

+ Magnify: nhấp chuột trái để thu nhỏ, phóng to bảng vẽ

+ Rotate: nhấp giữ chuột trái để xoay bảng vẽ

Trang 13

+ Hand: nhấp giữ chuột trái để di chuyển bảng vẽ

+ Pickup color: nhấp chuột trái vào màu cần vẽ để lựa chọn màu

- : màu nền và màu đang chọn vẽ Nhấp chuột trái vào dấu mũi tên hai chiều (hoặc nhấn phím X) để đảo màu chọn

Trang 14

- : các thông số điều chỉnh công cụ (kích thước nét vẽ,

độ trong suốt của nét vẽ, kiểu nét vẽ )

Trang 15

1.2.4 Zoom panel (vùng điều chỉnh bảng vẽ) (vùng số 4 trong Hình 1)

a) Hoàn tác, phục hồi lệnh hoàn tác

b) Chọn, bỏ chọn đối tượng khi sử dụng công cụ Marquee, Lasso

c) Thu nhỏ, phóng to bảng vẽ

d) Xoay bảng vẽ

e) Lật bảng vẽ sang phải và trái

f) Độ trơn nhẵn của bảng vẽ

1.2.5 Paint panel (vùng làm việc chính) (vùng số 5 trong Hình 1)

Chúng ta sẽ thể hiện một bài tập, một tác phẩm hội họa, đồ họa vi tính trên vùng làm việc chính này và gọi ngắn gọn, dễ hiểu là “bảng vẽ”

1.2.6 Status panel (vùng trạng thái) (vùng số 6 trong Hình 1)

a) File đang mở (vùng hiển thị bảng vẽ)

b) Trạng thái bộ nhớ

c) Các phím đang ấn (phím được ấn sẽ hiện màu lục lam - cyan)

Trang 16

2 Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề (ứng dụng phần mềm Paint Tool SAI vào môn Mĩ thuật cấp Trung học cơ sở)

Như tôi đã đề cập ở phần đầu, phần mềm Paint Tool SAI chỉ vận dụng vào các phân môn mang tính chất thực hành (vẽ tranh, vẽ trang trí và vẽ theo mẫu) trừ phân môn thường thức mĩ thuật (phê bình, lý luận là chính) Do đó, tôi xin đưa ra cách ứng dụng phần mềm Paint Tool SAI cũng như là các biện pháp tiến hành giải quyết vấn đề của đề tài này

Kĩ năng vẽ minh họa đối với giáo viên bộ môn Mĩ thuật cấp Trung học cơ sở thực chất không khó Tuy nhiên, nếu xem nhẹ, hay lơ là, người dạy sẽ lúng túng khi sử dụng kĩ năng này trước học sinh Hơn nữa, đây là kĩ năng vẽ bằng Mouse (chuột máy vi tính) nên

sẽ gặp những trở ngại trong quá trình thực hiện Do đó, ngay từ lúc bắt đầu nghiên cứu đến khi tiến hành thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng nhiều biện pháp mà tựu trung lại thành một chuỗi của quá trình

2.1 Tìm hiểu, nghiên cứu tâm lý học tập của học sinh

Lứa tuổi học sinh trung học cơ sở là lứa tuổi diễn ra vô số những biến đổi về chất,

là lứa tuổi của sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con”, “vừa tính người lớn” Đối với thầy,

cô giáo, các em vẫn rất kính trọng nhưng không còn “sùng bái” như hồi còn học ở tiểu học Do tiếp xúc với nhiều thầy, cô giáo có trình độ khác khau, có phong cách xử thế khác nhau nên các em dễ so sánh, đối chiếu giữa người này và người khác Những gương tốt trong giáo viên được các em ngưỡng mộ và noi theo

Dựa vào những kiến thức tâm lý học đã được lĩnh hội, cộng với thời gian áp dụng việc tìm hiểu, nghiên cứu từ thực tiễn ở trường phổ thông, tôi thiết nghĩ, với sự biến đổi

về tâm lý đó, rất cần thiết để đưa ra nhiều phương pháp dạy học phù hợp với lứa tuổi này

Tôi chọn đây là bước khởi đầu để thực hiện đề tài vì muốn hiểu người học thích

gì, cần gì khi học bộ môn mình phụ trách đòi hỏi người dạy phải nắm rõ được tâm lý ở các em

Vẽ trên máy vi tính không giống như vẽ tay trên giấy bình thường hay xử lý văn bản ở các phần mềm văn phòng vì mức độ vẽ chính xác các đường nét, mảng hình theo ý muốn tương đối khó, đòi hỏi kĩ năng điều khiển mouse tốt Đây cũng là yếu tố quan trọng, cốt lõi để thực hiện tốt việc vẽ minh họa

Trang 17

Tôi chọn công cụ vẽ Pen, Brush, Water (ở vùng màu sắc và công cụ) để tập luyện đầu tiên Vì những công cụ này khá gần gũi với học sinh nên khi vẽ minh họa, các em sẽ

dễ hiểu hơn Ngoài ra còn có thêm những công cụ như Acrylic, Marker

Mỗi ngày, tôi dành thời gian khoảng từ một đến hai giờ đồng hồ để luyện tập Những ngày nghỉ, thời gian luyện tập có thể tăng lên thành một buổi Bài luyện tập từ đơn giản đến nâng cao

Với công cụ Pen, các bài luyện tập chủ yếu của tôi là vẽ đường nét (thẳng, cong),

vẽ mảng đậm nhạt, sáng tối và nâng cao hơn là các bài vẽ theo mẫu (đặt mẫu vẽ lại) bằng những thông số về kích thước công cụ, độ Opacity, độ Density

Với Brush và Water, tôi thường luyện cách pha màu, cách sử dụng độ Opacity, độ Density để vẽ màu tạo các độ thẩm thấu, độ trong suốt khác nhau trên bảng vẽ

2.3 Ứng dụng kĩ năng vào bài dạy

Từ các biện pháp tự rèn luyện kĩ năng, tôi áp dụng vào các bài dạy một cách khoa học Dần theo thời gian, những kĩ năng từng bước được cải thiện Nó đã giúp tôi tự tin hơn, vẽ minh họa mạnh dạn hơn qua từng tiết dạy

2.3.1 Ứng dụng vào phân môn Vẽ trang trí

Đối với bài vẽ trang trí, phần vẽ minh họa chủ yếu là cách sử dụng màu sắc, cách tạo hình đồ họa bằng nét rõ ràng Vì tính hiệu quả của nó rất cao

Chẳng hạn khi dạy bài Màu sắc (Bài 10, chương trình sách giáo khoa Mĩ thuật

lớp 6), ở phần tìm hiểu màu vẽ và cách pha màu, tôi ứng dụng theo các bước sau:

- Khởi chạy phần mềm Paint Tool SAI

- Tạo một trang mới (Ctrl + N) và tùy chọn kích thước trang theo các thông số ở

khung hiển thị đầu tiên (Hình 2)

Hình 2 - Chọn kích thước trang vẽ

Trang 18

- Ở phần công cụ, chọn một công cụ tùy thích (trong hình minh họa dưới đây, tôi chọn công cụ Acrylic)

- Chọn kích thước công cụ tương đối lớn (từ 70 đến 75) để các em dễ quan sát

- Ở phần hệ màu, click chọn vòng màu để lựa chọn màu sắc dễ dàng hơn Click chọn lần lượt vào phần màu đỏ, vàng, lam rồi vẽ vào bảng vẽ

- Vẽ những cặp màu đỏ - vàng, vàng - lam, lam - đỏ gần nhau, tiếp xúc nhau và trộn lẫn vào nhau để tạo thành những màu nhị hợp cam, lục, tím với sắc biến khác nhau

(Hình 3)

Hình 3 - Cách pha màu cơ bản để tạo ra các màu nhị hợp

Tương tự như thế, để minh họa cho những màu nóng (đỏ, đỏ cam, vàng cam, vàng

ấm, huyết dụ), màu lạnh (lam, xanh đậm, lục, xanh lá mạ, vàng chanh, tím) hay các sắc

độ tăng và giảm dần, tôi chọn công cụ vẽ khác hơn để tăng độ kích thích tính hứng thú

học tập của học sinh bằng cách chọn Water như Hình 4 và Hình 5 (Trang tiếp theo)

Trang 19

Hình 4 - Màu chuyển sắc biến từ nóng sang lạnh

Hình 5 - Màu chuyển sắc độ tăng và giảm dần

Trang 20

Ở một ví dụ khác, những bài trang trí có thêm đường nét của họa tiết, tôi sử dụng

công cụ Pen, Brush Cụ thể ở bài Tạo họa tiết trang trí (Bài 3, chương trình sách giáo

khoa Mĩ thuật lớp 7), tôi thực hiện như sau:

- Bước 1 và 2 thực hiện như ở ví dụ trước

- Sử dụng công cụ Pen với size = 2.0, density = 25, sử dụng màu xám để vẽ phác

hình tự do (chú ý: nên vẽ nhanh để phân phối thời gian hợp lý, đừng sợ vẽ sai)

Hình 6 - Phác hình bằng công cụ Pen

- Ở vùng lớp (layer panel), nhấp vào biểu tượng để tạo mới một layer vector Lúc này, sẽ có hai lớp, layer vector (mới tạo) nằm trên, normal layer (lớp vừa vẽ hình phác thảo) nằm dưới

- Trên layer vector, chọn công cụ Pen để vẽ theo hình ở normal layer Độ density điều chỉnh lại thành 100, size = 5.0, sử dụng màu đen

- Lúc này các nét vẽ vẫn còn rất lộn xộn, vì thế chúng cần được chỉnh sửa ngay ngắn, rõ ràng Để chỉnh sửa các nét, chỉ cần nhấn giữ phím Shift trên bàn phím rồi điều khiển chuột theo ý muốn

- Chọn vào normal layer, nhấp vào biểu tượng để xóa nội dung trên layer

- Chọn vào vector layer, nhấp vào biểu tượng để gộp hai layer lại (lúc này nó

sẽ trở thành normal layer)

Ngày đăng: 20/01/2021, 01:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w