1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận dạng giá trị văn hóa kiến trúc trên công trình nhà thờ tộc làng bảo an quảng nam

158 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 28,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, để làm rõ vai trò của văn hóa trong sự phát triển bền vững, luận văn mong muốn tiếp cận ở góc độ nhỏ của văn hóa, là một trong những sản phẩm văn hóa tinh thần của người dân miền

Trang 1

-

PHAN THANH TRUNG

NHẬN DẠNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA - KIẾN TRÚC TRÊN CÔNG TRÌNH NHÀ THỜ TỘC TẠI LÀNG

BẢO AN- ĐIỆN BÀN – QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KIẾN TRÚC

Đà Nẵng – Năm 2020

DUT.LRCC

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

-

HỌ VÀ TÊN : PHAN THANH TRUNG

TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

NHẬN DẠNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA - KIẾN TRÚC TRÊN CÔNG TRÌNH NHÀ THỜ TỘC TẠI LÀNG BẢO AN- ĐIỆN

BÀN – QUẢNG NAM

Chuyên ngành : KIẾN TRÚC

Mã số: 8580101

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS.KTS LÊ MINH SƠN

Đà Nẵng –Năm 2020

DUT.LRCC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng, Ban quản lý sau ĐH, Khoa Kiến Trúc cùng quý Thầy, Cô đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện khóa cao học Kiến Trúc này

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn luận văn của tôi, Tiến sĩ KTS.Lê Minh Sơn Trong suốt quá trình nghiên cứu, thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp

đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình đặc biệt là ba mẹ, vợ con cùng các anh em đồng nghiệp kts.Đ.H.Sơn, Ts.kts.P.B.An, các bạn cùng đợt nghiên cứu luận văn tốt nghiệp này, và tất cả bạn bè đã chia sẻ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện hoàn chỉnh luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Tuy nhiên, do buổi đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên có nhiều hạn chế

về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong được sự góp ý của quý Thầy, Cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

DUT.LRCC

Trang 4

Tác giả cam đoan Luận văn “NHẬN DẠNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA - KIẾN TRÚC TRÊN CÔNG TRÌNH NHÀ THỜ TỘC TẠI LÀNG BẢO AN - ĐIỆN BÀN – QUẢNG NAM ” là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả dưới sự hướng dẫn của thầy TS.KTS LÊ MINH SƠN

Tác giả

PHAN THANH TRUNG

DUT.LRCC

Trang 5

Học viên : Phan Thanh Trung- Chuyên ngành: Kiến trúc

Mã số 8580101 Khóa K36_KT Trường Đại Học Bách khoa_ ĐHĐN

Tóm tắt: Văn hóa Việt Nam lưu trữ nhiều giá trị tốt đẹp của dân tộc, góp phần tạo

dựng bản sắc riêng Các giá trị đó tồn tại ở nhiều dạng thức khác nhau, nên việc nghiên cứu các nhà thờ tộc họ trên địa bàn Xã Điện Quang, Huyện Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam sẽ góp phần chỉ ra các giá trị về văn hóa kiến trúc để tiếp tục bảo tồn và phát triển Luận văn tiếp cận các phương pháp nghiên cứu tài liệu, vẽ ghi 17 nhà thờ tộc của

10 họ và khảo sát bằng phiếu điều tra xã hội học về nhận định của người dân đối với quá trình phát triển của nhà thờ Qua nghiên cứu, luận văn đánh giá thực trạng, chỉ ra các giá trị cần bảo tồn, phát huy và định hướng nghiên cứu tiếp theo đối với mô hình nhà thờ tộc họ ở Việt Nam

Từ khóa: Văn hóa, Việt Nam, Nhà thờ tộc, kiến trúc, bảo tồn

“IDENTIFICATION OF CULTURAL VALUE AND ARCHITECTURE OF THE TYPE OF BUILDING HOUSE FOR THE ETHNIC MINERALS IN BAO AN –

DIEN BAN - QUANG NAM”

Abstract:Vietnamese culture contains beautiful national features contributing to its

own unique identities These distinctive features were studied and revealed through a study on cultural architecture of Clan Ancestral Halls in Dien Quang ward, Dien Ban district, Quang Nam province By literature reviewing, sketching 17 clan ancestral halls, and conducting a questionnaire survey, this study pointed aout the key factors related to the conservation and restoration of clan ancestral halls Based on the current situation, the authors suggested the specific identities needed to be conservated and restorated for the clan ancestral halls in Vietnam, as well as the researching approaches for the future studies

Key words: Cultural Heritage, Vietnam, Clan Ancestral Hall, Architecture,

Conservation

DUT.LRCC

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

TRANG THÔNG TIN

MỤC LỤC 3

HÌNHẢNH 6

BIỂUĐỒ 7

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Phương pháp nghiên cứu 4

3.1 Khảo sát và vẽ ghi 4

3.2 Nghiên cứu tài liệu, thư tịch liên quan đến nhà thờ họ 4

3.3 Điều tra Xã hội học 4

3.4 Tổng hợp và phân tích dữ liệu để đề xuất các kiến nghị và hướng nghiên cứu 4

4 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Cấu trúc Luận văn 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA TỘC HỌ VIỆT NAM 6

1 Đặc trưng văn hóa Việt 6

1.1 Tính cộng đồng làng xã 6

1.2 Tính trọng âm 6

1.3 Tính ưa hài hòa 7

1.4 Tính kết hợp 7

1.5 Tính linh hoạt 7

2 Văn hóa Việt với tục thờ cúng ông bà tổ tiên 8

2.1 Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 8

2.2 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 9

2.3 Nghi thức thờ cúng tổ tiên 10

2.4 Thờ cúng tổ tiên trong gia đình và gia tộc 11

2.5 Lễ giỗ tổ Hùng vương 12

3 Văn hóa tộc họ ở Việt Nam 12

4 Ý nghĩa của văn hóa tộc họ 14

5 Kết luận chương 1 16

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ NHÀ THỜ TỘC TẠI VIỆT NAM 17

1 Xu hướng phát triển tộc họ trong bối cảnh hiện nay 17

DUT.LRCC

Trang 7

2 Nhà thờ tộc họ tại Việt Nam 19

3 Giá trị kiến trúc và văn hóa của nhà thờ tộc họ 27

3.1 Về kiến trúc 27

3.2 Về văn hóa tinh thần 31

4 Kết luận chương 2 31

CHƯƠNG 3 NHÀ THỜ TỘC TẠI LÀNG BẢO AN 33

1 Lịch sử vùng đất Điện Bàn và địa danh Làng Bảo An 33

2 Lịch sử phát triển 35

2.1 Vùng đất Điện Quang, Điện Bàn, Quảng Nam 35

2.2 Thôn Bảo An ngày nay 38

3 Khảo sát thực trạng nhà thờ tộc tại làng Bảo An 40

3.1 Khảo sát và lập hồ sơ các công trình nhà thờ tộc tại Làng Bảo An 40

3.2 Đánh giá hiện trạng kiến trúc và quy mô công trình thực tế 59

4 Nhận diện các giá trị văn hóa – kiến trúc trên các công trình nhà thờ tộc 61

4.1 Về bố cục mặt bằng 61

4.2 Về bố cục mặt đứng: 62

4.3 Về các họa tiết trang trí 62

5 Kết luận chương 3 63

CHƯƠNG 4 PHÁT HUY GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC NHÀ THỜ TỘC 64

1 Đô thị hóa và các phương thức bảo tồn nhà thờ tộc 64

1.1 Phương thức quản lý 64

1.2 Phương thức bảo tồn 67

1.3 Phương thức phát triển 68

2 Nghiên cứu xã hội về xu hướng nhận thức 68

2.1 Về nhận thức so sánh giữa các nhà thờ tộc họ 69

2.2 Về nhận thức nhà thờ tộc có tồn tại trong tương lai 71

2.3 Về nhận thức các yếu tố truyền thống tiếp tục được gìn giữ 73

2.4 Về nhận thức các chi tiết kiến trúc 74

2.5 Về nhận thức giữ gìn và hoạt động hiệu quả của nhà thờ 75

3 Kết luận Chương 4 76

3.1 Đánh giá khách quan 76

3.2 Giá trị văn hóa và kiến trúc 77

PHẦN 3: KẾT LUẬN 78

1 Các kết quả chính của đề tài 78

1.1 Đời sống văn hóa tộc họ gắn liền với quá trình phát triển lịch sử của dân tộc 78

1.2 Góp phần lưu truyền các giá trị tinh thần của đời sống văn hóa tộc họ 79

DUT.LRCC

Trang 8

1.3 Kết tinh nhiều thành tựu văn hóa, kiến trúc đặc trưng cần bảo tồn 80

1.4 Kiến trúc nhà thờ tộc ở Điện Quang cần được giữ gìn và phát huy 81

2 Nhận xét, đánh giá và kết quả dự đoán 81

2.1 Về mục tiêu: nhận diện các giá trị văn hóa kiến trúc đặc trưng 81

2.2 Về mục tiêu: phân tích các quan điểm và định hướng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa 82

2.4 Về mục tiêu: chỉ ra các đặc điểm, quá trình biến đổi hình thức kiến trúc và công năng nhà thờ tộc họ qua các thời kỳ 83

3 Đề xuất và kiến nghị 83

3.1 Đời sống văn hóa tinh thần người Việt trong bối cảnh toàn cầu hóa 83

3.2 Những định hướng nghiên cứu sắp đến 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

PHỤ LỤC 88

PHỤ LỤC 1: VẼ GHI 17 NHÀ THỜ TỘC HỌ 88

1 Nhà thờ tộc Phan (Chính) 88

2 Nhà thờ tộc Nguyễn (Chính) 90

3 Nhà thờ tộc Ngô (Chính) 92

4 Nhà thờ tộc Thái (Chính) 94

5 Nhà thờ tộc Lương 96

6 Nhà thờ tộc Đoàn 98

7 Nhà thờ tộc Phạm Đình 100

8 Nhà thờ tộc Lê Đình 102

9 Nhà thờ tộc Phan phái Nhì 104

10 Nhà thờ tộc Trần Ngọc 106

11 Nhà thờ tộc Lương Văn 108

12 Nhà thờ tộc Trần phái 7 110

13 Nhà thờ tộc Thái phái 3 112

14 Nhà thờ tộc Phạm Văn 114

15 Nhà thờ tộc Phạm Đào 116

16 Nhà thờ tộc Võ Tấn 118

17 Nhà thờ tộc Huỳnh Văn 120

PHỤ LỤC 2: ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC 121

1 Bảng Câu hỏi Điều tra Xã hội học 121

2 Bảng tổng hợp kết quả điều tra XHH 125

DUT.LRCC

Trang 9

HÌNH ẢNH

Hình 1: Bảng đồ Thế giới 1

Hình 2: Bảng đồ trục đường xây dựng nhà thờ Tộc họ tại Làng Bảo An 3

Hình 3: Hình ảnh Một buổi lễ cúng tại Nhà thờ Tộc Phan - Bảo An, 2018 8

Hình 4: Nhà thờ Tộc Phan – Bảo An - Đình làng Bảo An 9

Hình 5: Cách bài trí, xếp đặt bàn thờ gia tiên 11

Hình 6: Lễ giỗ tổ Hùng Vương – được xem là Quốc tổ 12

Hình 7: Nhà thờ tộc họ tại Inđonexia 13

Hình 8: Trung Hiếu đường do hậu duệ nhà Lý xây dựng tại Bong-hwa (Hàn Quốc) 13

Hình 9: Đại hội đại biểu Họ Phan tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018 17

Hình 10: Lễ hội Thanh minh, nghi lễ rước bài vị và cúng bái thủy tổ tộc 18

Hình 11: Tường rào Nhà thờ Tộc Ngô, Bảo An – Tộc Nguyễn Đức, Kỳ Lam, 2019 20

Hình 12: Cổng tam quan Nhà thờ Tộc Trần Ngọc, Bảo An - Tộc Mai Quý, Kỳ Lam 20

Hình 13: Cổng tam quan Nhà thờ Tộc Phan (cũ –trước năm 2013) và (mới - năm 2014) 21

Hình 14: Bình phong Nhà thờ Tộc Huỳnh – Tộc Phan, Bảo An 21

Hình 15: Bình phong Nhà thờ Tộc Lương- Tộc Trần Ngọc, Bảo An 21

Hình 16: Bình phong biến thể độc đáo minh đường tụ thủy của Nhà thờ Tộc 22

Hình 17: Khuôn viên Nhà thờ Tộc Nguyễn Đức - Tộc Đoàn, Bảo An 22

Hình 18: Khuôn viên Nhà thờ Tộc Nguyễn Đức và Nhà thờ Tộc Phan (Chính) 23

Hình 19: Mô hình kiến trúc nhà thờ 3 gian 23

Hình 20: Mô hình kiến trúc nhà thờ 5 gian 24

Hình 21: Chi tiết hoa văn nhà thờ tộc (tàu đao, con nghê) 25

Hình 22: Chi tiết hoa văn nhà thờ tộc (mặt nguyệt, con kìm nóc) 25

Hình 23: Chi tiết hoa văn nhà thờ tộc (hổ phù) 25

Hình 24: Kết cấu kiến trúc gỗ nhà thờ tộc 26

Hình 25: Mô hình thế đất phong thủy 28

Hình 26: Nhà thờ Tộc Huỳnh – Tộc Đặng, Bảo An 29

Hình 27: Một số chi tiết kiến trúc trang trí bên ngoài nhà thờ tộc 30

Hình 28: Một số chi tiết trang trí và vật dụng bên trong nhà thờ tộc 30

Hình 29: Nhà thờ Tộc Phan (Chính), Bảo An 32

Hình 30: An Nam đại quốc họa đồ và Đại nam nhất thống toàn đồ 33

Hình 31: Bản đồ hành chính Huyện Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam 34

Hình 32: Bản đồ vùng đất Gò Nổi (Điện Quang - Điện trung - Điện phong) 36

Hình 33: Đình Làng Bảo An 37

Hình 34: Vị trí 17 Nhà thờ tộc họ trên địa bàn Xã Điện Quang 39

Hình 35: Vị trí các nhà thờ tại Điện Quang (Theo thứ tự tại Hình 34) 41

Hình 37: Hình ảnh hiện trạng Nhà thờ Tộc Phan (Chính) 44

Hình 38: Hình ảnh hiện trạng Nhà thờ Tộc Nguyễn (Chính) 45

Hình 39: Hình ảnh hiện trạng Nhà thờ Tộc Ngô (Chính) 46

Hình 40: Hình ảnh hiện trạng Nhà thờ Tộc Thái (Chính) 47

Hình 41: Hình ảnh hiện trạng Nhà thờ Tộc Lương (Chính) 48

DUT.LRCC

Trang 10

Hình 42: Hình ảnh hiện trạng Nhà thờ Tộc Đoàn 49

Hình 43: Hình ảnh hiện trạng Nhà thờ Tộc Phạm Đình 50

Hình 44: Hình ảnh hiện trạng Nhà thờ Tộc Lê Đình 51

Hình 45: Hình ảnh hiện trạng Nhà thờ Tộc Phan (Phái nhì) 52

Hình 46: Hình ảnh hiện trạng Nhà thờ Tộc Trần Ngọc 53

Hình 47: Hình ảnh hiện trạng Nhà thờ Tộc Lương Văn 54

Hình 48: Hình ảnh hiện trạng Nhà thờ Tộc Trần (Phái 7) 55

Hình 49: Hình ảnh hiện trạng Nhà thờ Tộc Thái (Phái 3) 56

Hình 50: Hình ảnh hiện trạng Nhà thờ Tộc Phạm Văn 57

Hình 51: Hình ảnh hiện trạng Nhà thờ Tộc Phạm Đào 57

Hình 52: Hình ảnh hiện trạng Nhà thờ Tộc Võ Tấn 58

Hình 53: Hình ảnh hiện trạng Nhà thờ Tộc Huỳnh Văn 59

Hình 54: Sơ đồ kết nối các không gian của xã Điện Quang 64

Hình 55: Nghiên cứu và đề xuất mô hình phát triển theo hướng bền vững 65

Hình 56: Khung phát triển đề xuất cho đô thị Điện Quang trong tương lai 66

BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Phân tích độ tuổi trong so sánh nhà thờ 70

Biểu đồ 2: Phân tích giới tính trong so sánh nhà thờ 70

Biểu đồ 3: Phân tích thành phần trong so sánh nhà thờ 71

Biểu đồ 4: Nhận thức về việc tồn tại của nhà thờ tộc (Theo độ tuổi) 71

Biểu đồ 5: Nhận thức về việc tồn tại của nhà thờ tộc (theo nơi ở) 72

Biểu đồ 6: Phân tích đánh giá hình thức kiến trúc (theo độ tuổi) 73

Biểu đồ 7: Phân tích đánh giá hình thức kiến trúc (theo thành phần) 74

Biểu đồ 8: Phân tích đánh giá chi tiết kiến trúc (theo thành phần) 74

Biểu đồ 9: Phân tích đánh giá hoạt động của nhà thờ tộc 75

DUT.LRCC

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thế giới hiện nay có 204 quốc gia và nhiều vùng lãnh thổ với bản sắc văn hóa phong phú và đa dạng, mỗi nền văn hóa có những đặc trưng riêng phản ánh đời sống văn hóa xã hội và giá trị xã hội qua hàng ngàn năm lịch sử Trong đó, việc tiếp biến các giá trị của nền văn hóa khác luôn diễn ra thường xuyên và ảnh hưởng lẫn nhau, kế thừa và phát huy những mặt tích cực; gạn lọc và chọn lựa những giá trị thích ứng với nền văn hóa bản địa để làm giàu thêm bản sắc Tại Đông Nam Á, vùng đất được biết đến có hệ sinh thái phong phú, văn hóa thống nhất nhưng đa dạng, quá trình phát triển của các nền văn hóa tiếp biến các giá trị văn hóa ngoại sinh đến từ các vùng lân cận như Trung Quốc (Anh N T., 2003), Nhật Bản (Hòa, 2006), Ấn Độ và các hệ giá trị văn hóa tư tưởng khác đã hình thành nên các hình thái văn hóa phong phú cần nghiên cứu (Philippe Papin, 1999) Việt Nam chúng ta cũng nằm trong quy luật phát triển đó, văn hóa Việt Nam đa dạng, phản ánh nền văn hóa sinh ra trong quá trình dựng nước và giữ nước, tiếp biến với các nền văn hóa khác lại càng trở nên phong phú và đa dạng hơn bao giờ hết Mỗi nghiên cứu, tìm hiểu các giá trị văn hóa, sẽ góp phần làm rõ thêm các giá trị văn hóa, bản sắc của người Việt Nam (Vượng, Văn hóa Việt Nam – Tìm tòi

và suy ngẫm, 2000)

Qua nhiều nghiên cứu lịch sử, các nhà văn hóa đều nhận định bản sắc văn hóa Việt Nam được tạo ra ở vùng lúa nước sông Hồng cách đây hơn 4000 năm, qua đấu tranh dựng nước và giữ nước, các nền văn hóa ngoại lai vừa có cưỡng bức vừa có đối thoại văn hóa, có thời điểm vừa chống lại, vừa tiếp thu, khi tích cực, khi tiêu cực, nhưng quan trọng nhất là vẫn giữ được cốt cách, giữ được bản sắc văn hóa dân tộc phục vụ cho sự phát triển

H nh 1: Bảng đồ Thế giới với 204 quốc gia (link: khoahoc.tv)

DUT.LRCC

Trang 12

Trên thế giới, mỗi quốc gia luôn xây dựng mục tiêu phát triển của riêng mình

để đáp ứng nhu cầu phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ, xây dựng nền an ninh quốc phòng để bảo vệ các giá trị của quốc gia đó Trong bối cảnh dịch Covid19 đã làm hơn 4,2 triệu người nhiễm bệnh, hơn 284 ngàn người chết (số

không chỉ đơn thuần là phát triển kinh tế mà cần phải tập trung vào các khía cạnh khác như là con người (Hiệp, 2012), mà một trong những yếu tố then chốt là văn hóa Phát triển văn hóa xã hội góp phần làm nâng cao chất lượng cuộc sống, khi nâng cao chất lượng sống sẽ tạo ra sự hài hòa giữa mức sống và chất lượng sống, của phẩm chất và giá trị con người Chính chất lượng cuộc sống sẽ bảo đảm chính trị, văn hóa, đạo đức

để xã hội phát triển ổn định Nếu không, các hệ quả khác như bất ổn về chính trị, về văn hóa hay giảm sút đạo đức làm phá vỡ liên kết phát triển bền vững Trong khoản cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, các hội nghị, diễn đàn thế giới luôn xác định 03 trụ cột quan trọng trong phát triển bền vững là phải phát triển hài hòa, đảm bảo các giá trị về kinh tế, văn hóa và môi trường Trong khi đó, yếu tố Văn hóa đã được Các Mác nêu

“một trong hai sản phẩm do con người lao động, sản xuất là vật chất và tinh thần” và kết quả của sản xuất tinh thần là các sản phẩm tinh thần làm giàu đẹp, phong phú cho đời sống tinh thần của con người (Mác, 1963)

Vì vậy, để làm rõ vai trò của văn hóa trong sự phát triển bền vững, luận văn mong muốn tiếp cận ở góc độ nhỏ của văn hóa, là một trong những sản phẩm văn hóa tinh thần của người dân miền Trung mà cụ thể là phân tích các nhà thờ văn hóa tộc họ của vùng đất Bảo An thuộc Xã Điện Quang, Huyện Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam Từ những nghiên cứu trong luận văn, tác giả mong muốn phân tích các giá trị, hệ giá trị được khẳng định và lưu truyền trong đời sống văn hóa tinh thần, góp phần tạo nên sự phát triển bền vững của cộng đồng, của dân tộc Việt Nam chúng ta Đồng thời, luận văn cũng mong muốn đề xuất các giải pháp phù hợp trong thời gian đến để xử lý đúng mối quan hệ giữa văn hóa với kinh tế, kinh tế với văn hóa của khu vực mà cụ thể là Huyện Điện Bàn, hay rộng hơn là Tỉnh Quảng Nam để xem đây là một trong những động lực quan trọng cho sự phát triển bền vững

Với những phân tích trên, lòng tôn kính, thờ phụng tổ tiên, chết cũng như còn,

là đặc sắc của dòng họ là giá trị văn hóa được định hình từ lâu (An, 2012) Chính các giá trị văn hóa đó được phát huy và bền vững qua nhiều giai đoạn của đất nước, là yếu

tố đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam Đến nay, văn hóa tín ngưỡng vẫn tiếp tục tham gia vào đời sống văn hóa xã hội của người Việt Việc nghiên cứu một cách thấu đáo, khoa học sẽ góp phần phát huy các giá trị văn hóa của nhà thờ tộc, định hướng phát triển phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của địa phương, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam

Hiện nay, trên địa bàn Tỉnh Quảng Nam, các nhà thờ tộc Làng Bảo An là một

1

link: https://www.worldometers.info/coronavirus/ ngày 11/5/2020

DUT.LRCC

Trang 13

thể loại công trình tín ngưỡng có giá trị đặc sắc, đặc trưng cho tập tục văn hóa truyền thống và kiến trúc truyền thống từ lâu đời của người dân địa phương; các công trình này đã được xây dựng và quy hoạch nằm hoàn toàn trên trục đường DT601B của Làng Bảo An, mỗi công trình mang những nét kiến trúc đặc trưng, biểu hiện cho nét truyền thống văn hóa của mỗi họ tộc riêng biệt;

H nh 2: Bảng đồ trục đường xây dựng nhà thờ Tộc họ tại Làng Bảo An 2

2 Mục tiêu nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu các tài liệu liên quan đến nhà thờ tộc họ và văn hóa Việt Nam luận văn thực hiện nghiên cứu trên hai mục tiêu chính:

Một là, các công trình nhà thờ tộc họ, Từ đường trên địa bàn xã Điện Quang, từ

đó khảo sát phân loại và lập hồ sơ kiến trúc các công trình nhà thờ tộc Làng Bảo An Đồng thời đưa ra những nhận định, cũng như nhận diện các giá trị văn hóa kiến trúc đặc trưng trên công trình nhà thờ tộc

Hai là, thông qua nghiên cứu xã hội học, luận văn phân tích các quan điểm và

định hướng của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, người dân có liên quan về quá trình phát triển, nhu cầu bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của di tích Đặc biệt là chỉ ra các đặc điểm và quá trình biến đổi hình thức kiến trúc và công năng nhà thờ tộc

2 Bản đồ được UBND xã vẽ lại theo bản đồ vẽ tay năm 1934

DUT.LRCC

Trang 14

họ qua các thời kỳ

Từ việc nghiên cứu hai mục tiêu trên, luận văn phân tích các điều kiện kinh tế chính trị, xã hội của địa phương để đề xuất các hướng bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa kiến trúc truyền thống Làng Bảo An thông qua việc xây dựng mới các công trình nhà thờ tộc; cũng như đề xuất các đóng góp cho phát triển nhà thờ tộc ở tỉnh Quảng Nam nói chung và ở Việt Nam nói riêng

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Khảo sát và vẽ ghi

Lập sơ đồ tổng thể các nhà thờ tộc họ trên phạm vi Làng Bảo An, Xã Điện Quang, Huyện Điện Bàn để đánh giá những đặc trưng của vùng đất và phong cách xây dựng nhà thờ tộc họ

Lập sơ đồ kiến trúc mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt, tổng thể các nhà thờ tộc họ trên địa bàn, phân tích các đặc điểm kiến trúc Qua đó, cung cấp các dữ liệu để lưu trữ

và phục vụ nghiên cứu trong tương lai cũng như góp phần bảo tồn, trùng tu các giá trị văn hóa của nhà thờ

Cung cấp thông tin, dữ liệu một cách hệ thống các nhà thờ tộc họ để phân tích

3.2 Nghiên cứu tài liệu, thư tịch liên quan đến nhà thờ họ

Nghiên cứu các thư tịch, hương ước của các tộc họ được các nhà thờ lưu trữ Nghiên cứu các ý kiến của những người được giao trọng trách giữ nhà thờ tộc

họ mình từ đó tìm thấy các đặc điểm riêng biệt, đặc trưng của từng nhà thờ

3.3 Điều tra Xã hội học

Điều tra bằng bảng câu hỏi và phỏng vấn chuyên gia, người dân địa phương để đưa ra các nhận định chung về xu hướng phát triển văn hóa tộc họ và xây dựng, duy

tu, bảo trì nhà thờ tộc họ theo hướng giữ gìn bản sắc văn hóa, phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc

3.4 Tổng hợp và phân tích dữ liệu để đề xuất các kiến nghị và hướng nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu các mô hình nhà thờ khác để so sánh và đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống của nhà thờ tộc họ trong thời gian đến

4 Phạm vi nghiên cứu

Thời gian: Luận văn xác định khung thời gian (niên đại) của từng nhà thờ, cụ

thể trong giai đoạn từ 1945 đến nay mà đặc biệt là giai đoạn từ sau năm 1990

Không gian: Làng Bảo An, Xã Điện Quang, Huyện Điện Bàn, Quảng Nam Đối tượng nghiên cứu: Nhà thờ tộc họ

5 Cấu trúc Luận văn

Luận văn được xây dựng trên 3 phần chính gồm 85 trang:

DUT.LRCC

Trang 15

Phần 1: Giới thiệu lý do, mục tiêu nghiên cứu đề tài

Phần 2: Nội dung nghiên cứu

Chương 1: Tổng quan Văn hóa tộc họ Việt Nam

Luận văn giới thiệu văn hóa Việt Nam hình thành văn hóa tộc họ và các đặc trưng của văn hóa Việt Từ đó hình thành các văn hóa như tụ thờ cúng ông bà tổ tiên với bản sắc riêng biệt Trong chương này, các đặc điểm và văn hóa tộc họ ở Việt Nam chỉ ra xu hướng phát triển và ảnh hưởng của văn hóa nhà thờ tộc trong đời sống xã hội Việt Nam

Chương 2: Tổng quan về nhà thờ tộc tại Việt Nam

Trong chương hai, qua nghiên cứu các nhà thờ, dòng tộc ở Việt Nam, Luận văn giới thiệu các dòng tộc và mối quan hệ xã hội tộc họ; việc hình thành các nhà thờ tộc

họ và giá trị kiến trúc, tinh thần của nhà thờ tộc họ tham gia vào đời sống của người Việt Qua đó đánh giá và tổng hợp các đặc điểm của kiến trúc nhà thờ tộc qua các chi tiết cụ thể, làm cơ sở để đánh giá các nhà thờ tộc họ ở Bảo An, Điện Quang, Điện Bàn, Quảng Nam

Chương 3: Nhà thờ tộc tại làng Bảo An

Bằng phương pháp vẽ ghi, khảo sát và điền dã, luận văn giới thiệu phong cách

và chi tiết kiến trúc của 17 nhà thờ trên địa bàn trên cơ sở lịch sử và văn hóa hình thành vùng đất Từ đó chỉ ra các giá trị hiện hữu mà nhà thờ tộc họ mang lại Đồng thời, luận văn cũng nghiên cứu các xu hướng phát triển đô thị, nông thôn bền vững để đưa ra các hướng phát triển nhà thờ tộc họ trong tương lai

Chương 4: Phát huy giá trị công trình nhà thờ tộc

Bằng phương pháp điều tra xã hội học, kết hợp với nội dung nghiên cứu chương 3, luận văn chỉ ra những nhận định của xã hội trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống của nhà thờ tộc trong giai đoạn hiện nay và đề xuất hướng bảo tồn, phát huy, tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương theo hướng bền vững trong thời gian đến

Phần 3: Kết luận và các kiến nghị

DUT.LRCC

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA TỘC HỌ VIỆT NAM

1 Đặc trưng văn hóa Việt

Văn hóa Việt Nam gắn liền với quan niệm đề cao sự “lưu truyền tôn thống”,

trong đó chịu sự ảnh hưởng rất lớn bởi các nền văn hóa, tư tưởng của Khổng giáo, Phật giáo và Đạo thờ ông bà của người Việt Trong suốt 4000 năm dựng nước và giữ nước, đất nước ta trải qua biết bao triều đại phong kiến, trong đó phải kể đến 1000 năm chịu

sự đô hộ của Trung Quốc, 100 năm của Phương Tây, nhưng Văn hóa Việt Nam vẫn giữ vững những đặc trưng phổ biến của văn hóa nói chung và tạo dựng nên nét bản sắc riêng biệt, đặc thù (Ngọc, 1994)

Những đặc trưng này phản ánh những giá trị được đúc kết trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của nhân dân dưới sự ảnh hưởng của điều kiện địa lý tự nhiên, điều kiện lịch sử, điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội riêng có của Việt Nam Chính vì lẽ đó, Văn hóa Việt Nam là bức tranh tổng thể phong phú, nhiều màu sắc phản ánh 05 đặc trưng văn hóa Việt Nam, thể hiện rõ ở 24 phẩm chất tốt cơ bản được Tác giả Trần Ngọc Thêm (Thêm, Một số vấn đề về hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn hiện tại, 2015) nghiên cứu như sau:

Trang 17

1.3 Tính ưa hài hòa

Có bốn phẩm chất của tính ƣa hài hòa là:

Những biểu hiện tốt của tính kết hợp đƣợc thể hiện ở hai khả năng:

- (1) Khả năng bao quát tốt;

- (2) Khả năng quan hệ tốt

Mặt trái của tính kết hợp này cũng tạo ra những hậu quả xấu nhƣ: Thói hời hợt, thiếu sâu sắc; Bệnh sống bằng quan hệ

1.5 Tính linh hoạt

Biểu hiện của tính linh hoạt đƣợc thể hiện ở 2 phẩm chất tốt:

- (1) Khả năng thích nghi cao;

DUT.LRCC

Trang 18

Trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội, các đặc trưng văn hóa đó không phải là phạm trù bất biến, mà nó luôn vận động, thay đổi và phát triển Nhất là trong thời đại toàn cầu hóa, nhiều giá trị văn hóa ngoại lai được tiếp biến vào Việt Nam tạo ra những xung đột nhất định về văn hóa, mà trong đó phải kể đến sự xung đột về hệ giá trị giữa văn hóa nông nghiệp – nông thôn truyền thống với văn hóa công nghiệp – đô thị hiện đại

2 Văn hóa Việt với tục thờ cúng ông bà tổ tiên

Trong các hình thái tín ngưỡng dân gian, thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng cổ truyền mang tính phổ quát của người Việt Nam Là người Việt Nam thì

"mọi người đều thờ cúng tổ tiên, mọi người đều thờ ông bà” (Nga, 2020) Thờ cúng tổ tiên đã trở thành thành tố tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam với ý thức “chim có tổ, người có tông” và những kết tinh này tiếp tục được nhân dân trân trọng, thừa nhận, tạo

nên những giá trị đạo đức quý báu của con người Việt Nam

H nh 3: Hình ảnh Một buổi lễ cúng tại Nhà thờ Tộc Phan - Bảo An, 2018 (Ảnh tác giả)

2.1 Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Trong quá trình phát triển, người Việt cũng có các phổ quát văn hóa như các dân tộc khác trên thế giới, trong nhận thức của người Việt, mọi vật chung quanh đều

có linh hồn và cùng tham gia vào cuộc sống với con người Vì vậy mà các đối tượng,

sự vật trong thiên nhiên được người Việt nhân hóa thành các thần tự nhiên chi phối và ảnh hưởng đến đời sống thường ngày của họ Chính từ nhận thức về các vị thần đó, người Việt nhận thức trong con người có hai phần, phần thể xác là cõi tạm, phần hồn

là tồn tại vĩnh viễn ở một thể trạng gắn bó với họ hàng, thân tộc (Vượng, Cơ sở Văn hóa Việt Nam, 1998)

Trong tác phẩm tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, 2005), những tập quán văn hóa trong tang chay dành cho người đã khuất như một hình thức đưa tiễn người thân về với thế giới bên kia Nơi mà người còn sống mường tượng trong nhận thức của mình cần phải đi một chặng đường dài để đến đó Và mỗi dịp lễ tết, kỵ thì người thân sẽ quay về để dự cơm, phù hộ cho con cháu Và đó chính là quan niệm dân gian của người Việt, khi chết đi là được sống ở

DUT.LRCC

Trang 19

một thế giới khác, thế giới vĩnh hằng và không có thời gian

Với quan niệm người đã khuất vẫn tồn tại ở một thế giới khác, vẫn có những nhu cầu vật chất, tinh thần như những gì con người đang sống mong muốn Sợi dây huyết thống và quá trình gắn bó với nhiều kỷ niệm đã giúp con cháu tự nhận thức trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với ông bà, cha mẹ mình và xa hơn nữa là ông bà tổ tiên – những người mình không thể hoặc chưa từng gặp, gắn bó Nhận thức về nghĩa

vụ và trách nhiệm, niềm tin của con cháu được củng cố thêm ở việc: ông bà tổ tiên qua việc thờ tự của con cháu mà ghi nhận lòng thành, phù hộ, độ trì cho con cháu

luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong cuộc sống Những yếu tố nghĩa vụ và quyền lợi luôn tồn tại song song và trở thành cơ sở hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, 2005)

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hình thành với những phân tích trên, nhưng phải nhờ những điều kiện khác trong đời sống của người Việt để trở thành tập tục phổ biến Đó là nền văn hóa nông nghiệp trọng tĩnh (Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, 2005) đã xây dựng nên làng xã Việt Nam là một đơn vị độc lập, gắn bó lâu dài qua nhiều thế hệ mà ở đó, mỗi gia đình là một tế bào gắn kết chặt chẽ Vì vậy

mà gia đình nào cũng có bàn thờ thờ cúng tổ tiên, tưởng nhớ các bậc sinh thành, các vị

tổ tiên của gia đình Bên cạnh đó, các gia đình khác trong làng xã cũng gắn bó, quần

cư lâu dài với nhau đã xây dựng nên sợi dây liên kết chặt chẽ, bền vững trở thành gia đình lớn, tức là dòng họ - đơn vị huyết thống Và chính làng xã, văn hóa, kinh tế, xã hội đã trở thành các yếu tố quan trọng để phát triển tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

`

H nh 4: Nhà thờ Tộc Phan – Bảo An (Ảnh tác giả) - Đình làng Bảo An (Ảnh:Hoàng Sơn)

Như vậy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ra đời và duy trì trong những điều kiện lịch sử - xã hội nhất định Và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở người Việt đã hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở quan niệm tâm linh và một nền tảng kinh tế xã hội tư tưởng khá bền vững liên kết với nhau bằng sợi dây huyết thống và cùng chung một vị thủy tổ, được bảo tồn qua suốt tiến trình lịch sử nhiều biến động

2.2 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Văn hóa Việt Nam đề cao đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, một mặt con cháu

DUT.LRCC

Trang 20

bày tỏ lòng biết ơn đối với các bậc sinh thành, lúc họ đã chết cũng như khi còn sống chính là sự thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ lâu dài đối với tổ tiên Tục thờ cúng tổ tiên cũng là một hình thức thể hiện mong muốn của mình, để con cháu qua đó học tập, noi gương thực hiện trong tương lai Người Việt luôn có các khái niệm gắn liền với đời

sống tâm linh như mong được nhận “phúc ấm của tổ tiên”, hay quan niệm về “phúc đức tại mẫu”, và quan niệm về mối quan hệ nhân quả “đời cha ăn mặn đời con khát nước” Vì vậy mà thờ cúng tổ tiên còn là hình thái tín ngưỡng có ý nghĩa lớn về mặt tổ

chức cộng đồng trong xã hội truyền thống

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên gắn liền với thực tiễn đời sống của người Việt, gần gũi và bình dị trong đời sống hằng ngày với những phong tục nếp sống thường nhật đã trở thành nếp, thói quen… chứ không cầu kỳ hay cực đoan như một số tôn giáo Chính việc thờ cúng tổ tiên cũng góp phần giáo dục quan niệm của người Việt trong tư tưởng

về duy trì nòi giống, lưu truyền tôn thống để nối dõi tông đường Và mỗi hoạt động thờ cúng mang lại ý nghĩa về mặt tâm linh, nhắc nhở mọi người về người đã khuất và tưởng nhớ đến họ Tế tự tổ tiên cũng là dịp để con cháu cầu mong trong lời tế những mong muốn tốt đẹp cho bản thân, gia đình được hạnh phúc, bình an Những việc làm

đó mang lại hiệu quả về sự thanh thản, trong tâm ý và cuộc sống Và những tôn giáo khác khi được tiếp biến vào xã hội Việt Nam đã buộc phải dung hòa với tín ngưỡng bản địa của người Việt Có thể nói, thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng dân gian của dân tộc

có nguồn gốc từ xa xưa và mang đạo lý nhân ái uống nước nhớ nguồn và được các hệ

tư tưởng tôn giáo khác bổ sung hoàn chỉnh để thể chế hóa thành một thứ đạo: Đạo tổ tiên - Đạo Ông Bà

2.3 Nghi thức thờ cúng tổ tiên

Trong tâm thức của người Việt, tổ tiên là những người có cùng huyết thống, là ông bà – cha mẹ của ông bà – cha mẹ mình và trực tiếp sinh ra mình Những việc ông

bà tổ tiên đã làm, đều góp phần cho sự tồn tại của mình được đến ngày hôm nay “phúc

ấm tổ tiên” Vì vậy mà nghi thức thờ cúng tổ tiên cúng được xếp đặt trang trọng, phù hợp với hoàn cảnh, kinh tế của từng gia đình

Các nghi thức thờ cúng được xem như thời khắc để giao tiếp giữa hai không gian ÂM - DƯƠNG, từ mối liên hệ này, con cháu có thể thưa gửi tình hình của gia đình, gửi gắm những vật chất để ông bà, tổ tiên được hưởng đồng thời cũng cầu xin ông bà phù hộ Các nghi thức này đã trở thành đạo lý, người Việt thông qua các nghi lễ

ít nhiều có tính chất huyền bí để thể hiện đạo lý biết ơn, tôn trọng tổ tiên, tri ân các bậc tiền hiền và các nghi lễ cũng được thực hiện theo tâm thức dân gian, chịu ảnh hưởng của địa phương, gia đình nên không hoàn toàn thống nhất ở các địa phương Qua các nghi lễ, người Việt cũng mong muốn truyền tải thông điệp và lan tỏa ý thức đến con

cháu về đạo lý “Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn, nước có nguồn mới bể rộng sông

DUT.LRCC

Trang 21

sâu" phát triển thành các giá trị của sự hiếu thảo là giá trị đạo đức quý báu trong tín

ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam

2.4 Thờ cúng tổ tiên trong gia đình và gia tộc

Đối với người Việt, gian thờ cúng tổ tiên luôn được xếp đặt ở vị trí trang trọng

bài trí bàn thờ gia tiên thường không giống nhau vì phụ thuộc vào quan niệm tâm linh

và điều kiện kinh tế của gia chủ

H nh 5: Cách bài trí, xếp đặt bàn thờ gia tiên (Ảnh sưu tầm)

Bên cạnh đó, với trách nhiệm thờ phụng nhiều đời: cao, tằng, tổ, khảo… bàn thờ các gia đình chi trưởng, ngành trưởng có đặt các tấm thần chủ được làm bằng gỗ táo (với ý nghĩa cây táo sống nghìn năm) ghi rõ tên tuổi các vị tổ Việc thờ cúng tổ tiên tại gia đình thường được tiến hành quanh năm, xuất phát từ quan niệm dù đã khuất nhưng linh hồn họ vẫn luôn ở bên cạnh con cháu Không chỉ cúng lễ trong các dịp quan trọng như tang ma, giỗ chạp, cưới xin…, không chỉ trong những ngày lễ tiết như Tết nguyên đán, Thanh minh, Hàn thực, Đoan ngọ…, các ngày Sóc(ngày mồng một), Vọng (ngày rằm) theo chu kỳ tuần trăng, mà các vị tổ tiên còn được con cháu kính cáo mọi chuyện vui buồn: sinh nở, ốm đau, thi cử, đỗ đạt, kiện cáo, bất hòa, dựng vợ gả chồng… Con cháu còn kính mời các vị về hưởng thụ hoa trái đầu mùa, lễ tạ tổ tiên khi

có phúc, có lộc Có thể nói trong tâm thức những người sống tổ tiên là bất tử Người Việt dâng hương, làm lễ cúng tổ tiên để báo cáo và để cầu tổ tiên phù hộ, hay để tạ ơn khi công việc thành công Bản chất việc thờ cúng tổ tiên của người Việt là từ niềm tin người sống cũng như người chết đều có sự liên hệ mật thiết và hỗ trợ nhau Con cháu thì thăm hỏi, khấn cáo tiền nhân Tổ tiên thì che chở, dẫn dắt hậu thế nên việc cúng giỗ

là thực hiện mối giao lưu giữa cõi dương và cõi âm Đồ lễ trên bàn thờ cũng không quy định chặt chẽ mà tùy tâm, nhưng điều cơ bản phải là những thứ thanh khiết và được dành riêng Sau nghi thức cúng giỗ, gia đình người thân, bạn bè được mời để dọn

ăn những thức ăn vừa được cúng xong như hưởng lộc của ông bà tổ tiên

Đối với gia tộc, việc thờ cúng cũng có những quy định chặt chẽ riêng và được ghi chép, lưu truyền sang nhiều đời Dòng họ nào có tính tổ chức cao thì các hoạt động cúng bái, nghi lễ cũng được ghi chép bài bản, đầy đủ

3 Ở Hàn Quốc người ta chỉ lập bàn thờ và dán bài khi có việc cúng giỗ, ở Nhật Bản, vị trí trang trọng nhất trong nhà dành thờ Thần đạo (Shinto) còn ban thờ tổ tiên lại lập ở gian phụ

DUT.LRCC

Trang 22

2.5 Lễ giỗ tổ Hùng vương

Với ý nghĩa của đạo lý uống nước nhớ nguồn, người Việt xây dựng nghi thức tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở 03 cấp bậc: cúng giỗ tại gia đình, tại làng xóm và của quốc gia Trong nghi thức cúng giỗ, tế lễ, ngoài những người có cùng huyết thống, người Việt vẫn luôn quan tâm đến những người có công với đất nước, với dòng họ và

cả những người đồng bào, đồng ấu với mình (Thìn, 2007) Nhờ vậy và nghi thức tín ngưỡng thờ tự thành hoàng làng, giỗ tổ Hùng Vương luôn được người Việt xem trọng:

là sự tưởng nhớ về nguồn cội, tổ tiên, là ý thức dân tộc đoàn kết mà xa hơn là xem cả dân tộc dưới một mái nhà chung là tổ quốc Việt Nam

H nh 6: Lễ giỗ tổ Hùng Vương – được xem là Quốc tổ (Ảnh sưu tầm)

Giỗ tổ Hùng Vương hằng năm đã trở thành ngày Quốc tổ, nơi con cháu khắp mọi miền đất nước hướng về đất Tổ Chính triết lý nguồn cội trên phạm vi quốc gia đã góp một phần củng cố về mặt lý luận cho sự liên kết các quan hệ máu mủ thân tộc Và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam từ gia đình, dòng họ đến Tổ quốc đã liên tục được giữ gìn Nhờ vậy, các giá trị đạo đức truyền thống như lòng hiếu thảo, lòng nhân ái, tính cộng đồng, tính cần cù, sáng tạo, lòng hiếu học, lòng yêu nước luôn được nuôi dưỡng và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cũng tồn tại, gắn liền với sự phát triển của dân tộc

3 Văn hóa tộc họ ở Việt Nam

Thực tế lịch sử đã chỉ rõ tầm quan trọng của vấn đề tộc người đối với mỗi quốc gia dân tộc và tác động của mối quan hệ tộc người trong sự phát triển chung của cả dân tộc (Hương, 2020) Việt Nam là quốc gia với 54 dân tộc anh em được chia theo các nhóm ngôn ngữ khác nhau (Vạn, 2003) Và yếu tố văn hóa là dấu hiệu để nhận diện các dân tộc bởi văn hóa có vai trò trong sự hình thành và phát triển các cộng đồng dân tộc, tập hợp những phương thức hoạt động riêng biệt với những kết quả cụ thể của một cá nhân cũng như của cả một cộng đồng tộc người

Trường hợp tại Indonexia, kiểu nhà sàn giống hệt với hình vẽ trên trống đồng Đông Sơn là của tộc người Toraja sống trên đảo Sulawesi của Indonesia Theo truyền thuyết, tổ tiên người Toraja đến đảo Sulawesi từ miền Bắc bằng thuyền gỗ Do gặp bão lớn, họ dừng chân ở vùng đất này và lấy con thuyền làm mái nhà trú ẩn: phần thân nhà được dựng trên các cột gỗ giống như nhà sàn của dân tộc thiểu số Việt Nam Đó là nguồn gốc của những ngôi nhà tongkonan Và tại nơi đây diễn ra các nghi lễ, hội họp

DUT.LRCC

Trang 23

của người trong họ Như vậy, truyền thống xây dựng các nhà thờ tộc họ không chỉ có ở Việt Nam và có những mối liên hệ với nhau

H nh 7: Nhà thờ tộc họ tại Inđonexia (Ảnh sưu tầm)

Trường hợp dòng Họ Lý (hậu duệ của họ Lý có nguồn gốc từ Việt Nam) tại Bắc

Triều Tiên và Hàn Quốc, theo gia phả Lý Hoa sơn cho biết trên đất Cao Ly, dòng dõi

họ Lý lại chia làm hai nhánh rẽ Một số hậu duệ của Lý Long Tường từ Hoa Sơn đã di

cư xuống miền Nam (tức Hàn Quốc ngày nay), lập nghiệp tại vùng An-dong và hwa (gần thành phố lớn Daegu) Qua nhiều đời, đến khi xảy ra cuộc chiến Triều Tiên thập niên 1950, cũng như nhiều người Triều Tiên, con cháu dòng họ Lý lại thêm một lần chia ly sống ở hai miền Triều Tiên Hiện nay dòng họ Lý Long Tường ở Hoa Sơn ngày xưa còn khoảng 1.500 hộ ở CHDCND Triều Tiên, còn ở Hàn Quốc thì trên 600 người Hằng năm vào dịp Tết Nguyên đán, các hậu duệ họ Lý lại về Hoa Sơn dự lễ tế

Bong-tổ, gióng lên chín tiếng trống tượng trưng cho chín đời vua triều Lý để mọi người tưởng nhớ quê hương Đây cũng là một trong những trường hợp điển hình cho nhiều nhà thờ tộc họ hiện nay được người Việt xa quê (ở nước ngoài) xây dựng nội mình sinh sống như một cách hướng về tổ tiên, dòng tộc

H nh 8: Trung Hiếu đường do hậu duệ Nhà Lý xây dựng tại Bong-hwa (Hàn Quốc) 4

4 Trung Hiếu đường do hậu duệ Nhà Lý Long Tường xây theo kiểu kiến trúc mái đình Đại Việt tại Bong-hwa (Hàn Quốc) - Ảnh chụp lại từ “Hoa Sơn Lý thị tộc phổ”

DUT.LRCC

Trang 24

Văn hóa tộc họ, xét ở phạm vị nhỏ hơn, gắn với điều kiện địa lý và mối quan hệ ràng buộc huyết thống Nhờ văn hóa tộc họ, các giá trị văn hoá đã được gìn giữ một cách tự nhiên và tự nguyện của cộng đồng: đó là phong tục tập quán, là tín ngưỡng, là

lễ hội và văn nghệ dân gian; là môi trường tự nhiên và xã hội buổi đầu trên chính địa bàn sinh tụ của tộc người; ý thức, tình cảm cội nguồn của những tộc người có cùng một tổ tiên từ cái bắt đầu trong những huyền thoại đã phát triển nâng dần lên thành nhân tố cơ bản để cố kết các tộc người bằng ý thức huyết thống, tạo nên sức mạnh của tinh thần đoàn kết dân tộc với hạt nhân là lòng yêu nước thương nòi, giàu tình nghĩa đồng bào Đấy chính là ý nghĩa, là giá trị trường tồn của văn hoá tộc người

Vì “văn hoá Việt do khả năng thâu nhận cao nên cũng có độ lan tỏa và ảnh hưởng đối với văn hoá tộc người khác trong phạm vi quốc gia Việt Nam” Chính các giá trị văn hóa của từng tộc họ góp phần làm cho văn hoá không bị đứt mạch Như vậy, văn hoá tộc người giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc khẳng định bản sắc văn hoá dân tộc Một nền văn hoá bao giờ cũng hàm chứa nhiều yếu tố, trong đó yếu tố văn hoá tộc người là một trong những yếu tố quan trọng của nền văn hoá có nhiều thành phần tộc người như nền văn hoá Việt Nam Đó là nền văn hoá có cội nguồn và bản sắc riêng của

ba phức thể văn hoá lúa nước với ba yếu tố: văn hoá rừng núi, văn hoá đồng bằng, văn hoá biển, yếu tố đồng bằng tuy có sau nhưng lại đóng vai trò chủ thể (Dương, 2000) Như vậy, nền văn hoá riêng của mỗi tộc người đã trở thành những thành phần hữu cơ của nền văn hoá Việt Nam qua sự liên kết và điều tiết của chức năng tộc người của văn hoá thông qua sự giao lưu tiếp biến văn hoá giữa các tộc người

4 Ý nghĩa của văn hóa tộc họ

Ở Việt Nam, tính đến thời điểm này, việc nghiên cứu dòng họ đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận (Am, 2014) Nhiều dòng họ đã ghép nối được các chi, nhánh, truy nguyên tới thủy tổ nhiều đời Theo một số định nghĩa của các nhà nghiên cứu, dòng họ là một thiết chế xã hội đặc biệt gắn bó với nhau bởi quan hệ huyết thống do khởi sinh từ một thủy tổ Trong mối quan hệ đồng huyết này, các cá nhân bao gồm cả người đang sống và người đã chết đều mang tộc danh về phía bố Chỉ mang tộc danh về phía bố nên người Việt thường coi trọng họ nội (Bính, 1915) Với các quan hệ đặc thù trong đời sống xã hội, dòng họ người Việt dần hình thành và xác định bản sắc

văn hóa độc đáo, bản sắc văn hóa đó được thể hiện trên 3 phương diện nổi bật: văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội hay còn gọi là văn hóa tổ chức

cộng đồng (Diên, 2002)

Hiện nay, trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội, khoa học công nghệ, đặc biệt

và đô thị hóa và toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng, nhiều giá trị văn hóa phải biến đổi

để thích ứng Tuy nhiên, nhiều từ đường của các dòng tộc trên cả nước vẫn còn lưu giữ được nhiều nhất những giá trị văn hóa của kiến trúc Việt cổ Từ đường người Việt

DUT.LRCC

Trang 25

thường được xây dựng dựa trên nguyên tắc của triết thuyết âm dương ngũ hành- một trong những học thuyết được hình thành ở nền văn hóa Nam Á Hướng của từ đường chủ yếu hướng Nam – hướng cư trú phổ biến của người Việt cổ từ thời văn hóa Hòa Bình Kết cấu từ đường linh hoạt bởi hệ thống cột cái, cột quân nối ghép với hệ thống

kẻ, xà bằng lỗ mộng nên tháo dỡ dễ dàng Kiểu kết cấu này là kết quả của lối tư duy ứng biến, linh hoạt của cư dân nông nghiệp lúa nước cổ truyền Từ đường của nhiều dòng họ còn có bảo vật như đại tự, câu đối, sắc phong, bài vị, tượng thờ, tế khí… nếu được nghiên cứu nghiêm túc sẽ làm sáng tỏ nhiều giá trị văn hóa Một trong những bảo vật được coi là đặc biệt quan trọng của dòng họ là gia phả Ở Việt Nam, cuốn gia phả sớm nhất xuất hiện dưới thời Lý Theo Đại Việt sử ký toàn thư, vào năm 1206 vua Lý Thái Tổ “xuống chiếu làm ngọc điệp (phả hệ nhà vua) Việc làm gia phả phát tích từ từ hoàng tộc, phát triển ở các tầng lớp quan nha và cuối cùng lan rộng đến các họ tộc dân gian (Dụ, 1992)

Một nội dung khác đáng lưu ý là các thế hệ người Việt đều gắng sức giữ gìn sự bình yên và kiến thiết dựng xây để tổ tiên có được “mồ yên, mả đẹp” Vì vậy, khi kinh

tế cho phép, trong thời gian gần đây, phong trào tôn tạo, xây mới mộ tổ của các dòng tộc đã và đang diễn ra rầm rộ trên phạm vi cả nước Làm tất cả những gì có thể để tổ tiên có được “mồ yên, mả đẹp” Trải qua dòng thời gian và ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai, đến nay, người Việt chú trọng chăm chút phần mộ tổ tiên, dòng tộc và thực hiện các nghi lễ cúng bái hằng năm xem như một nghĩa vụ thiêng liêng của con cháu đối với ông bà Đến nay, những nghiên cứu cho thấy tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người VIệt có nguồn gốc bản địa, mang đậm bản sắc văn hóa cư dân nông nghiệp lúa nước cổ truyền

Một trong những giá trị văn hóa của dòng họ người Việt là ý thức tìm về cội nguồn, tổ quán Dù ở đâu và bất cứ khi nào thì ý thức về tổ tiên trước hết là tổ tiên dòng tộc vẫn là một trong những ý thức sâu sắc nhất Hầu hết các dòng họ người Việt đều thờ cúng tổ tiên dòng tộc và ý thức tìm về thủy tổ của các dòng tộc trong việc ghép nối gia phả, tầm nguyên thủy tổ Chính nghiên cứu của Trần Ngọc Thêm chỉ ra yếu tố trọng tình nghĩa của người Việt dẫn đến thái độ trọng đức Do vậy, trong mối quan hệ huyết tộc, ý thức về cội nguồn, gốc gác đã sinh thành ra mình được xem như là tiêu chí đạo đức quan trọng nhất để xem xét nhân cách, đánh giá đạo đức một con người Do bảo lưu một hệ giá trị đạo đức truyền thống đậm chất nhân văn như vậy nên người Việt dù thời nào cũng luôn vọng tưởng về tổ quán để thờ phụng, tri ân với tâm niệm “Người ta có tổ có tông Như cây có cội như sông có nguồn” Người Việt thực hiện tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, trước hết là thờ cúng tổ tiên dòng tộc, không chỉ bằng niềm tin tín ngưỡng mà còn thực hiện bởi đạo lý làm người – một đạo lý mang đậm màu sắc nhân văn của nền văn minh nông nghiệp lúa nước cổ truyền (Anh Đ D., 1938)

DUT.LRCC

Trang 26

Như vậy, chính truyền thống dòng họ người Việt mang đậm chất nhân văn của nền văn minh nông nghiệp lúa nước cổ truyền với ý thức sâu sắc về ngồn cội đã trở thành nguồn sức mạnh tinh thần vô giá Nó làm thức dậy lòng kiêu hãnh tự hào, đốt cháy niềm phấn khích đam mê, tiếp thêm sức mạnh tinh thần để cháu con bứt phá vươn lên trở thành kẻ tài đức song toàn, nối nghiệp tổ tông, sáng danh dòng tộc, vinh hiển quốc gia Sản sinh những tài năng, giáo dục nhân phẩm, cổ vũ tinh thần để góp phần phát triển những biệt tài, định hình nhân cách lớn cho nền văn hiến dân tộc, có thể nói, truyền thống dòng họ đã góp phần tạo dựng và nuôi dưỡng bản sắc văn hóa Việt

5 Kết luận chương 1

Văn hóa Việt Nam với văn hóa cộng đồng làng xã là một trong những phẩm chất nổi trội, lưu giữ qua nhiều thế hệ đã là nhân tố quyết định trong sự cố kết các mối quan hệ làng xã, cộng đồng và dân tộc Trong bối cảnh toàn cầu hóa, văn hóa ngoại lai xâm nhập vào Việt Nam dưới nhiều hình thức đã gây ra những xung đột nhất định, tuy nhiên, với đặc tính của người Việt Nam, bản sắc văn hóa Việt vẫn được gìn giữ và phát huy Trong đó có văn hóa thờ cúng tổ tiên, một trong những nét đặc sắc gắn liền với nền văn hóa lúa nước vẫn luôn được gìn giữ

Các nghi thức tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên xuất phát từ trong nhận thức của người Việt về truyền thống “uống nước nhớ nguồn” xây dựng thành đạo lý và hành xử văn hóa trong đời sống Qua các hành động tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, người Việt mong muốn thế hệ con cháu ý thức được các giá trị truyền thống, củng cố mối quan hệ huyết thống mà rộng hơn là mối quan hệ của các dân tộc đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam cũng như người Việt ở nước ngoài chính mối quan hệ huyết tộc, ý thức về cội nguồn, gốc gác đã sinh thành ra mình được xem như là tiêu chí đạo đức quan trọng nhất để xem xét nhân cách, đánh giá đạo đức một con người Các đặc trưng văn hóa đó vẫn tiếp biến và phát triển để được trân trọng và gìn giữ

DUT.LRCC

Trang 27

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ NHÀ THỜ TỘC TẠI VIỆT NAM

1 Xu hướng phát triển tộc họ trong bối cảnh hiện nay

Ở người Việt, để quản lý dòng tộc, các dòng họ thường tự xây dựng một bộ máy tổ chức riêng Bộ máy tổ chức này được gọi là Hội đồng gia tộc Hiện nay các dòng họ uy danh được gọi là danh gia vọng tộc như Nguyễn, Phạm, Đặng, Đỗ, Trần, Vũ…đang có xu hướng kết nối các chi, nhánh trên toàn quốc để thành lập một Hội đồng gia tộc rất qui mô, bề thế Nhân sự của Hội đồng gia tộc thường bao gồm các vị trưởng tộc, trưởng chi, trưởng ngành… Hiện nay, nhiều dòng tộc còn đề nghị những cá nhân tuy không giữ vị trí trưởng nhưng có tri thức, kỹ năng quản lý hoặc những cá nhân đang nắm giữ những cương vị trọng yếu trong các cơ quan hành chính sự nghiệp nhà nước, những doanh nhân thành đạt…cùng tham gia Hội đồng gia tộc Hội đồng gia tộc có nhiệm vụ tự quản lý tông tộc mình trên các phương diện: tự giải quyết mâu thuẫn để giữ gìn an ninh hòa mục trong nội tộc; đề xuất phương thức xây dựng và phát triển dòng tộc; tổ chức các sinh hoạt phong tục: quan, hôn, tang, tế…của các gia đình thành viên; định hướng và giáo dục nhân cách con cháu hướng tới các giá trị văn hóa vĩnh hằng: chân, thiện mỹ…

H nh 9: Đại hội đại biểu Họ Phan tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018 (ảnh sưu tầm)

Để quản lý dòng tộc, các dòng họ thường có tộc ước Tộc ước là những văn bản truyền miệng hoặc thành văn thường được soạn thảo bởi Hội đồng gia tộc trong đó có nhiều điều khoản quy định rõ ràng về quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của các thành viên trong nội tộc Bản tộc ước này được các thành viên của dòng tộc thông qua và nhất trí tự nguyện thi hành Tự hình thành một bộ máy tổ chức, tự xây dựng một hệ thống “tộc quy” riêng để quản lý dòng họ - đó chính là biểu hiện rất rõ của sự vận hành theo phương thức tự quản của dòng họ

Như vậy, tham gia vào việc quản lý làng xã người Việt, bên cạnh hệ thống luật pháp của nhà nước, hệ thống “lệ làng” của làng xã còn có thêm hệ thống “tộc quy” –

DUT.LRCC

Trang 28

một kiểu “luật pháp” riêng của dòng họ Đối với việc quản lý làng xã, phương thức tự quản bằng “tộc quy” này hiển nhiên có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực

H nh 10: Lễ hội Thanh minh, nghi lễ rước bài vị và cúng bái thủy tổ tộc họ

tại Xã điện quang (ảnh tác giả)

Với phương thức tự quản, dòng họ đã tự giải quyết mâu thuẫn nội tộc theo

phương châm “Một giọt máu đào, hơn ao nước lã” Cách hóa giải mâu thuẫn độc đáo

này khiến dòng họ vừa khơi dậy dược tinh thần đoàn kết nội tộc, duy trì bền vững lối ứng xử tình nghĩa của cư dân nông nghiệp lúa nước cổ truyền, vừa góp phần đảm bảo trị an nơi thôn xóm Việc tự định hướng trong giáo dục và xây dựng nhân cách thành viên nội tộc khiến dòng tộc có đóng góp không thể phủ nhận trong việc đào tạo những

cá nhân vừa có tri thức khoa học, vừa dần hoàn thiện về nhân cách cho xã hội Tuy vận hành tương đối độc lập với hệ thống luật pháp của quốc gia song nhiều khi chính dòng

họ giúp cho việc thực thi pháp luật của nhà nước ở làng xã - nơi mà thói quen hành xử

tập nhiễm bởi “lệ làng”, ít biết đến “phép nước” - đạt hiệu quả rõ rệt

Trong ngày giỗ tổ, bên cạnh những hoạt động tế lễ, các dòng họ Nguyễn, Phan, Phạm, Trần ở Phú Điền, Tân Phú, Đồng Nai còn lồng ghép cả một chương trình phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước nhằm mục đích phát triển kinh tế, đảm bảo trị an, giúp con cháu tránh xa tệ nạn xã hội Nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn của Chính phủ đã ban hành nhưng việc thực thi trong dân chúng lại đạt hiệu quả rất thấp, trong khi đó nếu biết phát huy vai trò tự quản của dòng họ thì sẽ đạt được kết quả bất ngờ Tuy nhiên, phương thức tự quản của dòng họ như trên hiển lộ những

DUT.LRCC

Trang 29

mặt tiêu cực dễ thấy Vì những lý do khác nhau nên nhiều dòng họ ganh đua, phát sinh mâu thuẫn Tuy sống chung trong một làng nhưng gầm ghè nhau, không thể giải tỏa mâu thuẫn nên các dòng họ đó có mối thâm thù, hận huyết truyền đời Mối mâu thuẫn này gây không khí căng thẳng, ngột ngát, phá vỡ an ninh làng xã Phương thức tự quản còn là mảnh đất tốt để tư tưởng phe cánh, cục bộ bắt rễ, xanh mầm nhất là với những

dòng tộc có người nắm giữ địa vị quan chức với tư tưởng “Một người làm quan, cả họ được nhờ” Hay một số người lợi dụng phương thức tự quản, một số dòng họ đã thao

túng quyền lực trong nội tộc

Trong các mối quan hệ này, việc họ tộc bênh cạnh những mặt tích cực vẫn tồn tại, đây đó một số vấn đề hạn chế, nguyên nhân vẫn xuất phát từ tính cách đặc trưng

quyền kết gắn chặt chẽ với truyền thống tự quản của dòng họ đã góp phần tạo lập bản sắc độc đáo của văn hóa Việt

Để lưu giữ, là nơi sinh hoạt dòng tộc, tổ chức các ngày hội lễ, thờ cúng tổ tiên, mỗi dòng tộc đều mong muốn xây dựng nhà thờ tộc họ cho tộc mình; những tộc họ phát triển tùy theo điều kiện địa phương và kinh tế đã xây dựng thêm các nhà thờ chi

họ, phái thuộc họ để có điều kiện tổ chức các hoạt động riêng Như vậy, nhà thờ tộc là một trong những điều kiện để phát huy và bảo tồn văn hóa tộc họ hiện nay

2 Nhà thờ tộc họ tại Việt Nam

Nhà thờ tộc họ, được ví như gian thờ, nhà thờ của một dòng họ mà trong sinh hoạt thường ngày ở gia đình người Việt, gian thờ luôn là nơi trang nghiêm nhất Mỗi dòng họ luôn cố gắng xây dựng không gian thờ cúng tổ tiên cho phù hợp với nguyện vọng và điều kiện kinh tế Mỗi nhà thờ được xây dựng, quy mô kiến trúc, tính bề thế, thống nhất được thể hiện qua sự đoàn kết trong tộc họ, tính tổ chức chặt chẽ, sự phân công phân nhiệm cho từng thành viên và đặt biệt là sự thành đạt về địa vị, kinh tế trong xã hội để đóng góp nguồn lực nhà thờ, chăm sóc hương hỏa thường ngày Với những ý nghĩa trên, nhà thờ tộc họ ở Việt Nam hiện nay được xem là nhà từ đường có kiểu kiến trúc truyền thống và được xây dựng bởi sự góp sức của con cháu trong dòng

họ nhằm mục đích thờ cúng tổ tiên và là nơi họp hành tổ chức các hoạt động trong họ

Vì vậy, nhà thờ họ chủ yếu xây dựng ở quê, nơi tổ tiên sinh sống với quy mô 3 gian hoặc 5 gian tùy theo điều kiện của dòng họ đó

Vì nhà thờ họ là công trình tâm linh mang nhiều ý nghĩa thực tế vô cùng phong phú, là nơi thể hiện tấm lòng thành kính của con cháu đối với tổ tiên dòng họ, là nơi gắn liền tình đoàn kết trong dòng họ, xóm làng, tùy thuộc vào thói quen của từng địa phương mà cách thức bố trí không gian của nhà thờ tộc họ cũng có khác nhau: Nhà thờ

họ miền Trung sẽ khác với nhà từ đường miền Băc, miền Nam Nguyên nhân chính là

do phong tục tập quán vùng miền khác nhau, hệ tư tưởng khác nhau Điều này bắt

DUT.LRCC

Trang 30

nguồn từ nhiều yếu tố liên quan đến phong tục, tập quán, điều kiện khí hậu, vật liệu địa phương và kinh tế Tuy nhiên dù có sự khác biệt nhiều hay ít thì các mẫu nhà thờ

họ sẽ luôn có những điểm chung trong bố cục Mà từ đó hình thành được sự khác nhau qua cách trang trí, thêm bớt các chi tiết nhỏ và cấu trúc nhà từ đường chính Tựu chung, không gian nhà thờ tộc họ có một số thành phần chính

- Tường rào: là phần kiến trúc bao quanh nhà thờ, ngăn không gian riêng của

nhà thờ biệt lập với các công trình, khu vực lân cận; xác định ranh giới chính xác của khu đất xây dựng nhà thờ Trong ranh giới này, các yếu tố về văn hóa, đạo lý, ứng xử… cũng từ đó mà quan niệm rõ ràng hơn, ý thức hơn

H nh 11: Tường rào Nhà thờ Tộc Ngô, Bảo An – Tộc Nguyễn Đức, Kỳ Lam, 2019

(Ảnh tác giả)

- Cổng nhà thờ (tam quan): Cổng nhà thờ họ thể hiện sự uy nghiêm, tạo ấn

tượng và được thiết kế theo kiểu tháp chỉ thiên với bốn cột chân quỳ Trên trụ cổng được chạm trổ chi tiết và các câu đối Cầu kỳ hơn thì có thêm mái che trang trí phù điêu giống mái gian thờ chính Mỗi khi có điều kiện kinh tế, các tộc họ họp bàn và nâng cấp xây dựng hình thức cổng nhà thờ quy mô hơn

H nh 12: Cổng tam quan Nhà thờ Tộc Trần Ngọc, Bảo An - Tộc Mai Quý, Kỳ Lam

(ảnh tác giả)

DUT.LRCC

Trang 31

H nh 13: Cổng tam quan Nhà thờ Tộc Phan (cũ – trước năm 2013) và (mới - năm 2014),

Bảo An (Ảnh tác giả)

- Bình phong nhà thờ: hay còn gọi là cuốn thư, bình phong có ý nghĩa về mặt

phong thủy như tiền án đối với công trình chính là nhà thờ Trên bức bình phong, các chi tiết hoa văn được trang trí chi tiết

H nh 14: Bình phong Nhà thờ Tộc Huỳnh – Tộc Phan, Bảo An (Ảnh tác giả)

H nh 15: Bình phong Nhà thờ Tộc Lương- Tộc Trần Ngọc, Bảo An (Ảnh tác giả)

Một số nhà thờ tộc, việc xây dựng các bình phong có thể được biến thể bằng nhiều hình thức Nhìn chung, đối với các công trình lớn, bình phong có thể là các ngọn

DUT.LRCC

Trang 32

đồi, núi tự nhiên hoặc hòn giả sơn, nhân tạo; những công trình có quy mô nhỏ hơn thì bình phong được làm bằng gạch đá hoặc có thể là một bờ rào, hàng cây, một phiến Trên bình phong này, ngoài ý nghĩa về phong thuỷ còn là những công trình mang ý nghĩa trang trí, phổ biến nhất có lẽ là kiểu cuốn thư nhưng có rất nhiều biến thể Các

đề tài trang trí trên bình phong cũng đa dạng, chủ yếu là những con vật trong Tứ linh, gồm long(rồng)-lân-phượng-quy (rùa)

H nh 16: Bình phong biến thể độc đáo minh đường tụ thủy của Nhà thờ Tộc Phạm Đình, Bảo An (Trái) và của Nhà thờ Tộc Mai Quý, Kỳ Lam (Phải) - (Ảnh tác giả)

- Khuôn viên nhà thờ:

Trong khuôn viên nhà thờ, tùy điều kiện về không gian mà có cách thức tổ chức khác nhau Có nơi bố trí hòn giả sơn để điều tiết phong thủy, tạo tính thẩm mỹ cho khuôn viên công trình hoặc cũng là nơi tổ chức các hoạt động hội họp dòng tộc Đối với các nhà thờ tộc họ, khuôn viên đất xây dựng nhà thờ có quy mô vừa phải nên trong xây dựng thường chú trọng tạo sân lớn phía trước công trình để tổ chức các hoạt động nghi lễ hoặc là nơi tụ tập con cháu khi có tổ chức hội họp Sân nhà thờ cũng góp phần tạo nét bề thế cho công trình chính

Trang 33

vào diện tích khu đất của dòng họ hay gia đình dành cho từ đường dòng họ hay từ đường gia đình Khu vực này còn được trưng dụng làm nơi tập trung trong các buổi lễ nhà thờ họ

H nh 18: Khuôn viên Nhà thờ Tộc Nguyễn Đức, Kỳ Lam

và Nhà thờ Tộc Phan (Chính), Bảo An (Ảnh tác giả)

- Từ đường

Đây là phần kiến trúc chính có quy mô lớn nhất trong quần thể nhà thờ tộc họ, tọa lạc tại vị trí trung tâm trong khuôn viên nhà thờ Công trình kiến trúc này thường được xây dựng theo kiểu kiến trúc nhà 5 gian, hay nhà 3 gian truyền thống của Việt Nam

Đối với nhà thờ họ 3 gian: kiến trúc công trình được tổ chức thành 3 không

gian rõ rệt tương ứng với 3 chức năng và nội thất khác nhau

H nh 19: Mô hình kiến trúc nhà thờ 3 gian (link: ancovat.vn)

Đối với nhà thờ họ 5 gian: chia thành 3 không gian rõ rệt tương ứng với 3 chức

năng và nội thất khác nhau

DUT.LRCC

Trang 34

H nh 20: Mô hình kiến trúc nhà thờ 5 gian

Tại gian thờ chính (ở chính giữa), bàn thờ tổ được làm 2 cấp hoặc 3 cấp Cấp 1

ở ngoài thông là bàn ô sa, án gian thờ hoặc sập thờ Cấp 2 thông thường là 1 bàn án hành hoặc 1 chiếc kệ đặt trên bàn thờ chính dùng để đặt ngai thờ và bài vị tổ Bàn thờ

án hành thông thường cao 1m47 thường đặt bàn thờ này ở trong cùng gian thờ chính cao nhất dùng để đặt ngai thờ hoặc khám thờ ở chính giữa Phía trước bàn thờ án hành

là bàn thờ ô sa, thông thường cao 1m27 Bàn thờ này đặt ở gian chính, được bài trí bộ

đồ thờ tam sự, ngũ sự, mâm bồng, óng hương, đài nến, bát hương, đỉnh đồng Hai bên gian hồi (bên tả và hữu nhà thờ họ) một bên sẽ lập một thờ bà cô, ông mãnh và một bên lập bàn thờ cho nhà chi trường hoặc một bàn thờ bà mẹ việt nam anh hùng Bà cô ông mãnh là từ dân gian dùng cho những người chết trẻ, chưa lập gia đình Người ta cho rằng vì chết trẻ nên bà cô ông mãnh rất linh thiêng

Về chi tiết kiến trúc, hoa văn trong trang trí nhà thờ họ không cầu kì như đối với các công trình Đình, Chùa, Đền, Miếu… nhưng về cơ bản cũng có những nét đặc trưng riêng để phân biệt với các công trình kiến trúc tâm linh khác như là các kiểu mẫu hoa lá vân mây trang trí trên vì kèo, cột mềm mại Bên cạnh đó, các hoa văn trang trí

DUT.LRCC

Trang 35

trên đầu mái: thường là tàu đao, con kìm nóc (1 trong 9 đứa con của rồng), phù hổ, mặt nguyệt, con ghê, hoa lá cách điệu… còn chi tiết đầu rồng chỉ sử dụng cho đền chùa…

H nh 21: Chi tiết hoa văn nhà thờ tộc (Tàu đao, con nghê)

H nh 22: Chi tiết hoa văn nhà thờ tộc (mặt nguyệt, con kìm nóc)

H nh 23: Chi tiết hoa văn nhà thờ tộc (hổ phù)

Về hình thức kiến trúc, nhà thờ họ khá gần gũi với kiến trúc nhà ở dân gian Về công năng, Nhà thờ họ là công trình tín ngưỡng để thờ cúng Tổ tiên Đây là hai yếu tố chính tạo nên phong cách kiến trúc của Nhà thờ họ (Ngô, 2020) Từ đường là những

DUT.LRCC

Trang 36

công trình kiến trúc dành riêng cho việc thờ cúng lễ bái Tổ tiên của một dòng họ hay từng chi họ tính theo phụ hệ (dòng của cha) Nhà thờ họ phổ biến của người Việt tại khu vực đồng bằng trung du Bắc Bộ và Trung Bộ Kiến trúc truyền thống của người Việt có rất nhiều loại hình, trong đó có loại hình kiến trúc Nhà thờ họ Kiến trúc Nhà thờ họ mang những đặc điểm riêng của nó so với các loại hình kiến trúc khác

H nh 24: Kết cấu kiến trúc gỗ nhà thờ tộc (ảnh tham khảo) – kết cấu bê tông giả gỗ của Nhà

thờ Tộc Phan (Chính) – do điều kiện kinh tế và tính bền vững (ảnh tác giả)

Bên cạnh đó, Nhà thờ họ thuộc sở hữu tư nhân, thường do một dòng họ đứng lên xây dựng, vì vậy mà Nhà thờ họ mang tính cá thể cao chứ không mang nhiều tính cộng đồng như những công trình tín ngưỡng công cộng Nhà thờ họ có cấu trúc tương

tự như nhà ở dân gian của người Việt, chủ yếu là kết cấu khung gỗ với các hình thức kết cấu cơ bản giống nhà ở Hiện nay kết cấu Nhà thờ họ bê tông cốt thép giả gỗ được xây dựng nhiều do giá thành rẻ hơn, bền chắc hơn (vùng đất hay bị ngập lụt hàng năm ) so với làm bằng gỗ truyền thống Nhà thờ họ thường không được đầu tư lớn (vì là sở hữu cá nhân của từng dòng họ) nên thường có kiến trúc đơn giản, nhỏ bé chứ không rộng lớn, hoành tráng như những công trình tín ngưỡng công cộng

Thông thường, một Nhà thờ họ điển hình chỉ là một ngôi nhà hình chữ Nhất nằm ngang với hai mái trước và sau theo kiểu thu hồi bít đốc (hồi văn), mái có thể lợp tranh, lá cọ hoặc ngói mũi dân dã (ngói di), quy mô công trình thường từ 3 đến 5 gian Khu vực đồng bằng Bắc Bộ vẫn được xem là cái nôi của người Việt, vì vậy loại hình kiến trúc Nhà thờ họ cũng ra đời sớm nhất ở khu vực này

Tuy nhiên hiện nay hầu như không còn những Nhà thờ họ có niên đại sớm Theo kết quả điều tra của Viện Bảo tồn di tích (thực hiện từ 2003 đến 2009), các Nhà thờ họ còn lại ở đồng bằng Bắc Bộ chỉ có niên đại sớm nhất là từ cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII Một phần do Nhà thờ họ thường không được đầu tư lớn (các cấu kiện khung gỗ nhỏ hơn, yêu cầu đối với vật liệu để làm Nhà thờ họ cũng đơn giản hơn) nên độ bền vững thường kém hơn so với những công trình tín ngưỡng công cộng Phong tục dân gian “Tứ đại mai thần chủ” Đối tượng được thờ trong Nhà thờ họ là các

vị tổ của dòng họ

DUT.LRCC

Trang 37

Theo phong tục dân gian: “Ngũ đại mai thần chủ” (từ 5 đời thì không phải thờ nữa) nên trong một Nhà thờ họ thường chỉ thờ không quá 5 đời tổ Tuy nhiên cũng không nhất định như vậy, một số dòng họ lớn cũng có thể thờ nhiều hơn 5 đời Trong Nhà thờ họ, các ban thờ thường được bố trí theo chiều ngang: Ban thờ vị tổ cao nhất bao giờ cũng được đặt tại gian chính giữa, ban thờ các vị tổ thấp hơn được bài trí đăng đối ở các gian hai bên.

Nhà thờ họ thường là công trình chuyên dụng để thờ tổ tiên, song cũng có một

số Nhà thờ họ kết hợp hai chức năng: vừa để thờ, vừa để ở (do điều kiện kinh tế của dòng họ) Đối với những Nhà thờ họ kiểu này, việc thờ cúng tổ tiên được bố trí ở các gian giữa, chỗ để ở được bố trí hai bên gian hồi Tuy nhiên, đúng theo truyền thống thì Nhà thờ họ thường được xây tách riêng khỏi nhà ở, có thể nằm trên một mảnh đất riêng biệt, có thể nằm trên khuôn viên đất ở của vị trưởng họ Việc bố trí mặt bằng của Nhà thờ họ phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện này

Như vậy, Văn hóa tổ chức cộng đồng của dòng họ có nhiều biểu hiện trong đời sống văn hóa, tinh thần của người Việt Ngoài việc tế tự - thờ cúng tổ tiên của con trưởng, chi trưởng dòng họ thì công trình nhà thờ họ là đặc điểm tiêu biểu để tiếp tục phát triển và duy trì các nghi thức trong việc thực hiện tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Với nguyên tắc phụ quyền của dòng họ người Việt, con trai trưởng có trách nhiệm khói hương thờ phụng Thủy tổ và việc thờ cúng tổ tiên giúp gắn kết lâu bền các mối quan hệ huyết thống dòng tộc theo phía người cha Nhưng nguyên tắc này cũng không quyết định tất cả mà được linh hoạt ứng xử Theo nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng thì đây chính là “Nguyên lý mẹ của nền văn hóa Việt Nam” Và mỗi dòng họ có ý thức thành lập nhà thờ tộc họ để thờ cúng tổ tiên, duy trì mối quan hệ dòng tộc, huyết thống đồng thời tự thiết lập cơ chế quản lý, bộ máy tổ chức và phương thức vận hành riêng – đây cung là một trong những đặc điểm nổi bật của người Việt – Tính tự quản

3 Giá trị kiến trúc và văn hóa của nhà thờ tộc họ

3.1 Về kiến trúc

Các nhà thờ tộc họ tồn tại ở hai dạng, chung trong khuôn viên đất ở với gia đình hoặc có khuôn viên riêng biệt và đại diện tộc họ cử người trông giữ Vì vậy mà mỗi dạng nhà thờ có hình thức bố trí khác nhau Trong luận văn này, tập trung nghiên cứu các nhà thờ được tổ chức trong khuôn viên riêng biệt nên qua phân tích, nghiên cứu đã nhận thấy các nhà thờ họ có khuôn viên riêng biệt, việc quy hoạch mặt bằng sẽ dễ dàng hơn và có điều kiện để đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về phong thủy Và bố cục nhà thờ luôn thực hiện nguyên tắc đăng đối qua trục thần đạo (trục tưởng tượng đi qua chính giữa nhà thờ)

Cho đến hiện nay, các nhà thờ luôn thực hiện nghiêm nguyên tắc này: từ hình

DUT.LRCC

Trang 38

khối kiến trúc, trang trí trên kiến trúc, sắp xếp các ban thờ, bài trí nội thất đến bố trí sân vườn cảnh quan phía trước… Hướng và thế trong phong thủy Nhà thờ họ về mặt phong thủy, có hai yếu tố luôn được quan tâm khi chọn đất xây dựng Nhà thờ họ là hướng đất và thế đất Hướng đất thường hay được chọn là hướng Nam do quan điểm của người Việt theo Nho giáo thì đây là hướng của thánh nhân: “Thánh nhân Nam diện nhi thính thiên hạ” (Thánh nhân quay mặt về Nam nghe lời tâu của thiên hạ) và phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng Tuy nhiên, ngày xưa quan niệm chọn hướng không quá phức tạp như hiện nay do đất đai rộng rãi, nhưng qua thuật phong thủy, nếu hướng Nam lại ở thế đất xấu thì người Việt linh hoạt mà bố trí theo hướng đất khác hoặc có những “thủ thuật” để khắc chế hướng xấu

H nh 25: Mô hình thế đất phong thủy (lược đồ - Ảnh sưu tầm)

Thế đất tự nhiên được coi là đẹp khi lưng có thế tựa (phía sau cao hơn phía trước), hai bên có thế tỳ “tả Thanh long, hữu Bạch hổ” (thế tay ngai), mặt trước thoáng đãng có dòng lưu thủy từ phải qua trái và có tiền án Khi thế đất tự nhiên không sẵn có các yếu tố cần thiết đó, người xưa có thể khắc phục bằng cách đào hồ, ao, giếng nước làm điểm tụ thủy; xây bình phong, non bộ làm án; đắp đất trồng cây tạo thế tay ngai… Cũng như các loại hình kiến trúc truyền thống khác, vấn đề trang trí cũng được người xưa rất quan tâm khi xây dựng Nhà thờ họ

DUT.LRCC

Trang 39

Tuy nhiên, do quy mô đầu tư nhỏ nên trang trí trên kiến trúc Nhà thờ họ thường đơn giản, khiêm tốn hơn so với các công trình kiến trúc tín ngưỡng khác của cộng đồng, đặc biệt là hầu như không có các trang trí bên ngoài công trình hoặc nếu có thì cũng được đơn giản hóa tới mức tối đa Nếu như trên mái các đình, chùa thường có rồng, phượng, mặt nguyệt, các con giống… được làm cầu kỳ, tinh xảo thì trên nóc mái Nhà thờ họ cùng lắm chỉ có bức Đại tự, đầu kìm, đấu cơm, gạch hoa chanh và những chi tiết trang trí hết sức đơn giản Không những vậy, do điều kiện kinh tế và quy mô của dòng tộc mà các tộc họ vẫn có những nhà thờ đơn giản, không chú trọng đến các chi tiết kiến trúc mà chỉ đảo bảo những yêu cầu thiết yếu của một không gian thờ cúng tổ tiên

- Thứ nhất là trang trí trên các cấu kiện kiến trúc, do đây là những trang trí cố

định không thể tháo rời nên thường có cùng phong cách nghệ thuật ở thời kỳ xây dựng

và ít thay đổi Trang trí trên cấu kiện kiến trúc xuất phát từ mục đích vừa làm đẹp vừa làm giảm sự thô mộc, nặng nề của cấu kiện gỗ, song tùy thuộc vào khả năng đầu tư mà mức độ trang trí có thể nhiều, ít khác nhau ở từng Nhà thờ họ Trang trí trên kiến trúc Nhà thờ họ rất ít dùng hình tượng rồng mà hay sử dụng các hình tượng thuần túy mang tính trang trí (như hình hoa lá, hình kỷ hà…), hoặc các biểu tượng thiêng (như hình vân xoắn, hình đao mác…) Mặc dù vậy, một số nhà thờ của những dòng họ có người làm quan cũng trang trí hình rồng trên kiến trúc, nhưng rất hạn chế và các hình rồng này thường được cách điệu, biến tấu đi (trúc hóa rồng, mai hóa rồng, mây hóa rồng, lá hóa rồng, cá hóa rồng…)

DUT.LRCC

Trang 40

H nh 27: Một số chi tiết kiến trúc trang trí bên ngoài nhà thờ tộc (Sưu tầm)

- Thứ hai là trang trí trên các đồ vật nội thất, như bàn thờ, hương án, hạc, lư

hương, cửa võng, hoành phi, câu đối… thường có sự bổ sung, thay đổi theo thời gian nên các trang trí trên mỗi vật dụng có phong cách khác nhau

H nh 28: Một số chi tiết trang trí và vật dụng bên trong nhà thờ tộc (Sưu tầm)

Ngày nay, các nhà thờ tộc họ khi được xây dựng cũng luôn chú trọng đến các chi tiết kiến trúc truyền thống, ngày càng nhiều vật liệu gỗ được sử dung với các nét chạm khắc tinh xảo, cầu kỳ Như vậy, các nhà thờ tộc họ luôn gìn giữ các giá trị truyền

DUT.LRCC

Ngày đăng: 19/01/2021, 15:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Am, Đ. T. (2014, 11 26). Họ Ngô Việt Nam. Retrieved from Họ Ngô Việt Nam: https://ngotoc.vn/Van-hoa-Doi-song/dong-ho-nguoi-viet-tu-goc-nhin-van-hoa-15.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Họ Ngô Việt Nam
2. An, V. N. (2012, 3 07). Gia phả Việt Nam. Retrieved from Gia phả Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phả Việt Nam
4. Anh, N. T. (2003). Hút đẩy là khía cạnh tương phản hai mối quan hệ giữa Trung Quốc - Việt Nam. In N. T. Anh, Trung quốc và Đông Nam Á: Lịch sử tương tác (pp. Tập 40 - Số 4 - Trang 444-458). Hà Nội: Nghiên cứu Đông Nam Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung quốc và Đông Nam Á: Lịch sử tương tác
Tác giả: Anh, N. T
Năm: 2003
5. Bính, P. K. (1915). Việt Nam Phong tục - . Hà Nội: Đăng trên tạp chí Đông Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Phong tục -
Tác giả: Bính, P. K
Năm: 1915
6. Diên, C. X. (2002). Cơ sở văn hóa Việt Nam. TP HCM: NXB ĐHQG TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Diên, C. X
Nhà XB: NXB ĐHQG TP HCM
Năm: 2002
7. Dụ, N. Đ. (1992). Gia phả khảo luận và thực hành. Hà Nội: NXB Thời Đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phả khảo luận và thực hành
Tác giả: Dụ, N. Đ
Nhà XB: NXB Thời Đại
Năm: 1992
8. Dương, P. Đ. (2000). Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á
Tác giả: Dương, P. Đ
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2000
9. Giàu, T. V. (2011). Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Giàu, T. V
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
11. Hiệp, D. P. (2012). Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu văn hóa và con người Việt Nam. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu văn hóa và con người Việt Nam
Tác giả: Hiệp, D. P
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2012
12. Hòa, Đ. h. (2006). Kiến trúc phố cổ Hội An Việt Nam. In N. t. giả, Ảnh hưởng của Kiến trúc Nhật trong Kiến trúc Việt Nam (p. 20). Hà Nội: NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của Kiến trúc Nhật trong Kiến trúc Việt Nam
Tác giả: Hòa, Đ. h
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2006
13. Hương, H. T. (2020, 04 08). Viện nghiên cứu phát triển TP HCM. Retrieved from Tiếp cận van hóa các tộc người Việt Nam bằng con đường nghiên cứu so sánh truyện kể dân gian: http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện nghiên cứu phát triển TP HCM
14. Lương, P. B. (2006, 01 01). Họ Phan. Retrieved from Tộc họ Phan Làng Bảo An, Điện Quang: https://hophanblog.wordpress.com/2006/01/06/gioi-thieu-toc-phan-thon-bao-an-xa-dien-quang-huyen-dien-ban-tinh-quang-nam/#_ftn3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Họ Phan
15. Mác, C. (1963). Phê phán kinh tế Chính trị học (Vol. 3). Hà Nội: NXB Nhân Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê phán kinh tế Chính trị học
Tác giả: Mác, C
Nhà XB: NXB Nhân Dân
Năm: 1963
10. Groslier, B. P. (1961). Những sự truyền bá văn hóa và nghệ thuật trên lãnh thổ Việt Nam và trong bán đảo Đông Dương. In B. P. Groslier. Paris: Albin Michel Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w