1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm hứng bi kịch trong truyện ngắn nguyễn ngọc tư

152 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 733,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong dòng chảy của văn học Việt Nam thời kì đổi mới, Nguyễn Ngọc Tư là một cây bút nữ khá tiêu biểu. Từ khi xuất hiện cho đến nay, chị vẫn được xếp vào đội ngũ những nhà văn trẻ, những người mang trên vai trọng trách làm rạng danh cho nền văn học nước nhà, những người đủ tài và lực để mang đến những luồng gió mới cho văn chương trên cả phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật. Bằng những truyện ngắn dung dị về đề tài nông thôn, thân phận và đời sống tình cảm của người nông dân Nam Bộ thời hiện đại, chị đã đóng góp cho khuynh hướng văn học hiện thực một cái nhìn hồn hậu với lối viết chân tình, thẳng thắn nhưng lại cũng rất hồn nhiên và nhẹ nhàng.

Trang 1

Đồng Tháp, năm 2013

Trang 2

Sinh viên thực hiện: 1 Nguyễn Thị Fil

2 Trần Thị Kim Phượng

Giảng viên hướng dẫn: Th.s Nguyễn Phan Phương Uyên

Đồng Tháp, năm 2013

Trang 3

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài.

2 Lịch sử vấn đề.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

4 Phương pháp nghiên cứu.

5 Kết cấu của khóa luận

1.1.3 Vài nét về cảm hứng bi kịch trong văn học Việt Nam( trước và sau đổi mới)

1.1.4 Những tiền đề cho sự xuất hiện cảm hứng bi kịch trong văn học Việt Nam thời kì đổi mới 1.2 Giới thiệu về nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

1.2.1 Tiểu sử tác giả

1.2.2 Quan niệm sáng tác

1.2.3 Sự nghiệp sáng tác.

1.2.3.1 Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

1.2.3.2 Tạp văn Nguyễn Ngọ Tư

Chương 2 CẢM HỨNG BI KỊCH TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ –NHỮNG ĐẶC SẮC VỀ NỘI DUNG

2.1 Bi kịch của sự thiếu thốn nghèo nàn

2.1.1 Hiện thực thiếu thốn của nông thôn Nam Bộ trên các lĩnh vực y tế, giáo dục, giao thông

2.1.2 Môi trường sống của nông thôn Nam Bộ đang bị tàn phá nghiêm trọng

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật

3.1.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình

3.1.1.1 Những con người với cái tên dân dã, hiền lành.

3.1.1.2 Những con người với ngoại hình lam lũ, xấu xí

3.1.2 Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật

3.1.2.1 Khắc họa tâm lí nhân vật qua những biểu hiện bên ngoài

3.1.2.2 Biện pháp miêu tả trực tiếp tâm lí nhân vật.

3.1.2.3 Độc thoại nội tâm

3.2 Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện

3.2.1 Tình huống một sự cố, một biến cố bất ngờ (xảy đến với nhân vật chính)

3.2.2 Tình huống cảm thông, chia sẻ

3.2.3 Tình huống yêu đương trắc trở

3.3 Giọng điệu trong truyện ngắn Ngắn Nguyễn Ngọc Tư

3.3.1 Giọng cảm thương, đau xót

3.3.2 Giọng triết lí chiêm nghiệm

3.3.3 Giọng dân dã mộc mạc

3.4 Kiểu kết thúc tác phẩm trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lí do chọn đề tài:

Trong dòng chảy của văn học Việt Nam thời kì đổi mới, Nguyễn Ngọc Tư

là một cây bút nữ khá tiêu biểu Từ khi xuất hiện cho đến nay, chị vẫn được xếpvào đội ngũ những nhà văn trẻ, những người mang trên vai trọng trách làm rạngdanh cho nền văn học nước nhà, những người đủ tài và lực để mang đến nhữngluồng gió mới cho văn chương trên cả phương diện nội dung và hình thức nghệthuật Bằng những truyện ngắn dung dị về đề tài nông thôn, thân phận và đời sốngtình cảm của người nông dân Nam Bộ thời hiện đại, chị đã đóng góp cho khuynhhướng văn học hiện thực một cái nhìn hồn hậu với lối viết chân tình, thẳng thắnnhưng lại cũng rất hồn nhiên và nhẹ nhàng Tiếp bước các thế hệ nhà văn đi trước,nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư đến với làng văn học Việt Nam bằng phong vị củariêng mình – một giọng văn đậm chất Nam Bộ, một “đặc sản” lạ đã góp phần tạonên sắc thái đa diện, đa giọng, đa chất cho nền văn học Việt Nam hiện đại Do đó,trước tiên vì lòng yêu mến của bản thân đối với văn chương của Nguyễn Ngọc Tư,cũng như đối với văn học Đồng bằng sông Cửu Long hiền hoà và nhân hậu, chúng

tôi quyết định chọn đề tài khoá luận là “Cảm hứng bi kịch trong truyện ngắn

Nguyễn Ngọc Tư” để thể hiện tình yêu của những người con Nam bộ đối với văn

chương của quê hương mình

Đồng thời, như chúng ta đã biết “cảm hứng bi kịch” là một phạm trù thẩm

mĩ quan trọng của mĩ học nói chung và văn học nghệ thuật nói riêng Lí luận vềcảm hứng bi kịch đã có bề dày lịch sử hơn hai ngàn năm nhưng việc vận dụng nóvào nghiên cứu những vấn đề cụ thể của văn học Việt Nam vẫn đang trong giaiđoạn đầu Trên tinh thần vận dụng lí thuyết về cảm hứng bi kịch, khóa luận bướcđầu ứng dụng phạm trù mĩ học này vào việc phân tích các truyện ngắn cụ thể củanhà văn Nguyễn Ngọc Tư trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật biểuhiện của cảm hứng bi kịch Thiết nghĩ, đây là một việc làm cần thiết, mang lại ýnghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học

Trang 5

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Trước tiên, chúng tôi xin điểm qua một vài công trình nghiên cứu về

cảm hứng bi kịch trong văn xuôi thời kỳ đổi mới tiêu biểu như sau:

- Cảm hứng bi kịch trong tiểu thuyết Việt Nam những năm 80, Lý Hoàn Thục

Trâm, Luận văn tốt nghiệp cử nhân khoa Ngữ văn, 1993, trường Đại học Tp HCM

Luận văn đã bước đầu có sự lí giải những nguyên nhân làm xuất hiện cảmhứng bi kịch trong văn học thời kì đổi mới Tác giải Lý Hoàn Thục Trâm đã tìmhiểu một số khái niệm về cảm hứng bi kịch và vận dụng vào việc phân tích chúng

trong một số tiểu thuyết tiêu biểu như: Thời xa vắng, Mảnh đất tình yêu, Yêu như

là sống, Một cõi nhân gian bé tí, Đám cưới không có giấy giá thú, Chim én bay, Bến không chồng, Nỗi buồn chiến tranh Tuy nhiên đó mới chỉ là việc nghiên cứu

cảm hứng bi kịch trong tiểu thuyết qua việc phân tích riêng lẻ một số tác phẩm,chứ chưa đặt cảm hứng bi kịch trong sự khái quát hệ thống Tác giả Lý Hoàn ThụcTrâm đi sâu phân tích về mặt nội dung nhưng ít chú ý đến nghệ thuật

- Cảm hứng anh hùng và cảm hứng bi kịch trong tiểu thuyết viết về chiến tranh xuất bản sau năm 1975, Võ Văn Nhơn, in trong Bình luận văn học,

Niên giám 1997 (1), NXB Khoa học xã hội, HN, 1998

Tác giả Võ Văn Nhơn nhìn nhận rằng tiểu thuyết viết về chiến tranh củachúng ta trước đây không hề biết đến bi kịch hoặc nếu có cũng chỉ là một thứ “bi

kịch lạc quan” Theo tác giả, “chiến tranh không chỉ sản sinh ra những anh hùng,

không chỉ có vinh quang mà còn có những mất mác, đau thương, còn gây ra nhiều

bi kịch cho con người, còn có những sự thật vô cùng cay đắng” [30, tr 96] Tác giả

cho rằng cảm hứng bi kịch, với tính chất là cảm hứng chủ đạo trong văn học giai

đoạn này, chỉ bắt đầu từ Thời xa vắng của Lê Lựu Bài viết đã phân tích bi kịch cá nhân con người Giang Minh Sài trong tiểu thuyết trên và khẳng định: “Chính bi

kịch cá nhân của Giang Minh Sài, chính cái phương diện là nạn nhân đau khổ của mâu thuẫn cá nhân và xã hội đã tạo nên một ý nghĩa xã hội to lớn cho nhân vật Giang Minh Sài đã tạo nên sức hấp dẫn của Thời Xa Vắng, chứ cái hấp dẫn của

Trang 6

Thời Xa Vắng không phải là một chuyện của một anh bộ đội anh hùng với vầng hào quang ánh sáng chói lọi” [30, 98].

Tác giả còn phân tích cảm hứng bi kịch qua một số tác phẩm khác như

Mảnh đất tình yêu, Chim én bay, Những mảnh đời đen trắng và cho rằng bi kịch

trong Mảnh đất tình yêu là bi kịch lãng mạn, ở Chim én bay là bi kịch tính người, còn cảm hứng bi kịch trong những Mảnh đời đen trắng có sự kết hợp với cảm

hứng phê phân và cảm hứng hài hước

- Cảm hứng bi kịch nhân văn trong tiểu thuyết Việt Nam nửa sau thập niên 80, Nguyễn Hà, TCVH, số 3/2000.

Trong bài viết này tác giả Nguyễn Hà nhận định rằng, trong tiểu thuyết Việt

Nam nửa sau thập niên 80 “ Tính chất nạn nhân, phần bi đát trong số phận nhân

vật được tác giả đặc biệt chú ý, khai thác và tô đậm làm nên âm hưởng chính của tác phẩm là âm hưởng bi kịch” [25, tr 52] Và việc cảm hứng bi kịch trở lại trong

văn học “tạo được những nét mới trong văn học” [25, tr51]

Tác giả cũng cho rằng có một số lượng tác phẩm, lấy chiến tranh thân phậnngười lính làm đề tài và nhân vật chính trong những tác phẩm này là những người

lính thắng trận trở về nhưng “không một chút thanh thản trong cuộc sống hòa

bình” cảm thấy lạc lõng trong hiện tại Tác giả khẳng đinh “chiến tranh thường gắn liền với bi kịch” [25, t 54] và chứng minh bằng việc phân tích tấn bi kịch của

các nhân vật Quy (Chim én bay, Nguyễn Chí Hưng), Kiên (Nỗi buồn chiến tranh,Bảo Ninh), Hai Hùng (Ăn mày dĩ vãng, Chu Lai)

Bên cạnh mối quan hệ giữa con người với chiến tranh, bài viết còn chú ýmối quan hệ của con người với tập thể, gia đình, dòng tộc và cho rằng bi kịch của

những nhân vật “ một người – hai mặt” Tác giả phân tích hai nhân vật Giang

Minh Sài (Thời Xa Vắng- Lê Lựu) và Vạn (Bến không chồng – Dương Hướng ) đểlàm rõ bi kịch ấy

Trong bài báo trên tác giả còn đề cập đến “ xu hướng tâm lí triết học ” của

tiểu thuyết thời kì này trong một số tiểu thuyết như Một cõi nhân gian bé tí

Nguyễn Khải, Mảnh đất tình yêu của Nguyễn Minh Châu Tác giả cho rằng xu

Trang 7

hướng này “ đã đặt ra những vấn đề có tính vĩnh cửu: lẽ sinh tử của con người,

giá trị của hạn phúc, số phận của cái đẹp thực chất cuộc sống, thực chất của thành công và thất bại , thái đô của con nguời trước thảm họa, ức mạnh của tình yêu ” [25, tr57]

Cuối cùng tác giả nói một cách khái quát về vai trò, ý nghĩa của cảm hứng

bi kịch trong văn học ( là sự bổ sung quan trọng cho các loại cảm hứng khác trongnhận thức hiện thực, khơi gợi nhân tính, nuôi dưỡng năng lực yêu thương đồngloại nơi con người )

Có thể nói, bài viết của tác giả Nguyễn Hà đã nêu được một số vấn đề chínhcủa cảm hứng bi kịch Tuy nhiên, tác giả chỉ mới dừng lại ở một số tác phẩm tiêubiểu của thể loại tiểu thuyết và cũng chỉ mới dừng lại ở sự biểu hiện của cảmhứng bi kịch về mặt nội dung

Ngoài những công trình chủ yếu nêu trên, đây đó trong các công trìnhnghiên cứu về tiểu thuyết, về văn xuôi thời kỳ sau đổi mới cũng có đề cập đến cảmhứng bi kịch Trước hết là một số luận văn của các học viên cao học và nghiên cứu

inh đi trước như: Những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn Việt Nam 75-79 ( Lê Thị Hường- Luận án PTS, Trường ĐH KHXH và NV, 1995), Thành công của

tiểu thuyết về đề tài chiến tranh trong 10 năm đổi mới văn học (1986-1996)

( Phan Huy Nghiêm- Luận văn Thạc sĩ, Trường ĐH Tp.TPHCM, 1997), Đặc

trưng truyện ngắn Việt Nam từ 1975 đến đầu thập niên 90 ( Hoàng Thị

Văn-Luận án Tiến sĩ, Trường ĐHP Tp HCM, 2001) Những đặc điểm nghệ thuật của

văn xuôi Việt Nam cuối những năm 80- đầu những năm 90 ( Hoàng Thị Hồng

Hà- Luận án Tiến sĩ, Trường ĐHKHXH và NV, 2003) Ngoài ra, cũng có nhiều bàinghiên cứu trên các sách báo, tạp chí đề cập qua khái niệm này Có thể kể một sốtrong những công trình có đề cập đến cảm hứng bi kịch hoặc có liên quan đến cảm

hứng bi kịch về mặt nội dung lẫn nghệ thuật như: Nghĩ về một “ Thời xa vắng”

chưa xa ( Thiếu Mai- Văn nghệ Quân đội, số 4/1987), Nhu cầu nhận thức lại thực tại qua một “ Thời xa vắng” ( Nguyễn Văn Lưu- Văn học, số 5/1987), Chim

én bay- một cách nhìn về chiến tranh ( Phạm Hoa- Văn nghệ, số 37/1989), Thảo

Trang 8

luận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú hay là những nghịch ly đau xót của thực tại ( Trần Bảo Hưng- Văn nghệ Quân đội, số 6/1990), Đổi mới văn xuôi chiến tranh (Đinh Xuân Dũng- Văn nghệ, số 51/1990), Đồng hiện- một thủ pháp nghệ thuật có hiệu quả trong tiểu thuyết “ Chim én bay” ( Ngô Vĩnh Bình-

Văn nghệ số 51/1990), Vài nét về thân phận người phụ nữ đi qua chiến

tranh-qua Người mẹ tội lỗi, Nước mắt đỏ, Chim én bay ( Lê Quang Trang, Văn nghệ

Quân đội, số 3/1991), Qua những cuốn sách gần đây viết về chiến tranh ( Lê Thành Nghị- Văn nghệ Quân đội, sổ/1991), Thảo luận về tiểu thuyết “ Mảnh đất

lắm người nhiều ma” ( Văn nghệ, số 11/1991), Bức tranh làng quê và những số phận - Về tiểu thuyết Bến không chồng của Dương Hướng ( Nguyễn Văn Long-

Văn nghệ, số 12/1991), Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách

nhìn con người (Nguyễn Văn Hạnh- Văn học, số 3/1993), Quan niệm con người

cô đơn trong truyện ngắn hôm nay ( Lê Thị Hường- Văn học, số 2/1994), Các kiểu kết thúc của truyện ngắn hôm nay( Lê Thị Hường- Văn học, só 4/1995), Những dấu hiệu đổi mới củ văn xuôi từ sau 1975 qua hệ thống mô típ chủ đề( Bích Thu- Văn học, số 4/1995), Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi Việt Nam CMT8 ( Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Thị Bình- Đề tài cấp nhà

nước, Hà Nội, 1995), Văn học Việt Nam những năm đầu đổi mới ( Lê Ngọc Văn học, số 2/2002), Truyện ngắn chiến tranh nhìn từ sự vận động của thể loại ( Tôn Phương Lan- Nghiên cứu văn học, số 11/2004), Kĩ thuật dòng ý thứ qua

Trà-Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh ( Nguyễn Đăng Điệp- In trong Tự sự học,

một số vấn đề lí luận và lịch sử, Nxb ĐHSP, 2004), Hiện tượng phân rã cốt

truyện trong “Phiên chợ Giát” và “Thân phận tình yêu” ( Lưu Thị Thu Hà

evan.com.vn.2004)

2.2 Những năm đầu thế kỉ XXI, khi công chúng bạn đọc chưa hết ngỡngàng bởi những hiện tượng văn học xuất hiện của những hiện tượng văn học mớinhư: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Đỗ Hoàng Diệu thì bạn đọc lại tiếp tụcbất ngờ bởi sự xuất hiện của cây bút nữ trẻ - Nguyễn Ngọc Tư Những tác phẩmcủa chị đã trở thành “hiện tượng” của nền văn học đương đại Tác phẩm của

Trang 9

Nguyễn Ngọc Tư đã và đang đón nhận ngày càng nhiều sự quan tâm của độc giả

cả nước, đồng thời cũng tạo được những cuộc tranh luận khá thú vị trên văn đàn.Nghiên cứu về truyện ngắn và những vấn đề liên quan đến truyện ngắn NguyễnNgọc Tư, chúng tôi nhận thấy đã có những bài viết trên các sách nghiên cứu vănhọc và các trang web Những ý kiến đánh giá từ những khía cạnh khác nhaunhưng nhìn chung thống nhất trong việc khẳng định những đóng góp của NguyễnNgọc Tư ở thể loại truyện ngắn Chúng tôi xin điểm qua những công trình, bài viếttiêu biểu nghiên cứu về tác giả Nguyễn Ngọc Tư liên quan trực tiếp đến đề tài nhưsau:

- Trong tham luận đọc tại “Bàn tròn văn xuôi đồng bằng sông Cửu Long

lần thứ I”, Võ Tấn Cường đã chỉ ra sự “đóng băng” trong việc miêu tả tâm lí, tính

cách nhân vật trong sáng tác của các tác giả đồng bằng Đa số các nhân vật đượcnhận vật được xây dựng còn đơn giản, một chiều, chưa bắt kịp được với cuộc sốngphức tạp và khốc liệt Chúng tôi nhận thấy Nguyễn Ngọc Tư ít mắc phải khuyếtđiểm này bởi những nhân vật của chị có thể không dữ dội nhưng đều có một đờisống tinh thần phong phú, một nội tâm tinh tế Thậm chí ở một vài truyện, NguyễnNgọc Tư đã làm nổi bật được xung đột khốc liệt giữa cái thiện và cái ác, cái caothượng và cái thấp hèn trong nội tâm mỗi nhân vật (tiểu biểu là “Cánh đồng bấttận”) Tuy nhiên có một sự thật mà chúng ta cũng phải thừa nhận đó là truyện ngắnNguyễn Ngọc Tư nói riêng và truyện ngắn đồng bằng sông Cửu Long nói chungchưa tạo dựng được nhiều nhân vật điển hình có tầm nhìn rộng, có tầm vóc ngangbằng hoặc cao hơn những nguyên mẫu trong cuộc sống Còn đó rất nhiều truyệnngắn của chị mang màu sắc bút kí, thiếu sự chiệm nghiệm và thăng hoa về cảmxúc, phong cách thể hiện chưa thật chín và sắc

- Tháng 12/2005, trong bài viết: “Nỗi đau trong cánh đồng bất tận” của

tác giả Thảo Vy (tạp chí Văn hóa phật giáo, số 41) Từ góc nhìn của triết lí Phật

giáo, tác giả bài viết nhận định: “Cánh đồng bất tận bao trùm trong nó là những

nỗi hận”, nỗi hận đó được lớn dần trong người cha Từ Hận đến Thù và trả thù vì:

“sở dĩ lòng hận thù của người cha cao ngất bởi vì ông không biết thẹn, ông không

Trang 10

sợ trả báo, ông sống trong sự si ám” Tác giả cho rằng bao trùm tác phẩm là một

nỗi hận khi người cha chỉ biết đến trả thù đàn bà sau khi vợ mình bỏ đi Bên cạnh

đó, tác giả còn chỉ rõ, truyện ngắn Cánh đồng bất tận là sự thiếu vắng ánh sáng,

ánh sáng của tình thương, ánh sáng của sự bao dung và tha thứ Câu chuyện đượcdiễn ra trên cái khung nền màu xám của những cơn ác mộng Từ nỗi hận thù đãdẫn đến những tội lỗi khiền người đọc vừa giận vừa thương

- Trần Phỏng Diều với “Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc

Tư” được in trên báo Văn nghệ quân đội (647) Trong bài viết này, tác giả Trần

Phỏng Diều nhận định “Cùng với hình tượng người nông dân, người nghệ sĩ, hình

tượng con sông đã góp phần làm nên nét đặc trưng trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Cũng nói về vùng đất và con người Nam bộ nhưng Nguyễn Ngọc Tư có cách tiếp cận khác: không có gì lớn lao mà rất đỗi đời thường, như dòng sông chẳng hạn Nhưng từ cái nhỏ bé, đời thường tưởng chừng như ai cũng biết mà khái quát nó lên, chuyển tải lòng mình vào đó mới chính là giá trị của nghệ thuật”.

Và tác giả đã chỉ ra người nghệ sĩ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư thường có

số phận hẩm hiu, tình duyên không trọn vẹn, cuộc sống kém ổn định, còn hìnhtượng người nông dân Nam Bộ là những con người hiền lành, chất phác, thật thà,tình yêu và tình người thì dạt dào như biển nước Cà Mau nhưng họ đều có một sốphận long đong, vất vả Hình tượng con sông trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tưthường gắn với nỗi nhớ da diết khôn nguôi và có phần mông lung Nói về giọngvăn, Trần Phỏng Diều cho rằng giọng văn của Nguyễn Ngọc Tư có duyên, đôi khi

dí dỏm nhưng ngọt ngào và sâu sắc Câu văn rất giản dị, mộc mạc, chân tình, đọctruyện Nguyễn Ngọc Tư tưởng như đang trò chuyện với Nguyễn Ngọc Tư vậy

- Cùng đồng cảm với số phận con người, tác giả Đoàn Nhã Văn, trong bài

viết “Nắng, gió vịt và đàn bà giữ Cánh đồng bất tận” (in trên văn/ xuân 2006) đã

nhận định: “Cánh đồng bất tận đã dựng lại những điều cơ cực nhất, xoáy sâu vào

người đọc, ở đó có những thân phận nguời khác nhau” Tác giả khẳng định với

một giọng văn đặc sệt Nam Bộ, Nguyễn Ngọc Tư không những làm nổi bật khônggian sông nước miền Tây Nam Bộ mà trên nền không gian ấy là nỗi cơ cực của

Trang 11

nghề chăn vịt chạy đồng và những hình ảnh thương tâm trong một gia đình.Nguyễn Ngọc Tư đã mở ra trước mắt người đọc những suy ngẫm, về nhân tình thế

thái, sự suy đồi đạo đức, đặc biệt là ở những kẻ đầy tước quyền trong tay “ Cánh

đồng bất tận đã dựng lại những điều cơ cực nhất, xoáy sâu vào người đọc, ở đó có những thân phận nguời khác nhau” Bằng lối kể chuyện tự nhiên nhưng lại đầy

sức hút, tác giả cho rằng Cánh đồng bất tận là cái nhìn về phía trước của những

người sống tận đáy cùng của xã hội, những người không may mắn trên bướcđường chăn vịt để mưu sinh, những người mà định mệnh luôn trói chặt với nhữngđau thương, khốn khổ

- Trong Tạp chí Nghiên cứu văn học số 2- 2007, bài viết “Cánh đồng bất

tân, nhìn từ mô hình tự sự và ngôn ngữ trần thuật”, tác giả Đoàn Ánh Dương.

cho rằng Cánh đồng bất tận là một câu chuyện được đan xen bởi những cảm xúc

và những suy tưởng của các nhân vật Bên cạnh đó, trong Cánh đồng bất tận là

câu chuyện về cuộc sống của những kiếp người nhọc nhằn, tủi cực Tác giả Đoàn

Ánh Dương nhận định Nguyễn Ngọc Tư đã rất thành công trong việc “lồng ghép

hai hệ thống tự sự trên nền cảm xúc và suy tưởng trên nền nhân vật chính” Từ

điểm nhìn nhân vật, triết luận nhân sinh, Nguyễn Ngọc Tư đã thể hiện mạch cảmxúc nội tâm của nhân vật một cách sâu sắc Tác giả Đoàn Ánh Dương cũng đã

phân tích giọng điệu trong truyện ngắn Cánh đồng bất tận, qua đó tác giả cho

thấy trong truyện này có sự đan cài nhiều giọng điệu, lúc thì phẫn uất, lúc thì dửngdưng, khi thì chán chường, khi thì sâu lắng làm cho người đọc cảm thấy câu chữ rãrượi, và vỡ òa trong nỗi xót xa thương cảm trước những nỗi đau quặn thắt, sự côđơn đến hoang lạnh, nỗi buồn đến cùng cực của thân phận con người

- Tháng 6/2008, trên Tạp chí Sông Hương xuất hiện bài viết “Lời đề từ

trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” của tác giả Phạm Phú Phong Tác giả bài

viết đã nhận định: “cái nổi bật nhất trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là “những

yếu tố nằm ngoài cốt truyện – là những lời đề từ” Trong bài viết này, tác giả

Phạm Phú Phong khẳng định lời đề từ là một phần bổ sung không thể thiếu trongvăn bản tác phẩm, nó góp phần tạo nên sự toàn vẹn của chỉnh thể và thể hiện ý đồ

Trang 12

của tác giả Đồng thời lời đề từ cũng thể hiện giá trị nội dung của một tác phẩm.

Có rất nhiều truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư được mở đầu bằng những lời đề từ,

có khi đó là một câu danh ngôn, một đoạn trích từ kinh phật, một câu hát dân gian,hay đôi khi chỉ là một ý nghĩ bâng quơ nhưng qua đó người đọc như nhìn thấytrước được những thân phận nhỏ bé, những hoàn cảnh éo le, những mối tìnhnghiệt ngã thông qua những lời đề từ này

- Một bài viết khác của tác giả Nguyễn Thanh Tú (in trong Tự sự

học-P2/2008) đã nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trên phương diện: “Bi

kịch hóa trần thực một phương thức tự sự” (Dựa trên cứ liệu Cánh đồng bất

tận của Nguyễn Ngọc Tư và Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng) Dưới góc

độ của tự sự học, Nguyễn Thanh Tú nhận định: ở truyện ngắn Cánh đồng bất tận

tác giả đã xây dựng được tình huống hấp dẫn, đó là tình huống bi kịch - bi kịch gia

đình tan vỡ Bắt đầu từ chuyện ngoại tình của người mẹ, vì quá hận người cha đốtnhà dẫn hai đứa con lênh đênh trên chiếc thuyền nhỏ làm nghề chăn vịt, nay đâymai đó kiếm sống Và Nguyễn Thanh Tú cho rằng đó là những tình huống mangtính giải thoát Xét dưới cấu trúc thể loại, tình huống này làm tăng tính bi kịch chocâu chuyện, lôi cuốn hấp dẫn người đọc theo dõi những sự kiện diễn biến tiếptheo.Từ những luận điểm đó, theo Nguyễn Thanh Tú bi kịch hóa trong truyện ngắn

Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư “là bi kịch hóa tình huống, những tình

huống này mang tính giải thoát, nhưng sự giải thoát ở đây được diễn ra trong một không gian không xác định, không giới hạn và không phương hướng” Bên cạnh

đó, tác giả bài viết cũng cho rằng bi kịch hóa trong truyện ngắn Cánh đồng bất

tận còn là bi kịch không gian – thời gian với điểm nhìn trần thuật di chuyển trên

trục thời gian từ hiện tại trở về quá khứ và tiếp tục ở tương lai Khi xét về cấu trúc

nhân vật, theo Nguyễn Thanh Tú thì: người kể chuyện trong Cánh đồng bất tận

cũng là nhân vật trong tác phẩm nên chỉ có một điểm nhìn nhưng mà điểm nhìnnày luôn di chuyển trên trục thời gian gấp khúc trong một không gian rộng, điềunày tạo nên tính chất nhiều giọng trong tác phẩm

Trang 13

- Phạm Thái Lê với bài viết “Hình tượng con người cô đơn trong truyện

ngắn của Nguyễn Ngọc Tư” đăng trên “Tạp chí Văn nghệ quân đội” cũng là một

bài viết có giá trị khi chỉ ra mô típ người nghệ sĩ cô đơn thường thấy trong truyệnngắn của chị trong hành trình đơn độc và vô vọng để đi tìm cái đẹp ở đời, chấpnhận đánh đổi và hy sinh, kể cả tình yêu và hạnh phúc, cuối cùng Phạm Thái Lê

rút ra nhận định đều đề cập đến nỗi cô đơn của con người nhưng quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư rất khác hẳn với các nhà văn khác Nguyễn Ngọc Tư quan niệm

“Cô đơn luôn là những nỗi đau, chính là bi kịch tinh thần lớn nhất của con người” Nhưng tác giả Phạm Thái Lê cũng khẳng định đọc những truyện ngắn của

Nguyễn Ngọc Tư, người đọc luôn cảm nhận rõ niềm cô đơn mà không thấy sự bi quan tuyệt vọng “Nhân vật trong truyện ngắn của chị luôn ý thức về sự cô đơn

Nhưng họ vẫn chấp nhận bởi họ tìm thấy trong nỗi đau ấy một lẽ sống Và từ trong nỗi đau khổ đó, họ vươn lên mạnh mẽ, để làm người” Qua đó Phạm Thái Lê

khẳng định cô đơn trong quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư là động lực của cái thiện

và cái đẹp

- Một bài viết khác của Hải Hoàng mang tên “Khói trời lộng lẫy - những

nổi trôi của kiếp người”…trên trang aFamli, trong bài viết tác giả nhận định

truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư đều mang nỗi buồn, nỗi buồn như những dòng

sông của miền Tây Nam Bộ “ Và Khói trời lộng lẫy cũng thế, cũng mang những

nỗi buồn, nhưng không buồn, không ám ảnh như Cánh đồng bất tận” Tác giả

phân tích 10 câu chuyện trong Khói trời lộng lẫy, qua đó người đọc thấy được

những thân phận bất hạnh của con người, mà đặc biệt nhất là người phụ nữ Quabài viết này, tác giả Hải Hoàng khẳng định nhà văn Nguyễn Ngọc Tư viết về

“những cảnh đời cụ thể, những thân phận cụ thể, trong một góc nhỏ bé cụ thể, nhưng những cái tưởng như nhỏ hẹp ấy lại mở ra một thế giới mới đầy chiều sâu

và mênh mang cảm xúc tình người” Ở đấy, người ta bắt gặp cái ấm áp thủy chung

của tình làng nghĩa xóm, tình vợ chồng, tình cha con, tình của những thân phậnngười dưng trôi dạt về bên nhau bởi sự đẩy đưa của cuộc đời

Trang 14

Một số bài viết, công trình nghiên cứu tìm hiểu về giọng điệu, từ ngữ, hìnhảnh trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư như: các bài nghiên cứu được đăng tải

trên website: w.w.w.viet-studies.info như Nguyên Ngọc với: Không gian… của

Nguyễn Ngọc Tư; Thụy Khuê với bài Không gian sông nước trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư; Kiệt Tấn - Sông nước Hậu giang và Nguyễn Ngọc Tư; và

rất nhiều bài viết khác: Nguyễn Trọng Bình - Nguyễn Ngọc Tư và hành trình

“trở về”; Nguyễn Trọng Bình - Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn

từ phương diện nội dung tự sự; Nguyễn Trọng Bình - Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hoá; Trần Hữu Dũng - Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền nam… Từ đó có những nghiên cứu, đánh giá về phong cách truyện ngắn của

Nguyễn Ngọc Tư

Một số bài viết, phỏng vấn Nguyễn Ngọc Tư cũng góp phần có liên quan

đến đề tài như: Hồ Anh Thái - Tuổi trẻ (22/11/2003), “Văn học hôm nay: trẻ

trung đâu cần mỹ phẩm” VnExpreess (11/7/03), Nguyễn Ngọc Tư “Tôi thèm được quất vài roi để lớn lên” Hiền Hoà - Vnexpreess (21/1/04), “Nguyễn Ngọc

Tư tôi không muốn ngủ quên vì giải thưởng” Quang Vinh - Tuổi trẻ (9/3/04),

“Nguyễn Ngọc Tư nhà văn của xóm rau bèo” Trần Hoàng Thiên Kim - Hà Nội

mới (10/5/04), “Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư “Quả sầu riêng của trời” Nhã Vân Người lao động (2/8/04), “Đem chuyện phòng the ra viết, hổng dám đâu!” Anh

-Vân - Evan (6/05), “Nguyễn Ngọc Tư “tôi viết như cảm xúc của mình” Thanh Vân - Evan (27/9/05), “Nguyễn Ngọc Tư thử “xen canh” trên đất của mình”.

Từ Nữ - Giáo dục và thời đại (6/10/05), “Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư “nhiều khi

thấy ngạc nhiên về mình” Phạm Xuân Nguyên - Tuổi trẻ (03/12/05) “Dữ dội và nhân tình” Hạ Anh - Thanh niên (19/01/2006), “Đọc tạp văn Nguyễn Ngọc Tư - Quen mà lạ” Nguyễn Thị Hồng Hà - Công an nhân dân (3/02/06), “Đằng sau

thành công là gánh nặng” Ban tuyên giáo Tỉnh uỷ Cà Mau ra hai công văn (số

35 và số 41 - BC/TG), kiểm điểm nhà văn Nguyễn Ngọc Tư (tác phẩm Cánh

đồng bất tận) Tháng 7/2005, trên báo Văn nghệ số 39, bài vết: “Nguyễn Ngọc Tư

như là một “đặc sản” miền Nam” của tác giả Hoàng Thiên Nga Dưới góc độ

Trang 15

ngôn ngữ học, theo tác giả bài viết thì “đặc sản” trong sáng tác của Nguyễn Ngọc

Tư là: “nồng độ phương ngữ miền Nam”

Ngoài những bài nghiên cứu này, trên Báo điện tử (Tuổi trẻ Online) tính từngày (7/4/2006) đến ngày (12/4/2006) có 868 ý kiến gửi đến online Trong đó có

13 ý kiến phê phán - phản đối dữ dội, còn 855 ý kiến tấm tắc khen (Cánh đồng

bất tận), tiêu biểu những bài viết: Hoàng Anh Thi (Văn học ca ngợi cái tốt, cũng phải phê phán cái xấu), Trần Kim Trắc (Cánh đồng bất tận cái phao của lòng nhân ái) Phạm Xuân Nguyên (Thư ngắn gửi Nguyễn Ngọc Tư: Bài học Nam Cao), Nguyễn Hồng Kỳ (Đẹp xấu trong Cánh đồng bất tận, tiếng nói của độc giả…),Chu Tước (Cánh đồng bất tận quá thành công), Socnau (Kết truyện

“Cánh đồng bất tận” tàn nhẫn quá), Nguyễn Khắc Phê (Một thế giới nghệ thuật riêng) v.v Nghiên cứu cảm hứng bi kịch trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

không phải là mục đích của những bài viết này, nhưng khi tìm hiểu về NguyễnNgọc Tư, truyện ngắn và tạp văn của chị, họ đã gián tiếp đề cập đến vấn đề bikịch Nhìn chung, các tác giả quan tâm đến những vấn đề sau: Hình tượng cánhđồng, mô hình tự sự, mô típ mối tình tay ba (gắn với cải lương),…

Một số bài viết công trình nghiên cứu bàn về quan niệm con người trongtruyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư như: Trần Hữu Dũng (2004) - www.viet-studies.org/

Nguyễn Ngọc Tư, “Nguyễn Ngọc Tư “đặc sản” Miền Nam” Dạ Ngân (2004) Văn nghệ trẻ (15), “Nguyễn Ngọc Tư - Điềm đạm mà thấu đáo” Minh Phương

-(2004) - Nhân dân (ngày 31/5), “Đọc sách: “Nước chảy mây trôi” - Tập truyện

ngắn và kí mới của Nguyễn Ngọc Tư” Minh Thi (2004) - Lao động (ngày 11/4),

“Nguyễn Ngọc Tư và những bộ mặt tâm trạng” Hoàng Thiên Nga (2005) - Văn

nghệ (39), “Đọc Nguyễn Ngọc Tư qua Cánh đồng bất tận” Thảo Vy (2005) Tạp chí văn hóa Phật giáo (11), “Nỗi đau trong cánh đồng bất tận” Đặng Anh

Đào (2006) Văn nghệ (1718), “Sự sống bất tận” Nguyễn Văn Tám (2006) Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học sư phạm Huế, Đặc điểm truyện ngắn

-Nguyễn Ngọc Tư Trong bình luận ở Diễn đàn văn hóa (2006), với bài viết: “ Của

vịt và người, thế giới bất hạnh trong Cánh đồng bất tận”- tác giả Nguyễn

Trang 16

Mạnh Trinh Khi khai thác về cuộc hội thoại giữa con vịt mù và hai chị em Điền,

theo tác giả bài viết thì: “Đó là ảo giác”, nó được kết thành bởi sự “quá cô đơn” của con người nên sinh ra cái “linh tính” ấy Huỳnh Công Tín (2006) - Văn nghệ

sông Cửu Long (15), “Nguyễn Ngọc Tư nhà văn trẻ Nam bộ” Bùi Việt Thắng

(2006) - Nghiên cứu văn học (7), “Bài học văn chương từ Cánh đồng bất tận” Trần Văn Sỹ (2006) - Văn nghệ trẻ (15) “Bức tranh quê buồn tím ngắn” Nguyễn

Tý (2006) - Công an Tp Hồ Chí Minh (ngày7/2), “Ngày đầu năm đọc “Cánh

đồng bất tận” với sức hút kỳ lạ” Đăng Vũ (2006) - Nhà văn (12), “Cổ tích trên cánh đồng bất tận” Đoàn Ánh Dương (2007) - Nghiên cứu văn học (2), “Cánh

đồng bất tận nhìn từ mô hình tự sự và ngôn ngữ trần thuật” Phạm Thuỳ Dương

(2007) - Văn nghệ quân đội (661), “Cảm hứng cảm thương trong sáng tác Đỗ

Bích Thuỷ và Nguyễn Ngọc Tư” Từ bình diện thi pháp học, tác giả Đào Duy

Hiệp đã khai thác: “Chất thơ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” (Báo Văn nghệ 7/2006) Theo tác giả bài viết thì “chất thơ” trong Cánh đồng bất tận là sự

lặp lại ở cấp độ từ ngữ, mà sự lặp lại ở cấp độ từ ngữ này lại được thể hiện trong

“nỗi nhớ”: “Nỗi nhớ tràn ngập qua mỗi trang truyện ( ) tạo thành những lớp

sóng cồn cào, trùng điệp, lặp lại, vang xa, khắc khoải và day dứt” Đặc biệt khi

bàn về không gian trong Cánh đồng bất tận, tác giả Đào Duy Hiệp nhận định:

“Đó là lớp không gian chồng lên nhau, vô danh mà gần gũi Một sự đấu tranh giữa không gian của tâm hồn, của lòng người với không gian hiện hữu của cánh đồng đang ngày càng bị đô thị hóa” Tháng 2/2008, trên báo Sài Gòn tiếp thị có

ghi nhanh ý kiến của nhà văn Nguyên Ngọc: “Nguyễn Ngọc Tư nào có muốn nói

về Cà Mau, một miền đất chẳng qua cô chỉ gởi vào cái khung cảnh ấy, trên đất đai

ấy - nơi cô quen thuộc hơn bất cứ nơi nào trên thế gian này: một kiếp người, những kiếp người - hạnh phúc, nhọc nhằn và đau khổ muôn đời của con người, cái thiên thần và quỷ sứ trộn lẫn bất trị, không gì, không bao giờ chữa nỗi trong con người, và nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã đưa sản phẩm của mình ra đời, nó mang một sức sống mới, vượt ra khỏi những khuôn sáo, mang tính toàn cầu hóa như ai” Tháng 8/2008, trên báo Quân đội văn nghệ tổ chức, trong bài tham luận

Trang 17

tại tọa đàm “Lí luận phê bình văn học hôm nay”, nhà thơ Hữu Thỉnh đã khẳng định: “Tác phẩm Cánh đồng bất tận đầy tính nhân văn, Nguyễn Ngọc Tư đã có

sự bức phá ngoạn mục, tự vượt lên chính mình và tạo nên những bất ngờ thú vị cho giới nhà văn”

Nhìn chung, các bài nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trên đây

là những tìm tòi, những khám phá đáng trân trọng Cho đến thời điểm này chúngtôi vẫn chưa tìm thấy một chuyên luận về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, những tàiliệu tìm được chỉ dừng lại ở bài nghiên cứu nhỏ Trong số những vấn đề đã được

tiếp cận về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư thì vấn đề “Cảm hứng bi kịch trong

truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” chưa được đề cập đến một cách toàn diện và hệ

thống Vì thế đó là phần đất trống mà chúng tôi hy vọng có thể khai phá Tuy

nhiên, kết quả nghiên cứu của những bài viết trên đây là những gợi mở quý giágiúp ích cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

Bản thân chúng tôi nhận thấy rằng, tác giả là một hiện tượng văn học, cáimới lạ, sự khen chê bao giờ cũng kích thích và gây hứng thú tìm tòi, khám phá.Biết rằng, một tác phẩm nghệ thuật có nhiều cách tiếp cận khác nhau Vì vậy, khichọn đề tài này, chúng tôi cố gắng lĩnh hội các quan điểm, ý tưởng từ các bài viếtcủa các tác giả đã đề cập, đồng thời mạnh dạn đưa ra những ý kiến, những cảm

nhận riêng để có một cách nhìn hệ thống Cảm hứng bi kịch trong truyện ngắn

Nguyễn Ngọc Tư, nhằm góp thêm một cách nhìn mới về những giá trị trong truyện

ngắn của chị

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Khóa luận chủ yếu tập trung phân tích, lý giải và làm nổi bật “Cảm hứng bi

kịch” trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư qua hai bình diện nội dung tư tưởng và

nghệ thuật biểu hiện

Để thực hiện nhiệm vụ mà đề tài nghiên cứu đã đặt ra, chúng tôi tiếnhành tập khảo sát 7 tập truyện ngắn xuất sắc, tiêu biểu của nhà văn Nguyễn NgọcTư:

Trang 18

- Ngọn đèn không tắt 2000

- Biển người mênh mông 2003

- Giao thừa 2003

- Nước chảy mây trôi 2004

- Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 2005

- Cánh đồng bất tận 2006

- Gió lẻ và chín truyện ngắn khác 2008

- Khói trời lộng lẫy 2010

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Khóa luận giới hạn ở việc nghiên cứu các sáng tác của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư ở thể loại truyện ngắn Ngoài ra, luận văn còn có đề cập ít nhiều đến các tác phẩm khác của các nhà văn cùng thời để có cơ sở so sánh khi cần thiết

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu khóa luận sử dụng và phối hợp các phương pháp sau đây:

Phương pháp tổng quát của khóa luận là phương pháp nghiên cứu lịch sử, gắn hiện tượng văn học vào giai đoạn lịch sử xã hội

Cảm hứng bi kịch là một dạng cảm hứng sáng tạo trong nghệ thuật Như vậy phương pháp nghiên cứu cụ thể có liên quan đầu tiên là phương pháp loại hình Căn cứ vào đó ta có thể xác định nét bản chất loại hình của nhiều hiện tượng văn học có biểu hiện phức tạp về cảm hứng

Khóa luận cũng sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp như những phương pháp công cụ Từ sự phân lập các yếu tố của nội dung và hình thức của tác phẩm mới có thể tìm hiểu kĩ những biểu hiện của cảm hứng bi kịch Mặt khác, đặt cảm hứng bi kịch vào hệ thống các dạng cảm hứng khác sẽ cho một cái nhìn vấn

đề toàn diện sâu sắc hơn Bên cạnh đó khóa luận còn sử dụng thủ pháp so sánh,

Trang 19

phương pháp thống kê, phương pháp tiếp cận hệ thống để làm rõ cảm hứng bi kịchtrong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư.

5 Kết cấu của khóa luận:

Tương ứng với nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần Mở đầu, Kết

luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được triển khai thành 3

chương như sau:

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẢM HỨNG BI KỊCH VÀ NHÀ

VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ

Chương 2: CẢM HỨNG BI KỊCH TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN

NGỌC TƯ - NHỮNG BIỂU HIỆN VỀ NỘI DUNG

Chương 3: CẢM HỨNG BI KỊCH TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN

NGỌC TƯ - NHỮNG BIỂU HIỆN VỀ NGHỆ THUẬT

PHẦN NỘI DUNG

Trang 20

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẢM HỨNG BI KỊCH VÀ NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ

Quá trình sáng tạo của nhà văn bắt đầu từ khi nảy sinh những dự tính, sau

đó là quá trình nảy sinh những quan niệm mang tư tưởng sáng tạo của tác phẩmvăn học, những tư tưởng ấy thường gắn liền với sự thụ cảm của nhà văn với cuộcsống dưới hình thức cảm xúc

Khái niệm cảm hứng đã được đề cập từ lâu trong lý luận nghệ thuật ở Châu

Âu Có lẽ Hegel là người đưa ra một lý luận tương đối hoàn chỉnh về nó và đã xem

nó là một trong các phạm trù mỹ học Ông cho rằng cảm hứng là trung tâm củavương quốc nghệ thuật, là cầu nối giữa chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận nghệ

thuật Ông viết: “tình cảm tạo nên trung tâm thực sự trên vương quốc chân chính

của nghệ thuật; thể hiện tình cảm là chủ yếu trong tác phẩm nghệ thuật, cũng như trong cảm thụ của công chúng là “sức mạnh của tâm hồn tự thể hiện trong chính

nó, là nội dung chủ yếu của lý tính và tự do” [52, tr208].

Đồng tình với quan điểm của Hegel, nhà phê bình Beilinski cũng đề cao vai

trò cảm hứng Ông nói “ mỗi tác phẩm nghệ thuật phải là kết quả của cảm hứng

chủ đạo, phải thấm đượm nó Thiếu cảm hứng chủ đạo thì không thể hiện được là cái gì đã buộc nhà thơ cầm bút và cung cấp cho anh ta sức lực và khả năng để khởi đầu và kết thúc một tác phẩm đôi khi khá đồ sộ” [52, tr39 ] Tuy nhiên

Beliski đã triển khai một cách cụ thể hơn những luận điểm còn khá trừu tượng củaHegel Ông cho rằng những tác phẩm nghệ thuật đích thực, tư tưởng không thể

Trang 21

được diễn tả một cách khô khan, trừu tượng, giáo điều, lí tính mà nó phải là một

“nhiệt tình sinh động” tư tưởng phải “tạo linh hồn tỏa vào trong tác phẩm, giống như ánh sáng chiếu vào pha lê” [51, tr208-209] Trong tác phẩm nghệ thuật,

“cảm hứng biến sự nhận thức của trí tuệ về một tư tưởng nào đó trở thành lòng say mê đối với tư tưởng đó, trở thành năng lượng và thành khát vọng nồng nhiệt”

[51,tr 208-209]

Poselov chủ yếu đặt ra những yêu cầu đối với cảm hứng Đối với ông, cảm

hứng phải là “sự đánh giá sâu sắc và chân thực lịch sử đối với các tính cách được

miêu tả vốn nảy sinh từ ý nghĩa dân tộc khách quan của tính cách ấy” [51, tr

152-153]

Ở đây, Pospelov đã quan tâm đến tính chân lý lịch sử của tác phẩm văn học,tức là nhà văn phải yêu những cái đáng ghét, ca ngợi những cái đáng ca ngợi Nếunhà văn ca ngợi hành động chiến đấu dũng cảm của một tên giặc ngoại xâm hay đềcao vai trò của một giai cấp thống trị mục ruỗng thì sự ca ngợi, đề cao ấy khôngtrở thành cảm hứng hoặc đó chỉ là thứ cảm hứng giả tạo vì nó mất tính khách quan

lịch sử Ông viết tiếp: “ở những tác phẩm không có chiều sâu của hệ vấn đề, sự lí

giải và đánh giá các tính cách sẽ không được nâng lên thành cảm hứng Ở những tác phẩm mang tư tưởng giả tạo, cảm hứng sẽ mang tính chất gượng gạo, cố tình”

[ 51, tr152-153]

Như vậy, từ những quan điểm của các nhà mỹ học, các nhà nghiên cứu vàphê bình văn học, chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất cảm hứng là một tìnhcảm mạnh mẽ như nhiệt tâm, say mê, mang tư tưởng của nhà văn hướng về đốitượng Cảm hứng trong tác phẩm nghệ thuật không phải là một thứ tình cảm giảtạo hay hời hợt mà phải là một thứ tình cảm sâu sắc mãnh liệt Đó phải là một nỗi

đau xé lòng, một thứ tình yêu tha thiết, một sự căm ghét tận xương tủy kiểu “ghét

cay ghét đắng vào tận tâm” ( Nguyễn Đình Chiểu)… cảm hứng trong tác phẩm

phải là thứ tình cảm nghiêng về phía lẽ phải, gắn liền với những tư tưởng lành

mạnh, tiến bộ, cao đẹp Nói cách khác, “đó là niềm say mê khẳng định chân lí, lí

tưởng, phủ định sự giả dối và mọi hiện tượng xấu xa, tiêu cực, là thái độ ngợi ca,

Trang 22

đồng tình với những nhân vật chính diện, là sự phê phán, tố cáo các thế lực đen tối, các hiện tượng tầm thường” [39, tr268].

1.1.1.2 Cảm hứng bi kịch

Khi xã hội có giai cấp ra đời thì trong xã hội luôn tồn tại hai thế lực: cái tốt

và cái xấu xa Sự xung đột giữa cái tốt đẹp, cái thiện và cái xấu xa, cái ác, làmxuất hiện cái bi Nhưng theo các nhà mỹ học, nếu cái hài là xung đột giữa cái tốt

và một phần cái xấu xa Như vậy, bản chất của cái bi là sự xung đột Song không

phải xung đột nào cũng mang tính chất bi Bielinski cho rằng: “Cái bi bao hàm

trong sự xung đột giữa sự say mê của con tim với tư tưởng về nghĩa vụ - bao hàm trong sự đấu tranh bắt nguồn từ sự xung đột đó và sau cùng, bao hàm ở sự thắng lợi hoặc sụp đổ” [51, tr.196].

Như vậy, theo Bielinski, xung đột tạo nên cái bi là xung đột giữa tình cảm

và cá nhân và tư tưởng về nghĩa vụ và hướng đến cái chung mang tính cộng đồng.Cũng theo Bielinski, xung đột tạo nên cái bi là xung đột mang tính chất quá trình.Trong đó, vấn đề không chỉ là xung đột mà chính là sự kết thúc xung đột Tuy

nhiên, trước đó, theo quan điểm của Marx và Engel, cơ sở của cái bi là sự “xung

đột giữa yêu cầu tất yếu về mặt lịch sử với việc không có khả năng thực hiện yêu cầu đó trong thực tiễn” [41, tr.159].

Từ hai quan điểm trên, có thể thấy rằng, xuất phát từ góc độ triết học vềmối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, theo quan điểm Mác-xít, cái bi là hệ quả củaxung đột tất yếu giữa hai phương tiện tình cảm và lí trí, giữa yêu cầu của thời đại

và khả năng của con người Như vậy, xung đột trong bi kịch không phải là xungđột thông thường mà phải là những xung đột mang ý nghĩa xã hội, lịch sử, nhânsinh, ở đó, con người phấn đấu hơn để vượt lên chính mình Tuy nhiên, bi kịchtrong văn học nghệ thuật hiện đại xuất hiện đa dạng hơn nhiều Có thể thấy ở đâynhững bi kịch của hạnh phúc cá nhân, bi kịch của một nỗi đau, nỗi mất mát khôngthể nào quên trong quá khứ, bi kịch của con người lạc lõng với hoàn cảnh … Như trên đã nói, bi kịch gắn liền với sự xung đột giữa cái tốt đẹp và cái xấu

xa, gắn liền với nỗi đau khổ của con người Mặt khác, cảm quan bi kịch chỉ hình

Trang 23

thành khi con người có sự phát triển nhất định về trí tuệ và phẩm chất mới có sự tự

ý thức về tình trạng bi kịch của mình Bi kịch chỉ xảy ra khi con người có sự đaukhổ, tổn thất Nhưng sự đau khổ, tổn thất ấy không chỉ là hệ quả của sự xung độtvới hoàn cảnh bên ngoài mà còn là hệ quả của sự xung đột với chính bản thânmình

Mặt khác, theo Popelov: “khi ở trong tình huống bi kịch, người ta trải

nghiệm sự căng thẳng và sự lo âu sâu sắc trong tâm hồn, khiến người ta phải chịu những đau khổ, thường rất nặng nề” Pospelov còn cho rằng những lo âu, đau khổ

này nảy sinh chủ yếu không phải do “những xung đột với các thế lực nào đó từ

bên ngoài, đe dọa những lợi ích thiết cốt nhất, đôi khi đe dọa chính ngay sự sống của người ta, và gây ra sự phản kháng mà chủ yếu ở những mâu thuẫn và đấu tranh bên trong, nảy sinh trong ý thức, trong tâm hồn con người” [51, tr.170]

Nhân vật Hộ trong tác phẩm Đời thừa của nhà văn Nam Cao làm sao cóthể lâm vào bi kịch nếu anh không có sự đấu tranh, dằn vặt đầy đau đớn trong tâmhồn vì nhận ra sự tha hóa ngòi bút lẫn nhân cách của mình? Đứng từ phương diệnbiểu hiện, nếu cái hài xuất hiện khi cái đẹp đủ sức chiến thắng cái xấu thì cái bixuất hiện khi cái đẹp bị cái xấu lấn át và vùi dập Như vậy, nói đến cái bi là nóiđến nỗi đau khổ, mất mác, chết chóc Đó là nỗi đau khổ, dằn vặt trong nội tâm.Nhưng không phải mọi đau khổ và cái chết chóc đều là cái bi Cái chết đáng đờicủa một kẻ xấu, hoặc cái chết ngẫu nhiên không mang ý nghĩa cao cả của mộtngười tốt cũng không thể gọi là cái bi Cái bi là sự đau thương mất mác, nhưng là

sự đau khổ mất mác của lý tưởng, của cái cao cả, của cái đẹp Ở đây, nhân vật bikịch không phải là những nhân vật phản diện Arstote trong Nghệ thuật thi ca đã

cho rằng nếu hài kịch nhằm “miêu tả những người xấu nhất” thì bi kịch lại nhằm

“miêu tả những người tốt nhất so với những người trong thực tế” [1,tr185].

Theo Aristote, bi kịch phải có tác dụng “thanh lọc” tâm hồn con người, “bi

kịch làm thức tỉnh tình thương và nỗi sợ hãi và qua đó thực hiện sự thanh lọc đối những cảm xúc ấy” [1,tr.35] Aristote còn giải thích thêm “sự xót thương nảy sinh

là khi ta thấy một người vô tội mà chịu điều bất hạnh” [1, tr.198] Ông còn cho

Trang 24

rằng, bi kịch hay nhất là bi kịch số phận của nhân vật trong cốt truyện thay đổi “từ

hạnh phúc sang bất hạnh”, chứ không phải là “từ bất hạnh sang hạnh phúc” Như

vậy bi kịch trong nghệ thuật không làm cho người ta bi quan chán nản mà làm cho

người ta cảm thấy được “thanh lọc” Bi kịch là “một loại hình thẩm mỹ nghiêm

trang dùng tiếng khóc để răn đời” Bi kịch phải khích lệ và biểu dương sự sống.

Bi kịch đặt chúng ta cận kề cái chết để chung ta hiểu hết giá trị cuộc sống và biết

quý sự sống Bi kịch giúp chúng ta “ lĩnh hội cuộc sống trong sự phong phú phức

tạp có thật của nó, đồng thời khơi dậy những tình cảm cao cả, lành mạnh, kích thích những hành động mãnh liệt và sự tham gia tích cực vào cuộc sống” [11,

tr.160]

Như vậy, cảm hứng bi kịch là một trong số nhiều dạng cảm hứng sáng tác

của nhà văn, chứa đựng tình cảm, tư tưởng của nhà văn gắn liền với một tư tưởngxác định, một cách đánh giá nhất định của tác giả và tác động được đến cảm xúccủa người tiếp nhận Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về cảm hứng bi kịch, cần đặt kháiniệm này trong sự đối sánh với các khái niệm bi kịch, cái bi Nếu cảm hứng bikịch mang đậm dấu ấn chủ quan của nhà văn thì bi kịch mang tính khách quan hơntrong vai trò là một thể loại văn học với những qui định, khuôn mẫu thể loại riêng

buộc người viết phải tuân thủ Đó là thể loại “dựa vào xung đột, bi đát của các

nhân vật anh hùng, có kết thúc bi thảm và tác phẩm đầy chất thống thiết” Là một

thể loại văn học, bi kịch xuất hiện từ rất sớm và nhanh chóng được công chúnghào hứng đón nhận Thế kỉ V trước công nguyên, bi kịch cổ đại Hy Lạp ra đời từthể kỉ XVI đến XVIII Châu Âu bùng nổ sự phát triển của bi kịch cổ điển với nhiều

tên tuổi Shakespeare, braxin, coocnay được xem như là “một trạng thái tình cảm

mãnh liệt” cảm hứng bi kịch dường như đồng hành cùng với văn chương ngay từ

thuở ban sơ khi con người có nhu cầu mượn văn chương để kí thác tâm trạng, giảibày nỗi niềm buồn vui đau khổ của mình Bởi vậy không thể đồng nhất cảm hứng

bi kịch với bi kịch dù giữa hai khái niệm này có sự gặp gỡ nhau ở trạng thái buồnthảm, cảm xúc thương đau, có tính thống thiết

Trang 25

Bên cạnh sự tương đồng đó, cảm hứng bi kịch cũng có nhiều mối liên hệtương giao với khái niệm cái bi tuy không phải bao giờ chúng cũng trùng khít vớinhau Theo nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi – cái bi là

“phạm trù mỹ học phản ánh một hiện tượng có tính quy luật của thực tế đời sống

xã hội thường diễn ra trong cuộc đấu tranh không ngang sức giữa cái thiện với cái ác, cái mới với cái cũ, cái tiến bộ với cái phản động…trong điều kiện những cái sau còn mạnh hơn những cái trước Đó là sự trả giá tự nguyện cho những chiến thắng và sự bất tử về tinh thần bằng nỗi đau và cái chết của nhân vật chính diện Cái bi tạo một cảm xúc thẩm mĩ phức hợp bao hàm cả nỗi đau xót, niềm hân hoan lẫn nỗi sợ hãi khủng khiếp Cái bi thường đi liền với nỗi đau và cái chết, song bản thân nỗi đau và cái chết chưa phải là cái bi Chúng chỉ trở thành cái bi khi hướng tới và khẳng định cái bất tử về mặt tinh thần của con người” [26] Gắn

cái bi với nỗi buồn với đau thương mất mát – “ nhưng là sự mất mác của lí tưởng,

của cái cao cả, cái đẹp”, nhóm tác giả Phương Lựu, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hòa…

khẳng định “cái bi rất gần gũi với cái cao cả” không phải là một phạm trù mỹ

học mà là một trạng thái tình cảm mãnh liệt gắn liền với một tư tưởng cụ thể của nhà văn nhằm tạo ra xúc cảm cho bạn đọc nhưng cảm hứng bi kịch có sự tương đồng với cái bi ở chỗ “đi liền với nỗi đau và cái chết”, tạo ra “nỗi đau xót, niềm hân hoan và nỗi sợ hãi khủng khiếp” [39] Cảm hứng bi kịch vì thế được hiểu như

là cái nhìn mang nỗi thương đau, mang niềm xót xa, mang mỗi quan hoài thốngthiết về hiện thực về con người…cái buồn đau xót xa ấy được cất lên từ chínhnhững ngang trái, những oái oăm phạm vào cõi thiêng liêng của cái đẹp, cái thiện.Cảm hứng bi kịch vì thế là cảm hứng viết về nỗi buồn chứ không phải niềm vui, lànốt lặng trầm chứ không phải khúc hoan ca

Bàn về cái bi, Mác cho rằng “bản chất của cái bi là sự xung đột” – đó là

“xung đột giữa yêu cầu tất yếu về mặt lịch sử với việc không có khả năng thực hiện được yêu cầu đó trong thực tiễn” [40] Với bản chất là sự xung đột, cái bi

được biểu hiện trong phạm trù nội dung của tác phẩm Cảm hứng bi kịch có mộtbình diện thể hiện rộng lớn hơn - ở cả mặt nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

Trang 26

Được coi là yếu tố chủ đạo của bản thân nội dung nghệ thuật, của thái độ tư tưởng

và xúc cảm của nghệ sĩ đối với thế giới được miêu tả, cảm hứng bi kịch hiện diệnngay từ nội dung phản ánh của tác phẩm, từ cái nhìn về hiện thực, cách xây dựngnhân vật, xây dựng tình huống…cho tới giọng điệu, ngôn ngữ và các biện pháp tổchức nghệ thuật khác của tác phẩm Nói cách khác cảm hứng bi kịch được biểuhiện thông qua các phức hợp các bình diện nội dung và hình thức trong mối quan

hệ bổ khuyết cho nhau

1.1.2 Các dạng cảm hứng

Cuộc sống vốn đa dạng, nên thái độ, tình cảm của nhà văn dành cho conngười và cuộc sống cũng phong phú không kém Do đó cảm hứng cũng có nhiềudạng thức Hegel là người đầu tiên phân chia cảm hứng Trong đó ông chú ý nhiềuđến cảm hứng anh hùng mà ngày nay ta gọi là cảm hứng phê phán Bielinski chia

ra 4 dạng cảm hứng: cảm hứng bi kịch, cảm hứng kịch tính, cảm hứng lãng mạn,cảm hứng châm biếm Pospelov cho rằng do những khác biệt cốt yếu của bản thâncuộc sống nên cảm hứng cũng thể hiện thành một số dạng thức như: cảm hứng anhhùng, cảm hứng bi kịch, cảm hứng kịch tính, cảm hứng cảm thương , cảm hứnglãng mạn, châm biếm và cảm hứng hài hước

Trong tác phẩm, cảm hứng ít tồn tại dưới một dạng thức đơn độc, mà gồmnhiều dạng thức đan xen nhau Ranh giới của chúng không phải lúc nào cũng rõràng, dứt khoát Chẳng hạn trong thơ Tố Hữu, đôi khi, cảm hứng anh hùng và cảmhứng lãng mạn đan cài, quyện lẫn vào nhau tạo thành một tình cảm nồng nhiệt,chân thành Trong bài Người con gái Việt Nam, nhân vật trữ tình hiện lên như mộthình tượng anh hùng thể hiện cho lí tưởng yêu nước của nhà thơ, vừa thể hiện choniềm tin tưởng vào tương lai tất thắng của dân tộc Tuy nhiên, một bức tranh dẫu

có nhiều gam màu vẫn thường có một gam màu chính; một bản hòa âm phức tạpvẫn thường có một âm chủ đạo Các dạng thức của cảm hứng dẫu có tồn tại đanxen nhau nhưng luôn có một dạng thức giữ vai trò nổi bật, gọi là cảm hứng chủđạo Tình yêu trong tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách có yếu tố bi kịchnhưng chủ yếu được viết bởi cảm hứng lãng mạn Nhưng vở bi kịch của

Trang 27

Shakespeare không phải không có yếu tố phê phán nhưng lại được viết bởi cảmhứng bi kịch Vì vậy, sự đa dạng trong cách biểu hiện cảm hứng là tất yếu trongvăn học nghệ thuật Khi cảm hứng trở thành cảm hứng chủ đạo thì nó thấm nhuầntrong toàn bộ thế giới hình tượng của tác phẩm Cảm hứng châm biếm trong tácphẩm Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng không chỉ bộc lộ qua việc xây dựng tình huống,chân dung nhân vật mà còn cả trong lời văn, giọng văn

Ở mỗi nhà văn khác nhau, cảm hứng và các dạng thức của nó được biểuhiện không giống nhau Điều này tùy thuộc vào cá tính sáng tạo và quá trình laođộng nghệ thuật rất riêng của họ Cảm hứng lãng mạn trong thơ Xuân Diệu thểhiện cái tôi cô đơn khát khao giao cảm với đời Nó chi phối đến cả giọng điệu đắmsay, lãng mạn và những cảm nhận tinh tế của nhà thơ về thiên nhiên và cuộc sống.Còn cảm hứng lãng mạn trong thơ Tố Hữu là cảm hứng của cái tôi gắn với cái tachung của dân tộc, của cộng đồng Cái tôi ấy thấm nhuần lí tưởng cộng sản vàniềm lạc quan cách mạng Thế nên, một trong những hình tượng con đường cáchmạng đó là hình tượng thể hiện chí hướng và lý tưởng cách mạng hướng đến cáichung và con đường tương lai của dân tộc

Cảm hứng và các dạng thức của nó ở mỗi thời đại văn học được biểu hiệnkhông giống nhau Cảm hứng anh hùng trong văn học cổ đại phương Tây thườngxây dưng hình tượng các vị thần, những tráng sĩ hoặc những anh hùng ( heros) đãlập nên những chiến công phi thường vì sự tiến bộ của nhân loại và thời đại nhưPromethee bị xiềng, Achilles, Hektor ( Iliat của Homer)… Trong các thời đại sau,với điều kiện của các giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội, cảm hứng anhhùng thường phản ánh các sự kiện lịch sử có thật hoặc làm sống lại những nhânvật lịch sử có thật của dân tộc Trong đó những người anh hùng sẵn sàng xả thân

vì lợi ích của dân tộc và nhân dân trong các tác phẩm Bài ca chàng Rolang của

văn học Pháp, Piotr đại đế, Chiến tranh và hòa bình… của văn học Nga Mặt

khác, cảm hứng và các dạng thức của nó ở mỗi nền văn học dân tộc khác nhaucũng được biểu hiện khác nhau Cảm hứng anh hùng với mẫu hình những ngườianh hùng hảo hán đề cao đạo đức “nghĩa”, “ nhân” như những nhân vật anh hùng

Trang 28

Lương Sơn Bạc, những nhân vật anh hùng, nghĩa khí trong Tam quốc diễn nghĩacủa văn học Trung Quốc, hoặc Từ Hải trong văn học Việt Nam không giống vớimẫu hùng hiệp sĩ trong văn học phương Tây Cơ sở của những nét riêng này có từquan niệm về con người trong bản sắc văn hóa của từng dân tộc Đối với văn hóaTrung Quốc, mẫu người anh hùng gắn liền với quan niệm về người “quân tử” củaNho giáo Hoặc cảm hứng châm biếm với cách vận dụng độc đáo các biểu tượng

và ngôn ngữ dân gian của thơ nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương chỉ có trong vănhọc Việt Nam mà thôi

Như vậy khái niệm cảm hứng, với những dạng thức khác nhau của nó, làmột trong những khái niệm trọng tâm và xuyên suốt của lý luận văn học dùng đểxem xét những vấn đề cho việc đánh giá những vấn đề liên quan đến phong cách

và cá tính sáng tạo của nhà văn Hơn nữa chính nó gắn kết những đóng góp về mặt

tư tưởng, tình cảm của nhà văn lịch sử văn học nói riêng, lịch sử tư tưởng nhânloại nói chung

1.1.3 Cảm hứng bi kịch trong văn học

Cảm hứng bi kịch trong tác phẩm văn học không chỉ là sự xót xa, thươngtiếc, đồng cảm với nhân vật mà còn đi liền với niềm trân trọng, cảm phục nhữngcon người có sức mạnh vượt ra khỏi sự tầm thường của cuộc sống

Bi kịch trong tác phẩm văn học rất đa dạng Đó có thể là bi kịch của cái mới,cái tiến bộ, cái cách mạng còn đang trong thế yếu Đây chính là một dạng của bikịch lịch sử Ở dạng bi kịch này, nhân vật đứng lên vì yêu cầu của lịch sử, đại diệncho sự tiến bộ của xã hội, nhưng điều kiện để thực hiện yêu cầu đó lại chín muồi.Cái chết của nhân vật là cái chết đầy bi kịch nhưng không bi thảm Vì cái chết đó

có tác dụng cổ vũ mọi người đứng dậy đấu tranh cho lẽ phải Cái chết của những

người nghệ sĩ Cần Giuộc trong tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc không hề

uổng phí vì nó cổ vũ cho những người còn sống tiếp tục đứng dậy để chống lạibọn xâm lược Pháp Cái chết của họ là cái chết đi vào lịch sử Bi kịch của cái mới

ở đây là bi kịch của những người nông dân “thấp cổ bẻ họng” lần đầu tiên đứnglên nắm ngọn cờ khởi nghĩa

Trang 29

Từ phương diện lịch sử, theo Karl Marx, bi kịch của cái cũ là “sự lầm lạc củanhững con người chưa nhận thức ra tính tất yếu của quá trình đang chết dần cái cũ,nên vẫn đem hết tài trí và sức lực của mình ra để bảo vệ nó, do đó họ không thểtránh khỏi thất bại thảm thương và bị tiêu vong oan uổng” [40] Chàng DonQuichotte trong một tác phẩm cùng tên của nhà văn Tây Ban Nha Cervantes làmột điển hình của loại bi kịch này Chàng chiến đấu cho lý tưởng cao đẹp nhưng

lý tưởng đó trở nên lạc lõng, trở thành “ảo tưởng” khi thời đại hiệp sĩ đã qua rồi

Một dạng bi kịch có phần mang tính chất “định mệnh” cũng thường thấytrong văn học là bi kịch của sự lầm lẫn, của sự kém hiểu biết Oedipe trong tác

phẩm Oedipe làm vua của tác giả Sophocle, do nhầm lẫn đã giết chết cha và lấy

mẹ ruột của mình Khi biết sự thật, Oedipe đã tự chọc thủng đôi mắt của mình đểtrừng phạt cho sự nhầm lẫn tai hại ấy chàng dũng tướng da đen Othello trong vởkịch cùng tên của nhà văn Shakespeare vì mù quáng, quá tin kẻ thù mà giết chết đingười vợ yêu dấu của mình Cuối cùng tỉnh ra, chàng phải tự tìm đến cái chết đểtrả giá cho sự mù quáng ấy

Trong văn học còn xuất hiện dạng bi kịch của những khát vọng không thựchiện được của con người, thể hiện những nổi dằn vặt, đau khổ Bi kịch này gắnliền với nỗi đau của những con người bình thường trong xã hội Nhưng nỗi đaucủa họ không là của riêng ai mà là nỗi đau chung của nhân loại - là nỗi đau đờinên luôn để lại những day dứt trong lòng người Nỗi đau khổ của nàng Kiều trongTruyện Kiều - Nguyễn Du, nàng Tiểu Thanh trong Độc Tiểu Thanh kí - Nguyễn

Du, cũng là nỗi đau chung của những con người - đặc biệt là những người phụ nữ

- tài hoa nhưng bạc mệnh trong thời đại phong kiến Nói chung, dù là bi kịch gì đinữa thì các dạng bi kịch ấy phải mang ý nghĩa xã hội rộng lớn, có ảnh hương đếnlịch sử, lẽ sống, đạo đức và số phận con người

Cảm hứng bi kịch trong văn học qua các thời kì lịch sử khác nhau cũng có sựkhác nhau Cảm hứng bi kịch trong văn học cổ đại Hi Lạp chú trọng đến các đề tàilịch sử, phản ánh những lỗi lầm trong cuộc đời… Nội dung của xung đột bi kịchtrong nghệ thuật cổ Hi Lạp thường là mâu thuẫn giữa con người và “định mệnh”

Trang 30

như Promete bị xiềng, Oedipe làm vua… Cảm hứng bi kịch trung cổ phương Tâymang màu sắc tôn giáo rõ rệt, gắn liền với truyền thuyết về phạm tội của Adam vàEva và tinh thần tuẫn giáo của Chúa Jesu Cảm hứng bi kịch trong thời kì nàythường ca ngợi những thảm cảnh, những đau khổ của con người Cảm hứng bikịch thời Phục hưng là một bước tiến quan trọng Nó đã phản ánh sâu sắc giữa mộtbên là những xiềng xích trói buộc con người Hay nói cách khác, nó phản ánh sựxung đột giữa những tính cách khổng lồ với hoàn cảnh xã hội khắc nghiệt sẵn sàng

đè bẹp những tính cách khổng lồ đó (Hamlet của Shakespeare) Bi kịch của cổđiển lại phản ánh sự xung đột giữa dục vọng Nó mỹ hóa những hoàn cảnh trớ trêugiữa tình cảm và lý trí Đối lập với cảm hứng bi kịch cổ điển cảm hứng bi kịchtrong thời đại ánh sáng có khát vọng khám phá đến tận cùng của tình cảm, tâmtrạng nhân vật, qua đó, hướng đến khám phá chiều sâu con người Vì vậy, nó thểhiện rất nhiều trạng thái cảm xúc mãnh liệt của con người từ sự nồng nhiệt củakhát khao, đam mê, cho đến những căm giận, kiêu hãnh, đau đớn và hi vọng…

Âm mưu và tình yêu của nhà văn Schiller (Đức) là một vở kịch như thế.

Cảm hứng bi kịch trong văn học nữa cuối thế kỉ XIX đến nay chủ yếu là bikịch cá nhân với những khát vọng của con người bình thường trong xã hội Cácnhà văn đã nêu lên sự xung đột giữa cá nhân và xã hội, giữa con người và hoàncảnh Bi kịch này có yếu tố vạch trần và lên án gay gắn cái xấu và dạy cho conngười biết trân trọng những nguyện vọng chính đáng của mỗi người.Ta có thể thấy

điều này trong tiểu thuyết Anna Karenina của Lev Tolstoi, tiểu thuyết Tội ác và

trừng phạt của Dostoievski, tiểu thuyết Cuốn theo chiều gió Magaret Mitchell,

truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao…

Xét về chiều đồng đại, cảm hứng bi kịch ở mỗi nền văn học của các dân tộccũng không giống nhau Cảm hứng bi kịch ở phương Đông nói chung ở Việt Namnói riêng có lẽ do mỗi hoàn cảnh lịch sử, văn hóa riêng, nên dường như ít có

nhữngtác phẩm mang cảm hứng bi kịch lịch sử đồ sộ kiểu Hamlet như ở phương

Tây Nhưng nhìn chung, những bi kịch lịch sử và bi kịch cá nhân cũng hình thành

Trang 31

và phát triển phong phú Dưới đây, khóa luận có cái nhìn khái quát về cảm hứng bikịch trong văn học Việt Nam qua các thời kì lịch sử khác nhau

1.1.4 Vài nét về cảm hứng bi kịch trong văn học Việt Nam (trước và sau

đổi mới)

Cảm hứng bi kịch xuất hiện từ rất sớm Cũng giống như các nền văn họckhác trên thế giới, cảm hứng bi kịch trong văn học Việt Nam gắn với sự hình thànhnhà nước giai cấp, trong xã hội Cảm hứng bi kịch xuất hiện lần đầu tiên có lẽ là ởtruyền thuyết Mỵ Châu Trọng Thủy Cái chết của An Dương Vương và của MỵChâu là một bi kịch Đây có lẽ là một bi kịch của cá nhân trong một thời kì lịch sử

mà con người ở thời đại đó thường có những hạn chế nhất định về kế sách đối vớiđất nước, về nhận thức và thái độ đối với kẻ thù Những hạn chế ấy chính là nhữngnguyên nhân góp phần đẩy họ lâm vào hoàn cảnh bi kịch Chính vì thế mà AnDương Vương mới mất cảnh giác, quá tin vào kẻ địch mà không mảy may có sựnghi ngờ, phòng bị gì, nên đã mất Loa thành, phải giết con gái và tự vẫn Còn MỵChâu là một cô gái ngây thơ, vì quá yêu Trọng Thủy, không phân biệt đâu là bạn làthù, nên cuối cùng nàng đã vô tình trở thành một “tội nhân” đẩy đất nước rơi vàotay giặc và phải nhận lãnh cái chết đau thương Bi kịch này mang tính thời đại -lịch sử, nhưng nó như một bài học cảnh giác cho con người muôn đời vì sự lầmlẫn, cả tin của mình

Không chỉ có bi kịch lịch sử, văn học Việt Nam cũng đã chú ý đến bi kịchthân phận của cá nhân con người Bi kịch của Trương Chi trong tác phẩm Trương

Chi Mỵ Nương phản ánh mối xung đột giữa khát vọng chính đáng riêng tư của con

người và khả năng không thể thực hiện được khát vọng đó trong cuộc sống.Trương Chi là một chàng trai tài hoa yêu tha thiết một cô gái nơi lầu son gác tía.Nhưng chàng không được cuộc đời phú cái hình hài tương xứng với tài năng vàtâm hồn mình nên cuối cùng phải lâm vào bi kịch của sự đau khổ, nhớ thươngtuyệt vọng và cuối cùng kết thúc cuộc đời bằng cái chết thương tâm Cái chết củaTrương Chi không chỉ là hậu quả của sự không hoàn thiện của cuộc đời, của bảnthân mà còn là hậu quả của sự không hoàn thiện của khát vọng đặt nhầm chỗ

Trang 32

Chàng sai lầm khi đặt tình yêu vào một người con gái chưa có tình yêu sâu sắcnhư Mỵ Nương Ngoài ra, chúng ta có thể thấy tấn bi kịch của sự ngộ nhận trongtruyện Hòn vọng phu Người anh sau bao năm thất lạc với em gái, khi gặp lại dokhông biết nên đã lấy chính em gái ruột của mình làm vợ Khi biết được sự thật,chàng đã đau khổ và bỏ đi biệt tích, để rồi chàng lại gây thêm một nỗi đau khổ chochính người vợ - cũng chính là em ruột của mình Chuyện người con gái Nam

Xương cũng chính là một bi kịch của sự ngộ nhận Người chồng hiểu lầm lời con

nên đã nghi oan cho người vợ đau khổ mà tìm đến cái chết để giải oan cho mình

Văn học luôn quan tâm đến những số phận con người Nhưng con ngườitrong văn học viết từ thế kỷ X đến nữa đầu thế kỉ XVII-một giai đoạn văn họcnặng nề về tính chất quan phương - chủ yếu là con người nghĩa vụ, con ngườicông dân chứ chưa phải là con người cá nhân Con người văn học trong giai đoạnnày ít có sự tự ý thức về nỗi đau khổ của mình Ngay cả bản thân văn học ít cóđiều kiện hướng tới khám phá, thể hiện số phận của cá nhân Vì vậy, cảm hứng bikịch có chăng chỉ thể hiện một cách rất mờ nhạt trong những dòng thơ tự thuật,cảm hoài, ngôn hoài của các nhà Nho Có thể nói, truyền thống bi kịch ấy bị đứtđoạn một thời gian do quan niệm sáng tác riêng của văn học phong kiến

Đến cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX, cảm hứng bi kịch thực sự trởthành trào lưu với hàng loạt những tác phẩm đề cập đến số phận con người, đặcbiệt là người phụ nữ, như thơ nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương, các khúcngâm như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc đỉnh cao là Truyện Kiều Bikịch trong văn học giai đoạn này chủ yếu là bi kịch của người phụ nữ, gắn liền vớinhu cầu giải phóng tình cảm con người phụ nữ Đó là những bi kịch cá nhânnhưng có ý nghĩa điển hình trong xã hội bây giờ Đó là một cái xã hội mà số phận

khổ nhục của người phụ nữ như một “định mệnh”, nói như Nguyễn Du “Đau đớn

thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” (Truyện Kiều) Người

phụ nữ trong thơ nôm Hồ Xuân Hương là người có tài, có tình lúc nào như cũngmuốn phá tung mọi xiềng xích của lễ giáo phong kiến nhưng cuối cùng cũng cảmthấy cô đơn bất lực Cảm hứng bi kịch trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn

Trang 33

phản ánh xung đột hạnh phúc, tình yêu của tuổi trẻ với lý tưởng công danh của chế

độ phong kiến, với chiến tranh phong kiến phi nghĩa Người chinh phụ có hạnhphúc mà không được hưởng hạnh phúc, có tình yêu mà không được hưởng tìnhyêu vì chồng của nàng đi chinh chiến biền biệt không thấy ngày về Nàng bị chônvùi tuổi thanh xuân trong đau khổ, nhớ nhung, sầu muộn vì chờ đợi Đối với nàng,

hạnh phúc chỉ là một khoảng không vô tận, đến nỗi: “tình trong giấc mộng muôn

vàn cũng không” Trong Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều đã đề cập đến

mối xung đột giữa nhu cầu giải phóng tình cảm của người phụ nữ với luật lệ ngặtnghèo của chế độ phong kiến Người cung nữ trong tác phẩm luôn khao khát đượcsống hạnh phúc như những con người bình thường khác nhưng thực tại nàng đangchết dần chết mòn trong cung vua phủ chúa Cuối cùng, nàng hoàn toàn lâm vào

cảnh bất lực, tuyệt vọng: “Nghĩ mình lại ngán cho mình/ Cái hoa đã trót gieo

của cuộc đời Bi kịch của nàng Kiều cũng là bi kịch chung của những người phụ

nữ tài hoa nhưng bạc mệnh mà nguyên nhân gây ra bi kịch là những thế lực tànbạo của xã hội phong kiến

Một vấn đề đặt ra là tại sao cảm hứng bi kịch trở thành một cảm hứng nổibật trong văn học giai đoạn này?

Một đặc điểm của văn học là luôn phản ánh đời sống con người trong hoàncảnh lịch sử - xã hội cụ thể Xã hội Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII đếnnửa đầu thế kỉ XIX có những biến động dữ dội Giai cấp phong kiến không cònnăng lực quản lí mà lao vào cảnh ăn chơi, tranh giành quyền lực, đâm chém lẫnnhau, gây ra những cuộc nội chiến liên miên Cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trong

xã hội hết sức gay gắt Đến thế kỉ XIX, khi nhà Nguyễn lên cầm quyền, thực dânPháp đã bắt đầu xâm lược nước ta càng thúc đẩy chế độ phong kiến nhanh chóng

Trang 34

suy tàn Trong bối cảnh xã hôi như vậy, thân phận con người trở nên mong manhhơn bao giờ hết, đặc biệt là số phận của người phụ nữ.

Cũng trong bối cảnh xã hội mà đạo lý, luân thường không còn khuôn thước,trật tự kỉ cương suy đồi như vậy, con người cá nhân đã có sự thức tỉnh mạnh mẽ.Thay vào việc quan tâm đến việc giáo hóa dân chúng, yên dân như quan niệm củanho giáo, các nhà văn đã bắt đầu quan tấm đến số phận cá nhân của con người.Ngay cả sự chuyển biến tư tưởng lúc này cũng ảnh hưởng đến cảm nhận về cuộcđời của những nhà nho, tầng lớp sáng tác chính của văn học thời trung thành

Mặt khác, bản thân sự vận động của văn học Việt Nam giai đoạn này cũngchi phối sự phát triển của cảm hứng bi kịch Quá trình ý thức trong cá nhân ngườisáng tác gắn liền với sự rạng vỡ các đề tài cũ, các hình thức văn học sẵn có, làmnảy sinh các đề tài, thể loại mới và hình thức miêu tả mới Đặc biết với sự ra đờicủa thể loại khúc ngâm và truyện thơ, cảm hứng bi kịch trong văn học giai đoạnnày mới có thể phản ánh được số phận con người một cách sâu sắc và toàn diệnhơn, có thể biểu hiện được đời sống nội tâm phong phú, phức tạp của con người

Bởi vì đặc điểm của thể loại khúc ngâm, nói như Đặng Thai Mai là “ cả tâm trạng

ngưng đọng trên một khối sầu”, có nghĩa là đặc trưng thể loại hướng đến thể hiện

những dằn vặt trong nhớ thương, sầu khổ của con người Đỉnh cao của thể loại

truyện thơ nôm là Truyện Kiều Theo Trần Đình Sử, “ Truyện Kiều kế thừa khả

năng đi sâu và diễn tả nội tâm nhân vật của các khúc ngâm nên là một tác phẩm xuất sắc trong việc thể hiện chiều sâu tâm trạng của nhâ vật bi kịch.” [53]

Văn học Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX đến nữa đầu thế kỉ XX cũng nóinhiều đến nỗi cô đơn, hụt hẫng, thất vọng, đau khổ của con người Tác phẩm đầu

tiên của văn học giai đoạn này thể hiện cảm hứng bi kịch là Truyện Thầy Lazaro

phiền của Nguyễn Trọng Quản Câu chuyện là lời sám hối của một người ( thầy

Lazaro phiền) vì mắc mưu gia mà sinh ghen tuông, giết oan bạn và vợ của mình

Những cảm hứng bi kịch được thể hiện khá sâu sắc chỉ có thể kể đến tác phẩm Tố

Tâm của Hoàng Ngọc Phách và một số truyện ngắn, tiểu thuyết của nhà văn Nam

Cao Bởi những nhân vật trong những tác phẩm này có ý thức sâu sắc về nỗi đau

Trang 35

của mình, có những giằng xé đau đớn trong nội tâm, thậm chí cái chết của họ đểlai ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc Cảm hứng bi kịch trong văn học giaiđoạn này chủ yếu phản ánh mối quan hệ không thể giải quyết được giữa con ngườivới hoàn cảnh, giữa cá nhân và xã hội Tố Tâm và Đạm Thủy lâm vào bi kịch là dokhông tìm thấy sự hài hòa giữa tình yêu lứa đôi tự do và lễ giáo phong kiến Đặcbiệt, bi kịch cá nhân trong một số truyện ngắn và tiểu thuyết của nhà văn Nam Caomang ý nghĩa khái quát rất cao Bi kịch hóa của Chí Phèo - một anh nông dân hiềnlành, lương thiện, giàu mơ ước nhưng cuối cùng bị tước quyền làm người, phảisống kiếp của loài quỷ dữ - cũng thể hiện bi kịch chung của những người nông dânnghèo ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám: bi kịch không đượcquyền làm người Bi kịch “vỡ mộng” “chết mòn” về tinh thần của Hộ ( Đời thừa),Thứ ( Sống mòn)… cũng là bi kịch chung của những người tri thức tiểu tư sảnnghèo trong xã hội bấy giờ Qua hình thức độc thoại nội tâm, các nhân vật bi kịchtrong những tác phẩm của Nam Cao luôn có những trăn trở, suy tư, dằn vặt đauđớn trong nội tâm để cố vượt lên hoàn cảnh để bảo vệ nhân phẩm của mình Tuynhiên các nhân vật này cuối cùng thường lâm vào cảnh bế tắc, không lối thoát vìkhông thể chiến thắng nổi hoàn cảnh.

So với văn học giai đoạn trước, cảm hứng bi kịch trong văn học giai đoạnnày đã có một bước tiến Bởi các nhà văn đã bước đầu có cái nhìn nhiều chiều vềcon người họ đã xây dựng được loại nhân vật “ lưỡng hóa tính cách” đây là kiểunhân vật có tính cách không thuần nhất mà luôn có sự giằng co, tự mâu thuẫn rấtphức tạp Trong những tác phẩm của Nam Cao, bi kịch càng sâu sắc hơn khi cò sự

di chuyển của nhà văn sang điểm nhìn của nhìn của nhân vật( tiêu biểu là tác phẩmChí Phèo)

Cảm hứng bi kịch trong văn học từ năm 1945 đến trước thời kì đổi mới(1986) xuất hiện không nhiều Riêng thời kì chiến tranh, do hoàn cảnh lịch sử kháđặc biệt nên văn học hầu như xếp lại cảm hứng bi kịch Do yêu cầu “động viên”,

“cổ vũ” nên các tác phẩm thời kì này chủ yếu được viết chủ yếu theo khuynhhướng sử thi và lãng mạn Cái chết của những người anh hùng Nguyễn Văn Trỗi

Trang 36

trong bất khuất hoặc của chị Sứ trong Hòn đất (Anh Đức) được viết bởi cảm hứnganh hùng ca Cảm hứng bi kịch nếu có chăng thì có lẽ đó chỉ là một thứ “bi kịchlạc quan” mà thôi.

Những năm sau chiến tranh, do dư âm của chiến thắng vẫn còn vang vọngnên văn học vẫn tiếp tục được viết theo cảm hứng sủ thi Như tác phẩm văn họcgiai đoạn từ năm 1975 đến những năm 80 vẫn được viết theo dấu ấn quen thuộccủa thời kì trước như Vùng trời của Hữu Mai, Tháng ba ở Tây nguyên của NguyễnKhải, Miền cháy của Nguyễn Minh Châu…

Phải đến thời điểm những năm đầu của thập niên 80 mới có một vài tín hiệuđổi mới từ các cây bút có tên tuổi như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma VănKháng, Xuân Thiều, Hoàng Lại Giang các nhà văn đã bước đầu quan tâm đếnnhân vật cá nhân, đến số phận riêng và những bi kịch của họ tuy nhiên chỉ từ 1986trở đi, cảm hứng bi kịch mới trở thành một trong những cảm hứng chủ đạo của vănhọc Việt Nam

Sau năm 1986, văn học ở giai đoạn này không chỉ có bi kịch của sự mấtmát mà các nhà văn thời kỳ đổi mới còn khắc hoạ tấn bi kịch lạc lõng của ngườilính sau cuộc chiến Không chỉ dừng lại mối quan hệ giữa con người với hoàncảnh, văn học thời kỳ đổi mới còn khám phá bi kịch trong mối quan hệ giữa conngười với con người ở những cung bậc khác nhau Cuộc kháng chiến của dân tộcngày hôm qua không chỉ được nhìn ở góc độ ngợi ca lãng mạn, mà cả những góckhuất, những mất mát đau thương của hiện thực chiến tranh được phơi bày lêntrang giấy Người lính vào vai nhân vật “tôi” kể chuyện, bộc bạch nỗi niềm, dấu ấnchiến tranh hằn sâu trong mỗi số phận, mỗi cuộc đời, mỗi người mỗi khác Cảmhứng ngợi ca được thay bằng giọng nói tâm tình, đối thoại, ngẫm ngợi… Cảmhứng bi kịch bắt đầu xuất hiện Hàng loạt tác phẩm tập trung nói về số phận bi

kịch của người trở về gây được tiếng vang trong lòng độc giả như: Nỗi buồn

chiến tranh của Bảo Ninh, Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp… Cảm hứng

bi kịch càng đau đớn, xa xót hơn khi các tác giả viết về hạnh phúc, tình yêu Trong

Trang 37

chiến tranh, người phụ nữ đã hy sinh quãng đời đẹp nhất của mình, bom đạn và sựtàn phá của thời gian đã tước đoạt tiếp cơ hội làm vợ, làm mẹ của họ Sau hòabình, họ chỉ còn lại hình hài đầy thương tích cùng những chuỗi ngày buồn đầy xót

xa, trăn trở Trong Hai người đàn bà xóm Trại, Nhà văn Xuân Thiều cho ta thấmthía hơn bao giờ hết sự chung thủy đợi chờ sắt son của người phụ nữ Sau chiến tranh, những người lính ra đi vĩnh viễn, để những người ở lại mònmỏi ngóng trông bởi ước mơ làm mẹ, làm vợ Môtip “hòn vọng phu” thời hiện đạitrở thành đề tài nổi bật trong văn xuôi chiến tranh trong thập niên cuối 80, đầu 90

Đó là những cô Ân, cô Mật trong Hai người đàn bà xóm Trại Từ thuở: “má rực

đỏ, nụ cười trong trẻo và rạo rực vang trên mặt sông”, đến nay họ đã là bà lão Ân,

bà lão Mật với gương mặt: “nhăn nheo và sạm đen” lụm cụm nương tựa nhau,

nhai trầu trong tiếng mọt vọng tới từ hai cỗ áo quan dành cho họ…và họ vẫn cứđợi, cứ chờ

Cảm hứng bi kịch trong tiểu thuyết hậu chiến có thể được đánh dấu từ Thời

xa vắng (1986) của Lê Lựu, một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam bấy giờ.

Tiếp sau đó, cảm hứng bi kịch vẫn được tập trung thể hiện sâu đậm hơn cả trong bộphận tiểu thuyết hậu chiến Cắt nghĩa, lí giải, nhận thức lại hiện thực bằng cảm hứng

bi kịch, tiểu thuyết hậu chiến đã thực sự đem lại cho người đọc những suy ngẫm sâu

sắc Với những tác phẩm tiêu biểu như Thời xa vắng (Lê Lựu), Mảnh đất tình yêu (Nguyễn Minh Châu), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Bến không chồng (Dương

Hướng), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai)… sự xuất

hiện của kiểu nhân vật mới trong tiểu thuyết chiến tranh – con người suy tư, conngười bi kịch – là dấu hiệu quan trọng bước đầu khẳng định sự đổi mới tư duy nghệthuật tiểu thuyết và những dấu hiệu xác lập lộ trình mới của văn học Việt Nam hiệnđại

1.1.5 Những tiền đề cho sự xuất hiện cảm hứng bi kịch trong văn xuôi Việt Nam thời kì đổi mới

1.1.5.1 Bước chuyển mình của xã hội

Trang 38

Sau khi chiến tranh kết thúc, đất nước gặp nhiều khó khăn với những khókhăn do chiến tranh gây ra, tình trạng bao cấp kéo dài, đất nước nghèo nàn lạc hậu,thiếu thốn nhiều cơ sở vật chất.

Đứng trước thực tế ấy, một vấn đề đặt ra là phải đổi mới đất nước để phùhợp nhiều yêu cầu của tình hình mới Đại hội Đảng lần VI (1986) đã đề ra mộtcông cuộc đổi mới toàn diện đất nước với phương châm: “nhìn thẳng vào sự thật,đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” và “Khuyến khích tự do tư tưởng, thảo luận

và tranh luận thẳng thắn” Sự đổi mới về mặt kinh tế, chuyển từ cơ chế tập trungquan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, có tác động sâu rộng đên toàn bộ đờisống xã hội, tạo ra bầu không khí dân chủ trên mọi mặt

Nghị quyết 05 của Bộ chính trị Đảng cộng sản Việt Nam (1987) cũng đặt ranhững yêu cầu trong việc đổi mới lĩnh vực văn hóa văn nghệ: “Văn hóa văn nghệnước ta càng phải đổi mới; đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm” Đảng đãxem việc đầu tư cho sự nghiệp văn hóa văn nghệ là để phục vụ con người Đảng

“xem con người là động lực quan trọng nhất và là mục tiêu phục vụ và xây dựng cao nhất của mọi hoạt động kinh tế xã hội” [44, tr.12] Nghị quyết 05 đã mở ra

cách nhìn mới về vị trí vai trò và chức năng của văn hóa văn nghệ nói chung, vănhọc nghệ thuật nói riêng Văn học nghệ thuật không chỉ đơn giản là một công cụ

của chính trị mà nó phải “thể hiện khát vọng của con người về chân, thiện, mỹ có

tác dụng bồi dưỡng tình cảm tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của thế hệ công dân, xây dựng một một môi trường đạo đức trong xã hội, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa” [44, tr.15] Nói cách khác, văn học không từ bỏ vũ khí tinh thần, tư

tưởng của nó, nhưng nó được nhấn mạnh trước hết ở sức mạnh trước hết ở sứcmạnh khám phá thực tại và thức tỉnh ý thức về sự thật, ở vai trò dự báo, dự cảm

Văn học phải “phát huy chức năng hiểu biết, khám phá, dự báo, sáng tạo, nắm

bắt nhạy bén hiện thực đang diễn biến, phát hiện và biểu dương cái mới, khẳng định những mầm non đang nảy sinh trong cuộc sống, phê phán không khoan nhượng những hiện tượng tiêu cực, bảo thủ, trì trệ…” [44tr.14] Văn học nghệ

thuật thời đại mới phải đáp ứng được “nhu cầu thị hiếu lành mạnh của các tầng lớp

Trang 39

xã hội và các lứa tuổi” Công chúng hôm nay đòi hỏi những tác phẩm thật sự hay

và đa dạng về nội dung, hình thức nghệ thuật lẫn phong cách Chính vì vậy, Đảng

đã khuyến khích văn nghệ tìm tòi, sáng tạo, khuyến khích và yêu cầu có những thểnghiệm mạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật, trong việc phát triển cácloại hình và thể loại nghệ thuật, các hình thức biểu hiện Để tạo ra được những tác

phẩm hay, đầy sáng tạo của người nghệ sĩ thì “tự do sáng tác là điều kiện sống

nên tạo nên giá trị đích thực trong văn hóa, văn nghệ, để phát triển tài năng”[ 44,

tr.17]

Văn học nghệ thuật muốn đổi mới, phát triển thì phê bình cũng như phảiđổi mới Đảng ta cũng đã nhìn nhận rằng đã có một thời phê bình còn mang tính

chất chủ quan, phiến diện, “còn sơ lược, một chiều, nhiều lúc khen, chê không

chính xác, còn tách rời giá trị tư tưởng và nghệ thuật, chưa nhạy cảm những vấn

đề mới do cuộc sống và thực tiễn văn học, nghệ thuật đặt ra [44, tr.23] Cách phê

bình như vậy không khuyến khích được sự sáng tạo của người nghệ sĩ, cũng có khilàm nhụt chí sáng tác của họ Các phê bình cần phải lắng nghe và coi trọng dư luận

của rộng rãi quần chúng Đảng chủ tương “phê bình phải khách quan, trung thực,

công minh, có tính chiến đấu và tinh thần trách nhiệm cao, khắc phục thái độ nể nang, tâng bốc hoặc thô bạo, quy chụp tùy tiện, chống các biểu hiện giáo điều, bè phái, cơ hội” [44, tr.23] Phê bình phải tạo được một không khí tự nhiên, thân ái,

hồ hởi, phải xây dựng được “một tinh thần đối thoại, tranh luận thực sự dân chủ,

bình đẳng, nghiêm túc trong mọi vấn đề” [44,tr.24].

Tóm lại, công cuộc đổi mới của Đảng thể hiện trong Đại hội Đảng lần VI

đã thổi một luồng gió mát vào mọi mặt của đời sống xã hội Việt Nam, đặc biệt làtrong lĩnh vực văn học nghệ thuật Công cuộc đổi mới ấy đã khơi dậy khả năngtìm tòi, sáng tạo của người nghệ sĩ, đáp ứng thị hiếu của công chúng thời đại mới,thúc đẩy nền văn học nước nhà phát triển

1.1.5.2 Bước chuyển mình của văn học

M.Gorki đã từng nói: “Văn học là nhân học” Đặc trưng của văn học

không chỉ là cái chung, nó còn là cái riêng, là số phận của con người Văn học chủ

Trang 40

yếu được viết bởi cảm hứng sử thi – lãng mạn, cảm hứng anh hùng ca Văn họcthường tránh nói đến nỗi đau, mất mát mà thường hướng đến một ngày mai tốtđẹp, đầy ánh sáng của chiến thắng và cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc Điều đóthật cần thiết trong giai đoạn lịch sử ấy nhưng chưa đủ, nhất là khi thời đời đã đổikhácTrong thời kì chiến tranh, văn học của ta chưa từng chú ý đến từng số phậnriêng lẻ, đến những trầm luân của con người trong cơn bão táp của chiến tranh,của cuộc sống nói chung Con người trong văn học thời kí này là co người - tậpthể, con người – công dân, con người trong sự thống nhất riêng - chung chứ chưaphải là những các nhân, những số phận Số phận của cá nhân nếu có cũng được đặttrong số phận chung của cả dân tộc.

Tuy nhiên, nhận định về hiện thực khách quan của một thời kì văn học quákhứ, chúng ta không hề phủ nhận nó Đơn giản vì thời kì văn học này đã làm tròn

sứ mệnh của mình Văn học khó có thể khác hơn trong hoàn cảnh ấy Làm saochúng ta có thể quan tâm đến từng cá nhân khi cả dân tộc đang trong hoàn canhdầu sôi lửa bỏng Sự mất còn của đất nước đã làm cho hoàn cảnh mỗi người phảigác lại tất cả những riêng tư Trong hoàn cảnh ấy, mỗi cá nhân đều cảm thấy hếtsức gắn bó với cộng đồng, nhân danh cộng đồng mà suy nghĩ và hành động Bởinếu không quên cái tôi cá nhân của mình thì làm sao có đủ sức mạnh để chiến đấu,lập nên những chiến công phi thường Cũng như mọi con người yêu nước khác,những nhà văn chân chính trong hoàn cảnh ấy, không thể làm ngơ trước lịch sử.Với ý thức trách nhiệm của công dân, của người cầm bút, họ không thể viết nhữngđiều phương hại đến mục tiêu của cả dân tộc là “tất cả để chiến thắng” Nói nhưnhà văn Xuân Thiều, lúc ấy tác phẩm viết ra là “để cho người lính, người dân đọc

mà họ đều đang cầm súng đối mặt với một kẻ thù tàn bạo, nên chúng tôi tự hiểunên viết cái gì, mà không viết cái gì, dẫu đấy là hiện thực chiến tranh” Văn họcchủ yếu được viết bởi cảm hứng anh hùng ca là đúng Bởi đó cũng chính là cảmxúc chung của cả dân tộc thời ấy Nếu không có niềm tin mãnh liệt vào một tươnglai tươi sáng thì làm sao con người có đủ sức mạnh để vượt qua mọi thiếu thốn,gian khổ, mọi thử thách nặng nề của chiến tranh

Ngày đăng: 19/01/2021, 14:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Aristote (1964), Nghệ thuật thơ ca, Nxb Văn hóa – Nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Aristote
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Nghệ thuật
Năm: 1964
[2] Thái Phan Vàng Anh (2008), Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Việt Nam đương đại, Tạp chí Sông Hương, số 237 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn ViệtNam đương đại
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Năm: 2008
[3] Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Tác phẩm
Năm: 1984
[4] M.Bakhtine (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtine
Năm: 1992
[5] Lê Huy Bắc (1998), Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại, Tạp chí văn học số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
[6] Lê Huy Bắc (2001), Hamlet của Sêchxpia, Tạp chí Văn học nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hamlet của Sêchxpia
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 2001
[7] Nguyễn Thành Ngọc Bảo (2008), Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư , luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư ,luận văn Thạc sĩ
Tác giả: Nguyễn Thành Ngọc Bảo
Năm: 2008
[8] Trần Thị Búp (2009), Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Khoa học - Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn NgọcTư
Tác giả: Trần Thị Búp
Năm: 2009
[10] I.B.Bôrep (1976), Những phạm trù mĩ học cơ bản, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phạm trù mĩ học cơ bản
Tác giả: I.B.Bôrep
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung họcchuyên nghiệp
Năm: 1976
[11] A.Camus (1998), Về tương lai của bi kịch, Tạp chí Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tương lai của bi kịch
Tác giả: A.Camus
Năm: 1998
[12] Phạm Vĩnh Cư (2000), Bàn thêm về bi kịch Vũ Như Tô, Tạp chí Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về bi kịch Vũ Như Tô
Tác giả: Phạm Vĩnh Cư
Năm: 2000
[13] Phạm Vĩnh Cư (2001), Thể loại bi kịch trong văn học Việt Nam thế kỷ XX, Tạp chí Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể loại bi kịch trong văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Phạm Vĩnh Cư
Năm: 2001
[14] Trần Phỏng Diều (2007), Thị hiếu thẩm mĩ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Diễn đàn văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị hiếu thẩm mĩ trong truyện ngắn Nguyễn NgọcTư
Tác giả: Trần Phỏng Diều
Năm: 2007
[15] Đoàn Ánh Dương (2007), Cánh đồng bất tận nhìn từ mô hình tự sự và ngôn ngữ trần thuật, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cánh đồng bất tận nhìn từ mô hình tự sự và ngônngữ trần thuật
Tác giả: Đoàn Ánh Dương
Năm: 2007
[16] Phạm Thùy Dương (2007), Cảm hứng cảm thương trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư, Báo văn nghệ quân đội, số 661 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng cảm thương trong sáng tác của ĐỗBích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư
Tác giả: Phạm Thùy Dương
Năm: 2007
[17] Đặng Anh Đào (1999), Văn học phương Tây, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học phương Tây
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
[18] Hoàng Hữu Đản dịch (1984), Êđip làm vua, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Êđip làm vua
Tác giả: Hoàng Hữu Đản dịch
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung họcchuyên nghiệp
Năm: 1984
[19] Phan Cư Đệ ( chủ biên), Văn học Việt Nam (1900-1945), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1900-1945)
Nhà XB: NXB Giáo dục
[20] Trần Thanh Địch (1998), Tìm hiểu truyện ngắn, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu truyện ngắn
Tác giả: Trần Thanh Địch
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1998
[21] Hà Minh Đức chủ biên (1998), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức chủ biên
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w