1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tận dụng vỏ và hạt nhãn để trồng nấm sò (Pleurotus ostreatus) làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi

6 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 314,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu này là xây dựng được quy trình tận dụng nguồn phế phụ phẩm từ vỏ và hạt nhãn để trồng nấm sò (Pleurotus ostreatus) nhằm thu sinh khối giàu protein làm nguồn nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Trang 1

Tận dụng vỏ và hạt nhãn để trồng nấm sò (Pleurotus ostreatus) làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi

Using longan peel and seed by-products for cultivation of

oyster mushroom (Pleurotus ostreatus)-a source of protein

for animal feed

Tăng Thị Phụng

Email: tangphungcntp@gmail.com

Trường Đại học Sao Đỏ

Ngày nhận bài: 2/4/2019 Ngày nhận bài sửa sau phản biện: 24/6/2019

Ngày chấp nhận đăng: 28/6/2019

Tóm tắt

Vỏ và hạt nhãn là nguồn phế phụ phẩm trong quá trình tiêu thụ Theo thống kê, 20% nguồn phế phụ phẩm này được sử dụng làm phân bón, số còn lại có thể là nguồn gây ô nhiễm môi trường Vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu này là xây dựng được quy trình tận dụng nguồn phế phụ phẩm từ vỏ và hạt nhãn

để trồng nấm sò (Pleurotus ostreatus) nhằm thu sinh khối giàu protein làm nguồn nguyên liệu sản xuất

thức ăn chăn nuôi Kết quả cho thấy vỏ và hạt nhãn có hàm lượng tinh bột cao 24,16% là nguồn cơ chất thích hợp cho trồng nấm sò Khi vỏ và hạt nhãn phối trộn với các thành phần nước 65,77%, cám gạo 4,68% và trấu 1,16% sau đó tiến hành trồng và ươm sợi nấm sò trong 24 ngày sẽ thu được sinh khối nấm với hàm lượng protein cao 8,78%

Từ khóa: Nấm sò Pleurotus ostreatus; phế phụ phẩm; vỏ và hạt nhãn; thức ăn chăn nuôi.

Abstract

Peel and seed of longan are by products for human consumption According to statistics, 20% of these by-products has been used as fertilizer Another part of them is able to cause environmental pollution Therefore, the aim of this study is to develop a process for using longan peel and seed by-products in

order to cultivate oyster mushrooms (Pleurotus ostreatus) This gains protein rich biomass as a source

of animal feed The results showed that the longan peel and seed containing high concentration of 24.16% starch So they are the suitable substrate source for oyster mushroom cultivation First, the longan peel and seed were mixed with water components of 65.77%, 4.68% of rice bran, and the 1.16% of rice husk This mixture was then used to cultivate oyster mushroom for 24 days that produces mushroom biomass with 8.78% of protein content

Keywords: Oyster mushroom (Pleurotus ostreatus); by-product; logan peel and seed; animal feed.

1 GIỚI THIỆU CHUNG

Nhãn được xem là một loại quả truyền thống

của Việt Nam Loại cây này được trồng ở các

tỉnh Hưng Yên, Sơn La, Tiền Giang, Bến Tre,…

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2018 [1],

sản lượng nhãn cả nước đạt 541,4 nghìn tấn, tính

riêng tại Hưng Yên sản lượng nhãn đạt khoảng

41,5 nghìn tấn, trong đó 60% là bán quả tươi

còn lại chế biến long nhãn khô Hạt nhãn chiếm

khoảng 29÷35% khối lượng quả Tuy nhiên, phần lớn chúng được xem là vật liệu phế thải từ các nhà máy sản xuất, mỗi năm số lượng loại bỏ lên tới hàng nghìn tấn, khoảng 20% khối lượng được dùng để sản xuất phân bón, 80% còn lại được coi là phế phẩm công nghiệp và chưa được xử

lý Bên cạnh đó, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng

vỏ và hạt hạt nhãn chứa hàm lượng cao các hợp chất polysaccharide, polyphenolic và các axit Đặc biệt trong hạt nhãn có chứa tới 32,68% là tinh bột [1] Nấm là loại cây giàu giá trị dinh dưỡng, đặc biệt

là nấm sò với hàm lượng protein khá cao chiếm 28,52% tổng hàm lượng chất khô trong mẫu nấm,

Người phản biện: 1.TS Bùi Văn Ngọc

2 PGS.TS Đỗ Thị Bích Thủy

Trang 2

lại dễ trồng [7] Nấm thường mọc ở nơi ẩm ướt,

phân hủy chất hữu cơ đặc biệt cơ chất chủ yếu là

polysaccharide Vì vậy, trồng nấm sò có thể được

xem là một cách hiệu quả để xử lý phế phụ phẩm

từ vỏ và hạt nhãn nhằm thu nhận sinh khối có giá

trị dinh dưỡng cao ứng dụng trong ngành chăn

nuôi được coi là nghiên cứu có ý nghĩa

2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

Đối tượng sử dụng trong nghiên cứu này là:

- Vỏ và hạt nhãn khô được thu nhận tại Hưng Yên

- Giống nấm sò Pleurotus ostreatus được cung

cấp tại Viện Di truyền nông nghiệp Địa chỉ:

Km 2 - đường Phạm Văn Đồng - Từ Liêm - Hà Nội

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Quy trình trồng nấm từ vỏ và hạt nhãn

Vỏ và hạt nhãn → Nghiền nhỏ → Phối trộn →

Đóng túi → Thanh trùng → Để nguội → Cấy giống

→ Ươm sợi → Thu sinh khối nấm

Hình 1 Quy trình trồng nấm thu sinh khối

giàu protein

Vỏ và hạt nhãn đã sấy khô bảo quản nơi

khô ráo để sử dụng dần Nguyên liệu sau

khi sấy khô được nghiền nhỏ đến kích thước

khoảng1÷3 mm Nguyên liệu sau khi nghiền được

phối trộn với cám gạo và trấu với tỷ lệ thích hợp

thì được phun ẩm bằng nước vôi trong có pH =

12÷13 đến độ ẩm thích hợp Sau khi ủ 3 ngày, hỗn

hợp môi trường điều chỉnh pH bằng bột CaCO3

đến pH = 6, sau đó đưa đi đóng trong túi nilon chịu

nhiệt với khối lượng 1 kg/túi Các túi môi trường

được đưa đi thanh trùng ở nhiệt độ 121oC trong 30

phút Sau khi thanh trùng các túi môi trường được

để nguội và cấy giống nấm với lượng giống 2%

khối lượng cơ chất Nấm sau khi được cấy được

treo trên các giàn, các túi treo cách nhau 5÷7 cm,

nuôi trong điều kiện nhiệt độ thường, phun ẩm

ngày 3 lần sáng, trưa và chiều tối Theo dõi hàm

lượng protein của sinh khối nấm để đưa ra quy

trình nuôi cấy nấm thích hợp [5, 6]

2.2.2 Bố trí thí nghiệm nghiên cứu thành phần

môi trường nuôi cấy

Nghiên cứu sử dụng phương pháp đáp ứng bề

mặt để tối ưu với yếu tố được theo dõi ảnh hưởng

là độ ẩm cơ chất, cám gạo, trấu với hàm mục tiêu

là protein tổng số Tỷ lệ hàm lượng nước, cám gạo

và trấu được tính so với vỏ và hạt nhãn Sau 20

ngày xác định hàm lượng protein để lựa chọn tỷ lệ

thành phần môi trường cho giá thể nấm

Bảng 1 Bảng thiết kế thực nghiệm

Nhân tố tố gốc Nhân

(x)

Biến mã hóa (X)

Ma trận quy hoạch thực nghiệm thể hiện trên bảng 2

Bảng 2 Ma trận quy hoạch thực nghiệm

Số TN

Biến chuẩn Biến thực

Trấu (%) X1 X2 X3 Nước (%) gạo (%) Cám

2.2.3 Nghiên cứu thời gian thu sinh khối

Để nghiên cứu thời gian thu sinh khối nấm thí nghiệm được bố trí như sau: nguyên liệu được phối trộn theo kết quả nghiên cứu mục 2.2.2, sau đó tiếp tục tiến hành theo quy trình hình 1 và nuôi trong các khoảng thời gian 18, 20, 22, 24 và 26 ngày Tiến hành lấy mẫu phân tích hàm lượng protein để lựa chọn thời gian nuôi cấy thích hợp [8]

2.2.4 Các phương pháp phân tích

- Tinh bột: định lượng theo phương pháp thủy phân bằng axit [4]

- Cellulose: định lượng dựa trên nguyên tắc cellulose bền với axit mạnh và kiềm mạnh [4]

- Độ ẩm: sấy đến khối lượng không đổi [4]

- Định lượng lipid bằng phương pháp Soxhlet [4]

- Protein: định lượng bằng phương pháp Bradford (Bradford, 1976) [4, 9]

Trang 3

- Xử lý mẫu: Cân 2 g mẫu đã nghiền nhỏ hòa tan

trong 5 ml dung dịch đệm phosphate (pH=7,6),

sau đó mẫu được đưa đi li tâm lạnh ở 8000 vòng

trong 20 phút Mẫu sau khi ly tâm được tách định

lượng bằng dung dịch đệm phosphate lên 5 ml và

bảo quản trong tủ lạnh ở 4oC để dùng dần trong

các thí nghiệm

- Tiến hành: hút 30 µl dung dịch mẫu, thêm vào

70 µl nước cất và 2,9 ml dung dịch Coosmassic

Brillaint Blue được tổng thể tích là 3 ml Để hỗn

hợp 5 phút ở nhiệt độ phòng và tiến hành đo mật

độ quang tại bước sóng 595 nm Nồng độ đo được

có đơn vị là µg/ml

- Xây dựng đường chuẩn: lấy cân 1 mg albumin

bằng cân phân tích, pha trong 1 ml nước cất,

lắc đều cho tan và giữ ở -20oC Khi dùng pha

loãng ra 100 lần, được dung dịch có nồng độ

10 µg/ml Làm tương tự như mẫu phân tích sau

đó xây dựng đường chuẩn và xác định được

phương trình hồi quy

- Tính hàm lượng protein trong mẫu:

Từ phương trình hồi quy tuyến tính được a µg/ml

protein trong mẫu

( )

a

a

2.2.5 Xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm Design Expert 11.0 để thiết kế

thí nghiệm quy hoạch thực nghiệm và phần mềm

SPSS 16.0 để xử lý số liệu

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Kết quả phân tích một số thành phần hóa học

3.1.1 Trong vỏ và hạt nhãn

Xác định thành phần tinh bột, cellulose, lipid,

protein và ẩm trong vỏ và hạt nhãn khô cho kết

quả trong bảng 3

Bảng 3 Kết quả xác định một số thành phần hóa

học trong vỏ và hạt nhãn khô

Từ kết quả bảng 3 cho thấy độ ẩm của vỏ và hạt nhãn khô tương đối thấp, do đó thuận lợi cho quá trình bảo quản Bởi nhãn là sản phẩm nông nghiệp có tính thời vụ, do đó nguyên liệu vỏ và hạt nhãn cần được bảo quản trong kho để thuận lợi cho quá trình trồng nấm Cellulose là cơ chất cho nấm sò phát triển Kết quả phân tích cho thấy

vỏ và hạt nhãn có chứa hàm lượng cellulose cao 65,86%, do đó cho thấy nguyên liệu lựa chọn phù hợp cho quá trình trồng nấm Ngoài ra, trong vỏ

và hạt nhãn chứa hàm lượng tinh bột cao, do đó không cần bổ sung tinh bột từ cám ngô, chỉ cần bổ sung các thành phần dinh dưỡng và khoáng chất

từ cám gạo, khi phối trộn đồng thời với lượng tinh bột này của nguyên liệu cần bổ sung trấu giúp cho

cơ chất trồng nấm được xốp hơn

3.1.2 Trong cám gạo

Kết quả phân tích thành phần hóa học cám gạo được thể hiện trên bảng 4

Bảng 4 Kết quả xác định một số thành phần hóa

học trong cám gạo

Kết quả bảng 4 cho thấy cám gạo có chứa nhiều dinh dưỡng đặc biệt là giàu tinh bột và protein Đây

là thành phần quan trọng cung cấp dinh dưỡng cho nấm sò phát triển

3.2 Thành phần môi trường nuôi cấy

Từ thiết kế thí nghiệm nghiên cứu tỷ lệ các thành phần nguyên liệu cho nuôi sinh khối nấm sò, chúng

ta thu được kết quả trong bảng 5

Nhập số liệu thí nghiệm ở bảng 5 vào phần mềm Design-Experts 11.0 (mục Central Composite) Design-Experts hiển thị các phương trình hồi quy thực nghiệm biểu diễn ảnh hưởng đồng thời của

ba yếu tố độ ẩm, tỷ lệ cám và trấu đều ảnh hưởng đến hàm lượng protein của sinh khối nấm

Bảng 5 Kết quả xác định độ ẩm, tỷ lệ cám gạo và trấu so với khối lượng vỏ và hạt nhãn

Trang 4

Số TN X1 Biến chuẩn X2 X3 Nước (%) Cám gạo (%) Biến thực Trấu (%) Hàm lượng protein (%)

Hình 2 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của độ ẩm,

tỷ lệ cám và trấu đến hàm lượng protein

Bảng 5 (Tiếp theo)

Phương trình hồi quy:

Y = 8,48 + 0,06X1+ 0,533X2-0,099X3+ 0,034X1X2 -0,024X2X3+0,036X1X3-0,907X12-0,405X22 -0,269X32,

R2

2 = 0,979

Từ đồ thị hình 2 và phương trình hồi quy ta thấy

cả ba yếu tố tỷ lệ nước, tỷ lệ cám và trấu đều ảnh hưởng đến hàm lượng protein của sinh khối nấm Với tỷ lệ nước càng lớn làm cho giá thể nuôi trồng quá ẩm dễ nhiễm các sinh vật gây hại, nấm kém phát triển Nếu tỷ lệ nước quá thấp, giá thể khô tuy các sinh vật gây hại ít gây ảnh hưởng nhưng cũng lại làm cho nấm sò phát triển chậm sinh tổng hợp protein thấp Cám gạo là nguồn cung cấp các thành phần dinh dưỡng dồi dào và đầy

đủ cho nấm phát triển, đặc biệt là thành phần khoáng chất và các vitamin Tuy nhiên, giá thành của cám gạo thường cao gây ảnh hưởng đến giá thành của sản phẩm Chính vì vậy, lựa chọn hàm lượng cám gạo vừa đủ nhưng vẫn giúp nấm sò phát triển sinh tổng hợp protein cao nhất là mục đích của quá trình Trấu tuy không cung cấp dinh dưỡng tốt cho nấm sò phát triển nhưng góp phần không nhỏ cho giá thể của nấm có độ xốp tốt, đặc biệt trong môi trường giàu tinh bột bắt buộc phải

bổ sung thêm hàm lượng trấu Tuy nhiên, nếu bổ sung hàm lượng trấu quá thấp không đạt được

độ xốp của giá thể nhưng bổ sung thêm trấu quá nhiều làm giá thể không đủ dinh dưỡng cho nấm phát triển Vì vậy, cần lựa chọn hàm lượng trấu bổ sung hợp lý

Chọn mức độ quan trọng của các mục tiêu là 5+, kết quả tối ưu thu được: tỷ lệ nước 65,77%, tỷ lệ cám gạo 4,68% và tỷ lệ trấu 1,16% Ở giá trị tối ưu, hàm lượng protein trong cơ chất thu được là 8,58%

Trang 5

Hình 3 Giá trị mong đợi của hàm mục tiêu

Để kiểm chứng sự chính xác của mô hình xây

dựng so với thực nghiệm, nhóm tác giả lấy giá trị

tối ưu thu được để trồng nấm thu sinh khối Hàm

lượng protein thu được của sinh khối là 8,60 Như

vậy có sự phù hợp cao giữa mô hình xây dựng với

thực nghiệm Điều đó cho phép có thể sử dụng mô

hình này để đánh giá ảnh hưởng của hàm lượng

nước, tỷ lệ cám gạo và trấu (X1, X2, X3) đến hàm

lượng protein của sinh khối nấm Kết quả này cũng

tương đồng với kết quả nghiên cứu của nhóm tác

giả Mai Hương Trà và cộng sự thì hàm lượng cám

gạo thích hợp cho nấm sò vàng là 4÷6% [2] Trên

cơ sở đó lựa tỷ lệ thành phần giá thể nuôi trồng

nấm sò như sau: tỷ lệ nước 65,77%, tỷ lệ cám gạo

4,68% và tỷ lệ trấu 1,16% cho quy trình đề xuất

Sau khi xây dựng được công thức phối trộn của

môi trường trồng nấm:

- Vỏ và hạt nhãn: 100%

- Nước: 65,77%

- Cám gạo: 4,68%

- Trấu 1,16%

Từ công thức trên kết hợp với bảng 3 và bảng 4 về

thành phần hóa học có trong vỏ, hạt nhãn và cám

gạo ta xác định được hàm lượng protein trong giá

thể trồng nấm như sau:

Hàm lượng protein=15,1 4, 68 100 2, 41 1,82%

171, 61

=

Trong đó:

171,61 là tổng phần trăm các thành phần trong

môi trường Trong cám chứa 15,1% protein; trong

vỏ và hạt nhãn chứa 2,41% protein; trong trấu gần

như không chứa protein

3.3 Thời gian nuôi cấy

Kết quả nghiên cứu thời gian nuôi nấm theo bố trí

mục 2.2.3 thu được kết quả trên bảng 6

Bảng 6 Kết quả nghiên cứu thời gian nuôi nấm

TT Thời gian (ngày) Hàm lượng protein (%)

Kết quả khi xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 cho thấy hàm lượng protein các ngày từ 18 đến 24 ngày có sự khác nhau có nghĩa ở mức ý nghĩa

α = 0,05, còn ngày 26 và ngày 24 không có sự khác nhau về hàm lượng protein ở mức ý nghĩa Kết quả này cho thấy khi thời gian nuôi cấy càng dài, hàm lượng protein tăng, tuy nhiên khi sợi nấm mọc lan hết giá thể chuẩn bị hình thành quả thể thì hàm lượng protein không tăng nữa Như vậy,

có thể thấy trong thời gian đầu nấm sò phát triển

sử dụng dinh dưỡng từ cơ chất tăng sinh khối tích lũy protein, sau khi tích lũy đủ nấm sò chuẩn bị

sử dụng dinh dưỡng tích lũy được hình thành quả thể Hàm lượng protein sau đó trong giá thể sẽ giảm đi Vì vậy, sau 24 ngày có thể thu giá thể giàu protein của nấm sò để làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi Cũng theo kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Lê Vĩnh Thúc khi theo dõi sự phát triển của hệ sợi nấm sò nâu khi lan kín bịch phôi trên các giá thể khác nhau cho thấy với mùn cưa là 24 ngày, bã mía là 27 ngày, rơm 30 ngày, và vụn dừa 28 ngày thì kết quả tương đồng với thời gian khi sử dụng vỏ và hạt nhãn [3]

Với quy trình sản xuất trên sinh khối thu được theo kết quả bảng 6 cho thấy hàm lượng protein thu được là 8,78% Hàm lượng protein ban đầu trong giá thể trồng nấm là 0,59% bổ sung làm nguồn dinh dưỡng để nấm sinh trưởng và tăng sinh khối,

do đó chứng tỏ hàm lượng protein mà nấm sò sinh

ra trong quá trình tăng sinh là 6,96%

Trong các nghiên cứu gần đây chưa có nghiên cứu nào xác định hàm lượng protein trong sinh khối nuôi trồng nấm sò, tuy nhiên theo nghiên cứu của Tsegaye và cộng sự (2017) cho thấy khi trồng nấm sò trên giá thể bổ sung bã cà phê thu được hàm lượng nấm cao nhất 790 g nấm tươi/1

kg giá thể khô, trong đó nhóm tác giải Kumela D Tolera và Solomon Abera (2017) cho thấy khi phân tích mẫu nấm sò tươi chưa qua xử lý, hàm lượng protein chiếm 28,52% chất khô Nếu độ ẩm của nấm sò tươi trung bình 85%, như vậy hàm lượng protein khi thu quả thể nấm ta thu được là [7,8]:

790 15 28 52

100 100 1000

Như vậy, một phần lớn lượng protein còn lại trong giá thể sau khi thu quả thể nấm chưa được tận

Trang 6

dụng Vì vậy, kết quả nghiên cứu cho thấy có ý

nghĩa rất lớn

3.4 Đề xuất quy trình nuôi cấy

Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi đề xuất quy

trình trồng nấm sò từ phế, phụ phẩm vỏ và hạt

nhãn trên sơ đồ hình 4

Vỏ và hạt nhãn → Nghiền nhỏ → Phối trộn →

Đóng túi → Thanh trùng → Để nguội → Cấy giống

→ Ươm sợi → Thu sinh khối nấm

Hình 4 Quy trình trồng nấm thu sinh khối

giàu protein

Vỏ và hạt nhãn đã sấy khô nghiền nhỏ đến kích

thước khoảng 1÷3 mm Nguyên liệu sau khi nghiền

được phối trộn với tỷ lệ nước 65,77%, tỷ lệ cám

gạo 4,68% và tỷ lệ trấu 1,16% trong đó nước được

hòa với vôi để có pH=12÷13 Sau khi ủ 3 ngày, hỗn

hợp môi trường điều chỉnh pH bằng bột CaCO3

đến pH=6, sau đó đưa đi đóng trong túi nilon chịu

nhiệt với khối lượng 1 kg/túi Các túi môi trường

được đưa đi thanh trùng ở nhiệt độ 1210C trong

30 phút Sau khi thanh trùng, các túi môi trường

được để nguội và cấy giống nấm với lượng giống

2% khối lượng cơ chất Nấm sau khi được cấy

được treo trên các giàn, các túi treo cách nhau

5÷7 cm, nuôi trong điều kiện nhiệt độ thường phun

ẩm ngày 3 lần sáng, trưa và chiều tối đến 24 ngày

thì thu sinh khối, sấy khô dùng làm nguyên liệu

sản xuất thức ăn chăn nuôi

4 KẾT LUẬN

Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy

vỏ và hạt nhãn là nguồn nguyên liệu thích hợp

cho quá trình trồng nấm sò Vỏ và hạt nhãn sau

khi nghiền được trộn với các thành phần nước

65,77%, cám gạo 4,68% và trấu 1,16% để làm giá

thể trồng nấm sò theo theo quy trình đề xuất Nấm

sau khi cấy được nuôi trong 24 ngày trong điều

kiện thích hợp thu được sinh khối nấm có hàm

lượng protein cao 8,78% sử dụng tốt cho sản xuất

thức ăn chăn nuôi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Thị Hồng Giang, Trà Thị Ngọc (2015),

Khảo sát quá trình thủy phân tinh bột của một

số loại hạt và củ, Luận văn tốt nghiệp đại học,

Trường Đại học Cần Thơ.

[2] Nguyễn Thị Thơm, Mai Hương Trà, Nguyễn

Thành Hưng (2018), Nghiên cứu trồng nấm bào

ngư vàng Pleurotus citrinopileutus bằng phụ phẩm nông nghiệp,Tạp chí Khoa học và Giáo

dục, Trường Đại học Sư phạm Huế ISSN

1859-1612, Số 01(45): trang 138-148.

[3] Lê Vĩnh Thúc, Mai Vũ Duy và Nguyễn Thị Ngọc

Minh (2015), So sánh một số loại cơ chất tiềm

năng trồng nấm bào ngư xám (Pleurotus sajor-caju) ở Đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chı́ Khoa

học Trường Đai học Cần Thơ Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học 39, trang 36-43.

[4] Nguyễn Văn Mùi (2007), Thực hành hóa sinh

học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.

[5] Asmamaw Tesfaw, Abebe Tadesse, Gebre

Kiros (Jan-Feb, 2015), Optimization of oyster

(Pleurotus ostreatus) mushroom cultivation using locally available substrates and materials in Debre Berhan, Ethiopia, Journal

of Applied Biology and Biotechnology Vol 3 (01), pp 015-020.

[6] Mustafa Nadhim Owaid, Ahmed Mahali

Abed,Burhan Majed Nassar(2015), Recycling

cardboard wastes to produce blue oyster mushroom Pleurotus ostreatus in Iraq, Emirates

Journal of Food and Agriculture, 27(7): 537-541.

[7] Kumela D Toleraand Solomon Abera (Sep; 2017),

Nutritional quality of oyster mushroom (Pleurotus ostreatus) as affected by osmotic pretreatments and drying methods, Food Science and Nutrition

No 5(5), pp 989–996.

[8] Tsegaye Z, Tefera G (2017) Cultivation of

Oyster Mushroom (Pleurotusostreatus Kumm, 1871) using Agro-Industrial Residues Journal of

Applied Microbiological Research Vol: 1, Issu: 1 (15-20).

[9] Nina Pandey and Usha Budhathoki (June 2007),

Protein Determination Through Bradford’s Method of Nepalese Mushroom, Scientific World,

Vol 5, No 5.

THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ

Tăng Thị Phụng

- Tóm tắt quá trình đào tạo, nghiên cứu (thời điểm tốt nghiệp và chương trình đào tạo, nghiên cứu):

+ Năm 2006: Tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội + Năm 2009: Tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Công nghệ thực phẩm, Đại học Quốc gia Hà Nội

- Tóm tắt công việc hiện tại: Giảng viên, khoa Thực phẩm và Hóa học, Trường Đại học Sao Đỏ

- Lĩnh vực quan tâm: Dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm, quản lý chất lượng thực phẩm

- Email: tangphungcntp@gmail.com

- Điện thoại: 0978760967

Ngày đăng: 19/01/2021, 09:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Quy trình trồng nấm thu sinh khối giàu protein - Tận dụng vỏ và hạt nhãn để trồng nấm sò (Pleurotus ostreatus) làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi
Hình 1. Quy trình trồng nấm thu sinh khối giàu protein (Trang 2)
Bảng 1. Bảng thiết kế thực nghiệm - Tận dụng vỏ và hạt nhãn để trồng nấm sò (Pleurotus ostreatus) làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi
Bảng 1. Bảng thiết kế thực nghiệm (Trang 2)
Bảng 3. Kết quả xác định một số thành phần hóa học trong vỏ và hạt nhãn khô - Tận dụng vỏ và hạt nhãn để trồng nấm sò (Pleurotus ostreatus) làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi
Bảng 3. Kết quả xác định một số thành phần hóa học trong vỏ và hạt nhãn khô (Trang 3)
Từ kết quả bảng 3 cho thấy độ ẩm của vỏ và hạt nhãn  khô  tương  đối  thấp,  do  đó  thuận  lợi  cho  quá trình bảo quản - Tận dụng vỏ và hạt nhãn để trồng nấm sò (Pleurotus ostreatus) làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi
k ết quả bảng 3 cho thấy độ ẩm của vỏ và hạt nhãn khô tương đối thấp, do đó thuận lợi cho quá trình bảo quản (Trang 3)
Hình 2. Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của độ ẩm, tỷ lệ cám và trấu đến hàm lượng protein - Tận dụng vỏ và hạt nhãn để trồng nấm sò (Pleurotus ostreatus) làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi
Hình 2. Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của độ ẩm, tỷ lệ cám và trấu đến hàm lượng protein (Trang 4)
Hình 3. Giá trị mong đợi của hàm mục tiêu - Tận dụng vỏ và hạt nhãn để trồng nấm sò (Pleurotus ostreatus) làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi
Hình 3. Giá trị mong đợi của hàm mục tiêu (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w