1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển kỹ năng giao tiếp phi ngôn từ cho sinh viên ngành Việt Nam học Trường Đại học Sao Đỏ

8 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 240,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nghiên cứu với mục đích nâng cao chất lượng đội ngũ hướng dẫn viên du lịch nói chung và chương trình đào tạo ngành Việt Nam học tại Trường Đại học Sao Đỏ nói riêng.

Trang 1

Phát triển kỹ năng giao tiếp phi ngôn từ cho sinh viên

ngành Việt Nam học Trường Đại học Sao Đỏ

Dveloping nonverbal communication skills for students of

Vietnamse study major Sao Do University

Nguyễn Thị Hương Huyền, Vũ Thị Lương

Email: huyentb2010@gmail.com

Trường Đại học Sao Đỏ Ngày nhận bài: 02/02/2019 Ngày nhận bài sửa sau phản biện: 25/12/2019 Ngày chấp nhận đăng: 31/12/2019

Tóm tắt

Để trở thành một hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp và thành công là niềm mơ ước của biết bao bạn trẻ ngày nay Tuy nhiên, đây là một nghề đòi hỏi cao cả về kiến thức và kỹ năng Một trong những

kỹ năng bắt buộc phải có đối với một hướng dẫn viên du lịch, đó chính là kỹ năng giao tiếp phi ngôn từ Tại Trường Đại học Sao Đỏ, sinh viên ngành Việt Nam học được trang bị khá đầy đủ kiến thức về nghiệp vụ hướng dẫn du lịch Tuy nhiên, có một thực tế là kỹ năng giao tiếp nói chung, kỹ năng giao tiếp phi ngôn từ nói riêng còn nhiều hạn chế Điều này cũng có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan từ phía người học và người dạy Việc tìm ra các giải pháp để hoàn thiện hơn kỹ năng hướng dẫn cho sinh viên là một việc làm cần thiết giúp cải thiện chất lượng đội ngũ hướng dẫn viên du lịch Việt Nam và chương trình đào tạo ngành Việt Nam học của Trường Đại học Sao Đỏ

Từ khoá: Kỹ năng giao tiếp phi ngôn từ; phi ngôn từ; hướng dẫn viên du lịch; du lịch; sinh viên.

Abstract

Nowadays, being a professional and successful tour guide is the dream of a lot of young people To make it true, a tour guide should have a lot of skills Beside the knowledge of history, geography, culture, habits and customs,… the skills of nonverbal communication are extremely important and necessary

At Sao Do University, students of Vietnamese study major are adequately provided with specialised skills

on tour guiding However, there is a fact that their communication skills in general and their nonverbal communication skill in particular are limited The causes of it come from both the students subjectively and the teachers objectively Therefore, it is required to study the solutions to complete students’ skills

It not only contributes to improve the quality of Vietnam tour guides in the current situation, but also upgrades the training program of Vietnamse study major at Sao Do University

Keywords: Nonverbal communication skills; nonverbal communication; tour guide; tourism; student.

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Đi du lịch hiện nay là một nhu cầu không thể thiếu

của mỗi người Ngoài việc di chuyển tới một vùng

đất khác để lấy lại sự cân bằng trong cuộc sống,

du khách mong muốn được nâng cao kiến thức và

mở rộng các mối quan hệ giao tiếp xã hội Người

đóng vai trò chính trong mỗi chuyến đi đó và là người đồng hành cùng du khách thực hiện được mong muốn của mình không ai khác đó chính là người hướng dẫn viên du lịch Nhưng nếu hướng dẫn viên du lịch chỉ có kiến thức và đứng nói như một cái máy được lập trình sẵn thì du khách sẽ không chi trả cho người làm du lịch như vậy Du lịch là một ngành dịch vụ, vì vậy người hướng dẫn viên du lịch phải làm sao để khi thuyết minh trước Người phản biện: 1 PGS.TS Nguyễn Văn Độ

2 TS Nguyễn Đăng Tiến

Trang 2

du khách làm du khách cảm nhận được giá trị

cảnh quan nơi họ đến, khiến họ yêu và trân trọng

quê hương, đất nước mình hơn

Tại Trường Đại học Sao Đỏ có đào tạo ngành Việt

Nam học - những hướng dẫn viên du lịch tương

lai của đất nước Tuy nhiên, qua các kì thực tập

của sinh viên, trong các phiếu nhận xét về quá

trình thực tập của sinh viên tại các công ty, đơn vị

lữ hành, vẫn nhiều ý kiến cho rằng sinh viên chưa

thuần thục trong việc giao tiếp phi ngôn từ Điều

này cho thấy sự cần thiết phải đưa lí luận về giao

tiếp phi ngôn từ vào nội dung đào tạo bồi dưỡng

cho sinh viên ngành Việt Nam học với mục đích

nâng cao chất lượng đội ngũ hướng dẫn viên du

lịch nói chung và chương trình đào tạo ngành Việt

Nam học tại Trường Đại học Sao Đỏ nói riêng

2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Mặc dù có rất nhiều tác giả khác nhau cả trong

và ngoài nước nghiên cứu về giao tiếp phi ngôn

từ, tuy nhiên chưa có bài viết nào đề cập đến kỹ

năng giao tiếp phi ngôn từ cho sinh viên ngành

Việt Nam học chuyên ngành Hướng dẫn du lịch

Có một số bài nghiên cứu của các trường đại học

tại Việt Nam nhưng cũng chỉ đề cập tới vấn đề

giao tiếp nói chung của sinh viên mà không cụ thể

vào chuyên ngành Hướng dẫn du lịch

Công trình “Giao tiếp phi ngôn từ” của tác giả

Nguyễn Quang [4] đã cung cấp các quan điểm

và sự phân loại “giao tiếp phi ngôn từ”, tầm quan

trọng và các nguyên tắc của giao tiếp phi ngôn từ

Tác giả Châu Thúy Kiều với đề tài nghiên cứu

khoa học “Kỹ năng giao tiếp của sinh viên sư

phạm Trường Cao đẳng Cần Thơ” đã hệ thống lý

luận về giao tiếp và kỹ năng giao tiếp, đánh giá

thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao

kỹ năng giao tiếp cho sinh viên sư phạm Trường

Cao đẳng Cần Thơ

Thạc sĩ Nguyễn Thị Bích Thủy - Trường Đại học

Khoa học Xã hội và Nhân văn có bài viết “Phát

triển kỹ năng giao tiếp cho sinh viên” [12] nêu ra

những lợi ích của các kỹ năng mà đặc biệt là kỹ

năng giao tiếp giúp sinh viên có cái nhìn bao quát

và tìm ra hướng đi để hoàn thiện các kỹ năng; tuy

nhiên bài viết vẫn còn mang tính lý thuyết và chưa

được khảo sát trên đối tượng sinh viên cụ thể

Như vậy có rất nhiều bài báo, tạp chí, đề tài đề

cập tới vấn đề kỹ năng giao tiếp nói chung, kỹ

năng giao tiếp phi ngôn từ nói riêng của sinh viên

nhưng chưa có bài nghiên cứu nào đề cập tới kỹ

năng giao tiếp phi ngôn từ của sinh viên ngành

Việt Nam học, chuyên ngành Hướng dẫn du lịch, đặc biệt là tại Trường Đại học Sao Đỏ

3 GIAO TIẾP PHI NGÔN TỪ 3.1 Giao tiếp phi ngôn từ và vai trò của giao tiếp phi ngôn từ

Có thể khẳng định rằng giao tiếp phi ngôn từ là một bộ phận tối quan trọng trong quá trình giao tiếp của con người, giúp việc truyền đạt thông tin được chính xác, rõ ràng hơn Đã có nhiều công trình nghiên cứu về giao tiếp phi ngôn từ trên các

bình diện khác nhau Theo Knapp [5]: Giao tiếp phi ngôn từ hàm chỉ các hành động hoặc các biểu hiện ngoài ngôn từ Các hành động hoặc biểu hiện vốn có ý nghĩa được chia sẻ về mặt xã hội đó được gửi đi một cách có chủ đích hoặc được diễn giải như là có chủ đích và được gửi đi hoặc tiếp nhận một cách có ý thức [ ] Giao tiếp phi ngôn từ là một thuật ngữ để miêu tả tất cả các sự kiện giao tiếp vượt lên trên ngôn từ khẩu ngữ và bút ngữ

Định nghĩa này có lẽ chỉ chú ý đến các hiện tố phi ngôn từ được sử dụng một cách có ý thức và có chủ đích Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu hiện nay nhìn chung đều thống nhất rằng giao tiếp phi ngôn

từ bao gồm cả các hiện tố hữu thức và vô thức, chủ định và vô tình; và đó cũng là một trong những

lý do gây ra các trục trặc trong giao tiếp phi ngôn

từ không chỉ giao văn hóa mà cả nội văn hóa

Levine và Adelman [6] cho rằng: Giao tiếp phi ngôn từ là ngôn ngữ “im lặng” (silent language), bao gồm việc sử dụng cử chỉ, diện hiện (biểu hiện trên khuôn mặt - NQ), nhãn giao (tiếp xúc ánh mắt

- NQ) và khoảng cách đối thoại Với cách nhận

diện này tác giả nhấn mạnh vào ngôn ngữ thân thể và một phần nhỏ của ngôn ngữ môi trường; và điều đó có lẽ là chưa đủ để tạo ra một hình ảnh rõ nét về giao tiếp phi ngôn từ Hơn nữa các yếu tố cận ngôn thuộc giao tiếp phi ngôn từ không phải là ngôn ngữ “im lặng”

Dwyer [1] có cách nhìn khái quát hơn và có ví dụ đi kèm đã ý thức rõ hơn về các bình diện khác nhau của giao tiếp phi ngôn từ như cận ngôn và ngoại

ngôn Theo tác giả: Giao tiếp phi ngôn từ bao gồm toàn bộ các bộ phận của thông điệp không được

mã hóa bằng từ ngữ, ví dụ: giọng nói, diện hiện hoặc cử chỉ và hành động Tuy nhiên, các ví dụ

được nêu chỉ giúp ta thấy được các yếu tố cận ngôn và ngôn ngữ thân thể mà chưa gợi ra được các yếu tố thuộc ngôn ngữ vật thể và ngôn ngữ môi trường, mà các yếu tố này là không thể thiếu được trong giao tiếp phi ngôn từ

Dựa trên các khái niệm trên, tác giả xin được đưa

Trang 3

ra khái niệm tổng hợp như sau: Giao tiếp phi ngôn

từ là toàn bộ các bộ phận kiến tạo nên giao tiếp

không thuộc mã ngôn từ, có nghĩa là không được

mã hoá bằng từ ngữ, nhưng có thể thuộc về cả hai

kênh ngôn thanh và phi ngôn thanh Nó bao gồm

các yếu tố cận ngôn (phi ngôn từ - ngôn thanh)

như tốc độ, cường độ, ngữ lưu và các yếu tố ngoại

ngôn (phi ngôn từ - phi ngôn thanh) thuộc ngôn

ngữ thân thể như cử chỉ, dáng điệu, diện hiện…,

thuộc ngôn ngữ vật thể như áo quần, trang sức…

Giao tiếp phi ngôn từ có vai trò quan trọng trong

cuộc sống Mehrabian [7] cho rằng: trong tổng hiệu

quả của một thông điệp, các yếu tố ngôn từ (các từ

ngữ) chỉ tạo ra 7%; trong khi đó, các yếu tố ngôn

thanh (bao gồm giọng nói, sự thăng giáng và các

âm thanh khác) chiếm tới 38% và các yếu tố phi

ngôn từ mang lại 55% Giao tiếp phi ngôn từ giúp

cho mỗi người trở nên tinh tế hơn, biết tự kiềm chế

cảm xúc, tự ý thức và điều khiển được ngôn ngữ

cơ thể Đồng thời, giao tiếp phi ngôn từ cũng giúp

người tham gia giao tiếp hiểu rõ đối tác để đưa ra

những định hướng đúng đắn Phi ngôn từ còn hỗ

trợ đắc lực cho ngôn ngữ Việc sử dụng phi ngôn

từ trong khi nói giúp thông tin được truyền đạt một

cách trọn vẹn, rõ ràng và truyền cảm hơn

3.2 Biểu hiện của giao tiếp phi ngôn từ và kỹ

năng sử dụng đối với hướng dẫn viên du lịch

Giao tiếp phi ngôn từ được biểu hiện ở nhiều dạng

khác nhau và mỗi loại lại mang một ý nghĩa riêng

Một số biểu hiện của giao tiếp phi ngôn từ và kỹ

năng sử dụng đối với hướng dẫn viên du lịch gồm:

Tốc độ, cường độ, ngữ điệu của giọng nói: Trong

giao tiếp, người có chất giọng ấm, trong trẻo, ngữ

điệu lên xuống… sẽ hấp dẫn người khác hơn khi

nói chuyện Đặc biệt, đối với người làm hướng

dẫn viên du lịch, giao tiếp phi ngôn từ là giọng

nói được sử dụng khá nhiều Tùy vào đối tượng

thuyết minh, hướng dẫn viên du lịch cần phải điều

chỉnh giọng nói của mình cho phù hợp

Ánh mắt: Đôi mắt được ví là “cửa sổ tâm hồn”,

trong đó ánh mắt bộc lộ rõ nhất cảm xúc của con

người, nó thể hiện sự tự tin, sự quan tâm và tạo

sự chú ý, lôi cuốn người khác Đối với hướng dẫn

viên du lịch, sự kết hợp giữa giọng nói và ánh mắt

sẽ thể hiện sự tự tin, làm cho lời nói truyền cảm,

thuyết phục và hấp dẫn khách Ngoài ra, đối với

mỗi hướng dẫn viên du lịch, ánh mắt thể hiện sự

bao quát trong việc quản lý đoàn cũng như thực

hiện các nghiệp vụ hướng dẫn khác

Nụ cười: Nụ cười được xem là một trang sức trong

giao tiếp và cũng là phương tiện làm quen hay xin

lỗi rất tinh tế, ý nhị Hướng dẫn viên du lịch cần

phải biết sử dụng nụ cười đúng lúc, hợp lý Khi đón tiếp đoàn khách nụ cười cần nở trên môi để

du khách cảm nhận được niềm vui của hướng dẫn viên khi được phục vụ đoàn; ngược lại khi chia tay khách hay thuyết minh tại những điểm du lịch là những chứng tích chiến tranh cần phải hạn chế

nụ cười mà thay vào đó là sự lưu luyến, nuối tiếc khi chia tay du khách hay thể hiện sự đau thương, mất mát trong chiến tranh

Nét mặt: Nét mặt là nơi biểu lộ rõ cảm xúc của con

người Qua nét mặt, người giao tiếp có thể phán đoán được tâm trạng của người giao tiếp cùng mình đang vui hay buồn, lo sợ hay buồn chán… Chính vì vậy với đặc thù nghề nghiệp, hướng dẫn viên du lịch khi thực hiện công việc luôn luôn giữ nét mặt thoải mái, hòa đồng để tạo nên sự yên tâm cũng như tạo lòng tin cho du khách, tránh để du khách cảm thấy bất an hoặc cảm thấy hướng dẫn viên làm việc chỉ vì nghĩa vụ

Đôi tay: Trong giao tiếp, muốn thu hút được sự

chú ý của người nghe, đòi hỏi chuyển động của

cơ thể càng phải linh hoạt, năng động Trên cơ thể người, đôi tay là nơi linh hoạt nhất Đối với hướng dẫn viên du lịch, đôi tay được sử dụng nhiều khi chỉ dẫn, thuyết minh về đối tượng tham quan Cử chỉ đôi tay của hướng dẫn viên du lịch

có vai trò “đánh nhịp” để tạo nên sự nhịp nhàng của giọng nói tránh sự khô cứng khi thuyết minh Động tác tay của hướng dẫn viên du lịch còn có vai trò truyền đạt và làm rõ các ý trong nội dung bài thuyết minh Bên cạnh đó, động tác tay còn có vai trò dẫn dắt, chỉ hướng và xác định đối tượng tham quan, hướng di chuyển… Chính vì vậy, trong quá trình thực hiện nghiệp vụ, hướng dẫn viên du lịch luôn phải nắm rõ cách thức thực hiện các tư thế tay, sự di chuyển của đôi tay và chú ý tính thẩm

mỹ của đôi tay

Tư thế ngồi, đứng, đi lại: Tất cả những điều này

đều nói lên phong cách của một con người Chỉ qua những hành động rất nhỏ trong việc ngồi, đứng, đi lại, người giao tiếp đều có thể đánh giá

đó là con người lịch sự hay thô thiển, hoạt bát hay chậm chạp… Với hướng dẫn viên, khi thực hiện công việc của mình thường xuyên phải di chuyển trước đoàn khách làm nhiệm vụ dẫn đường và đứng khi chỉ dẫn thuyết minh cho du khách Do đó cần phải chú ý, khi đứng cần lựa chọn vị trí thích hợp đảm bảo vừa quan sát đoàn khách, vừa chỉ dẫn được đối tượng tham quan Đứng với tư thế lưng thẳng, đầu ngẩng vừa phải để có tầm bao quát rộng, hai chân dang rộng thích hợp để tạo sự thoải mái nhưng không được rộng quá hai bên vai Khi di chuyển phải có mục đích để thuyết trình hay

Trang 4

để dẫn đường cho đoàn khách Không hấp tấp, vội

vã nhưng đồng thời cũng không kéo lê giày dép

khi di chuyển

Trang phục: Người Việt có câu “Nhìn quân phục

biết tư cách” để muốn nói cách ăn mặc cũng biểu

lộ tính cách của một con người Trong giao tiếp

ăn mặc lịch sự, kín đáo, phù hợp với hoàn cảnh

là thể hiện sự tôn trọng với người giao tiếp cùng

mình Còn đối với hướng dẫn viên du lịch thì ăn

mặc phải phù hợp với đối tượng tham quan nhưng

vẫn phải lịch sự, thể hiện sự tôn trọng khách và

giữ gìn vẻ đẹp của điểm đến du lịch Ví như, khi

dẫn khách đến các nơi tâm linh như đình, đền,

chùa, miếu mạo… hướng dẫn viên phải mặc kín

đáo, lịch sự Nhưng khi đến các điểm tham quan

tự nhiên như biển đảo, hang động… hướng dẫn

viên có thể mặc thoải mái hơn cho dễ dàng trong

việc vận chuyển, đi lại

4 THỰC TRẠNG KỸ NĂNG SỬ DỤNG GIAO

TIẾP PHI NGÔN TỪ CỦA SINH VIÊN NGÀNH

VIỆT NAM HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SAO ĐỎ

4.1 Thuận lợi và khó khăn khi đào tạo ngành

Việt Nam học tại Trường Đại học Sao Đỏ

4.1.1 Thuận lợi

- Mặc dù số lượng sinh viên không đông nhưng

khoa luôn nhận được sự quan tâm sâu sắc từ Ban

lãnh đạo trường Các trang thiết bị phục vụ cho

việc dạy và học như loa, băng đĩa, đầu sách…

được Nhà trường trang bị đầy đủ và bổ sung theo

định kỳ

- Chương trình học chú trọng tính ứng dụng và

đào tạo theo hướng phù hợp với nhu cầu của xã

hội Thời gian thực hành nhiều nên mỗi sinh viên

có điều kiện rèn luyện kỹ năng thuần thục hơn

Thêm vào đó là đầu vào của sinh viên là khối C và

D nên các em có được kiến thức nền tảng trước

khi học chuyên ngành Điểm thực hành thực tế

gần nên khi vào học chuyên ngành sinh viên có

điều kiện được rèn luyện kỹ năng ngay khi học

xong lý thuyết trên lớp

- 100% giảng viên có trình độ sau đại học, trong đó

25% có trình độ Tiến sĩ và 01 giảng viên đang theo

học Tiến sĩ tại nước ngoài, tuổi đời các giảng viên

còn trẻ nên tâm huyết với việc giảng dạy Giảng

viên không ngừng học hỏi và nâng cao kiến thức

thông qua các lớp học bồi dưỡng và nâng cao

trình độ chuyên môn nghiệp vụ

4.1.2 Khó khăn

Đặc trưng của ngành du lịch là đi nhiều, hiểu biết

rộng Tuy nhiên xuất thân của sinh viên lại đa phần

từ các tỉnh lẻ, ít có điều kiện để đi du lịch hằng năm

nên mặc dù học chuyên ngành hướng dẫn du lịch nhưng kiến thức về các điểm du lịch của sinh viên còn hạn chế

Khác với các trường đại học ở các thành phố lớn như Hà Nội, Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh… trong thời gian học sinh viên có thể tham gia làm cộng tác viên hoặc hướng dẫn cho các công ty du lịch ngay từ những năm học thứ hai, thứ ba Tuy nhiên, đối với Trường Đại học Sao Đỏ, sinh viên ít có cơ hội hơn do vị trí của trường xa các trung tâm, thành phố lớn, ít có các công ty, đại lý du lịch Do vậy, sinh viên ít có điều kiện được cọ sát, rèn luyện trong thực tế, nâng cao kiến thức và kỹ năng Trình độ ngoại ngữ thấp nên khi ra trường, các em

dễ bị lúng túng khi nhận các tour hướng dẫn tham quan cho khách quốc tế

4.2 Đánh giá thực hành kỹ năng sử dụng giao tiếp phi ngôn từ của sinh viên tại giảng đường

Qua thực tế giảng dạy cho thấy khi sinh viên ngành Việt Nam học học Thực hành nghiệp vụ hướng dẫn du lịch trên lớp có rất ít sinh viên sử dụng thuần thục ngôn ngữ cơ thể khi thuyết minh về một điểm du lịch nào đó Do đó, khi sinh viên lên thuyết minh không lột tả được hết giá trị của điểm tham quan Một số sinh viên có sử dụng đôi tay

để chỉ dẫn nhưng vẫn còn thiếu kỹ năng giao tiếp trong ánh mắt, nụ cười, nét mặt với sinh viên khác trong lớp đóng vai trò như đoàn khách du lịch… thiếu sự di chuyển trong khi đứng thuyết minh và gần như là đứng nguyên một chỗ từ đầu tới cuối bài thuyết minh

Để đánh giá một cách khách quan về kiến thức và

kỹ năng của sinh viên khi thực hành hướng dẫn du lịch, bộ môn đã xây dựng các tiêu chí đánh giá Do

có nhiều kỹ năng cần đạt được trong mỗi tiêu chí nên điểm số đánh giá được lấy là thang điểm 100, sau đó được quy ra thang điểm 10 Các tiêu chí

đó bao gồm: Giới thiệu 5 điểm (giới thiệu hướng dẫn viên và công ty; chương trình tham quan; nội quy và quy định tại điểm tham quan), Nội dung thuyết minh 35 điểm (thông tin đầy đủ, chính xác; thời gian hợp lý; phù hợp với đối tượng khách; có điểm nhấn và tiểu kết), Kết thúc chuyến tham quan

5 điểm (khái quát nội dung chính; trả lời câu hỏi của khách; giới thiệu sản phẩm địa phương hoặc chương trình tham quan khác; lời chào và lời chúc trước lúc chia tay), Quản lý đoàn 25 điểm (nói to,

rõ ràng, dứt khoát khi ra thông báo, chỉ dẫn, nhắc nhở Khách không nói chuyện riêng Tại điểm: số lượng khách đảm bảo Cảnh báo các mối nguy hiểm Sử dụng các phương tiện nhận dạng (dùng

ô, dùng cờ…) với giải thích hợp lý về hiệu lệnh ) Ngôn ngữ cơ thể 30 điểm với các kỹ năng cần đạt được cụ thể như sau:

Trang 5

Tiêu chí Kỹ năng cần đạt được Điểm

Ngôn ngữ cơ thể

- Giọng nói: lưu loát, dễ nghe, truyền cảm; không ngọng; có ngữ điệu (trầm, bổng); tốc độ nói vừa phải; có điểm dừng và nhấn khi nói 5

- Ánh mắt: phân chia ánh mắt đều tới mọi khách, không quay lưng vào khách

- Nụ cười: phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và nội dung bài thuyết minh 5

- Nét mặt: biểu cảm, phù hợp với lời thuyết minh 5

- Đôi tay: thuần thục trong việc chỉ dẫn đối tượng tham quan, không bị “thừa”

trong khi giao tiếp và thực hiện công việc của bản thân 5

- Tư thế ngồi, đứng, đi lại: nhanh nhẹn, hoạt bát, lịch sự… 2.5

- Trang phục: lịch sự, sạch, đẹp, phù hợp với chuyến tham quan 2.5 Khi lấy số liệu phân tích cho bài báo, tác giả chỉ

lấy điểm số đánh giá kỹ năng giao tiếp phi ngôn từ

trên cơ sở tổng hợp từ 5 phiếu bài kiểm tra trong

học phần Thực hành nghiệp vụ hướng dẫn du lịch

2 (5 tín chỉ) của 3 khóa Đại học chính quy, khóa

III, IV và V Thứ tự xếp loại, đánh giá Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ cơ thể như sau: Xuất sắc 25 - 30 điểm, Giỏi 20 - < 25 điểm, Khá 15 - < 20 điểm, Trung bình khá 10 - < 15 điểm, Yếu 5 - < 10 điểm, Kém < 5 điểm

Bảng 1 Kết quả kỹ năng giao tiếp phi ngôn từ trên lớp của sinh viên ngành Việt Nam học

XS Tỉ lệ G Tỉ lệ Khá Tỉ lệ TB Tỉ lệ TBY Tỉ lệ Kém Tỉ lệ

(Nguồn: Khoa Du lịch và Ngoại ngữ)

Qua số liệu điều tra cho thấy số sinh viên đạt điểm

xuất sắc và giỏi qua các khóa là những sinh viên

có ý thức học tập tốt, thường hay tham gia các

hoạt động ngoại khóa do khoa và trường tổ chức

hoặc những sinh viên là cán bộ lớp, cán bộ đoàn,

hoặc đã từng tham gia làm cộng tác viên cho các

công ty du lịch… Vì thế những sinh viên này có

kiến thức, kỹ năng giao tiếp tốt, tự tin khi thực hiện

hướng dẫn tham quan Ngược lại, những sinh

viên đạt điểm trung bình yếu hoặc kém thường là

những sinh viên chưa chuẩn bị bài chu đáo trước

khi đến lớp, rụt rè hoặc không tích cực tham gia

các hoạt động phong trào

Bảng 2 Kết quả kỹ năng sử dụng giao tiếp phi ngôn từ tại điểm du lịch của sinh viên

Khoá Số SV XS Tỉ lệ G Tỉ lệ Khá Tỉ lệ Xếp loại TB Tỉ lệ TBY Tỉ lệ Kém Tỉ lệ

(Nguồn: Khoa Du lịch và Ngoại ngữ)

4.3 Đánh giá thực hành kỹ năng sử dụng giao tiếp phi ngôn từ của sinh viên tại điểm

Hàng năm, khoa và bộ môn luôn tạo điều kiện cho sinh viên năm thứ ba và năm thứ tư được đi trải nghiệm thực tế nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành hướng dẫn Mặc dù, khi đến điểm thực tế, sinh viên có điều kiện sử dụng ngôn ngữ

cơ thể nhiều hơn nhưng sinh viên vẫn chưa tự tin trong việc sử dụng ngôn ngữ cơ thể Việc di chuyển chỉ mang tính chất đi từ điểm tham quan này sang điểm tham quan khác, còn tại một điểm

du lịch sinh viên chưa tự tin, thoải mái trong việc di chuyển; thậm chí việc sử dụng đôi tay để chỉ dẫn cho du khách cũng ít

Nhìn vào bảng trên cho thấy tỉ lệ sinh viên đạt

điểm khá trở lên trong việc sử dụng giao tiếp phi ngôn từ tại các điểm du lịch giữa các khoá cũng không chênh lệch nhau nhiều và có tỉ lệ trung bình

Trang 6

yếu, kém khá cao Điều này có một phần nguyên

nhân là do sinh viên lần đầu đến điểm du lịch chưa

xác định rõ vị trí đối tượng tham quan và đối tượng

chỉ dẫn (trước đó sinh viên chỉ được xem xét đối

tượng chỉ dẫn thuyết minh qua hình ảnh, video)

Do đó, khi tới điểm du lịch sinh viên còn lúng túng

trong việc dùng đôi tay để chỉ dẫn vị trí quan sát

cho khách, việc di chuyển từ đối tượng tham quan

này sang đối tượng tham quan kia còn mất nhiều

thời gian do chưa nắm rõ lộ trình của điểm tham

quan, ánh mắt và giọng nói theo đó cũng bị phân

tán… Nguyên nhân này cũng được hầu hết các

giảng viên và sinh viên trả lời là một trong những

hạn chế khi được hỏi về những khó khăn trong

việc dạy và học sử dụng giao tiếp phi ngôn từ

(85%) Còn lại (15%) cho rằng không khó khăn

hoặc ít khó khăn nằm trong số những sinh viên

làm cộng tác viên cho các công ty du lịch, những

sinh viên làm phụ tour hoặc những sinh viên đã đi

du lịch cùng gia đình đã từng tới những điểm tham

quan đó

4.4 Nguyên nhân

4.4.1 Nguyên nhân từ phía người học

- Trước tiên là phải kể đến do văn hóa của người

phương Đông trong khi giao tiếp thường ít khi sử

dụng giao tiếp phi ngôn từ để biểu đạt tình cảm,

thái độ… của người nói Do đó, sinh viên thường

e dè mỗi khi sử dụng kỹ năng giao tiếp phi ngôn từ

để truyền đạt thông tin

- Khi còn học phổ thông sinh viên không được

tham gia các lớp học kỹ năng mềm nên nhiều kỹ

năng khi giao tiếp còn hạn chế

- Mặc dù có nhiều thời gian nhưng sinh viên không

dành thời gian rảnh rỗi cho việc giao tiếp trực tiếp

với mọi người xung quanh Ngoài thời gian học

tập, sinh viên thường hay sử dụng điện thoại, máy

tính nhiều hơn so với việc đi ra ngoài để giao tiếp

với mọi người

- Sinh viên chưa có ý thức rèn luyện giao tiếp phi

ngôn từ Mặc dù tại trường sinh viên được học 4

tín chỉ Kỹ năng mềm, 2 tín chỉ học phần Kỹ năng

giao tiếp và tham gia các hoạt động ngoại khóa

nhưng sinh viên chỉ học mang tính chất để thi đạt

điểm qua môn học và sau khi thi xong phần lớn

sinh viên không có ý thức tự rèn luyện kỹ năng

- Khi thực hành thuyết minh trước lớp, sinh viên

chưa mạnh dạn, tự tin, chưa hiểu rõ đối tượng và

tình huống giao tiếp Và khi đó sinh viên vẫn còn

lúng túng trong việc sử dụng giao tiếp phi ngôn từ

4.4.2 Nguyên nhân từ phía người dạy và chương trình đào tạo

Nhìn chung chương trình đào tạo ngành Việt Nam học trang bị khá đầy đủ kiến thức và kỹ năng cho sinh viên, tăng tính ứng dụng đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội Thời lượng dành cho chuyên ngành Hướng dẫn du lịch khá nhiều (60 tiết học phần Lý thuyết nghiệp vụ hướng dẫn du lịch và

300 giờ học phần Thực hành nghiệp vụ hướng dẫn du lịch) Tuy vậy, nội dung chương trình chủ yếu hướng đến rèn luyện kỹ năng hướng dẫn mà chưa chú trọng đến một số kỹ năng khác, đặc biệt

là kỹ năng giao tiếp - kỹ năng bắt buộc đối với một hướng dẫn viên du lịch Do vậy, giảng viên khi lên lớp cũng thường dạy theo chương trình đã xây dựng sẵn mà không chú ý vào bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp, cụ thể là giao tiếp phi ngôn từ cho sinh viên Khi sinh viên lên thực hiện hướng dẫn tham quan (tại lớp và tại điểm) giảng viên chỉ nhận xét, rút kinh nghiệm cho sinh viên mà không hướng dẫn, làm mẫu cho sinh viên quan sát và làm theo

Về phía khoa và bộ môn, mặc dù trước đây có tổ chức được Câu lạc bộ du lịch nhưng do số lượng sinh viên ngày càng giảm nên một vài năm gần đây không thành lập được các câu lạc bộ, do vậy sinh viên không có điều kiện tham gia nâng cao kiến thức và rèn luyện các kỹ năng để phát triển bản thân

4.4.3 Nguyên nhân từ môi trường và điều kiện sống

Do vị trí của trường không phải ở các thành phố lớn nên nơi đây không có các trung tâm đào tạo các lớp kỹ năng giao tiếp, khoá học trở thành MC chuyên nghiệp… do vậy sinh viên không có cơ hội được học tập và rèn luyện kỹ năng giao tiếp phi ngôn từ

Sinh viên ngành Việt Nam học, Trường Đại học Sao Đỏ đa phần xuất thân từ các tỉnh lẻ nên còn rụt rè, nhút nhát trong giao tiếp

5 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP PHI NGÔN TỪ CHO SINH VIÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC

5.1 Tạo điều kiện cho sinh viên tham gia trải nghiệm thực tế và các hoạt động nhằm phát triển giao tiếp phi ngôn từ

Qua điều tra phỏng vấn trực tiếp về mong muốn giảng viên và sinh viên trong học phần Thực hành nghiệp vụ hướng dẫn du lịch khi vận dụng giao tiếp phi ngôn từ vào thực hành hướng dẫn thì cả giảng viên và sinh viên đều muốn được khoa và Nhà

Trang 7

trường tạo điều kiện được học thực hành thực tế

tại điểm nhiều hơn ngay từ năm thứ nhất để sinh

viên được cọ sát với thực tế, và rèn luyện kỹ năng

giao tiếp phi ngôn từ một cách tự nhiên nhất

Bên cạnh đó, sinh viên cũng muốn được khoa, bộ

môn cùng với Đoàn thanh niên mở các lớp học

ngoại khóa, các câu lạc bộ và các chương trình để

sinh viên được rèn luyện và phát triển kỹ năng tốt

nhất có thể

Qua những chuyến đi thực tế như vậy, cùng với

các lớp học ngoại khóa, sinh viên có điều kiện

quan sát, học hỏi nhiều hơn về giao tiếp phi ngôn

từ Từ đó tự rút ra bài học cho bản thân Bên cạnh

đó, sinh viên cũng sẽ hiểu rõ hơn về “ý tứ” mà

người giao tiếp muốn truyền đạt

5.2 Giảng viên hướng dẫn sinh viên tìm hiểu

qua các phương tiện thông tin đại chúng và tự

rèn luyện

Mặc dù trong chương trình đào tạo toàn khóa có

học phần tự chọn Kỹ năng giao tiếp, tuy nhiên

nội dung của học phần về giao tiếp phi ngôn từ

còn khá hạn hẹp Các học phần chuyên ngành thì

không đề cập tới nội dung này Vì vậy, để gắn kết

giữa lý thuyết và thực hành, để kỹ năng hướng

dẫn của sinh viên phát triển một cách toàn diện

hơn, cần thiết phải đưa vào chương trình đào tạo

nội dung về giao tiếp phi ngôn từ ở cả học phần

Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch (Lý thuyết) và học

phần Thực hành hướng dẫn du lịch (Thực hành)

Sinh viên cần thiết phải học về kỹ năng sử dụng

giao tiếp phi ngôn từ trước khi học các nội dung về

hướng dẫn du lịch theo chuyên đề

5.3 Bổ sung chương trình đào tạo kỹ năng

giao tiếp phi ngôn từ vào học phần Nghiệp vụ

hướng dẫn du lịch

Có thể thấy sinh viên nói chung hiện nay rất

nhanh nhạy trong việc tiếp nhận thông tin qua các

phương tiện thông tin đại chúng Tuy nhiên, để

sinh viên tự học tập, rèn luyện và vận dụng được

vào hoạt động hướng dẫn du lịch thì cần phải có

giảng viên hướng dẫn để phát triển kỹ năng đó Có

thể chia quá trình đó thành ba giai đoạn như sau:

- Hình thành: là quá trình giảng viên xây dựng

hoặc sử dụng các video mẫu về giao tiếp phi ngôn

từ và dùng các trang thiết bị hiện đại để giảng dạy,

phân tích làm cho sinh viên hiểu rõ ý nghĩa, yêu

cầu và kỹ năng cần đạt được của các yếu tố giao

tiếp phi ngôn từ đó Ở giai đoạn này mức độ yêu

cầu đối với sinh viên là hiểu rõ ý nghĩa và cách thức thực hiện của giao tiếp phi ngôn từ trong giao tiếp và trong hoạt động hướng dẫn du lịch

- Thực hành: Sau khi sinh viên đã quan sát và hiểu

rõ ý nghĩa, cách thức thực hiện cơ bản sẽ tự thực hành hoặc thực hành trong nhóm Khi thực hành, sinh viên có thể dùng các phương tiện hiện đại (điện thoại, máy quay…) quay lại hình ảnh bản thân thực hành kỹ năng giao tiếp phi ngôn từ để từ

đó sửa sai và rút ra bài học cho bản thân

- Rèn luyện: Giai đoạn này đòi hỏi sinh viên phải kiên trì và thường xuyên sử dụng không chỉ trong môn học mà ngay cả cuộc sống hàng ngày

Để đánh giá được mức độ tự học tập và rèn luyện

kỹ năng của sinh viên qua phương tiện thông tin đại chúng thông qua ba tiêu chí là: tính đầy đủ, tính thành thục và tính linh hoạt

6 KẾT LUẬN

Cùng với ngôn ngữ nói, việc sử dụng các phương tiện giao tiếp phi ngôn từ giúp mang lại hiệu quả giao tiếp cao hơn Giao tiếp phi ngôn từ là một phương tiện không thể thiếu trong hoạt động giao tiếp của con người

Với hướng dẫn viên du lịch, việc sử dụng giao tiếp phi ngôn từ sẽ tạo ấn tượng sâu sắc với du khách, giúp cho việc truyền đạt thông tin được rõ ràng hơn, nhờ vậy mà chuyến tham quan du lịch được thành công hơn

Sinh viên ngành Việt Nam học Trường Đại học Sao Đỏ mặc dù được học khá nhiều kiến thức và

kỹ năng về nghiệp vụ hướng dẫn du lịch (3 tín chỉ

lý thuyết, 10 tín chỉ thực hành) tuy nhiên kỹ năng

sử dụng giao tiếp phi ngôn từ - một trong những yêu cầu bắt buộc cần phải có khi làm nghề hướng dẫn viên du lịch thì còn nhiều hạn chế Do đó cần thiết phải tổ chức nhiều chương trình, hoạt động

bổ trợ, bổ sung thêm vào chương trình học các học phần nhằm rèn luyện ngôn ngữ phi ngôn từ… tạo điều kiện cho sinh viên được đi trải nghiệm nhiều hơn, đồng thời giảng viên hướng dẫn cần phải tạo động lực, khuyến khích sinh viên tự rèn luyện các

kỹ năng đó Việc khắc phục được thực trạng kỹ năng sử dụng giao tiếp phi ngôn từ của sinh viên ngành Việt Nam học, chuyên ngành Hướng dẫn

du lịch, Trường Đại học Sao Đỏ sẽ góp phần vào việc nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường nói riêng và ngành du lịch Việt Nam nói chung

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Dwyer (2000), The Business Communication

Handbook, Fifth Edition, Prentice Hall

[2] Chu Văn Đức (2005), Giáo trình Kỹ năng giao

tiếp NXB Hà Nội.

[3] Đinh Trung Kiên (2000), Lý thuyết nghiệp vụ

hướng dẫn NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

[4] Nguyễn Quang (2017), Giao tiếp phi ngôn từ

Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội,

Ngoại ngữ 23 trang 76 - 83.

[5] M Knapp (1972), Nonverbal Communication in

Human Interaction Holt, Rinehart and Winston,

New York

[6] D.R Levine, M.B Adelman

Cross - Cultural Communication,

Regents, Prentice Hall Inc

[7] A Mehrabian, M Wiener (1966), Non Immediacy

between Communication and Object of Communication in a Verbal Message, Journal of Consulting Psychology 30 225

[8] Trương Tử Nhân (2006), Thực hành nghiệp vụ

hướng dẫn du lịch NXB Đại học Kinh tế quốc

dân, Hà Nội.

[9] Nguyễn Văn Quảng (2006), Để trở thành hướng

dẫn viên du lịch giỏi, NXB Trẻ.

[10] Bùi Thanh Thủy (2007), Nghiệp vụ hướng dẫn du

lịch NXB Văn hoá - Thông tin Hà Nội.

[11] Viện Đại học Mở Hà Nội (2000), Nguyên lý thực

hành hướng dẫn

[12] https://xhnv.vhu.edu.vn/vi/nghien-cuu-khoa- hoc-1/phat-trien-ky-nang-giao-tiep-cho-sinh-vien,ngày cập nhật 17/7/2014

THÔNG TIN TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Hương Huyền

- Tóm tắt quá trình đào tạo, nghiên cứu (thời điểm tốt nghiệp và chương trình đào tạo, nghiên cứu):

+ Năm 2005: Tốt nghiệp Đại học ngành Văn hóa du lịch, Trường Đại học Văn hóa

Hà Nội + Năm 2011: Tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội

-Tóm tắt công việc hiện tại: Trưởng bộ môn, giảng viên K.DL&NN, Trường Đại học Sao Đỏ

- Lĩnh vực quan tâm: văn hóa, du lịch, ngoại ngữ và các chủ đề về khối xã hội

- Email: huyentb2010@gmail.com

- Điện thoại: 0989836345

Vũ Thị Lương

- Tóm tắt quá trình đào tạo, nghiên cứu (thời điểm tốt nghiệp và chương trình đào tạo, nghiên cứu):

+ Năm 2001: Tốt nghiệp Đại học ngành Tiếng Anh, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội

+ Năm 2011: Tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp giảng dạy tiếng Anh, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội

- Tóm tắt công việc hiện tại: Phó trưởng khoa, giảng viên K.DL&NN, Trường Đại học Sao Đỏ

- Lĩnh vực quan tâm: Ngôn ngữ, các phương pháp giảng dạy tiếng Anh, du lịch, các chủ đề về khối xã hội

- Email: luongnn78@gmail.com

- Điện thoại: 0989670521

Ngày đăng: 19/01/2021, 09:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Kết quả kỹ năng giao tiếp phi ngôn từ trên lớp của sinh viên ngành Việt Nam học - Phát triển kỹ năng giao tiếp phi ngôn từ cho sinh viên ngành Việt Nam học Trường Đại học Sao Đỏ
Bảng 1. Kết quả kỹ năng giao tiếp phi ngôn từ trên lớp của sinh viên ngành Việt Nam học (Trang 5)
Bảng 2. Kết quả kỹ năng sử dụng giao tiếp phi ngôn từ tại điểm du lịch của sinh viên - Phát triển kỹ năng giao tiếp phi ngôn từ cho sinh viên ngành Việt Nam học Trường Đại học Sao Đỏ
Bảng 2. Kết quả kỹ năng sử dụng giao tiếp phi ngôn từ tại điểm du lịch của sinh viên (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w