Tieu luan học thuyết chính trị xã hội của nho gia và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng xã hội việt nam ngày nay Tieu luan học thuyết chính trị xã hội của nho gia và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng xã hội việt nam ngày nay Tieu luan học thuyết chính trị xã hội của nho gia và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng xã hội việt nam ngày nay Tieu luan học thuyết chính trị xã hội của nho gia và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng xã hội việt nam ngày nay Tieu luan học thuyết chính trị xã hội của nho gia và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng xã hội việt nam ngày nay
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
I CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1 Phạm trù thực tiễn 3
2 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức 3
II CƠ SỞ THỰC TIỄN 4
III THỰC TRẠNG NHO GIA VỚI QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG XÃ HỘI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN 4
1 Tác giả và tác phẩm chính của Nho gia 4
1.1 Tứ thư 5
1.2 Ngũ kinh 6
2 Quan điểm chính trị, xã hội của Nho gia 7
2.1 Quan điểm chính trị 7
2.1 Quan điểm xã hội 11
IV MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY NHỮNG ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA NHO GIA ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG XÃ HỘI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 20
1 Những giải pháp về giáo dục 20
2 Những giải pháp đối với những người hiền tài 21
3 Những giải pháp nâng cao tính tự giác của mỗi người nhằm thực hiện “chính danh” 21
KẾT LUẬN 22
DANH MỤC TÀI LIỆU 23
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Nho giáo với tư cách là học thuyết chính trị - xã hội xuất hiện ở Trung Quốc và đã có mặt ở Việt Nam hàng ngàn năm Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của xã hội phong kiến (XHPK) Việt Nam, đặc biệt từ thế
kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX, các triều đại phong kiến Việt Nam đã tiếp nhận và chủ yếu sử dụng Nho giáo làm hệ tư tưởng và công cụ để trị nước, đào tạo ra những con người phù hợp với yêu cầu và mục đích của giai cấp phong kiến (GCPK) thống trị Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, là ý thức hệ và công cụ thống trị của các triều đại phong kiến Việt Nam, Nho giáo đã ảnh hưởng đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực chủ yếu của đời sống
xã hội và con người Việt Nam, đến quá trình hình thành, phát triển của xã hội
và CĐPK Việt Nam Bởi vậy mà như nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định, Nho giáo là một bộ phận cốt lõi của di sản truyền thống dân tộc.
Hơn một thập kỷ trở lại đây, trước những biến động hết sức phức tạp của đời sống xã hội, không chỉ ở nước ngoài, trong giới nghiên cứu Việt Nam đã
có xu hướng đặt lại, nghiên cứu trở lại vấn đề Nho giáo trên tinh thần phê phán nhằm gạn lọc, tiếp thu những nhân tố hợp lý, những giá trị chung của Nho giáo Đã có nhiều ý kiến, kết luận trong nhiều bài viết, chuyên luận và công trình nghiên cứu về sự thể hiện của Nho giáo ở Việt Nam trong lịch sử
và hiện nay Có nguời cho rằng, mọi hiện tượng tiêu cực của xã hội; đạo đức nhân luân bị xuống cấp, bị xói mòn; kỷ cương, nề nếp từ trong gia đình đến ngoài xã hội không được tôn trọng là do đã có một thời chúng ta phê phán, bài xích Nho giáo Cũng có người cho rằng, để thúc đẩy xã hội Việt Nam phát triển cần phải áp dụng triệt để công thức: kỹ thuật, công nghệ phương Tây với Nho giáo và mô hình quản lý xã hội ở những nước phát triển có truyền thống Nho giáo.
Rõ ràng, việc nhìn nhận, đánh giá về sự thể hiện của Nho giáo ở Việt Nam trong lịch sử và hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách đối với
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ta hiện nay Bởi vì có có
Trang 3như vậy mới góp phần giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại - một trong những nhân tố thúc đẩy sự phát triển của
xã hội Việt Nam ngày nay Để thực hiện nhiệm vụ hết sức phức tạp và khó khăn này, theo chúng tôi, một vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận là phải có thái độ biện chứng, khách quan, toàn diện và quan điểm lịch sử - cụ thể trong việc nghiên cứu Nho giáo, cũng như sự thể hiện của nó trong xã hội và con người Việt Nam trong lịch sử.
Có thể nói, từ khi du nhập vào Việt Nam, Nho giáo đã được các triều đại phong kiến và các tầng lớp người Việt Nam tiếp nhận chủ yếu từ phương diện học thuyết chính trị - xã hội, đạo đức Và ngay cả ở phương diện này thì phạm
vi, tính chất, mức độ tiếp nhận cũng khác nhau ở mỗi triều đại phong kiến và trong từng giai đoạn phát triển của CĐPK Sở dĩ như vậy, xét đến cùng là do điều kiện kinh tế - xã hội, yêu cầu phát triển của CĐPK Việt Nam trong mỗi giai đoạn quy định và nhu cầu cai trị, quản lý xã hội của các triều đại phong kiến thống trị ở mỗi giai đoạn ấy chi phối Tất nhiên chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống là nhân tố chủ yếu, có tính quyết định về phạm vi, mức độ
và tính chất của sự tiếp nhận này Chính vì vậy mà, Nho giáo được du nhập, tồn tại ở Việt Nam không hoàn toàn là Nho giáo Trung Quốc , không được tiếp nhận với tư cách là một hệ thống hoàn chỉnh, mà chỉ được tiếp nhận từng
mảng, tiếp nhận trên cơ sở có chọn lọc, có biến đổi và đơn giản hoá nhằm
phục vụ những nhiệm vụ chính trị thực tiễn của GCPK và dân tộc Điều này
dễ nhận thấy khi nghiên cứu sự thể hiện của Nho giáo ở Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX.
Nghiên cứu về sự thể hiện của Nho giáo ở Việt Nam thời phong kiến, từ trước đến nay, đã có không ít công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, các công trình nghiên cứu đó chưa cho chúng ta một cái nhìn khái quát, toàn diện và hệ thống về Nho giáo trong XHPK Việt Nam, đặc biệt là từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX.
Chính vì vậy mà chúng tôi cho rằng, vấn đề trên cần phải tiếp tục nghiên
cứu thêm trong luận án này Chúng tôi lựa chọn vấn đề: Học thuyết chính trị
-xã hội của Nho giáo và sự thể hiện của nó ở Việt Nam (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX) làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án cũng chỉ hy
Trang 4Sự lựa chọn này, theo chúng tôi là bởi vì, đây là một thời kỳ mà Nho giáo với
tư cách là học thuyết chính trị - xã hội đã in đậm dấu ấn của nó trong tiến trình vận động, phát triển của XHPK và bộc lộ tất cả những mặt, những yếu tố tích cực và tiêu cực của nó.
Sự thể hiện của Nho giáo ở nhiều mặt, nhiều lĩnh vực của xã hội và con người Việt Nam trong lịch sử, như các lĩnh vực: Thế giới quan, chính trị - xã hội, đạo đức, văn hoá, giáo dục - khoa cử, phong tục tập quán, tín ngưỡng v.v Tuy nhiên, với yêu cầu và khuôn khổ của luận án cho phép, chúng tôi chỉ nghiên cứu Nho giáo chủ yếu với tư cách là một học thuyết chính trị - xã hội, được các triều đại phong kiến Việt Nam tiếp nhận và sử dụng làm hệ tư tưởng, công cụ cai trị và quản lý xã hội, trong việc thực hiện những nhiệm vụ chính trị thực tiễn đặt ra cho các triều đại phong kiến và dân tộc Cũng chính
vì vậy mà học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo là căn cứ chủ yếu để hình thành đường lối Đức trị, xây dựng và thực thi pháp luật, kiến tạo và triển khai nền giáo dục - khoa cử Nho học Và vì thế mà theo thời gian, Nho giáo không chỉ ảnh hưởng và có vai trò trong các lĩnh vực chủ yếu này của đời sống xã hội và con người Việt Nam mà ngày càng trở thành công cụ tinh thần của các triều đại phong kiến Việt Nam, đã thực sự đóng một vai trò nhất định trong sự hình thành, phát triển của CĐPK Việt Nam.
Từ những ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn của Nho gia như vậy, em xin mạnh dạn
chọn đề tài: “ Học thuyết chính trị - xã hội của Nho gia và ý nghĩa của nố đối với việc xây dựng xã hội Việt Nam ngày nay” để thực hiện bài tiểu luận của mình.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo ……… đã có những bài giảng rấtsâu sắc về bộ môn triết học nói chung và về Nho gia nói riêng, để qua đó em có thểthực hiện được bài tiểu luận của mình Do kiến thức và thời gian hạn hẹp, bài tiểu luậnkhó tránh khỏi những sai sót, rất mong thầy chỉ bảo thêm cho em để bài tiểu luận đượchoàn thiện hơn
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Phạm trù thực tiễn
Trang 5Thực tiễn là phạm trù triết học chỉ toàn bộ những hoạt động vật chất có tính lịch
sử xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên, xã hội
2 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Thực tiễn có hai chức năng quan trọng: chuyển cái tinh thần thành cái vật chất: kháchquan hóa chủ quan; chuyển cái vật chất thành cái tinh thần: chủ quan hóa khách quan
Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức: Nhận thức ngay từ đầu đã xuất phát từthực tiễn, do thực tiễn quy định Chính do yêu cầu sản xuất vật chất và đấu tranh cải tạo xãhội buộc con người phải nhận thức thế giới Nhờ có thực tiễn mà con người nhận thức ngàycàng sâu sắc đầy đủ thế giới xung quanh Thực tiễn làm cho giác quan của con người pháttriển ngày càng hoàn thiện Thực tiễn tạo ra những công cụ phương tiện hiện đại giúp chonăng suất lao động tăng lên, khoa học không ngừng phát triển như kính hiển vi, vi tính, tàu
vũ trụ v.v Ăngghen nói: “Từ trước tới nay khoa học tự nhiên cũng như tự nhiên hoàn toàncoi thường ảnh hưởng của hoạt động con người đối với tư duy của họ Hai môn ấy một mặtchỉ biết có tự nhiên, một mặt chỉ biết có tư tưởng, nhưng chính người ta biến đổi tự nhiên…
là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của tư duy con người và trí tuệ con người đã phát triểnsong song với việc người ta học cải biến tự nhiên”
Thực tiễn là mục đích của nhận thức: những tri thức khoa học chỉ đúng khichúng được vận dụng vào thực tiễn Mục đích cuối cùng của nhận thức không phải làbản thân tri thức, mà là để cải tạo tự nhiên, xã hội đáp ứng cho nhu cầu của con người.Thực tiễn nêu ra những vấn đề cho nhận thức hướng tới giải đáp, nhờ đó các ngànhkhoa học ngày càng phát triển Thực tiễn cũng tạo ra những phương tiện cần thiết giúpcho việc nghiên cứu khoa học, đem lại những tài liệu, dữ kiện giúp tổng kết, khái quáthình thành lý luận
Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra tri thức, là tiêu chuẩn của chân lý Chỉ có thểđem những tri thức thu nhận được kiểm nghiệm qua thực tiễn mới thấy rõ tính sai lầmhay đúng đắn của chúng Lênin nói: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quanđiểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức”
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trang 6Những tư tưởng triết học của Nho gia có vai trò đặc biệt quan trọng đối với cácnhà tư tưởng lỗi lạc trong lịch sử Việt nam như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thời Nhậm
và nhiều nhà tư tưởng khác Nhiều tư tưởng tiến bộ trong các quan điểm về chính trị,đạo đức của Nho gia đã được các nhà tư tưởng Việt Nam kế thừa theo tinh thần thựctiễn của dân tộc Đó là tư tưởng thân dân, trọng dân, coi dân là gốc của quốc gia; đó là
tư tưởng nhân, nghĩa trong đời sống chính trị - xã hội; đó là mỗi quan hệ biện chứngsong trùng giữa vua – tôi, cha – con, chồng – vợ; đó là các phạm trù đạo đức trung,hiếu, tiết, nghĩa v.v…
Trong khi kế thừa và sử dụng các tư tưởng tiến bộ đó, các nhà tư tưởng ViệtNam đã bổ sung và làm thay đổi các nội hàm một số khái niệm vốn có của Nho gia Dovậy, các tư tưởng của Nho gia, đặc biệt là các tư tưởng chính trị, xã hội có ảnh hưởngnhiều tới đời sống xã hội Việt Nam, kể cả trong quá trình xây dựng xã hội mới hiệnnay, các tư tưởng này của Nho gia cũng có những giá trị nhất định
III THỰC TRẠNG NHO GIA VỚI QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG XÃ HỘI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN
1 Tác giả và tác phẩm chính của Nho gia
Nho gia (hay còn gọi là Nho học) là một trong chín hệ thống đặc biệt của triếthọc Trung Hoa, là khoa học giáo dục do Đức Khổng Tử ( được mệnh danh là vạn thế
sư biểu) sáng lập, sau đó được phát triển bởi Mạnh Tử theo hướng duy tâm, Tuân Tửphát triển các tư tưởng của Khổng Tử theo hướng duy vật
Thời Tây Chu, có một chức quan coi việc lễ - nhạc gọi là Nho quan Đến thờiĐông Chu, học thuyết Khổng Tử ra đời rất coi trọng lễ - nhạc nên gọi là Nho học Hơnhai thế kỷ sau khi Khổng Tử qua đời, Nho học mới chính thức được phổ biến, áp dụngrộng rãi, từ thời nhà Hán (206 trước Công nguyên – 220 Công nguyên) kéo dài đến nhàThanh Qua mỗi thời đại lại có các nhà nho nổi tiếng biên soạn gia giảm, chú giải, bànluận…Tất cả các tác gia ấy được gọi chung là bậc thánh hiền, trong đó Khổng Tử làđại thánh, Mạnh Tử là á thánh ( hai vị thánh đứng đầu Nho gia)
Thời Xuân Thu, Đức Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinhgồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc Về
Trang 7sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ Kinh Saukhi Đức Khổng Tử mất, học trò của ngài tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ.Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy
mà soạn ra Đại học Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tưviết ra cuốn Trung Dung Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà saunày học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử Như vậy, các tác phẩm chính của Nhogia gồm hai bộ sách cơ bản là Tứ thư và Ngũ kinh
1.1 Tứ thư
Luận ngữ: được coi là thánh kinh của người Trung Hoa, là then chốt trong Tứ
thư bởi nó có khả năng bao quát hầu hết Tứ thư, lại miêu tả được những hằng số củacon người một cách độc đáo, sinh động và còn hứa hẹn sức sống mãi về sau Nội dungLuận ngữ tập trung vào rèn luyện phẩm cách cá nhân và còn giữ gần nguyên vẹn giá trịnhân văn cơ bản thời hiện đại Luận ngữ là sách tóm lược những bài giảng, các buổihọc và thuật lại nhiều sự việc , nét sinh hoạt của thầy trò Khổng Tử Sách gồm 20 thiên( tương đương 20 chương), mỗi thiên gồm nhiều bài Cách đặt tên thiên: lấy hai chữxuất hiện đầu thiên làm tựa đề Mỗi thiên có nhiều bài (mỗi bài có thể chỉ là một câunói, một đối thoại hoặc một câu chuyện rất ngắn) Toàn bộ Luận ngữ có 511 bài, chỉ là
511 câu nói, đối thoại, mẩu chuyện cực ngắn Nội dung bao trùm hầu hết những quanniệm về lễ, nhân, đức, trung, nghĩa, trí, tín, dũng, liêm, âm nhạc, văn chương, hội họa,những tình huống đối nhân xử thế đa dạng trong cuộc sống cho đến việc giải trí, nghỉngơi, ăn uống
Đại học: nghĩa là học vấn uyên bác, tinh sâu Nội dung chính là nói về đạo của
người quân tử Đại học có 11 chương, chương đầu tiên là Thánh kinh là ý của Khổng
Tử do Tăng Tử truyền bằng miệng, còn 10 chương sau giải thích chương đầu tiên dohọc trò của Tăng Tử ghi chép lại bài giảng của Tăng Tử Xuyên suốt Đại học là tưtưởng “Trị quốc bình thiên hạ” được Nho gia đề ra với cương lĩnh Tam Cương, BátMục Tam Cương: Minh minh đức (phát huy cái đức sáng/ làm sáng/ dựng đức trị);Tân dân (đổi mới dân chúng theo hướng đạo đức Nho gia); Chỉ ư chí thiện (chỉ làmviệc thiện) Bát mục (8 bước thực hiện ba cương lĩnh trên): Cách vật (nghiên cứu thấu
Trang 8đáo sự vật); Trí tri (có kiến thức rõ rệt, hiểu biết sâu sắc, đến cùng); Thành ý (lòngchân thành), thành thật ngay với mình, không giả dối tạm bợ); Chính tâm (giữ lòngngay dạ thẳng khi tu dưỡng) gần với “thiền”; Tu thân (học làm quân tử: sửa mình làmngười tốt); Tề gia (xây dựng gia đình tốt, hài hòa cân đối); Trị quốc (làm quan chứctốt); Bình thiên hạ (lãnh đạo thiên hạ thái bình/ làm thế nào chinh phục thiên hạ/ hộinhập quốc tế).
Trung dung: Mục đích của sách Trung dung là theo đạo có thể giúp chúng ta
đạt được một trình độ cao của đạo đức Trong sách Trung Dung, Ngũ Tử Tư dẫn nhữnglời của Khổng Tử nói về “ đạo trung dung”, tức là nói về cách giữ cho ý nghĩ và việclàm luôn luôn ở mức trung hòa, không thái quá, không bất cập và phải cố gắng ở đờitheo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cho thành người quân tử, để cuối cùng thành thánh nhân.Sách Trung dung chia làm hai phần Phần 1: từ chương 1 đến chương 20, là phầnchính, gồm những lời của Khổng Tử dạy học trị về đạo lý trung dung, phải làm sao chotâm được: tồn, dưỡng, tĩnh, sát, gồm đủ nhân , nghĩa, lễ, trí, tín, cho hòa với muôn vật,cho hợp với lòng Trời để thành người tài giỏi Phần 2: từ chương 21 đến chương 33, làphần phụ, gồm những ý kiến của Tử Tư giảng giải thêm cho rõ nghĩa và giá trị của haichữ “ trung dung”
1.2 Ngũ kinh
Kinh thi: là một bộ tổng tập thơ ca vô danh, với nội dung rất phong phú, phản
ánh cuộc sống xã hội Trung Quốc trong một thời gian dài từ đầu thời Tây Chu (thế kỷ
XI trước công nguyên) đến giữa thời Xuân Thu (thế kỷ VI trước công nguyên), nhiềunhất là những miêu tả những sinh hoạt dân gian, tâm tư và tình cảm con người đươngthời Kinh thi gồm 305 bài thơ chia làm ba bộ phận lớn là Phong, Nhã và Tụng QuốcPhong có 160 bài, là những bài thơ dân gian của 15 địa phương ở phía bắc sông HoàngHà: Chu Nam, Thiệu Nam, Bội, Dung, Vệ ,Vương, Trịnh, Tề, Ngụy, Đường, Tần,Trần, Cối, Tào, Mân Nhã: chỉ các loại ca khúc, có 105 bài, chia làm hai phần TiểuNhã và Đại Nhã Tụng: có 40 bài chuyên về tán tụng vương triều
Kinh thư: ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng
Tử Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minh quân như
Trang 9Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt Trụ Kinh thư bao gồm Ngu thư ( ghi chép
về đời Nghiêu Thuấn, Hạ thư (ghi chép về nhà Hạ), Thương thư (ghi chép về nhàThương) và Chu thư (ghi chép về nhà Chu)
Kinh lễ: ghi lại những nghi thức, những phong tục Trung Hoa, những khuôn
mẫu của các quan hệ giống như những bộ luật, trong đó có một chương nói đến âmnhạc Toàn bộ Kinh lễ được viết bằng tản văn, không chỉ miêu tả chế độ lễ nghi đươngthời mà còn giáo dục về nhân nghĩa, đạo đức, ngoài ra có giá trị văn học rất lớn Khổng
Tử hiệu đính lại Kinh lễ mong dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự.Khổng Tử nói: “Không học Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời”
Kinh dịch: ban đầu Kinh dịch được coi là một hệ thống để bói toán, nhưng sau
đó được phát triển dần lên, cho tới nay Kinh dịch đã được bổ sung các nội dung nhằmdiễn giải ý nghĩa cũng như truyền đạt các tư tưởng triết học cổ Á đông và được coi làtinh hoa của cổ học Trung Hoa, nó được vận dụng vào rất nhiều lĩnh vực của cuộc sốngnhư thiên văn, địa lý, nhân mệnh…
Kinh Xuân Thu: là bộ biên niên nước Lỗ viết về giai đoạn từ năm 722 TCN tới
năm 481 TCN, cuốn sách tập trung ghi chép vào các quan hệ ngoại giao giữa các nướcchư hầu phong kiến, các liên minh và các hành động quân sự, cũng như những sự kiệnsinh tử bên trong gia đình hoàng gia Cuốn biên niên sử cũng ghi chép về các sự kiệnthảm họa thiên nhiên như lũ lụt, động đất, nạn châu chấu và nhật thực, bởi vì những sựkiện đó được xem là phản ánh sự ảnh hưởng của trời đối với xã hội loài người
2 Quan điểm chính trị, xã hội của Nho gia
2.1 Quan điểm chính trị
Bản chất chính trị là những quan hệ giai cấp, mở rộng thành quan hệ giữa cácdân tộc, các quốc gia về các vấn đề quản lý xã hội, và vấn đề bảo vệ lãnh thổ Xuấtphát của hoạt động chính trị là hoạt động đấu tranh giai cấp
Các nhà Nho chia xã hội thành hai tầng lớp quan lại và dân thường Để thực hiệnchính trị cần thực hiện các thuyết: thuyết chính danh, thuyết thượng hiền, thuyết tiết kiệm
Thuyết chính danh: trong thời đại của mình Khổng Tử nhận thấy tình trạng rối
ren phức tạp của xã hội phong kiến thời Chu, một xã hội mà tôn ti trật tự bị đảo lộn
Trang 10Ông lấy làm tiếc thời đầu nhà Chu như Chu Vị Cương, Chu Công …tươi đẹp, phonghóa tươi tốt, ông nhìn thấy tình cảnh “ tôi thí vua, con giết cha không phải một sớmmột chiều” Mọi sự việc, nguyên nhân đều có cái cớ của nó, mà cái cớ này không tựdưng có mà nó được tích tập dần dần qua thời gian, để đến một lúc nào đó dẫn tới tìnhtrạng hỗn loạn trên Nhưng với bản tính ôn hòa, thích giáo huấn dần dần hơn là bạolực, mà bạo lực chưa chắc giải quyết được triệt để cái tệ “tôi giết vua, con giết cha” nóitrên mà bất quá chỉ thay thế cuộc thí quân này bằng cuộc thí quân khác hoặc vụ giếtcha này bằng vụ giết cha khác, nên Khổng Tử mới đề ra học thuyết chính danh nhằm
để cải tạo xã hội, giáo hóa xã hội dần dần
Ông cho rằng, xã hội bị rối loạn vì vua không làm đúng danh hiệu vua, tôikhông làm đúng danh hiệu tôi…ông đưa ra học thuyết “Chính danh định phận” làm cănbản cho việc trị quốc “Chính Danh” là danh (tên gọi, chức vụ, địa vị, thứ bậc) và thực(phận sự, nghĩa vụ, quyền lợi) phải phù hợp với nhau Khổng Tử cho rằng, mỗi vật,mỗi người sinh ra đều có một địa vị, công dụng nhất định, ứng với mỗi địa vị côngdụng đó là “danh” nhất định Vật nào, người nào trong thực tại đều có danh hợp với nó,nếu không danh sẽ không hợp với thực, là loạn danh Danh và phận của mỗi ngườitrước hết do xã hội quy định Khổng Tử đã quy tất cả các quan hệ xã hội thành nămmối quan hệ cơ bản ( ngũ luân) như sau:
Vua – Tôi: bề tôi phải lấy chữ trung làm đầu Cha – Con: bề con phải lấy chữ hiếulàm đầu Chồng – Vợ: vợ phải lấy tiết hạnh làm đầu Anh – Em: phải lấy chữ hữu làm đầu.Bạn – Bố: phải lấy chữ tín làm đầu Năm mối quan hệ này có tiêu chuẩn riêng: Vua thìphải nhất; Tôi thì phải trung; Cha phải hiền từ; Con phải hiếu thảo; Phu xướng phụ tùy.Trong năm quan hệ đó Khổng Tử nhấn mạnh ba quan hệ đầu là cơ bản nhất (Tam cương)
cụ thể: Vua – Tôi: Vua là trụ cột; Cha – Con: Cha là trụ cột; Chồng – Vợ: Chồng là trụ cột.Như vậy, năm mối quan hệ đã nói rõ danh, phận của từng người, vế sau phải phục tùng vếtrước, nếu mỗi người thực hiện đúng danh phận đó sao cho vua ở hết phận vua, tôi ở hếtphận tôi, cha ở hết phận cha, con ở hết phận con…thì có chính danh
Theo Khổng Tử: “ Danh bất chính ắt ngôn bất thuận, ngôn bất thuận ắt sự bấtthành, sự bất thành ắt lễ nhạc bất hưng, lễ nhạc bất hưng dân bất xử trí”, nghĩa là: nếu
Trang 11không chính danh thì lời nói không thuận, lời nói không thuận thì việc làm khôngthành, việc làm không thành thì lễ nhạc không kiến lập được, không kiến lập lại được
lễ nhạc thì hình phạt không đúng, hình phạt không đúng thì dân không biết đặt tay chânvào đâu Cho nên, người quân tử đã dựng chính danh thì phải nói ra được, nói rồi tấtphải làm được, vì thế người quân tử phải thận trọng với lời nói của mình Nếu danhkhông chính, nói và làm không đúng theo chức phận của mình, “trên” không nghiêm
“dưới” loạn, vua không ra vua, tôi chẳng ra tôi, cha không ra cha, chồng không rachồng, vợ không ra vợ…Khổng Tử cho rằng, xã hội loạn là do nguồn gốc từ trên, dovậy ông rất đề cao tính tự giác của mỗi cá nhân trong việc giữ lấy cái danh phận củamình, bởi vì nếu mỗi người tự chính được bản thân mình thì không cần hạ lệnh mọiviệc sẽ được tiến hành, nếu ngược lại dự có hạ lệnh cũng chẳng ai theo Khi Tử Lộ hỏi
về việc chính trị, Khổng Tử nói, muốn trị nước trước tiên ắt phải sửa cho chính danh,
vì nếu việc chính sự là ngay thẳng, cứ làm gương về sự ngay thẳng thì không ai khôngdám ngay thẳng nữa Vậy chính danh là gì? Khổng Tử giải thích như sau: chính danh làlàm cho mọi việc ngay thẳng Chính danh thì người nào có địa vị, bổn phận chính đángcủa người ấy, trên – dưới, vua – tôi, chồng – vợ…trật tự phân minh, vua lấy nghĩa màkhiến tôi, tôi lấy trung mà thờ vua Nói một cách khái quát là ai ở vị trí nào cũng phảilàm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình ở cương vị đó theo thang bậc Như vậy, theoKhổng Tử chính danh là điểm mấu chốt để đưa xã hội trở nên trật tự, nền nếp Nhưng
để có chính danh, mỗi người phải thực hiện đúng danh phận của mình không lạmquyền Một xã hội có chính danh là một xã hội có trật tự kỉ cương, thái bình, thịnh trị
Thuyết thượng hiền: thuyết Thượng hiền do Mặc Tử đề ra, ông là người sáng
lập ra trường phái triết học Mặc Gia, là một trong những nhà triết học lớn của TrungQuốc cổ đại Ông xuất thân trong một gia đình thuộc tần lớp bình dân trong xã hội,từng làm thợ và phu dịch, tự xưng là “ người bần tiện” nên môn đồ của ông đa số làtầng lớp bình dân Mặc Tử sáng lập ra trường phái Mặc Gia với học thuyết Kiêm Áinổi tiếng Học thuyết này được bảo vệ và phát triển bởi các triết gia hậu Mặc Tử vàothế kỷ 3 và 4 trước công nguyên, với tư tưởng nổi bật nhất về lôgic và nhận thức trên
cơ sở chủ nghĩa duy vật của họ Ông là người có tài hùng biện thuyết phục người khác
Trang 12Ông đã từng chu du khắp thiên hạ để giảng thuyết kiêm ái với tinh thần, nghị lực vàniềm tin hiếm có Với tinh thần xả thân vì nghĩa, Mặc Tử đã đào luyện đội ngũ học tròcũng có đức hạnh và lòng quả cảm như ông Không những thế, những học thuyết củaông luôn mang lại tính thiết thực cho xã hội, và cho sự đóng góp, xây dựng đất nước,trong đó có thuyết Thượng hiền
Thượng có nghĩa là đưa lên, tuyển chọn, quý trọng, hiền có nghĩa là người hiềntài và nhân đức, đủ sức gánh vác trách nhiệm được giao phó một cách tốt đẹp nhất.Thượng hiền là chọn lựa và sử dụng những người hiền tài, nhân đức bất kể họ ở địa vịnào trong xã hội để tôn lên chịu trọng trách chăn dân trị nước Quan không quý đời đời
mà dân không tiện mãi mãi, ai có tài thì đề cử họ, ai không có tài thì hạ họ xuống.Chọn người cốt ở cái tài và cái đức, người đó có thể làm tốt việc hay không chứ khôngcần họ phải con nhà quý tộc, mặt mũi xinh đẹp Vì những kẻ cốt nhục, phú quý, mặtmũi xinh đẹp đâu có phải là những kẻ thông minh tài đức cả đâu
Với Thượng hiền trung, Mặc Tử chủ trương tư tưởng: chọn người hiền tài trongviệc trị nước, không kể người bà con thân thích hay mặt mũi xinh đẹp, không lấy cái vẻcủa họ làm cái yêu của mình, không kéo bố kéo cánh với cha anh, không thiên vị kẻgiàu sang, không say mê kẻ nhan sắc, ai hiền thì được nâng nhắc lên cho giàu sang vàdùng làm quan trưởng, kẻ nào bất tài thất đức thì nên bỏ đi, phải chịu nghèo hèn vàdùng làm phu dịch Kẻ nào đáng làm quan trưởng thì cho làm quan trưởng, kẻ nàođáng trị một ấp thì cho trị một ấp
Với Thượng hiền hạ, Mặc Tử chủ trương: Nay các đấng vương công đại nhân cócái quần không thể may được ắt tìm người thợ may khéo Có một con trâu, con dê khônggiết được ắt tìm đến tên đồ tể giỏi Có một con ngựa bệnh không thể chữa ắt tìm ngườithầy thuốc giỏi Có một cây cung không thể giương được ắt tìm người thợ cung giỏi Cácđấng vương công, đại phu trong lúc đó dẫu có những người cốt nhục, giàu sang, mặt mũixinh đẹp, nhưng thật biết họ không làm được những việc trên ắt là không khiến Đó là cớgì? Vì họ sợ làm hư hỏng của các đấng vương công đại phu Các đấng vương công đạiphu với những công việc ấy vẫn không sai cái ý chuộng người hiền tài Đến cái việc nhànước thì lại không thế, những kẻ cốt nhục, phú quý mặt mũi xinh đẹp thì cất nhắc lên,