1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Tiểu luận vai trò của khoa học công nghệ đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở việt nam

49 1,7K 41

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 213,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò nền tảng, động lực và then chốt của khoa học và công nghệ đối vớiquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng, đối với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam nói chung, được

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 2

1 Tính cấp thiết của đề tài 3

2 Tổng quan đề tài 4

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

CHƯƠNG 1:LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ 3

1.1 Khái niệm khoa học 3

1.2 Khái niệm công nghệ 7

CHƯƠNG 2: KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 9

2.1 Vai trò của khoa học - công nghệ trong việc phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam 9

2.2 Những thành tựu đạt được về khoa học – công nghệ của Việt Nam 12

2.3 Những yếu điểm còn tồn tại và nguyên nhân chủ yếu 14

2.4 Chiến lược phát triển khoa học công nghệ ở Việt Nam 15

2.5 Giải pháp thực hiện chiến lược phát triển khoa học công nghệ ở Việt Nam 17

KẾT LUẬN 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thế giới đã bước vào thế kỷ 21 với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ (KH - CN) Ngày nay KH - CN được ứng dụng rất nhiều vào cuộcsống của con người Đặc biệt, ứng dụng tri thức KH - CN trong phát triển kinh

-tế xã hội là một hướng đi đúng

Ở các nước phát triển hiện nay, nền kinh tế phát triển có ứng dụng tri thức

KH - CN Đối với Việt Nam đang trong quá trình phát triển nền kinh tế theođịnh hướng XHCN, mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn trong 30 nămđổi mới vừa qua, song nền kinh tế vẫn còn kém phát triển so với các nước khuvực và thế giới, đồng thời đang gặp phải những thách thức không nhỏ: đó lànguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực do xuất phátcủa Việt Nam quá thấp, lại phải phát triển trong môi trường cạnh tranh quyếtliệt Sự khác biêt về trình độ công nghệ của Việt Nam so với các nước phát triển

là rất lớn, nhìn chung công nghệ nước ta tục hậu so với trình độ chung của thếgiới khoảng 3, 4 thập kỷ

Quá trình CNH - HĐH dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu laođộng giữa các ngành, đặc biệt là sự chuyển lao động từ nông nghiệp sang cáclĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội đến năm 2020 là đẩy mạnh nhanh quá trình đổi mới kỹ thuật công nghệtrong sản xuất, mở rộng các khu công nghiệp, khu chế suất đưa Việt Nam trởthành một nước có trình độ KTCN ở trung bình tiên tiến so với các nước trongkhu vực Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng trưởng công nghiệp vàdịch vụ, giảm tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP

Hội nhập nền kinh tế thế giới đang là một xu thế tất yếu của thời đại Vìvậy bên cạnh sử dụng năng lực nội sinh, các nước đang phát triển như ViệtNam, không có con đường nào khác phải biết vận dụng những thành tựu của

Trang 3

Vì vậy vấn đề đặt ra cho Việt Nam hiện nay là phát triển nguồn nhân lực có trithức, trình độ, tay nghề cho sự phát triển nền kinh tế.

Do đó KH CN được coi là nền tảng và động lực của sự nghiệp CNH HĐH ở Việt Nam Nhiệm vụ phát triển tri thức KH - CN là một nhiệm vụ cấpthiết hiện nay, và gắn chặt hơn nữa KH - CN với phát triển kinh tế xã hội

-Việc nghiên cứu đề tài “vai trò của khoa học công nghệ đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam” sẽ giúp ta tìm hiểu, đánh giá đúng được vai

trò của khoa học công nghệ để từ đó có những giải pháp tận dụng khoa học côngnghệ để phát triển đất nước

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu của đề tài

Ngày nay khoa học công nghệ đã trở thành yếu tố cốt tử của sự phát triển,

là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế toàn cầu Điều này được phản ánh

rõ trong việc hoạch định các chính sách và chiến lược phát triển khoa học, côngnghệ và kinh tế của nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên tuỳ thuộc vào trình độ

sự phát triển cụ thể của từng nước mà xây dựng chiến lược, chính sách phát triểnkhoa học cụng nghệ mang tính đa dạng và đặc thù đối với từng giai đoạn pháttriển cụ thể phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cơ sở vật chất của mỗi quốc gia

Trong quá trình hội nhập thế giới, nước ta ngày càng được tiếp cận vớinhiều nguồn khoa học công nghệ hiện đại Nhận thức được vai trò quan trọngcủa khoa học công nghệ, Đảng và nhà nước ta đã có nhiều nghị quyết quan trọng

về khoa học công nghệ và khẳng định: "Cùng với giáo dục, đào tạo khoa họccông nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế -xã hội, là điềukiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xãhội Công nghiệp hoá- hiên đại hoá đất nước bằng cách dựa vào khoa học, côngnghệ "

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

- Tìm hiểu khái niệm khoa học - công nghệ

Trang 4

- Vai trò của khoa học - công nghệ đối với sự phát triển kinh tế xã hội ViệtNam hiện nay.

- Chiến lược phát triển khoa học - công nghệ ở Việt Nam Đề xuất cácgiải pháp để áp dụng khoa học công nghệ vào phát triển kinh tế xã hội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Khoa học – Công nghệ

- Phạm vi nghiên cứu: sự phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam

- Phương pháp nghiên cứu:

+ Tìm hiểu, thu thập, phân tích và tổng hợp các thông tin về khoa họccông nghệ và tình hình phát triển KT – XH ở Việt Nam

+ Thu thập tài liệu liên quan đến đề tài

+ Tham khảo giáo trình, sách, báo, tạp chí chuyên ngành, khoá luận tốtnghiệp của khoá trước, qua mạng internet và các nguồn tài liệu khác

Trang 5

Ngày nay, quan niệm về khoa học được phổ biến với những đặc trưng cơbản sau dây:

- Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, về xã hội, về con người

và về tư duy của con người Nó nghiên cứu và vạch ra những mối quan hệ nộitại, bản chất của các sự vật, hiện tượng, quá trình, từ đó chỉ ra những quy luậtkhách quan của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy

Trang 6

- Hệ thống tri thức khoa học được hình thành trong quá trình nhận thứccủa con người từ trực quan sinh động, đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừutượng đến thực tiễn, dưới dạng khái niệm, phạm trù, quy luật, lý thuyết, Nhưvậy, tri thức khoa học không chỉ là sự phản ánh thế giới hiện thực, mà còn đượckiểm nghiệm qua thực tiễn.

- Hệ thống tri thức khoa học còn có thể được hình thành nhờ trực giáchoặc tuân theo những quy luật của logic học Loại tri thức khoa học này, xét chođến cùng cũng là sự phản ánh thế giới hiện thực và được thực tiễn kiểm nghiệm

Do đó, một hệ thống tri thức được coi là tri thức khoa học phải bảo đảm tínhđúng đắn, tính chân thực

- Nhờ giáo dục, đào tạo, hệ thống tri thức khoa học có sức sống mãnh liệt,được phổ biến rộng rãi và lan truyền rất nhanh chóng Tốc độ lan truyền đó đãtăng lên rất nhiều lần nhờ vào quá trình toàn cầu hóa và công nghệ thông tin Nókhông chỉ là sức mạnh, là sự biến đổi mau lẹ, mà còn là biểu hiện sự giàu có,thịnh vượng của mọi quốc gia, dân tộc và cá nhân

- Hệ thống tri thức khoa học là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài,liên tục của tư duy nhân loại từ thế hệ này sang thế hệ khác Ngày nay nó đangtrở thành tài sản chung của xã hội loài người

Như vậy, qua một số những đặc trưng cơ bản trên đây về quan niệm khoahọc, ta thấy nổi lên cái cốt lõi của khoa học - đó là hệ thống tri thức chân thực về

tự nhiên, xã hội và tư duy Khoa học là hệ thống tri thức chân thực, nhưng cóphải mọi tri thức chân thực đều là khoa học hay không? Để hiểu rõ điều này,chúng ta phải đi tìm hiểu nguồn gốc, bản chất của tri thức, con đường từ tri thứcđến khoa học

1.2 Khái niệm về công nghệ

Công nghệ theo nghĩa chung nhất có thể coi đó là tập hợp tất cả những sự

hiểu biết của con người vào việc biến đổi, cải tạo thế giới nhằm đáp ứng nhu cầusống của con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội Công nghệ trong sản

Trang 7

xuất là một tập hợp các phương tiện vật chất, các phương pháp, các quy tắc, các

kỹ năng được con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động nhằm tạo

ra một sản phẩm nào đó cần thiết cho xã hội

Có ba nghĩa chủ yếu về công nghệ được sử dụng phổ biến nhất hiện nay:Một là, công nghệ được coi như một bộ môn khoa học ứng dụng, triểnkhai (trong tương quan với khoa học cơ bản), trong việc vận dụng các quy luật

tự nhiên và các nguyên lý khoa học nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinhthần ngày càng cao của con người

Hai là, công nghệ được hiểu với tư cách như là các phương tiện vật chất

-kỹ thuật, hay đó là sự thể hiện cụ thể của tri thức khoa học đã được vật thể hóathành các công cụ, các phương tiện kỹ thuật cần cho sản xuất và đời sống

Ba là, công nghệ bao gồm các cách thức, các phương pháp, các thủ thuật,các kỹ năng có được nhờ dựa trên cơ sở tri thức khoa học và được sử dụng vàosản xuất trong các ngành khác nhau để tạo ra các sản phẩm

Ngày nay, trong thời địa của cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới,hay cách mạng thông tin công nghệ lần thứ năm, khi mà khoa học đang trởthành lực lượng sản xuất trực tiếp, trí tuệ con người đang giữ vai trò động lựctrực tiế và quyết định sự phát triển của công nghệ nói riêng, và xã hội nói chungthì quan niệm về công nghệ, các thành phần cấu trúc của nó lại một lần nữa có

sự mở rộng và phát triển rất cơ bản

Trang 8

CHƯƠNG 2:

KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Vai trò của khoa học - công nghệ trong việc phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam

Công nghiệp hóa là con đường phát triển tất yếu của tất cả các nước trênthế giới Bởi vì, mục đích quan trọng nhất của công nghiệp hóa là phát triển sảnxuất xã hội, trước hết là phát triển lực lượng sản xuất, nhằm thỏa mãn các nhucầu ngày càng tăng của con người và thúc đẩy sự phát triển của xã hội

Ngày nay, công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đại hóa Sự gắn kết chặtchẽ giữa công nghiệp hóa với hiện đại hóa hiện nay là sự đổi mới về chất, là nhucầu mới của sự phát triển xã hội và cũng là quy định mới của thời đại Điều này,trước tiên, được quyết định bởi sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng của khoahọc và công nghệ và vai trò ngày càng tăng của chúng đối với nền sản xuất xãhội nói riêng, đối với toàn bộ đời sống xã hội nói chung Trong những giai đoạnphát triển trước đây của xã hội loài người, sản xuất còn tách rời khoa học vàcông nghệ và thường là vượt trước sự phát triển của khoa học và công nghệ Móiquan hệ giữa khoa học và công nghệ với sản xuất lúc ấy tuân theo quy luật: sảnxuất đi trước công nghệ và công nghệ lại đi trước khoa học

Vai trò nền tảng, động lực và then chốt của khoa học và công nghệ đối vớiquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng, đối với sự phát triển kinh tế

xã hội Việt Nam nói chung, được biểu hiện trên những mặt cụ thể sau đây:

Một là, khoa học và công nghệ có vai trò quyết định trong việc trang bị

và trang bị lại các máy móc, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại, tiên tiến

Trang 9

cho nền sản xuất xã hội nói riêng, cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân nóichung, nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tăng cường sứccạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới, v.v với mục tiêu không ngừng cải thiện và nâng cao mức sóng của người dân, sựphồn vinh và sức mạnh của xã hội Việt Nam Đó là nhiệm vụ đầu tiên, quantrọng nhất của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiệnnay Trên thực tế, nước ta đã tiến hành công nghiệp hóa từ đầu những năm 60của thế kỷ XX Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, đặcbiệt là chưa gắn kết được công nghiệp hóa với hiện đại hóa, mà cho đến nay, lựclượng sản xuất của nước ta chủ yếu vẫn ở trong tình trạng lạc hậu, các trang thiết

bị, máy móc phần lớn là thủ công, thủ công bán cơ giới Nhìn chung, trình độphát triển công nghệ nước ta, về cơ bản, chỉ mới đạt ở giai đoạn 1 và 2 trong 7giai đoạn phát triển công nghệ mà các nước công nghiệp phát triển đã trải qua -

đó là nhập công nghệ để thỏa mãn nhu cầu tối thiểu (nhập toàn bộ hoặc nhậpphụ tùng các trang thiết bị và cả dây chuyền lắp ráp), và mới chỉ có tổ chức hạtầng kinh tế ở mức tối thiểu để tiếp thu công nghệ nhập Do vậy, cả năng suấtlao động và chất lượng các sản phẩm do nền sản xuất xã hội tạo ra vẫn còn rấtthấp so với mặt bằng chung của thế giới, không đủ sức cạnh tranh trên thị trườngkhu vực và toàn cầu

Việc trang bị và trang bị lại công nghệ từ lạc hậu sang hiện đại, tiên tiến,

còn nhằm một mục đích và nhiệm vụ quan trọng nữa là làm thay đổi cơ cấu chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân từ nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ Bước chuyển dịch cơ cấu này sẽ tạo

tiền đề và nền tảng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, để đếnnăm 2020, đưa nước ta cơ bản trở thành một ưnứoc công nghiệp theo hướnghiện đại Để đạt được mục tiêu chiến lược này, nhất thiết chúng ta phải tiếp cậnđược nền khoa học và công nghệ hiện đại, tiên tiến của thế giới, đặc biệt là các

Trang 10

ngành công nghệ mũi nhọn: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệvật liệu mới và công nghệ năng lượng mới

Hai là, khoa học và công nghệ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong

việc giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, khai thác và phát huy nguồn lực con người,

đặc biệt là nguồn lực trí tuệ - một nguồn lực to lớn, có tính chất quyết định đốivới sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Có nhiều cách thức đểchúng ta thực hiện việc trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại, tiên tiến chocác ngành kinh tế quốc dân Tuy nhiên, dù bằng cách thức nào đi chăng nữa,điều quan trọng và có tính chất quyết định nhất ở đây là cần phải có những conngười có đủ tri thức và năng lực để có thể khai thác, sử dụng một cách hiệu quảcác trang thiết bị hiện đại Điều này chỉ có khoa học và công nghệ tiên tiến mớilàm được

Con người là chủ thể sáng tạo ra khoa học và công nghệ Đến lượt mình,khoa học và công nghệ trở thành phương tiện, công cụ và đồng thời là cơ sở đểcon người vươn lên tự toàn thiện về mọi mặt, đặc biệt là về năng lực trí tuệ.Trước hết, thông qua quá trình giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ sẽtrang bị cho con người những tri thức khoa học và công nghệ cần thiết để mộtmặt, giúp họ có thể am hiểu, sử dụng và khai thác một cách tích cực, có hiệu quảnhững trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, và mặt khác, có thể sáng tạo ra công nghệmới

Trong điều kiện nước ta hiện nay, tuy đã qua hơn 40 năm công nghiệphóa, nhưng nhìn chung, nền sản xuất, đặc biệt là lực lượng sản xuất vẫn còn rấtlạc hậu Với gần 80% dân số là nông dân, 70% lao động là lao động nôngnghiệp, với cơ cấu nền kinh tế quốc dân đang hiện hành “nông nghiệp - côngnghiệp - dịch vụ”, với một truyền thống xã hội ít “trọng nông”, “trọng thương”,v.v đã và đang là những rào cản rất lớn đối với con người Việt Nam trong việctiếp cận với khoa học và công nghệ tiên tiến của thời đại Hơn nữa, tư duy kinhnghiệm - một lối tư duy truyền thống phổ biến - đã ăn sâu vào xã hội Việt Nam

Trang 11

từ bao đời nay Không ai phủ nhận vai trò của tư duy kinh nghiệm trong đờisống Tuy nhiên, trên bình diện phát triển khoa học và công nghệ hiện nay thì tưduy kinh nghiệm là không thể đủ, mà nhất thiết phải trang bị tư duy lý luận, tưduy khoa học - công nghệ Ph Ăngghen đã từng viết: “Một dân tốc muốn đứngvững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận” Sự hạnchế về mặt tư duy lý luận là một điểm yếu trong truyền thống dân tộc, mà ngàynay, chúng ta phải phấn đấu vượt qua mới có thể tiếp thu và sáng tạo ra nhữngtri thức khoa học và công nghệ hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển của thờiđại.

Kho tri thức khoa học và công nghệ là vô tận và luôn đổi mới Do đó, để

có thể nắm bắt kịp thời những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại, đòihỏi đội ngũ những người nghiên cứu, triển khai và ứng dụng khoa học côngnghệ không những phải được đào tạo một cách cơ bản và có hệ thống, mà cònphải thường xuyên được đào tạo bổ sung và đào tạo chuyên sâu

Ba là, khoa học và công nghệ giữ vai trò động lực trong việc tạo ra môi

trường thông tin và thị trường thông tin - huyết mạch của công nghiệp hóa, hiện

đại hóa và của cả nền kinh tế So với giai đoạn phát triển trước đây, thì ngàynay, thông tin có một vị trí cực kỳ quan trọng, mang tính quyết định đối với hoạtđộng sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cả những hoạt động tinh thần Có trangthiết bị, máy móc hiện đại, có những con người đã được đào tạo tay nghề và có

kỹ năng, kỹ xảo cao, nhưng nếu thiếu thông tin thì sẽ dẫn đến chỗ không biếtđâu tư chúng vào đâu cho đúng để kịp thời sinh lợi nhanh, và vì vậy, rất dễ savào chỗ mất phương hướng phát triển Bởi vì, thông tin trong lĩnh vực khoa học

và công nghệ có liên quan rất chặt chẽ đến việc nắm bắt các bí quyết, bí mậtcông nghệ nằm trong các phương pháp, thiết bị, các dữ liệu khoa học và côngnghệ mới nhất Thông tin như một người hướng dẫn nắm trong tay chiếc chìakhóa vàng kỳ diệu, giúp cho người ta có thể mở ra những cánh cửa làm ăn đúnglúc và đúng cách, tìm kiếm những cơ hội, những lĩnh vứ làm ăn còn tiềm năng

Trang 12

và triển vọng, đồng thời biết khép cửa lại, rút lui đúng lúc khi tiềm năng tronglĩnh vực đó đã cạn kiệt v.v

Công nghệ thông tin đã chính thức đi vào nước ta khoảng hơn chục nămnay và hệ thống thông tin khoa học - công nghệ quốc gia trải qua hơn 30 nămhoạt động đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển khoa học và côngnghệ nói riêng, vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung Tuynhiên, đối với nước ta, đây là một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ, còn rất nhiều vấn

đề phức tạp, nan giải và bất cập Đặc điểm nổi bật của sự phát triển công nghệthông tin trong thời gian qua ở nước ta là chưa gắn kết được các giải pháp côngnghệ (việc trang bị các máy móc kỹ thuật công nghệ thông tin) với các giải pháp

về tổ chức quản lý, chuẩn hóa thông tin và với công tác đào tạo, huấn luyệnchuyên viên kỹ thuật, những người sử dụng, quản lý thông tin Vì vậy mà trongnhiều trường hợp, hệ thống công nghệ thông tin hiện đại đã được thiết lập đầy

đủ, nhưng không vận hành được do thiếu thông tin, thiếu nhân viên kỹ thuật.Cho đến năm 2000, nguồn nhân lực thông tin khoa học - công nghệ nước ta vẫncòn quá mỏng và yếu kém, chưa đủ sức đáp ứng so với nhu cầu thực tế Sốngười làm công tác thông tin khoa học - công nghệ chuyên nghiệp mới chỉ có

3000 người, trong đó, số người có trình độ đại học chiếm 66,3%, trên đại họcchiếm 6,45%

Bốn là, khoa học và công nghệ có vai trò quan trọng trong việc hoàn

thiện cơ chế tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và xã hội Nhiệm vụ

quan trọng của công tác tổ chức, quản lý là liên kết các yếu tố trang thiết bị, máymóc kỹ thuật, con người và thông tin lại với nhau thành một tổ hợp vận hànhhợp lý, đồng điều nhằm đạt đến một mục tiêu nhất định, mà ở đây là mục tiêucông nghiệp hóa, hiện đại hóa Mục tiêu chung của công nghiệp hóa, hiện đạihóa ở nước ta là không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, thựchiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Để thực hiệnmục tiêu này, phải tiến hành đồng thời nhiều hoạt động xã hội với những chức

Trang 13

năng rất khác nhau, như sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, giáo dục, đào tạo, chămsóc y tế, v.v Sự phối hợp điều hành các hoạt động đó, sự xếp đặt các mối quan

hệ giữa chúng, cũng như sự phân bổ hợp lý các chức năng của chúng sao chođều hướng về các mục tiêu mà công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đề ra, chính lànhiệm vụ của công tác tổ chức, quản lý trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa Bởivậy, công tác tổ chức, quản lý có một vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trìnhđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Những công việc vừa rộng lớn, phức tạp, vừa tỉ mỉ, chi tiết của công tác

tổ chức quản lý ngày nay đang được thực hiện một cách nhanh chóng hơn, chínhxác hơn và hiệu quả hơn nhờ có sự phát triển của khoa học và công nghệ, đặcbiệt là công nghệ thông tin Nhờ có sự trợ giúp của công nghệ thông tin, thôngqua hệ thống máy vi tính, mạng Internet, ngườ ta có thể tiến hành công tác tổchức và quản lý một cách sâu sắc, toàn diện ở tầm vi mô, cũng như vĩ mô

Năm là, khoa học và công nghệ đóng góp phần quan trọng vào chiến

lược phát triển bền vững của xã hội Qua những điều đã trình bày trên đây, hoàn

toàn có thể khẳng định được vai trò cơ sở và động lực của khoa học và côngnghệ đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa với bất cứ giá nào Ngàynay, phát triển bền vững đang là mối quan tâm sâu sắc của toàn nhân loại

Có thể có nhiều cách hiểu khác nhau về phát triển bền vững, nhưng cáchhiểu chung nhất là, làm sao cho sự phát triển, trước hết là sự phát triển về kinh

tế, của các thế hệ hôm nay không cản trợ cơ hội phát triển của các thế hệ maisau Phát triển bền vững là “sự cải thiện chất lượng cuộc sống của con người điđôi với nhiệm vụ bảo vệ các hệ sinh thái”, nghĩa là phải hướng đến ba mục tiêu

cơ bản: 1 Mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh và an toàn; 2 Mục tiêu xã hội nhân văn; 3 Mục tiêu bảo vệ và không ngừng cải thiện chất lượng môi trườngsống, hay mục tiêu sinh thái Do vậy, để có thể phát triển xã hội một cách bềnvững, phải kết hợp một cách hài hòa, đầy đủ 4 yếu tố cơ bản: yếu tố kinh tế, yếu

-tố con người (dân số), yếu -tố môi trường, sinh thái và yếu -tố công nghệ

Trang 14

Nhiệm vụ trọng tâm của khoa học và công nghệ là cung cấp những trangthiết bị kỹ thuật hiện đại thông qua các công nghệ cao, công nghệ sạch để conngười khắc phục được những hậu quả tiêu cực cdo chính những phương tiện kỹthuật chưa hoàn thiện trước đây gây ra (xử lý các chất thải độc hại, phục hồi các

hệ sinh thái tự nhiên ); xây dựng những quy trình công nghệ mới không có chấtthải, những khu sản xuất liên hợp mà những chất thải cuối cùng của chúng cóthể được các sinh vật khác sử dụng để đưa vào chu trình sinh học, v.v

Là động lực và là cơ sở của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nóiriêng, của sự phát triển xã hội nói chung, khoa học và công nghệ đang đóng gópphần quyết định trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt

là mục tiêu kinh tế - xã hội

2.2 Những thành tựu đạt được về khoa học – công nghệ của Việt Nam:

- Tiềm lực khoa học và công nghệ đã được tăng cường và phát triển

Nhờ có sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, trong nhiều thập kỷqua, chúng ta đã đào tạo được trên 1,8 triệu cán bộ có trình độ đại học và caođẳng trở lên với trên 30 nghìn người có trình độ trên đại học (trên 14 nghìn tiến

sĩ và 16 nghìn thạc sĩ) và khoảng hơn 2 triệu công nhân kỹ thuật; trong đó, cókhoảng 34 nghìn người đang làm việc trực tiếp trong lĩnh vực khoa học và côngnghệ thuộc khu vực nhà nước Đây là nguồn nhân lực quan trọng cho hoạt độngkhoa học và công nghệ của đất nước Thực tế cho thấy, đội ngũ này có khả năngtiếp thu tương đối nhanh và làm chủ được tri thức, công nghệ hiện đại trong một

số ngành và lĩnh vực

Thời gian qua, đã xây dựng được một mạng lưới các tổ chức khoa học vàcông nghệ với trên 1.100 tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc mọi thành phầnkinh tế, trong đó có gần 500 tổ chức ngoài nhà nước; 197 trường đại học và caođẳng, trong đó có 30 trường ngoài công lập Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của các viện,

Trang 15

trung tâm nghiên cứu, các phòng thí nghiệm, các trung tâm thông tin khoa học

và công nghệ, thư viện, cũng được tăng cường và nâng cấp Đã xuất hiện một sốloại hình gắn kết tốt giữa nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ với sảnxuất - kinh doanh

- Khoa học và công nghệ đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội.

Khoa học xã hội và nhân văn đã góp phần quan trọng lý giải và khẳngđịnh giá trị khoa học và thực tiễn của Chủ nghĩa Mác-Lê Nin và Tư tưởng HồChí Minh, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; cung cấp luận cứkhoa học phục vụ hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước; góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới nói chung và vàoquá trình đổi mới tư duy kinh tế nói riêng

Các kết quả điều tra cơ bản và nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, tàinguyên thiên nhiên đã phục vụ xây dựng luận cứ khoa học cho các phương ánphát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Khoa học và công nghệ đã góp phần quan trọng trong việc tiếp thu, làmchủ, thích nghi và khai thác có hiệu quả các công nghệ nhập từ nước ngoài Nhờ

đó, trình độ công nghệ trong một số ngành sản xuất, dịch vụ đã được nâng lênđáng kể, nhiều sản phẩm hàng hoá có sức cạnh tranh cao hơn Đặc biệt, tronglĩnh vực nông nghiệp khoa học và công nghệ đã tạo ra nhiều giống cây trồng,vật nuôi có chất lượng và năng suất cao, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tếnông thôn, đưa nước ta từ chỗ là nước nhập khẩu lương thực trở thành một trongnhững nước xuất khẩu gạo, cà phê, v.v hàng đầu trên thế giới

Các chương trình nghiên cứu trọng điểm về công nghệ thông tin, côngnghệ sinh học, công nghệ vật liệu, tự động hoá, công nghệ cơ khí - chế tạo máy,

đã góp phần nâng cao năng lực nội sinh trong một số lĩnh vực công nghệ tiêntiến, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của nhiều ngành kinh tế

Trang 16

Khoa học và công nghệ trong những năm qua đã góp phần đào tạo vànâng cao trình độ nhân lực, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, bảo vệ môi trường, giữgìn bản sắc và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc.

- Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ từng bước được đổi mới

Hệ thống quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ được tổ chức từtrung ương đến địa phương đã đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ, gópphần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của ngành và địa phương

Thực hiện Luật Khoa học và công nghệ, các chương trình, đề tài, dự ánkhoa học và công nghệ đã bám sát hơn nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Cơchế tuyển chọn tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ đãbước đầu được thực hiện theo nguyên tắc dân chủ, công khai

Hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ đã mở rộng từ nghiêncứu - phát triển đến sản xuất và dịch vụ khoa học và công nghệ Quyền tự chủcủa các tổ chức, cá nhân trong hoạt động KH&CN bước đầu được tăng cường.Quyền tự chủ về hợp tác quốc tế của tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học vàcông nghệ được mở rộng

Vốn huy động cho khoa học và công nghệ từ các nguồn hợp đồng với khuvực sản xuất - kinh doanh, tín dụng ngân hàng, tài trợ quốc tế và các nguồnkhác, tăng đáng kể nhờ chính sách đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư cho khoa học

và công nghệ Đã cải tiến một bước việc cấp phát kinh phí đến nhà khoa họctheo hướng giảm bớt các khâu trung gian

Việc phân công, phân cấp trong quản lý nhà nước về khoa học và côngnghệ từng bước được hoàn thiện thông qua các quy định về chức năng, nhiệm vụ

và trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương

Trang 17

- Trình độ nhận thức và ứng dụng khoa học và công nghệ của nhân dân ngày càng được nâng cao

Nhờ có sự quan tâm của tổ chức Đảng, chính quyền các cấp, hoạt độngtích cực của các tổ chức khoa học và công nghệ, các tổ chức khuyến nông, lâm,ngư và công tác phổ biến, tuyên truyền rộng rãi về tác động của khoa học vàcông nghệ đến sản xuất và đời sống, nhận thức và khả năng tiếp thu, ứng dụngtri thức khoa học và công nghệ của người dân trong thời gian qua đã tăng lên rõrệt Hoạt động khoa học và công nghệ ngày càng được xã hội hoá trên phạm vi

- Năng lực khoa học và công nghệ còn nhiều yếu kém:

Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ còn thiếu cán bộ đầu đàn giỏi, đặcbiệt là thiếu cán bộ khoa học và công nghệ trẻ kế cận có trình độ cao Cơ cấunhân lực khoa học và công nghệ theo ngành nghề và lãnh thổ còn nhiều bất hợplý

Đầu tư của xã hội cho khoa học và công nghệ còn rất thấp, đặc biệt là đầu

tư từ khu vực doanh nghiệp Trang thiết bị của các viện nghiên cứu, trường đạihọc nhìn chung còn rất thiếu, không đồng bộ, lạc hậu so với những cơ sở sảnxuất tiên tiến cùng ngành Hệ thống giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầuđào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao, đặc biệt đối vớinhững lĩnh vực khoa học và công nghệ tiên tiến; chưa đáp ứng yêu cầu phát triển

Trang 18

khoa học và công nghệ cũng như sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước.

Hệ thống dịch vụ khoa học và công nghệ, bao gồm thông tin khoa học vàcông nghệ, tư vấn chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường -chất lượng còn yếu kém cả về cơ sở vật chất và năng lực cung cấp dịch vụ đápứng các yêu cầu của hội nhập khu vực và quốc tế

Thiếu sự liên kết hữu cơ giữa nghiên cứu khoa học và công nghệ, giáodục - đào tạo và sản xuất - kinh doanh; thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa các tổchức nghiên cứu - phát triển, các trường đại học và doanh nghiệp

So với các nước trong khu vực và trên thế giới, nước ta còn có khoảngcách rất lớn về tiềm lực và kết quả hoạt động khoa học và công nghệ: tỷ lệ cán

bộ nghiên cứu khoa học và công nghệ trong dân số và mức đầu tư cho nghiêncứu khoa học theo đầu người thấp; các kết quả nghiên cứu - phát triển theochuẩn mực quốc tế còn rất ít Nhìn chung, năng lực khoa học và công nghệ nước

ta còn yếu kém, chưa giải đáp được kịp thời nhiều vấn đề của thực tiễn đổi mới,chưa gắn kết chặt chẽ và đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội

- Trình độ công nghệ của nhiều ngành sản xuất còn thấp và lạc hậu:

Ngoài những công nghệ tiên tiến được đầu tư mới trong một số ngành,lĩnh vực như bưu chính - viễn thông, dầu khí, hàng điện tử tiêu dùng, sản xuấtđiện, xi măng, nhìn chung trình độ công nghệ của các ngành sản xuất nước tahiện lạc hậu khoảng 2 - 3 thế hệ công nghệ so với các nước trong khu vực Tìnhtrạng này hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế trongbối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Cơ chế quản lý khoa học và côngnghệ chậm được đổi mới, còn mang nặng tính hành chính: Quản lý hoạt độngkhoa học và công nghệ còn tập trung chủ yếu vào các yếu tố đầu vào, chưa chútrọng đúng mức đến quản lý chất lượng sản phẩm đầu ra và ứng dụng kết quảnghiên cứu vào thực tiễn Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ chưa thực sự

Trang 19

gắn kết chặt chẽ với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Công tác đánh giánghiệm thu kết quả nghiên cứu chưa tương hợp với chuẩn mực quốc tế.

- Cơ chế quản lý các tổ chức khoa học và công nghệ không phù hợp vớiđặc thù của lao động sáng tạo và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa Các tổ chức khoa học và công nghệ chưa có được đầy đủ quyền tựchủ về kế hoạch, tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế để phát huy tính năngđộng, sáng tạo Việc quản lý cán bộ khoa học và công nghệ theo chế độ côngchức không phù hợp với hoạt động khoa học và công nghệ, làm hạn chế khảnăng lưu chuyển và đổi mới cán bộ Thiếu cơ chế đảm bảo để cán bộ khoa học

và công nghệ được tự do chính kiến, phát huy khả năng sáng tạo, tự chịu tráchnhiệm trong khuôn khổ pháp luật Chưa có những chính sách hữu hiệu tạo độnglực đối với cán bộ khoa học và công nghệ và chính sách thu hút, trọng dụngnhân tài, chế độ tiền lương còn nhiều bất hợp lý, không khuyến khích cán bộkhoa học và công nghệ toàn tâm với sự nghiệp khoa học và công nghệ Cơ chếquản lý tài chính trong hoạt động khoa học và công nghệ chưa tạo thuận lợi chonhà khoa học, chưa huy động được nhiều nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước;

cơ chế tự chủ về tài chính của các tổ chức khoa học và công nghệ chưa đi liềnvới tự chủ về quản lý nhân lực nên hiệu quả còn hạn chế

Thị trường khoa học và công nghệ chậm phát triển Hoạt động mua, báncông nghệ và lưu thông kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ còn bị hạnchế do thiếu các tổ chức trung gian, môi giới, các quy định pháp lý cần thiết, đặcbiệt là hệ thống bảo hộ hữu hiệu quyền sở hữu trí tuệ

Tóm lại, công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ còn chưađổi mới kịp so với yêu cầu chuyển sang kinh tế thị trường

2.3.2 Nguyên nhân:

Đường lối chính sách phát triển khoa học và công nghệ của Đảng và Nhànước chưa được quán triệt đầy đủ và chậm được triển khai trong thực tiễn:

Trang 20

Quan điểm khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực phát triển đất nước

đã được khẳng định trong các nghị quyết của Đảng nhưng trên thực tế chưađược các cấp, các ngành, các địa phương quán triệt đầy đủ và triển khai trongthực tiễn phát triển kinh tế - xã hội

Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển khoahọc và công nghệ chậm được thể chế hoá bằng các văn bản quy phạm pháp luật;việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện chính sách thiếu kiên quyết nên kết quả còn hạnchế Năng lực của các cơ quan tham mưu, quản lý khoa học và công nghệ cáccấp còn yếu kém: Cơ chế kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp ăn sâu vào tiềm thức

và thói quen của không ít cán bộ khoa học và công nghệ và quản lý khoa học vàcông nghệ đã tạo ra sức ỳ không dễ khắc phục trong cơ chế mới, không đáp ứngđược yêu cầu về đổi mới quản lý khoa học và công nghệ trong nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế

Chưa làm rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với những hoạt động khoa học

và công nghệ mà Nhà nước cần đầu tư phát triển như: các lĩnh vực khoa học vàcông nghệ trọng điểm, ưu tiên; nghiên cứu chiến lược, chính sách phát triển;nghiên cứu cơ bản; nghiên cứu mang tính công ích, v.v ; cũng như chưa có cơchế, chính sách phù hợp đối với các hoạt động khoa học và công nghệ cần và cóthể vận dụng cơ chế thị trường, như nghiên cứu ứng dụng và phát triển côngnghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ

Quản lý nhà nước đối với khu vực hành chính và khu vực sự nghiệp trong

hệ thống khoa học và công nghệ chưa được tách biệt rõ ràng, làm cho công tácquản lý các tổ chức khoa học và công nghệ còn mang nặng tính hành chính

Chậm tổng kết thực tiễn để nhân rộng các điển hình tiên tiến về gắn kếtgiữa nghiên cứu khoa học và công nghệ với giáo dục - đào tạo và sản xuất - kinhdoanh

Trang 21

Đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ còn hạn hẹp: Đầu tư xâydựng tiềm lực khoa học và công nghệ trong thời gian dài còn chưa được chútrọng đúng mức, thiếu tập trung vào lĩnh vực trọng điểm, ưu tiên, dẫn đến cơ sở

hạ tầng khoa học và công nghệ lạc hậu, hiệu quả đầu tư thấp

Thiếu quy hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học trình độ cao ở các lĩnhvực khoa học và công nghệ ưu tiên, đặc biệt là cán bộ khoa học và công nghệđầu ngành, các "tổng công trình sư"

Cơ chế quản lý kinh tế chưa tạo môi trường thuận lợi cho phát triển khoahọc và công nghệ:

Cơ chế quản lý kinh tế hiện nay còn duy trì sự bao cấp gián tiếp của Nhànước, độc quyền của doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh,làm cho các doanh nghiệp nhà nước có tư tưởng ỷ lại, chưa quan tâm đến ứngdụng các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ và đổi mới công nghệ.Thiếu cơ chế, chính sách hữu hiệu để gắn kết giữa khoa học và công nghệ vớisản xuất - kinh doanh và khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng kết quả nghiêncứu khoa học và công nghệ Hệ thống tài chính, tiền tệ kém phát triển cũngkhông tạo điều kiện cho doanh nghiệp tự huy động được nguồn vốn để đầu tưcho khoa học và công nghệ

2.4 Chiến lược phát triển khoa học công nghệ ở Việt Nam:

Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 - 2020 là mộtnội dung qua trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm của ViệtNam; được phê duyệt theo Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/04/2012 củaThủ tướng Chính phủ Chiến lược là một bộ phận quan trọng, được coi là mộtgiải pháp tạo động lực cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Nội dung chính của chiến lược là:

2.4.1 Mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ:

Mục tiêu tổng quát

Trang 22

Phát triển đồng bộ khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoahọc kỹ thuật và công nghệ; đưa khoa học và công nghệ thực sự trở thành độnglực then chốt, đáp ứng các yêu cầu cơ bản của một nước công nghiệp theohướng hiện đại Đến năm 2020, khoa học và công nghệ Việt Nam có một số lĩnhvực đạt trình độ tiên tiến, hiện đại của khu vực ASEAN và thế giới.

Mục tiêu cụ thể

Đến năm 2020, khoa học và công nghệ góp phần đáng kể vào tăng trưởngkinh tế và tái cấu trúc nền kinh tế, giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩmứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% GDP Tốc độ đổi mới công nghệ, thiết

bị đạt 10 15%/năm giai đoạn 2011 2015 và trên 20%/năm giai đoạn 2016

-2020 Giá trị giao dịch của thị trường khoa học và công nghệ tăng trung bình 15

- 17%/năm

Số lượng công bố quốc tế từ các đề tài nghiên cứu sử dụng ngân sách nhànước tăng trung bình 15 - 20%/năm Số lượng sáng chế đăng ký bảo hộ giaiđoạn 2011 - 2015 tăng gấp 1,5 lần so với giai đoạn 2006 - 2010, giai đoạn 2016

- 2020 tăng 2 lần so với giai đoạn 2011 - 2015, trong đó đặc biệt tăng nhanh sốlượng sáng chế được tạo ra từ các chương trình khoa học và công nghệ trọngđiểm cấp Nhà nước

Phấn đấu tăng tổng đầu tư xã hội cho khoa học và công nghệ đạt 1,5%GDP vào năm 2015 và trên 2% GDP vào năm 2020 Bảo đảm mức đầu tư từngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ không dưới 2% tổng chi ngânsách nhà nước hàng năm

Đến năm 2015, số cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệđạt 9 - 10 người trên một vạn dân; đào tạo và sát hạch theo chuẩn quốc tế 5.000

kỹ sư đủ năng lực tham gia quản lý, điều hành dây chuyền sản xuất công nghệcao trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển của đất nước

Trang 23

Đến năm 2020, số cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệđạt 11 - 12 người trên một vạn dân; đào tạo và sát hạch theo chuẩn quốc tế10.000 kỹ sư đủ năng lực tham gia quản lý, điều hành dây chuyền sản xuất côngnghệ cao trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển của đất nước.

Đến năm 2015, hình thành 30 tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng đạttrình độ khu vực và thế giới, đủ năng lực giải quyết những vấn đề trọng yếuquốc gia đặt ra đối với khoa học và công nghệ; 3.000 doanh nghiệp khoa học vàcông nghệ; 30 cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệcao

Đến năm 2020, hình thành 60 tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng đạttrình độ khu vực và thế giới, đủ năng lực giải quyết những vấn đề trọng yếuquốc gia đặt ra đối với khoa học và công nghệ; 5.000 doanh nghiệp khoa học vàcông nghệ; 60 cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệcao

2.4.2 Định hướng nhiệm vụ phát triển khoa học công nghệ

Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơchế hoạt động khoa học và công nghệ

- Về tổ chức khoa học và công nghệ

Tái cấu trúc và quy hoạch lại hệ thống tổ chức khoa học và công nghệquốc gia theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, trùng lặp và phùhợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, các ngành, lĩnh vực

và vùng kinh tế

Tập trung đầu tư phát triển Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, ViệnKhoa học xã hội Việt Nam trở thành hai tổ chức khoa học và công nghệ hàngđầu quốc gia và ASEAN Nâng cao năng lực của các trường đại học về nghiêncứu cơ bản Xây dựng tại mỗi vùng kinh tế trọng điểm ít nhất một tổ chức khoahọc và công nghệ mạnh gắn với tiềm năng, lợi thế của vùng, liên kết chặt chẽ

Trang 24

với các trường đại học để đào tạo nhân lực, thực hiện nhiệm vụ khoa học vàcông nghệ.

Khuyến khích, hỗ trợ hình thành, phát triển các tổ chức nghiên cứu khoahọc và phát triển công nghệ trong doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế.Phát triển các cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học vàcông nghệ Phát triển mạnh doanh nghiệp khoa học và công nghệ, chủ yếu từcác trường đại học, viện nghiên cứu

- Về cơ chế quản lý khoa học và công nghệ

Đổi mới cơ bản cơ chế quản lý khoa học và công nghệ phù hợp với nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đặc thù của hoạt động khoahọc và công nghệ, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, nhanh chóng nâng caohiệu quả đầu tư và đóng góp thiết thực của khoa học và công nghệ cho các mụctiêu phát triển kinh tế - xã hội

Đổi mới phương thức xây dựng nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp,bao gồm đề xuất, lựa chọn và xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ, bảođảm tính thực tiễn, khoa học và liên ngành Quy định rõ thẩm quyền, tráchnhiệm của Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơquan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương trong việc xác định và chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ khoa học vàcông nghệ trọng điểm thuộc phạm vi quản lý Tăng tỷ lệ nhiệm vụ khoa học vàcông nghệ có khả năng thương mại hóa

Đổi mới phương thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệcác cấp theo hướng bảo đảm công khai, minh bạch và cạnh tranh trong tuyểnchọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ Khuyến khíchcác tổ chức khoa học và công nghệ liên kết, phối hợp để thực hiện các nghiêncứu khoa học có ý nghĩa quốc gia và trình độ quốc tế Thực hiện thẩm định,

Ngày đăng: 19/01/2021, 08:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w