1. Trang chủ
  2. » Lịch sử

Bảng Cân Đối Liên Ngành Của Việt Nam Năm 2007

640 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 640
Dung lượng 3,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng cân đối liên ngành là công cụ mô tả toàn diện bức tranh kinh tế của đất nước từ công nghệ sản xuất được áp dụng để tạo ra sản phẩm (biểu thị bởi các hệ số chi phí sản xuất) đến sử[r]

Trang 1

1

Trang 2

C¸N Bé vô hÖ thèng tμi kho¶n quèc gia

THAM GIA BI£N SO¹N

2 Nguyễn Văn Minh - Nguyên Phó vụ trưởng

3 Nguyễn Văn Nông - Phó vụ trưởng,

4 Trịnh Quang Vượng - Phó vụ trưởng

5 Nguyễn Thị Hương - Phó vụ trưởng

6 Dương Mạnh Hùng - Phó vụ trưởng

2

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Bảng cân đối liên ngành là công cụ mô tả toàn diện bức tranh kinh tế của đất nước từ công nghệ sản xuất được áp dụng để tạo ra sản phẩm (biểu thị bởi các hệ số chi phí sản xuất) đến sử dụng kết quả sản xuất do nền kinh tế trong nước tạo ra và nhập khẩu (phản ánh qua cơ cấu tích lũy, tiêu dùng và xuất khẩu) và thu nhập được tạo ra từ sản xuất (cơ cấu thu của người lao động; khấu hao tài sản cố định; thuế sản xuất và thặng dư sản xuất) Bên cạnh việc mô tả đầy đủ bức tranh kinh tế của đất nước, bảng cân đối liên ngành là công cụ/mô hình kinh tế dùng để phân tích và dự báo rất hữu hiệu giúp cho các nhà quản

lý và điều hành kinh tế đưa ra những quyết định, những giải pháp kinh tế - xã hội có lợi cho quá trình phát triển của đất nước

Qua bảng cân đối liên ngành của một số thời kỳ, các nhà quản lý điều hành nền kinh tế, các nhà nghiên cứu và đông đảo người sử dụng sẽ thấy được công nghệ sản xuất của nền kinh tế thay đổi như thế nào; sẽ thấy được chất lượng tăng trưởng kinh tế của từng thời kỳ; thấy được vai trò của các ngành kinh tế theo nghĩa thúc đẩy sự phát triển của các ngành qua các liên kết xuôi và liên kết ngược của chúng

Bảng cân đối liên ngành năm 2007 là bảng cân đối liên ngành lần thứ tư (các lần trước lập cho các năm 1989, 1996 và năm 2000) với qui mô gồm 138 ngành sản phẩm Việc lựa chọn 138 ngành sản phẩm được dựa trên tầm quan trọng của các ngành này trong nền kinh tế và phục vụ cho các mục đích phân tích và thống kê kinh tế Những khái niệm và phương pháp sử dụng để lập bảng cân đối liên ngành năm 2007 được dựa trên khái niệm của Hệ thống Thống kê quốc gia năm 1968 và 1993 của Liên Hợp Quốc

và thống nhất với các phương pháp lập bảng cân đối liên ngành của các năm trước

Để lập bảng cân đối liên ngành, Tổng cục Thống kê đã tiến hành điều tra chọn mẫu từ đơn vị thuộc các thành phần kinh tế có hoạt động sản xuất trên lãnh thổ Việt Nam

Cuốn sách do những chuyên viên giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực thống kê Tài khoản quốc gia và các thống kê chuyên ngành của Tổng cục Thống kê biên soạn, có sự tham gia góp ý và thẩm định của một số nhà khoa học và chuyên gia kinh tế Tổng cục Thống kê hy vọng cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích đối với các nhà quản lý, hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu, các trường đại học, các tổ chức trong và ngoài nước Lập bảng cân đối liên ngành đòi hỏi một khối lượng lớn với các loại thông tin kinh tế, nên việc biên soạn không tránh khỏi những hạn chế và sai sót Tổng cục Thống kê mong

nhận được ý kiến đóng góp của các cơ quan và đông đảo người sử dụng

THø TR¦ëNG KI£M TæNG CôC TR¦ëNG

TæNG CôC THèNG K£

Nguyễn Đức Hòa

3

Trang 4

The input-output table is a tool to give a comprehensive picture of a country’s economy in aspects of production technology applied to create products (shown by input coefficients), use of output produced domestically (reflected by the structure of gross capital formation, final consumption and exports) and production income (describled by the structure of compensation of employees, consumption of fixed capital, other net taxes on production and operating surplus) Moreover, the table is a economic tool or model for very useful analysis and forecast, which help economic managers make decisions, social-economic solutions benefiting national development Through looking into I/O tables for some periods, economic managers, reseachers and other users notice how productive technology changes, quality of economic growth during each period, the role of economic industries in the sense of increasing industries’growth by the means of their backward and forward linkages

The I/O table in 2007 is the forth one (previously there were the I/O tables for

1989, 1996 and 2000) with the dimension of 138 products Choosing 138 products is based on their importance in the economy and in service of economic analysis and statistics Concepts and methods used to set up the I/O table for 2007 result from those

in SNA 1986 and 1993 and are in consistancy with the method of I/O table compilation for last years

To compile the I/O table, General Statistics Office (GSO) already conducted the sample survey of producing units in all types of ownership, which engage in production in Viet Nam

The book was written by senior staffs in the field of national account statistics and branch statistics in GSO, with comments and assessment by scientists and economic experts GSO hopes that the book is the helpful reference document for managers, policy-makers, reseachers, universities, other external and domestic organizations The establishment of the I/O table requires a large amount of economic information, therefore compilation definitely get limits and mistakes GSO looks forward receiving comments from agencies and other users

DEPUTY MINISTER OF THE MINISTRY OF PLANNING AND INVESTMENT

DIRECTOR-GENERAL OF THE GENERAL STATISTICS OFFICE

Nguyen Duc Hoa

4

Trang 5

CñA VIÖT NAM N¡M 2007

I B¶NG NGUåN Vμ Sö DôNG: QU¸ TR×NH CHUYÓN §æI THμNH B¶NG I/O ë VIÖT NAM

Năm 2008 Tổng cục Thống kê tiến hành điều tra I/O để lập bảng cân đối liên ngành Các khái niệm và định nghĩa sử dụng trong biên soạn bảng I/O năm 2007 dựa trên Hệ thống tài khoản quốc gia 1968 và 1993 của Liên Hợp Quốc Bảng I/O năm

2007 được lập trên nền ma trận nguồn và ma trận sử dụng với kích cỡ 138 ngành sản phẩm và 112 ngành kinh tế (bảng SUT) Một điểm chú ý là 112 ngành kinh tế trong bảng SUT năm 2007 khác với 112 ngành kinh tế của bảng I/O năm 2000 Vì vậy bảng I/O năm 2007 có kích cỡ 138 x 138 ngành sản phẩm

Trước đây SNA 1968 giới thiệu ma trận nguồn và ma trận sử dụng là bước trung gian để lập bảng I/O Tổng cục Thống kê Việt Nam lập bảng I/O dựa trên nguyên tắc này Khi Hệ thống tài khoản quốc gia 1993 ra đời, ma trận nguồn và ma trận sử dụng chuyển thành bảng nguồn và sử dụng (supply and use tables-S.U.T), tên gọi bảng I/O dường như không xuất hiện trong hệ thống tài khoản quốc gia trong lần xuất bản 1993 (SNA, 1993) Trên thực tế hầu hết các nước châu Á vẫn sử dụng bảng I/O như một công cụ quan trọng trong phân tích kinh tế

Trong phần này chúng tôi tập trung giới thiệu về bảng S.U.T và phương pháp chuyển từ bảng S.U.T thành bảng I/O ở Việt Nam, đặc biệt là trong trường hợp ma trận nguồn và ma trận sử dụng không vuông

1 Bảng nguồn và sử dụng

Đơn vị điều tra để lập bảng I/O: Đơn vị cơ sở là đơn vị điều tra để lập bảng I/O

được định nghĩa là một đơn vị sản xuất tiến hành một loại hoạt động sản xuất tại một địa điểm Trong trường hợp đơn vị có nhiều loại hoạt động sản xuất thì các hoạt động này được phân chia thành các đơn vị cơ sở theo từng hoạt động tương ứng

Khi một đơn vị cơ sở sản xuất ra nhiều sản phẩm khác ngoài sản phẩm chính thì xếp vào nhóm hoạt động phụ hoặc hoạt động phụ trợ với ý nghĩa như sau: Hoạt động phụ là hoạt động do một đơn vị cơ sở tiến hành bên cạnh hoạt động chính; Hoạt động phụ trợ là hoạt động hỗ trợ, được thực hiện nhằm tạo ra các điều kiện mà qua đó các hoạt động của đơn vị cơ sở có thể tiến hành

Giá trị sản phẩm của hoạt động phụ thường nhỏ hơn giá trị của sản phẩm chính

Ma trận sản xuất (ma trận nguồn): Ma trận này mô tả hàng hoá và dịch vụ sản

xuất trong nước theo giá cơ bản, hàng của ma trận là các hoạt động sản xuất khác nhau

5

Trang 6

hành hoạt động phụ Bởi vậy ma trận sản xuất biểu diễn trường hợp này theo phương thức: các phần tử nằm ngoài đường chéo là các sản phẩm phụ, các phần tử nằm trên đường chéo là sản phẩm chính của các ngành kinh tế (trong trường hợp ma trận nguồn

là ma trận vuông) Chúng ta kí hiệu ma trận nguồn là S và ta có:

S*I = XAI*S = XCTrong đó: I là véc tơ đơn vị, XA là véc tơ giá trị sản xuất trong nước theo ngành kinh tế theo giá cơ bản và XC là véc tơ giá trị sản xuất trong nước theo ngành sản phẩm theo giá cơ bản

Ma trận sử dụng: Ma trận này diễn tả chi phí trung gian theo cột và nhu cầu trung

gian theo dòng Theo khuyến nghị của Hệ thống tài khoản quốc gia 1993, hàng hoá dùng làm đầu vào cho quá trình sản xuất dưới hình thức chi phí trung gian tính theo giá sử dụng, như vậy điều này hàm ý véc tơ phí thương mại và phí vận tải bằng không

Ký hiệu ma trận này là U, ta có:

U*I là véc tơ nhu cầu trung gian và I*U là véc tơ chi phí trung gian (trong đó: I là véc tơ đơn vị)

Ma trận giá trị tăng thêm: Ma trận này có dòng là các cấu thành của giá trị tăng

thêm và cột là ngành kinh tế Các cấu thành của giá trị tăng thêm bao gồm:

- Thu nhập của người lao động

- Thuế sản xuất cộng trợ cấp sản xuất (không bao gồm thuế sản phẩm)

- Khấu hao tài sản cố định

- Thặng dư sản xuất

Ký hiệu ma trận giá trị tăng thêm là V: I’*V là véc tơ giá trị tăng thêm theo ngành kinh tế (I’ là véc tơ đơn vị với 4 phần tử)

Từ đó có:

I’*U + I*V = S*I = XA

Ma trận nhu cầu cuối cùng: Ma trận này có cột thể hiện các thành phần của nhu

cầu cuối cùng và dòng thể hiện ngành sản phẩm Các thành phần của nhu cầu cuối cùng gồm:

- Tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình

- Tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước

- Tích luỹ tài sản cố định

- Tích luỹ tài sản lưu động

- Xuất khẩu

6

Trang 7

hệ này được biểu diễn bởi một hệ thống hàm tuyến tính với những hệ số được quyết định bởi quy trình công nghệ Với tư tưởng này, W Leontief đã xây dựng cho Hoa Kỳ hai bảng I/O đầu tiên với số liệu của các năm 1919 và 1929, hai bảng này được lập năm 1936; năm 1941 công trình này được xuất bản với tên gọi “ Cấu trúc của nền kinh

tế Hoa Kỳ”

7

Trang 8

yếu tố bên ngoài mang đến đối với nhu cầu cuối cùng Ở Việt Nam, đối với loại mô hình này ma trận ngành sản phẩm x ngành sản phẩm phù hợp hơn

Bảng I/O ở Việt Nam được lập theo 3 loại giá: Giá người sử dụng cuối cùng, giá sản xuất và giá cơ bản Bảng I/O theo giá cơ bản dùng trong phân tích đầu vào - đầu

ra Điều quan trọng nhất là:

- Bảng I/O theo giá cơ bản cung cấp giá trị thuần khiết nhất theo hàng

- Bảng I/O theo giá cơ bản phản ánh thu nhập từ người lao động và vốn góp

3 Chuyển đổi ma trận nguồn và ma trận sử dụng thành bảng I/O

Để chuyển đổi ma trận nguồn và ma trận sử dụng thành bảng I/O, bước đầu tiên là chuyển ma trận sử dụng theo giá sử dụng sang giá cơ bản, bởi vì ma trận sản xuất theo giá cơ bản

Ma trận sử dụng theo giá sản xuất

Bảng sử dụng theo giá

sử dụng

-

Bảng phí thương mại Bảng phí vận tải

= Tổng số = TdMj Tổng số = TnMj

TRUNG GIAN

NHU CẦU CUỐI CÙNG

Từ 1 2 ……… 22 CI E M

GIÁ TRỊ SẢN XUẤT

Trang 9

3.1 Giả thiết công nghệ sản phẩm: Phát biểu rằng, một sản phẩm sản xuất ở đâu

cũng có công nghệ như nhau

Ta đặt:

S’ = C* XA (1)

U = B* XA (2) Trong đó: S’ là ma trận chuyển vị của ma trận S; XA là ma trận đường chéo với các phần tử trên đường chéo là phần tử của véc tơ XA; C là ma trận hệ số của ma trận nguồn (S’) tính theo giả thiết về công nghệ sản phẩm và B là ma trận hệ số của ma trận

XC = B*C-1*XC + Y

Và: XC = (I - B*C-1)-1*Y (6) Và: XA = (I-C-1*B)-1*C-1*Y (7) B*C-1 là ma trận hệ số chi phí trực tiếp (AC = B*C-1) dạng (ngành sản phẩm x ngành sản phẩm)

C-1.B là ma trận hệ số chi phí trực tiếp (AI = C-1.B) dạng (ngành kinh tế x ngành kinh tế)

Ta có thể viết lại dưới dạng ma trận tổng quát như sau:

x = (8)

3.2 Giả thiết công nghệ ngành kinh tế: Phát biểu rằng, trong một ngành kinh tế

các sản phẩm sản xuất ra có công nghệ như nhau

Ta đặt:

9

Trang 10

D là ma trận hệ số của ma trận nguồn (S) tính theo giả thiết công nghệ ngành kinh tế;

XC là ma trận đường chéo với phần tử trên đường chéo là phần tử của véc tơ XCVới lập luận tương tự như trên, chúng ta có:

Trong trường hợp ma trận sản xuất và ma trận sử dụng không vuông: số dòng và cột trong bảng SUT năm 2007 là khác nhau, việc chuyển đổi chúng sang bảng I/O trở nên khó khăn hơn Ở đây, giả thiết công nghệ ngành kinh tế không thể áp dụng để xử

lý bảng I/O, lý do là nhiều ngành trong ma trận chi phí trung gian (theo ngành sản phẩm) có cấu trúc đầu vào như nhau do đã đưa ra giả thiết công nghệ ngành kinh tế

Hơn nữa, không thể trực tiếp dùng phương pháp đó để chuyển đổi sang bảng I/O

do ma trận sản xuất không vuông, như vậy phải tách ma trận này thành 4 bảng với đường chéo là ma trận vuông và áp dụng phương trình (6) như sau:

A*C = B (11) ((dòng sản phẩm và cột sản phẩm) x (dòng sản phẩm và cột ngành kinh tế)

10

Trang 11

A12*C2 = B12 ====> A12= B12* C2 (14)

A21*C1 = B21 =====> A21 = B21*C1-1 (15)

A22*C2 = B22 ======> A22= B22* C2-1 (16)

Kết luận

Cuốn sách này trước tiên khuyến nghị rằng số sản phẩm và số ngành kinh tế nên

bằng nhau (như vậy ma trận sản xuất và ma trận sử dụng là hình vuông) khi xác định

các ngành cho biên soạn bảng SUT Trong trường hợp hai ma trận này không vuông

thì giả thiết công nghệ sản phẩm được khuyến nghị nhằm chuyển đổi các ma trận đó

thành bảng I/O Sau cùng bảng SUT không thể thay thế bảng I/O do vai trò quan trọng

của bảng I/O trong phân tích kinh tế

II MéT Sè PH¸T HIÖN

Phần này trình bày những phát hiện chính trên cơ sở so sánh bảng I/O 2007 với

bảng I/O 2000

1 Diễn biến bên cung và bên cầu

Trong năm 2007, tổng cung hàng hoá và dịch vụ là khoảng 3.934 tỷ đồng, trong

đó 73,82% là sản phẩm sản xuất trong nước, phần còn lại 26,18% là nhập khẩu Sản

phẩm sản xuất trong nước giảm 5,43% so với số liệu tương ứng năm 2000

Bảng 1: Diễn biến bên cung và bên cầu năm 2007 - 2000

Đơn vị tính: Tỷ đồng: %

2007 2000 Giá trị Cơ cấu Giá trị Cơ cấu

Trang 12

dụng cuối cùng trong tổng cầu giảm từ 57.01% trong năm 2000 xuống 54,68% năm

2007 Xét về cơ cấu trong tổng cầu cho thấy tiêu dùng cuối cùng của cá nhân dân cư

và Chính phủ giảm 5,14% (từ 26,42% năm 2000 xuống 21,28% năm 2007), thay vào

đó làm tăng tổng tích lũy tài sản và xuất khẩu Điều này đã phản ánh chính sách phát triển kinh tế của nước ta thời kỳ 2000-2007 là hướng mạnh vào xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế từ đầu tư

2 Cấu trúc đầu ra

Bảng 2 cho thấy, cấu trúc đầu ra từ 138 ngành gộp thành 22 ngành trong bảng IO năm 2000 và 2007 Tổng giá trị sản xuất (đầu ra) bao gồm nhu cầu trung gian (còn gọi

là tiêu dùng trung gian) và nhu cầu cuối cùng (còn gọi là sử dụng cuối cùng)

Tổng giá trị sản xuất toàn nền kinh tế Việt Nam đạt 2.904 tỷ đồng trong năm

2007 Bảng 2 cho phép so sánh cấu trúc phân phối đầu ra năm 2000 với năm 2007 Tỷ trọng cây trồng, gia súc, gia cầm và dịch vụ nông nghiệp giảm từ 13,35% năm 2000 xuống 8,27% năm 2007, cấu trúc này tương tự như ở Malaysia năm 1991 Tỷ trọng quặng sắt và khoáng sản phi kim loại, thực phẩm chế biến, đồ uống, thuốc lá, vải dệt, hàng dệt may và sản phẩm làm từ da thuộc năm 2007 giảm; tỷ trọng các sản phẩm công nghiệp chế biến - chế tạo khác trong năm 2007 tăng; tỷ trọng xây dựng trong năm 2007 tăng khoảng 1,08% so với năm 2000; tỷ trọng dịch vụ thương mại năm 2007 giảm 1,91% so với năm 2000; tỷ trọng dịch vụ vận tải và viễn thông, tài chính, bảo hiểm, dịch vụ kinh doanh bất động sản tương ứng tăng 1,51% và 0,2%, trong khi tỷ trọng của dịch vụ quản lý nhà nước, quốc phòng, an ninh, dịch vụ phục vụ cá nhân và cộng đồng, dịch vụ khác trong năm 2007 tương ứng giảm 0,3% và 1,62%

Bảng 2: Giá trị sản xuất theo ngành sản phẩm năm 2000 và 2007 của Việt Nam

Đơn vị tính: Tỷ VNĐ, %

2007 2000 STT Sản phẩm

Giá trị Cơ cấu Giá trị Cơ cấu

1 Cây trồng, gia súc, gia cầm và dịch vụ nông

Trang 13

11 Các sản phẩm khoáng sản phi kim loại 79 2,74 26 2,68

12 Các kim loại cơ bản và các sản phẩm bằng kim

18 Thương mại bán buôn và thương mại bán lẻ 193 6,63 83 8,54

20 Tài chính, bảo hiểm, dịch vụ kinh doanh bất

Cấu trúc chi phí bao gồm chi phí trung gian và giá trị tăng thêm Bảng 3 cho phép

so sánh cấu trúc đầu vào của 22 ngành năm 2000 so với năm 2007 Nói chung, chi phí sản xuất theo nghĩa sử dụng đầu vào trung gian thay đổi đáng kể năm 2007 so với năm

2000 Trong năm 2000, lượng sản phẩm mà các ngành dùng làm đầu vào trung gian có giá trị là 0,55 nghìn đồng bình quân 1000 đồng sản phẩm đầu ra, trong năm 2007 tăng lên mức 0,62 nghìn đồng bình quân 1000 đồng sản phẩm đầu ra Những hệ số này tăng

ở hầu hết các sản phẩm thuộc các ngành kinh tế Ở một số sản phẩm tỷ lệ này có giảm

13

Trang 14

chúng; các sản phẩm công nghiệp chế biến-chế tạo khác, xây dựng; thương mại, quản

lý nhà nước, quốc phòng và an ninh

Các tỷ lệ chi phí trung gian so với giá trị sản xuất năm 2007 cao hơn so với năm

2000, có thể do công nghệ sản xuất thay đổi hoặc tính cạnh tranh kém hơn so với trước

hoặc do cả hai yếu tố này Trong năm 2008, tỷ lệ này của các sản phẩm có thể cao hơn

nhiều so với năm 2007 do một số ngành, giữ thế độc quyền về sản xuất và bán sản

phẩm do chúng tạo ra, đã chi phối sự tăng lên của giá những mặt hàng này Hiện trạng

này có nghĩa là giá trị tăng thêm sẽ giảm và kéo theo sự suy giảm tiêu dùng cuối cùng

Giá trị tăng thêm

Chi phí trung gian

Giá trị tăng thêm

1 Cây trồng, gia súc, gia cầm và dịch vụ nông nghiệp 0,57 0,43 0,32 0,68

11 Các sản phẩm khoáng sản phi kim loại 0,68 0,32 0,71 0,29

12 Các kim loại cơ bản và các sản phẩm bằng kim

Trang 15

STT Sản phẩm

trung gian

tăng thêm

trung gian

tăng thêm

15 Các sản phẩm công nghiệp chế biến-chế tạo khác 0,52 0,48 0,74 0,26

18 Thương mại bán buôn và thương mại bán lẻ 0,32 0,68 0,46 0,54

20 Tài chính, bảo hiểm, dịch vụ kinh doanh bất động

Tổng cầu bao gồm nhu cầu trung gian hay nhu cầu của ngành và nhu cầu cuối

cùng Nhu cầu trung gian là nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ sử dụng trong quá trình

sản xuất của từng ngành kinh tế Nhu cầu cuối cùng gồm tiêu dùng cuối cùng của hộ

gia đình, tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước, tổng tích luỹ tài sản và xuất khẩu

Bảng 4 cho thấy cấu trúc tổng cầu thông qua các hệ số Tính toàn nền kinh tế, tỷ lệ

nhu cầu trung gian về hàng hóa và dịch vụ năm 2007 chiếm 68%, thấp hơn không

nhiều so với năm 2000 là 69% Trong khi đó, phần còn lại 32% là nhu cầu cuối cùng

trong năm 2007 và 31% trong năm 2000 Với cách tiếp cận của bảng này, hoàn toàn

quan sát được những thay đổi trong cấu trúc tổng cầu theo sản phẩm năm 2007 so với

năm 2000 trên phương diện tổng thể nền kinh tế

Bảng 4 Tỷ lệ nhu cầu trung gian và nhu cầu cuối cùng năm 2007 và 2000

Đơn vị tính: %

2007 2000

trung gian

Nhu cầu cuối cùng

Chi phí trung gian

Nhu cầu cuối cùng

1 Cây trồng, gia súc, gia cầm và dịch vụ nông nghiệp 0,62 0,38 0,55 0,45

2 Gỗ tròn và các sản phẩm lâm nghiệp khác 0,55 0,45 0,77 0,23

15

Trang 16

STT Sản phẩm

trung gian

cuối cùng

trung gian

cuối cùng

18 Thương mại bán buôn và thương mại bán lẻ 0,6 0,4 0,47 0,53

20 Tài chính, bảo hiểm, dịch vụ kinh doanh bất

Trang 17

Bảng 5 mô tả kết cấu nhu cầu cuối cùng trong nước theo loại nhu cầu cuối cùng

Nhu cầu của hộ gia đình về hàng hóa và dịch vụ trong nước năm 2007 chiếm 31,09 %

trong tổng cầu cuối cùng-thấp hơn nhiều mức trung bình cả nước là 42,59% trong năm

2000 Trong khi đó, tổng tích luỹ tài sản và xuất khẩu đạt được tỷ trọng cao hơn so với

thời kỳ 2000 Xuất khẩu có được tỷ trọng cao trong năm 2007, là nhờ chính sách

khuyến khích xuất khẩu trong thời kỳ này

Bảng 5 Kết cấu nhu cầu cuối cùng trong nước năm 2007 và 2000

Đơn vị tính: Tỷ đồng, %

2007 2000 Khu vực

Tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình 564 31,09 296 42,59

Tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước 66 3,64 26 3,74

6 Liên kết ngược và liên kết xuôi

Trong một nền kinh tế sự thay đổi cấu trúc của các ngành thường có liên quan chặt

chẽ với nhau: một số ngành phụ thuộc nhiều vào các ngành khác trong khi một số

ngành khác chỉ phụ thuộc vào một số ít hơn các ngành còn lại Do vậy sự thay đổi của

một số ngành sẽ có ảnh hưởng đến nền kinh tế hơn các ngành khác

Các phân tích I/O thường dựa trên các liên kết ngược (backward linkages) và liên

kết xuôi (forward linkages) Các liên kết này là các công cụ đo lường giữa mối liên hệ

của một ngành với các ngành khác, với vai trò một ngành sử dụng đầu vào hay một

ngành cung cấp đầu vào

6.1 Liên kết ngược

Liên kết ngược dùng để đo mức độ quan trọng tương đối của một ngành với tư

cách là bên sử dụng các sản phẩm vật chất và dịch vụ làm đầu vào từ toàn bộ hệ thống

sản xuất Liên kết ngược được xác định bằng tỷ lệ của tổng các phần tử theo cột của

ma trận Leontief so với mức trung bình của toàn bộ hệ thống sản xuất Tỷ lệ này được

gọi là hệ số lan toả (Index of the power of dispersion) và được xác định như sau:

17

Trang 18

= =

= n

i n

j ij

Trong đó: rij – Các phần tử của ma trận Leontief

Tỷ lệ này càng cao có nghĩa liên kết ngược của ngành đó càng lớn và khi ngành

đó phát triển sẽ kéo theo sự tăng trưởng của toàn bộ hệ thống Các nhà làm chính sách

có thể dựa vào chỉ số này như một tham khảo quan trọng trong việc ra quyết định

6.2 Liên kết xuôi

Liên kết xuôi hàm ý mức độ quan trọng của một ngành như là nguồn cung sản

phẩm vật chất và dịch vụ cho toàn bộ hệ thống sản xuất, liên kết này được xem như độ

nhạy của nền kinh tế, được đo lường bằng tổng các phần tử theo hàng của ma trận

nghịch đảo Leontief so với mức trung bình của toàn bộ hệ thống

Xét về độ nhạy và chỉ số lan tỏa có thể thấy mức độ thay đổi rõ rệt ở hầu hết các

ngành (trong 22 ngành), đặc biệt là nhóm ngành nông nghiệp, suốt từ năm 1986 (dựa vào

các bảng cân đối liên ngành 1989, 1996 và 2000) đến giai đoạn 2005 chỉ số lan tỏa của

nhóm ngành nông nghiệp luôn nhỏ hơn 1, chỉ có độ nhạy là luôn lớn hơn 1; đến giai đoạn

từ 2007 trở đi cả độ nhạy và độ lan tỏa của nhóm ngành nông nghiệp đều lớn hơn 1; tương

tự là ngành thủy sản Đáng kể nhất là ngành chế biến sản phẩm nông nghiệp có độ nhạy

và độ lan tỏa mạnh nhất trong nền kinh tế Như vậy có thể thấy nhóm ngành nông nghiệp

và công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp có sự ảnh hưởng kích thích rất mạnh đến

nền kinh tế trong giai đoan hiện nay, như vậy, có thể thấy chính sách về tam nông đã phát

huy hiệu quả tích cực đối với nền kinh tế; nhưng xét về cơ cấu của những nhóm ngành

này trong giai đoạn hiện nay có xu hướng giảm xuống Chẳng hạn cơ cấu của nhóm

ngành nông nghiệp từ 13,35% năm 2000 giảm xuống còn 8,27% trong năm 2007; cơ cấu

nhóm ngành chế biến lương thực, thực phẩm từ 12% xuống 10% …

Bảng 6 Liên kết ngược và liên kết xuôi trong nền kinh tế Việt Nam

năm 2007 và 2000

2007 2000 STT Sản phẩm

Trang 19

11 Các sản phẩm khoáng sản phi kim loại 1,11 1,05 1,21 1,18

12 Các kim loại cơ bản và các sản phẩm bằng kim loại giả 0,99 1,19 1,16 1,25

13 Máy móc, thiết bị, đồ dùng và các phụ kiện của chúng 1,01 1,05 0,99 0,81

15 Các sản phẩm công nghiệp chế biến-chế tạo khác 0,94 0,78 1,05 0,83

18 Thương mại bán buôn và thương mại bán lẻ 0,82 1,5 0,97 1,57

20 Tài chính, bảo hiểm, dịch vụ kinh doanh bất động sản 0,88 1,05 0,77 1,14

21 Quản lý nhà nước, quốc phòng và an ninh 0,89 0,65 0,8 0,71

7 Phân tích ảnh hưởng của nhu cầu cuối cùng

Có 2 loại bảng I/O: Bảng I/O cạnh tranh (competitive – import type) và bảng I/O

phi cạnh tranh (non-competitive – import type) Trong bảng I/O cạnh tranh, ma trận hệ

số chi phí trung gian trực tiếp bao gồm chi phí đầu vào là sản phẩm sản xuất trong

nước và sản phẩm nhập khẩu, như vậy việc phân tích mức độ lan toả và độ nhạy của

nền kinh tế sẽ bị lẫn phần nhập khẩu, một ngành nào đó có độ lan toả cao chưa chắc đã

là ngành gây nên ảnh hưởng tích cực đến sản xuất mà chỉ kích thích nhập khẩu Trong

bảng I-O phi cạnh tranh, ma trận hệ số chi phí trung gian trực tiếp không bao gồm chi

19

Trang 20

nước

Phương trình cơ bản của bảng I/O dạng cạnh tranh có dạng:

X= (I-Ad)-1 Yd

Trong đó:

X là véc tơ giá trị sản xuất

Ad là ma trận hệ số chi phí trong nước,

(I-Ad)-1 là ma trận nghịch đảo Leontief và Yd là ma trận nhu cầu cuối cùng sản

phẩm trong nước

Nhu cầu cuối cùng về hàng hoá và dịch vụ có tác động trở lại hay hiệu ứng nhân

tử tới nền kinh tế Trong chu kỳ đầu tiên, nhu cầu tăng lên về một sản phẩm của một

ngành nhất định đòi hỏi ngành đó cần phải sản xuất ra sản phẩm nhiều hơn Kéo theo

đó là sự gia tăng chi phí đầu vào để sản xuất sản phẩm Kết quả là, nhu cầu tăng lên

dẫn đến khối lượng sản xuất tăng theo và thu nhập của các ngành liên quan theo đó

cũng gia tăng

Phần này đánh giá toàn bộ những tác động trực tiếp và gián tiếp do những thay đổi

trong nhu cầu cuối cùng tới nền kinh tế Đặc biệt, nó xem xét tác động của các thành

phần cấu thành nhu cầu cuối cùng tới sản lượng sản xuất ra và giá trị tăng thêm thông

qua bảng IO quốc gia phi cạnh tranh gộp theo 22 ngành

Bảng 7 cho biết tác động của từng yếu tố cấu thành nhu cầu cuối cùng tới quy mô

sản xuất trong năm 2007 và 2000 Nếu như trong thời kỳ trước (năm 2000) giá trị sản

xuất chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi tích luỹ (1,61), thì trong giai đoạn này tiêu dùng

cuối cùng của hộ gia đình (1,80) thay thế vị trí đó, tiếp theo mới đến tích luỹ (1,69)

Lúc này, nhu cầu cuối cùng ảnh hưởng đến sản lượng sản xuất nhiều hơn so với trước

đây

Bảng 7: Ảnh hưởng của nhu cầu cuối cùng tới giá trị sản xuất

2007 2000

20

Trang 21

Phần 7 đã nêu lên mối quan hệ giữa nhu cầu cuối cùng và giá trị sản xuất, nhưng

đích đến cuối cùng của mọi hoạt động kinh tế là tạo ra thu nhập Phần 8 diễn tả mối

liên hệ giữa nhu cầu cuối cùng và thu nhập từ sản xuất, biểu diễn qua công thức sau:

V= v.(I-Ad)-1 Yd Trong đó: V là ma trận giá trị tăng thêm, v là ma trận hệ số giá trị tăng thêm

Bảng 8 minh họa tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước ảnh hưởng lớn nhất lên giá trị

tăng thêm Dĩ nhiên, phần trăm đóng góp của tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước vào

giá trị tăng thêm chỉ là 2,06%, bởi vậy trong thời kỳ này (thời điểm lập bảng IO năm

2007) tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước có ảnh hưởng tích cực nhất lên giá trị

tăng thêm

Bảng 8 Ảnh hưởng của nhu cầu cuối cùng tới giá trị tăng thêm

2007 2000 GVA bị ảnh

hưởng bởi

Phần trăm đóng góp vào GVA của:

GVA bị ảnh hưởng bởi

Phần trăm đóng góp vào GVA của:

Tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình 0,71 40,08 0,67 41,5

Tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước 0,83 2,06 0,73 4,9

21

Trang 22

22

Trang 23

I THE SUPPLY AND USE TABLES: THE CONVERSION TO OUTPUT TABLE IN VIETNAM

INPUT-In 2008, Vietnam conducted input-output survey for compiling input-output table The concepts and definitions applied to compile Vietnam input-output 2007 follow the recommendations by United Nation in the 1968 System of National Accounts (SNA) and

1993 SNA The 2007 input-output table bases on non-square make and use matrixes (138 commodities and 112 industries) A notable point is that 112 industries classification of S.U.T 2007 differs from 112 sectors of input-output table 2000 Therefore, the input- output table 2007 has dimension 138 x 138 of commodity by commodity

Before time, the Make and Use matrixes were presented in the 1968 System of National Accounts (SNA) as intermediate step for compiling input-output table The Vietnam General Statistics Office compiled the input-output tables based on this rule When 1993 System of National Accounts were established, the make and use matrixes moved to supply and use tables (S.U.T) and then input-output table seems to disappear Actually, almost Asia countries still regard the input-output analysis as important tool for economic analysis

In this paper we focus on presenting on S.U.T in Vietnam and the approach in order to convert S.U.T to input-output table in Vietnam, especially, in the case the make and use matrixes are non-square

1 The supply and use tables

Units for input-output survey: The establishment is defined as a business unit

engages in one business activity in - in a single location In the case of multi-activity business unit, the activities are broken down into establishment according to the engaged activities

When an establishment produces commodities which are not its principal products, these activities are classified either as secondary or as ancillary: (1) A secondary activity

is an activity carried out within a single establishment in addition to the principal activity; (2) An ancillary activity is a supporting activity, which is undertaken in order to create the conditions in which the activities of an establishment can be carried out

The value of products of ancillary activities is normally small as compared with that of the principal products, because, they are treated as an integral part of the activities - in which they are associated

23

Trang 24

activities (industries), and the columns show the goods and services (commodities) produced by the respective industries Reality most establishments also engage in secondary activities, so the make matrix reflects this situation as shown by the products of off-diagonal entries in addition to the principal products on the diagonal (in the case make matrix is square matrix) We call make matrix S - and we have:

S*I = XAI*S = XCWhere: I is identify vector, XA is vector domestic output by industry at basic price and XC is vector domestic output by commodity at basic price

Use matrix: This table shows intermediate input by column and intermediate

demand by row Follow the recommendation of SNA 1993, the goods of intermediate input (demand) are at purchase price, so that means row vectors of trade and transportation equal “zero" Call this matrix is U, we have:

U*I is intermediate demand vector and I*U is intermediate input vector (where I is identify vector)

Value added matrix: This matrix shows factors of value added by row and that of

industry by column The factors of value added include:

So: I’*U + I*V = S*I = XA

Final demand matrix: This matrix shows component of final demand by column

and commodity by row The component of final demand includes:

- Household consumption expenditure

- Government consumption expenditure

- Fixed capital formation

- Changes in inventories

- Export

24

Trang 25

U*I + Y*I = XCPWhere: XCP is vector of gross output by commodity at purchase price

2 The Input-output table

The I/O table originates from ideas in the book “Capitalism” written by Karl Marx, who found out direct link in technical law between production factors Latter, his these ideas were developed, by Wassily Leontief (Economic Nobel prize, 1973), through giving maths description of supply-demand relationship in a whole economy Leontief considered each production technology as a linear relation between products produced and goods and services as input This link is illustrated by a system of linear functions with coefficients decided by production technology Through this idea, in

1936 W Leontief already constructed first two I/O tables for 1919 and 1929 for USA;

in 1941 this work was published and called “the USA economy’s structure”

In Viet Nam some economic models use I/O table analysis to assess direct and indirect impacts by extraneous factors on production process, that is, changes due to extraneous elements come to final demand In Viet Nam for this kind of model the matrix (product by product) is more suitable

The I/O table in Viet Nam catches 3 types of prices: basic price, producer’s price, purchasers’ price The one at basic price is for input-output analysis The most important thing is:

- The I/O table at basic price provides the most homogeneous value by rows

25

Trang 26

3 Conversion of make and use matrixes to input-output table:

In order to convert the make and use matrixes to input-output table the first step is convert the use matrix at purchase price to basic value, because the make matrix is basic value

There are two the assumption in order to convert from make and use matrixes to input-output table; these are the commodity technology and the industry technology

3.1 The commodity technology assumption postulates that a commodity has the same input structure regardless of in which industry it is produced

We put:

S’ = C* ·XA (1)

·

U = B* XA (2) Where: S’ is transposed matrix of S; is diagonal matrix with elements on diagonal are elements of vector XA; C is coefficient matrix of make matrix (S’)

estimated by commodity technology assumption and B is coefficient matrix of use

matrix

·XA

26

Trang 27

XC = B* ·XA + Y (3) From (1) we can see:

C*XA = XC (4) So: XA = C-1*XC (5) Due to XA * I = XA and from (4) and (5) we have:

XC = B*C-1*XC + Y

And: XC = (I - B*C-1)-1*Y (6) And: XA = (I- C-1.B)-1*C-1*Y (7) B*C-1 is direct input coefficient matrix (AC = B*C-1) with dimension is commodity by commodity

C-1.B is direct input coefficient matrix (AI = C-1.B) with dimension is industry by industry

We can rewrite as follow:

x = (8)

3.2 The industry technology assumption on the other hand, assumes that

commodities produced by one industry are all produced with the same input structure

We put:

S = D* ·XC (9) Where: D is coefficient matrix of make matrix (S) calculated by industry technology assumption; is diagonal matrix with elements on diagonal are elements

of vector XC

·XC

Same approach with before part, we have:

Where: B*D is direct input coefficient matrix by commodity by commodity; D*B

is direct input coefficient matrix by industry by industry

In Vietnam, the commodity technology assumption was used for compiling output tables (1989, 1996, 2000) This assumption is better on economic meaning, but many countries dose not chose it for converting from supply and use tables to input-

input-27

Trang 28

putting “zero” replace negative number

In the case make and use matrixes are non-square: The number of row of the supply and use tables of Vietnam compiled in 2007 differ from number of columns These tables are difficulty for converting from make and use matrixes to the input- output table

In this case, the industry technology assumption can’t apply in order to calculate

I-O table, because, many sectors of the intermediate input matrix (commodity by commodity) have same input structure due to assume on industry technology

But we can’t use directly the approach transfer to input-output system due to make matrix is non-square, so we have to share the make matrix to 4 blocks with diagonal being square matrix and applying equation (6) as follow:

A*C = B (11) ((commodity by commodity) x (commodity by industry) = (commodity by industry))

The equation (6) can be written as follow:

x = (12)

Where: A11, A22, C1, C2, B11 and B22 are square matrixes; Due to the make matrix includes main products and by products so we have to select in order to only exist two block on diagonal of this matrix From (12) we have four equations:

28

Trang 29

2000 input-output table

1 Supply and demand situation

In 2007, total supply goods and services was about 3,934 billion VND, of which

73.82% was domestic production and the rest of 26.18% was import Domestic

production reduced 5.43% while import increased 5.43% compared with respective

On the demand side, the share of intermediate demand for goods and services in

total demand slightly increased from 42.99% in 2000 to 45.32% in 2007 On other

hand, the share of final demand to total demand decreased from 57.01% in 2000 to

54.68% in 2007 due to strongly decrease in consumption

2 Output Structure

Table 2 shows output structure from 138 sectors can be aggregated into 22 sectors

for 2000 and 2007 input-output tables

Total economy for Vietnam reached VND 2,904 billion in 2007 Table 2 shows a

comparison of the distribution structure of output in 2000 and 2007 The share of crops,

livestock & poultry & agriculture services decreased from 13.35% in 2000 to 8.27% in

2007; this structure like Malaysia in 1991 The share of metallic ores & non-metallic

minerals, food manufactures, beverage and tobacco manufactures, textiles, garments &

leather products sectors in 2007 decreased; the share of other manufacturing sectors in

29

Trang 30

share of transportation & communication, finance, insurance, real estate & business services sectors increased 1.51% and 0.2% respectively, while the share of public administration, defense & security, personal, community, social & other services sectors

in 2007 decreased 0.3% and 1.62%, respectively

Table 2 Output by sector, 2000 and 2007 (in Vietnam dong Billion, %)

2007 2000 Code Sector

Value Percent Value Percent

1 Crops, livestock & poultry & agricultural services 240 8.27 129 13.35

2 Round timber & other forest products 15 0.51 8 0.79

3 Fish & other marine products 84 2.88 26 2.70

4 Metallic ores & non-metallic minerals 137 4.71 59 6.16

6 Beverage and tobacco manufactures 55 1.91 21 2.22

7 Textiles, garments & leather products 181 6.24 77 8.02

8 Wood & paper products 60 2.05 22 2.29

9 Chemicals & chemical products; petroleum, coal &

10 Rubber & plastic products 67 2.31 13 1.34

11 Non-metallic mineral products 79 2.74 26 2.68

12 Basic metals & fabricated metal products 146 5.03 20 2.02

13 Machinery, equipment, appliances, parts & supplies 156 5.39 22 2.30

15 Other manufactured products 71 2.45 10 1.00

16 Electricity and water 79 2.73 19 2.02

18 Wholesale & retail trade 193 6.63 83 8.54

19 Transportation & communication 130 4.47 29 2.96

20 Finance, insurance, real estate & business services 130 4.48 41 4.28

21 Public administration, defence & security 58 2.01 22 2.30

22 Personal, community, social & other services, n.e.c 209 7.20 85 8.82

All sectors 2,904 100.00 966 100.00

30

Trang 31

The input structure includes intermediate input and primary input (or value added)

Both components give the ratios of input used to produce output by each sector In

national income accounting, primary input would refer to gross value added (GVA)

Table 3 shows a comparison of the input structure of the 22 sectors in 2000 and

2007 In general, production cost in terms of usage of intermediate input hardly

changed in year 2007 compared with 2000 In 2000, the amount that industries used

for intermediate input was on the average of 0.55 thousand VND for 1 thousand VND

of output, in 2007 it increased to an average of 0.62 thousand VND for 1 thousand

VND of output These ratios increased at almost sectors in economic activities; of

course these ratios slightly decreased at some sectors as textiles, garment & leather

products; rubber & plastic products; non-metallic mineral products; machinery

equipment, appliances, parts & supplies; other manufactured products, construction;

trade and public administration, defend & security sectors

The ratios of intermediate input per output in 2007 were higher than that in 2000, it

can be due to the technology of production changed or also due to less effective more

than before period or due to both of them In 2008, the intermediate input ratios of

sectors can be higher than more in 2007 due to some sectors that was sole on production

and selling their products decided increasing of their price This problems means

primary input will be decreased and leading to decrease of household consumption

Table 3 Intermediate and primary inputs ratios of sectors, 2007 and 2000

Unit: %

2007 2000 Code Sector

Intermediate Primary Intermediate Primary

1 Crops, livestock & poultry & agricultural

2 Round timber & other forest products 0.52 0.48 0.23 0.77

3 Fish & other marine products 0.74 0.26 0.43 0.57

4 Metallic ores & non-metallic minerals 0.35 0.65 0.28 0.72

6 Beverage and tobacco manufactures 0.79 0.21 0.55 0.45

7 Textiles, garments & leather products 0.79 0.21 0.82 0.18

8 Wood & paper products 0.74 0.26 0.73 0.27

9 Chemicals & chemical products;

petroleum, coal & coke products 0.83 0.17 0.66 0.34

31

Trang 32

10 Rubber & plastic products 0.55 0.45 0.68 0.32

11 Non-metallic mineral products 0.68 0.32 0.71 0.29

12 Basic metals & fabricated metal

13 Machinery, equipment, appliances, parts

18 Wholesale & retail trade 0.32 0.68 0.46 0.54

19 Transportation & communication 0.56 0.44 0.40 0.60

20 Finance, insurance, real estate &

Total demand is categorized into intermediate or industry demand and final

demand Intermediate demand refers to demand for goods and services required by

industries in the process of production Final demand relates to personal consumption

expenditures, government consumption expenditure, investment and exports

Table 4 shows the demand patterns expressed as ratios to total demand On the

aggregate, ratio of intermediate demand for goods and services in 2007 accounts for

68%, slightly lower in 2000 of 69% While, Its residual of 32% represents final

demand share in 2007 as against 31% in 2000 As can be gleaned from Table 4, there

exist differentials in demand patterns by sector between in 2007 and 2000 of national

economic

32

Trang 33

2007 2000 Code Sector

Intermediate Final

demand Intermediate

Final demand

1 Crops, livestock & poultry & agricultural

services 0.62 0.38 0.55 0.45

2 Round timber & other forest products 0.55 0.45 0.77 0.23

3 Fish & other marine products 0.46 0.54 0.42 0.58

4 Metallic ores & non-metallic minerals 0.25 0.75 0.13 0.87

5 Food manufactures 0.51 0.49 0.18 0.82

6 Beverage and tobacco manufactures 0.11 0.89 0.13 0.87

7 Textiles, garments & leather products - 0.23 1.23 0.28 0.72

8 Wood & paper products 0.84 0.16 0.59 0.41

9 Chemicals & chemical products;

petroleum, coal & coke products 0.59 0.41 0.71 0.29

10 Rubber & plastic products 0.22 0.78 0.88 0.12

11 Non-metallic mineral products 0.99 0.01 0.95 0.05

12 Basic metals & fabricated metal products 0.60 0.40 0.82 0.18

13 Machinery, equipment, appliances, parts &

supplies 0.40 0.60 0.22 0.78

14 Transport equipment 0.05 0.95 0.54 0.46

15 Other manufactured products 0.25 0.75 0.36 0.64

16 Electricity and water 0.66 0.34 0.74 0.26

17 Construction 0.08 0.92 - 0.00 1.00

18 Wholesale & retail trade 0.60 0.40 0.47 0.53

19 Transportation & communication 0.53 0.47 0.38 0.62

20 Finance, insurance, real estate & business

Trang 34

Table 5 shows the composition of domestic final demand by type of final demand

Households demand for domestic goods and services in 2007 accounted for 31.09% of

total final demand - much lower than the national average of 42.59% in 2000 On the

other hand, investment and exports recorded higher shares relative to period 2000 The

high ratio for exports in 2007 is due to encouraged export policy in this period

Table 5 Composition of Domestic Final Demand: 20007 and 2000

(in VND Billion,%)

2007 2000 Sector

Value Percent Value Percent Private consumption expenditure 564 31.09 296 42.59

Government consumption expenditure 66 3.64 26 3.74

6 Backward and Forward Linkage

Economic fluctuations vary by the way different industries are related to each

other Some industries depend heavily on many other industries while some rely on a

few others Changes therefore in some industries will effect greater reactions than

changes in others

With the availability of the inverse matrix of input coefficients, input-output

analysis could be extended to measure the indirect effects, both backward and forward,

of the production sectors Backward and forward linkages of an industry are mean to

measure the inter-sectoral linkages of a particular industry to other industries as user of

inputs and as provider of inputs to other industries

6.1 Backward Linkage

Backward linkage is used to measure the relative importance of an industry in the

form of a user of goods and services as input from the whole production system This

ratio is called an index of the power of dispersion and defined below:

j ij

n

i ij

j

r n

Trang 35

the entire system

6.2 Forward Linkages

Forward linkage indicates the relative importance of a sector as a supplier of raw materials to the entire production system It is measured by the index of sensitivity, expressed as a ratio of the sum of the elements along any ith row of the inverse matrix

to the average of the entire system Note that, usually these index calculated base on the input-output table at non-competitive – import type

Table 6 present backward linkage and forward linkage of Vietnam economic in

2007 and 2000, these indices shows strongly input structure changed of Vietnam economic in 20007 compared with 2000, especially sectors with indices of the power and sensitive of dispersion more than unity are crop, livestock & poultry $ agricultures; food manufactures; wood and paper products; Non-metallic mineral products; Machinery, equipment, appliances, parts & supplies, while sectors with indices of the power and sensitive of dispersion in 2000 smaller than unity Index of dispersion of food manufactures sector is biggest and their level is stronger than before

time

Table 6 Backward linkage and forward linkage

of Vietnam economic: 2007 and 2000

2007 2000 Code Sector

1 Crops, livestock & poultry & agricultural services 1.10 1.60 0.92 1.38

2 Round timber & other forest products 0.94 0.91 0.83 0.99

3 Fish & other marine products 1.36 0.87 0.93 0.83

4 Metallic ores & non-metallic minerals 0.78 0.98 0.86 0.88

5 Food manufactures 1.64 1.64 1.46 0.93

6 Beverage and tobacco manufactures 1.27 0.68 1.15 0.78

7 Textiles, garments & leather products 0.63 0.48 1.22 1.01

8 Wood & paper products 1.12 1.26 1.19 1.04

9 Chemicals & chemical products; petroleum, coal

& coke products 0.97 1.05 0.76 0.96

10 Rubber & plastic products 0.79 0.74 1.08 1.11

11 Non-metallic mineral products 1.11 1.05 1.21 1.18

12 Basic metals & fabricated metal products 0.99 1.19 1.16 1.25

35

Trang 36

13 Machinery, equipment, appliances, parts &

14 Transport equipment 0.97 0.66 1.11 1.10

15 Other manufactured products 0.94 0.78 1.05 0.83

16 Electricity and water 0.89 1.10 0.82 1.08

18 Wholesale & retail trade 0.82 1.50 0.97 1.57

19 Transportation & communication 0.90 1.17 0.75 0.90

20 Finance, insurance, real estate & business

7 Impact analysis of final demand

An important feature of I-O analysis is that it provides the link between final demand and production Given a bill of final demand, I-O analysis makes it possible to

determine the output requirements needed to meet that final demand through the equation:

X = (I –Ad )-1 Yd

Where: X is the vector of output, Ad is coefficient matrix of domestic input, (I –Ad)-1

is the inverse matrix and Yd is the matrix of domestic final demand

Final demand for goods and services has repercussive or multiplier effects on the economy In the first round, an increase in demand for a product of a particular sector will require additional output requirement for that sector Subsequently, the first-order increases in output would require further inputs to generate them The increased demand therefore translates to an increase in output, which in turn result to increases

in income of the sectors involved and so on

This section assesses the total (direct and indirect) effects of changes in final demand on the economy In particular, it examines the impact of the final demand

components on production and value added using the collapsed 22-sector National

I-O table of the non-competitive type

Table 7 present the effects of each component of final demand to production in

2007 and 2000 If Vietnam economic in before period (2000), the production was

36

Trang 37

Household consumption expenditure 1.80 1.49

Government consumption expenditure 1.44 1.13

8 Primary input induced by component of final demand

Part 7 presented the linkage between final demand and production, but the final

result of any economic activity to be created income Part 8 present the linkage

between final demand and production income and this relation presented as follow:

V = v.(I-Ad)-1.YdWhere: V is matrix of value added, v is coefficient matrix of value added

Table 8 shows Government consumption expenditure propagated to gross value

added (GVA) being biggest, Of course, percent of Government consumption

expenditure induced to GVA is only 2,06%; So in this period (The period presented

by the input-output table 2007) Government expenditure will be best induced to gross

Percent allocated to GVA induced by:

GVA induced by:

Percent allocated to GVA induced by:

Household consumption expenditure 0.71 40.08 0.67 41.5

Government consumption expenditure 0.83 2.06 0.73 4.9

Trang 38

12 Dịch vụ nông nghiệp và các sản phẩm nông

nghiệp khác chưa được phân vào đâu 1.614.790 212.957 979.600 39.590 160.219 17.222 400.376 5.576 167.351 58.976

Trang 39

ăn, thức ăn chế biến sẵn; gia vị, nước

Trang 40

42 Da, lông thú đã thuộc, sơ chế; vali, túi xách,

49 Các sản phẩm khác chiết xuất từ dầu mỏ,

53 Sản phẩm hóa chất khác; sợi nhân tạo 2.093.462 138.418 636.720 100.708 407.560 43.808 1.018.464 1.161 34.833 12.275

59 Sản phẩm từ khoáng phi kim loại chưa

Ngày đăng: 19/01/2021, 07:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Trinh, 2001, Mô hình Cân đối liên ngành và ứng dụng của nó trong phân tích và dự báo kinh tế và môi trường, Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh Khác
2. Sổ tay Biên soạn và phân tích bảng Cân đối liên ngành / Vụ các vấn đề kinh tế và xã hội, phòng thống kê, đợt F, số 4, New York, Liên hợp quốc, 1999 Khác
3. Ấn phẩm Hệ thống tài khoản quốc gia 1968, Liên hợp quốc Khác
4. Ấn phẩm Hệ thống tài khoản quốc gia 1993, Liên hợp quốc. Reference Khác
1. Bui Trinh, 2001, I/O model and application in economic and enriromental analysis and forecast, Hochiminh City Publishing house Khác
2. Handbook on Compiling and analysis of Input-Output table, Department of Economic and Social Affairs, Statistics Division, Series F, No. 4, United Nation, New York, 1999 Khác
3. The System of National Accounts, 1968, UN 4. The System of National Accounts, 1993, UN Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm