1. Trang chủ
  2. » Địa lí lớp 10

Ảnh hưởng của chế độ cho ăn đến hoạt động enzym tiêu hóa ở ấu trùng cá giò (Rachycentron canadum Linnaeus, 1766)

7 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ số trưởng thành (chỉ số phát triển đầy đủ) của ruột ấu trùng cá (gut maturation index), là tỉ lệ giữa hoạt tính cá thể (individual activity) của enzym màng thành ruột bbm AP hoặc b[r]

Trang 1

ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ CHO ĂN ĐẾN HOẠT ĐỘNG ENZYM

TIÊU HĨA Ở ẤU TRÙNG CÁ GIỊ (Rachycentron canadum Linnaeus, 1766)

EFECTS OF FEEDING REGIME ON ACTIVITY OF INTESTINAL DIGESTIVE ENZYMES IN COBIA (Rachycentron canadum Linnaeus, 1766) LARVAE

Nguyễn Quang Huy 1 , Elin Kjørsvik 2

Ngày nhận bài: 30/7/2017; Ngày phản biện thơng qua: 11/8/2017; Ngày duyệt đăng: 25/9/2017

TĨM TẮT

Enzym từ ruột ấu trùng cá giị gồm alkaline phosphatase (AP), leucine aminopeptidase (LAP) và leucine-alanine peptidase (leu-ala) xuất hiện ngay từ khi ấu trùng ăn thức ăn ngồi (2 ngày tuổi) và hoạt tính của chúng tăng mạnh cùng với sự tăng trưởng của cá Hoạt tính chuyên biệt (specifi c activity) của enzym màng thành ruột (bbm) AP tăng từ ngày 23 đến 26 ngày tuổi ở cá sử dụng hồn tồn thức ăn sống (LF) (P < 0,05)

và tăng từ 26 đến 30 ngày tuổi (P < 0,05) ở cá sử dụng thức ăn cơng nghiệp (L-MD) từ 17 ngày tuổi Sự thay đổi về hoạt tính chuyên biệt của enzym bbm LAP cĩ xu hướng tăng tương tự như bbm AP nhưng khơng sai khác trong cùng một nghiệm thức (P> 0,05) Chỉ số trưởng thành (chỉ số phát triển đầy đủ) của ruột ấu trùng cá (gut maturation index), là tỉ lệ giữa hoạt tính cá thể (individual activity) của enzym màng thành ruột bbm AP hoặc bbm LAP với enzym nội bào leu-ala, tăng lên cùng với gia tăng hoạt tính của enzym bbm AP ở mỗi nghiệm thức Kết quả thí nghiệm này cho thấy ruột ấu trùng cá giị trưởng thành ở 26 ngày tuổi tại nghiệm thức LF

và muộn hơn ở 30 ngày tuổi tại nghiệm thức L-MD Ấu trùng cá sử dụng thức ăn cơng nghiệp từ 17 ngày tuổi giảm chỉ số trưởng thành của ruột và tỉ lệ sống của cá ở nghiệm thức L-MD so với cá ở nghiệm thức LF

Từ khĩa: Cá giị, Rachycentron canadum, alkaline phosphatase, leucine aminopeptidase, leucine-alanine peptidase

ABSTRACT

Intestinal enzymes of cobia larvae including alkaline phosphatase (AP), leucine aminopeptidase (LAP) and leucine-alanine peptidase (leu-ala) were detected at fi rst feeding and increased exponentially with larval growth Specifi c activity of brush border memberane (bbm) AP increased from 23 to 26 days post hatch (dph)

in larvae fed exclusively live feed (LF) (P < 0.05), and increased from 26 to 30 dph (P < 0.05) in larve co-fed with micro diet (L-MD) from 17 dph The specifi c activity of bbm LAP had the same trend as for bbm but no signifi cance was detected within each treatment (P> 0.05) Gut maturation index, defi ned as ratio of individual activity of bmm AP or bbm LAP and cytosolic enzyme leu-la, increased as incensement in activity of bbm AP in each treatment This study showed that maturation of larval intestine occurred on 26 dph in the LF, and later

on 30 dph in the L-MD treatment Weaning cobia larvae from 17 dph delayed gut maturation and associated with a lower survival compared to those fed live feed

Keywords: Cobia, Rachycentron canadum, Alkaline phosphatase, Leucine aminopeptidase, Leucine-alanine peptidase

1 Viện Nghiên cứu nuơi trồng Thủy sản 1, Email : nguyen.huy@ria1.org

2 Trường Đại học Khoa học và Cơng nghệ Nauy

THÔNG BÁO KHOA HỌC

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Cá giò Rachycentron canadum là loài cá

rất thích hợp cho phát triển nuôi biển, do chúng

có tốc độ tăng trưởng nhanh, giá trị thương

phẩm cao [1], [7], [9].Tuy nhiên, sản xuất giống

cá giò ổn định về chất lượng và sản lượng để

phục vụ nuôi thương phẩm vẫn còn là vấn đề

Trong hệ thống sản xuất giống thâm canh, Holt

và cs (2007) cho rằng có thể nâng cao tỉ lệ

sống và tăng trưởng của ấu trùng cá giò nếu có

thể luyện chúng sử dụng thức ăn công nghiệp

sớm để thay thế Artemia Dạ dày của ấu trùng

cá giò đã bắt đầu hình thành và hoạt động

chức năng trong khoảng 12 đến 20 ngày tuổi

Hoạt tính của enzym tiêu hóa tuyến tụy cũng

tăng trong thời gian này, gợi ý rằng ấu trùng

cá có thể sử dụng thức ăn công nghiệp ở thời

điểm này [5] Tuy nhiên, khả năng tiêu hóa của

ấu trùng cá giò không chỉ phụ thuộc vào phát

triển của dạ dày mà còn phụ thuộc vào quá

trình trưởng thành của tế bào ruột enterocytes

(intestinal cells) Quá trình trưởng thành của tế

bào ruột được xác định khi ấu trùng cá chuyển

từ hình thức tiêu hóa của ấu trùng sang hình

thức tiêu hóa của cá trưởng thành [11] Ở ấu

trùng cá, quá trình phát triển đầy đủ của ruột cá

dường như xảy ra trong khoảng thời gian ngắn,

đặc trưng bởi gia tăng đột ngột về hoạt tính

chuyên biệt (specifi c activity) của enzym màng

tế bào ruột (brush boder membrane, bbm) như

enzym alkaline phosphatase (AP) và leucine

aminopeptidase (LAP), trùng với quá trình

giảm hoạt tính liên tục theo thời gian của các

enzym nội bào ở tế bào ruột là leucine-alanine

peptidase (leu-ala) Quá trình trưởng thành này

chịu ảnh hưởng bởi thành phần dinh dưỡng

trong thức ăn của ấu trùng cá [11] Từ trước

đến nay chưa có nghiên cứu nào về phát triển

enzym ở ruột ấu trùng cá giò Hiểu biết tốt hơn

về sinh lý tiêu hóa của ấu trùng cá giò là yếu tố

quan trọng để hiểu nhu cầu dinh dưỡng và khả năng tiêu hóa của cá khi sử dụng thức ăn tổng hợp Trong nghiên cứu này chúng tôi tìm hiểu

sự phát triển ba enzyme trong ruột ấu trùng cá giò là AP, LAP and leu-ala, đồng thời đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng thức ăn tổng hợp sớm từ 17 ngày tuổi (dph) đến quá trình trưởng thành ruột ấu trùng cá giò

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trên ấu trùng

cá giò (Rachycentron canadum), giai đoạn

từ 0 đến 33 ngày tuổi Thí nghiệm được thực hiện tại Phân viện Nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản Bắc Trung bộ, thị xã Cửa Lò, Nghệ An Phân tích enzym được tiến hành tại phòng thí nghiệm của Đại học Khoa học và Công nghệ Nauy, Trondheim, Nauy Thời gian tiến hành thí nghiệm từ 4/2008-12/2009

2 Bố trí thí nghiệm

Ấu trùng cá giò được ấp nở từ trứng thụ tinh của cùng 1 cá giò mẹ bằng phương pháp cho đẻ tự nhiên trong bể (72 m3) Ấu trùng cá giò được ương nuôi trong hai bể composite

500 L đáy chóp Mật độ nuôi ban đầu là 45 ấu trùng/L Trong bể thứ nhất (nghiệm thức LF),

ấu trùng được cho ăn rotifer làm giàu từ khi mới mới miệng (2 ngày tuổi) đến ngày thứ 12 (3 - 8 rotifer/mL, 2 lần/ngày), và nauplius artemia

Vĩnh Châu Artemia franciscana (AF) từ 7 - 8

ngày tuổi (dph), sau đó là nauplii artemia Great

Salt Lake (EG) A franciscana (INVE Thailand

Ltd., Thái Lan) cho đến khi kết thúc thí nghiệm vào 33 ngày tuổi (mật độ cho ăn 1 - 3 con/mL,

1 - 4 lần/ngày) Ở bể thứ 2 (nghiệm thức L-MD),

ấu trùng được nuôi với chế độ cho ăn tương

tự như bể thứ nhất đến 17 dph Từ thời điểm này chúng được cho ăn kết hợp với thức ăn

Trang 3

tổng hợp Otohime microdiet (Marubeni Nisshin

Feed Co Ltd, Indonesia) cỡ từ 200 - 900 µm

trong 10 ngày, sau đó chỉ cho ăn thức ăn tổng

hợp đến 33 dph Trong quá trình ương, vi tảo

biển Nanochloropsis oculata được cho vào

trong cả hai bể từ ngày 1-15 dph với mật độ

12-15x104 tế bào/mL Nhiệt độ nước giai động

trong khoảng 26 - 300C, độ mặn 28 - 33‰,

oxy hòa tan 5,4 ± 0,3 mg/L, pH trong khoảng

7,6 - 8,0 Ammonia-nitrogen tổng số thấp hơn

0,1mg/L Chế độ thay nước trong bể ương

tăng từ 5%/ngày ở 1 dph tăng dần đến 150%/

ngày tại 20 dph và trên 200%/ngày đến khi kết

thúc thí nghiệm

3 Thu và phân tích mẫu

Mẫu ấu trùng cá dùng phân tích enzym

tiêu hóa được thu vào buổi sáng, trước khi cho

cá ăn, vào các thời điểm 2, 4, 7, 13, 17, 23,

26, 30 và 33 dph cho ấu trùng ở nghiệm thức

LF để nghiên cứu phát triển enzym tiêu hóa ở

ruột cá, và từ ngày 23 - 33dph ở nghiệm thức

L-MD Ba mẫu ấu trùng/cá con được thu trong

mỗi bể Số lượng ấu trùng/cá con cho mỗi mẫu

dao động từ 5-20 con, giảm dần theo ngày tuổi

Sau khi thu, ấu trùng được cho ngay vào ni tơ

lỏng, sau đó bảo quản trong tủ đông ở nhiệt

độ -800C trước khi phân tích Ấu trùng được

rã đông trên đá lạnh và giải phẫu để lấy phần

ruột dưới kính hiển vi Ở ấu trùng từ 2 - 4 dph,

phần ruột bao gồm cả phần cơ lưng được lấy

Đối với ấu trùng lớn hơn 4 dpd, chỉ phần ruột

được giải phẫu tách ra để phân tích enzym

Các enzym từ tế bào màng thành ruột (brush

border memberane, bbm) chỉ được phân tích

từ ngày 23 dph, khi ruột đã có thể hình thành

các tế bào màng ruột Phân tích các enzym AP,

LAP, leu-ala, bbm AP, bbm LAP được thực hiện

theo các phương pháp phân tích của Cahu và

Zambonino Infante (1994)

Hoạt tính của enzym được trình bày ở

hai hình thức: hoạt tính chuyên biệt (specifi c

activity) là mU/mg protein, hoặc hoạt tính cá thể

(individual activity) là U/larva Chỉ số trưởng thành của ruột (gut maturation index) được xác định là tỉ lệ giữa hoạt tính cá thể của enzym tế bào màng thành ruột: bbm AP hoặc bbm LAP với enzym nội bào leu-ala [4]

Mẫu đo tăng trưởng ấu trùng cá cũng được thu vào các ngày lấy mẫu phân tích enzym Thu 30 con/bể, riêng tại thời điểm kết thúc thí nghiệm (33 dph) thu 120 con/bể Chiều dài tiêu chuẩn (Standard length, SL) được sử dụng Tỉ

lệ sống của cá được xác định tại thời điểm 10

và 20 dph (bằng cách lấy mẫu) và khi thúc thí nghiệm (đếm số con còn lại) Tỉ lệ sống (%)

= 100 x (số cá còn lại + số cá lấy mẫu)/số cá ban đầu

4 Xử lý số liệu

Phân tích ANOVA một nhân tố và kiểm định Student-Newman-Keuls (SNK) được sử dụng để đánh giá sự sai khác mức độ hoạt động enzym giữa các lần thu mẫu trong cùng một nghiệm thức Student’s t-test được sử dụng để đánh giá sự khác biệt về tăng trưởng, hoạt tính của enzym giữa hai nghiệm thức dựa vào các lần lặp mẫu thu từ các nghiệm thức Số liệu được thể hiện là giá trị trung bình ± SE Số liệu sai khác có ý nghĩa khi

P < 0,05 Phần mềm SPSS 16.0 được sử

dụng để xử lý thông kê và SigmaPlot 10.0 được sử dụng để vẽ đồ thị

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

1 Tăng trưởng và tỉ lệ sống

Hầu hết ấu trùng ở nghiệm thức cho ăn kết hợp (L-MD) có thể ăn thức ăn viên vào ngày 26dph (18,6 ± 0,7mm) trước khi giai đoạn cho ăn kết hợp dừng lại vào 28dph Ấu trùng tăng trưởng từ cỡ 3,1 ± 0,02mm tại thời điểm

nở đến cỡ 20,6 ± 0,6mm ở nghiệm thức cho

ăn hoàn toàn thức ăn sống (LF) và cỡ 21,3 ± 0,6mm ở nghiệm thức L-MD tại thời điểm kết thúc nghiệm 33dph (Hình 1)

Trang 4

Hình 1 Tăng trưởng chiều dài tiêu chuẩn (SL)

của ấu trùng cá giò sử dụng hoàn toàn thức ăn sống

(LF) và ấu trùng cá giò sử dụng thức ăn tổng hợp

từ 17 dph (L-MD)

Chiều dài của ấu trùng cá ở nghiệm thức

LF cao hơn cá ở nghiệm thức L-MD từ ngày 13

đến 17 dph, trong khi đó xu hướng ngược lại

được thấy từ 26 dph trở đi nhưng sự khác biệt

này không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05) Tỉ

lệ sống của ấu trùng cá tại thời điểm 10 và 20

ngày tuổi không có sự khác biệt giữa hai nghiệm

thức (P> 0,05) nhưng tại thời điểm kết thúc thí

nghiệm tỉ lệ sống của cá ở nghiệm thức LF

là 19,8%, cao hơn gấp 2 lần cá ở nghiệm thức L-MD (9,6%) Ấu trùng cá giò sử dụng thức ăn công nghiệp sớm (từ 16 ngày tuổi) làm giảm tỉ lệ sống khoảng 40% so với cá

sử dụng hoàn toàn thức ăn sống cũng được thông báo bởi Faulk và cs (2007) Kết quả tương tự cũng thấy ở cá vược châu Âu

(Dicentrachus labrax) khi luyện thức ăn công

nghiệp giai đoạn sớm [2]

2 Phát triển enzym tiêu hóa và ảnh hưởng của chế độ ăn tới sự trưởng thành của ruột

ấu trùng cá giò

Tất cả enzym tiêu hóa của ruột ấu trùng

cá xuất hiện từ 2 dph, khi cá chuẩn bị sử dụng thức ăn ngoài Hoạt tính của các enzym AP, LAP và leu-ala tăng theo tăng trưởng về chiều dài của cá (Hình 2a, 2b, 2c) Phát hiện này cũng tương tự kết quả nghiên cứu của Faulk (2007) khi nghiên cứu enzym tiêu hóa ở tuyến tụy (pancreas) ở ấu trùng cá giò Hoạt tính chuyên biệt của enzym nội bào leu-ala tăng liên tục từ 2 dph đến 7 dph, sau đó giảm dần theo tuổi cá ở nghiệm thức LF (Hình 2d)

Hình 2 Hoạt tính của enzym alkaline phosphase (AP) (a), leucine aminopeptidase (LAP)

(b), leucine-alanine peptidase (leu-ala) (c) và hoạt tính của enzym leu-ala (d) của ấu trùng ở nghiệm thức LF và L-MD

Các chữ khác nhau trên cùng một đường đồ thị thể hiện giá trị khác nhau có ý nghĩa (P< 0,05) Các biểu tượng khác nhau (* và ¤) thể hiện sự khác giữ các số liệu nhau trong cùng ngày lấy mẫu giữa hai nghiệm thức

Trang 5

Hoạt tính của enzym AP và LAP ở ấu trùng

thuộc nghiệm thức L-MD cao hơn ở ấu trùng

nghiệm thức LF từ ngày 30 dph trở đi, trong khi

đó hoạt tính của enzym leu-ala ở nghiệm thức

L-MD cao hơn LF thể hiện từ 26 dph (Hình 2)

Hoạt tính của enzym tế bào màng thành

ruột bbm AP tăng mạnh (gấp 2 lần) từ 23 dph

đến 26 dph ở nghiệm thức LF (P < 0,05), sau

đó hoạt độ của enzym này duy trì đến 30 dph

trước khi giảm xuống ở 33 dph (Hình 3a) Ở nghiệm thức L-MD, gia tăng hoạt tính của bbm

AP muộn hơn (tăng khoảng 2,5 lần; P < 0,05)

từ 26 dph đến 30 dph, sau đó hoạt tính của enzym này có xu hướng giảm xuống ở 33 dph (Hình 3a) Hoạt tính chuyên biệt của bbm AP ở nghiệm thức LF cao hơn ở nghiệm thức L-MD vào ngày 26 dph nhưng thấp hơn vào ngày 33

dph (P < 0,05)

Hình 3 Hoạt tính của enzym màng tế bào thành ruột alkaline phosphase (bbm AP) (a) và leucine aminopeptidase

(bmm LAP) (b) của ấu trùng ở nghiệm thức LF và L-MD

Các chữ khác nhau trên cùng một đường đồ thị thể hiện giá trị khác nhau có ý nghĩa (P< 0,05) Các biểu tượng khác

nhau (* và ¤) thể hiện các giá trị khác nhau trong cùng ngày lấy mẫu giữa hai nghiệm thức

Sự thay đổi hoạt độ của enzym bbm LAP

tương tự như bbm AP ở cả hai nghiệm thức (Hình

3b) Tuy nhiên không có sự sai khác hoạt độ

của enzym này từ 23-33 dph ở trong cùng một nghiệm thức và giữa hai nghiệm thức

(P > 0,05).

Hình 4 Tỉ lệ hoạt độ của bbm alkaline phosphate (AP) (a) và bbm leucine aminopeptidase (LAP) (b) ở màng tế bào thành ruột (bbm) với hoạt độ của enzym nội bào leucine-alanine peptidase (leu-ala) ở nghiệm thức sử dụng

thức ăn sống (LF) hoặc cho ăn kết hợp với thức ăn viên tổng hợp (L-MD)

Số liệu là giá trị TB ± SE (n = 3) Số liệu trong cùng một ngày tuổi (dph) với kí hiệu chữ (a, b) khác nhau, và các giá trị của cùng một nghiệm thức với các biểu tượng khác nhau (¤, *) là sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Trang 6

Ở nghiệm thức LF, tỉ lệ AP/leu-ala tăng

khoảng 2 lần từ 23 dph đến 26 dph và sau

đó giảm dần, mặc dù không có sự khác biệt

giữa các ngày lấy mẫu (Hình 4a; P > 0,05) Ở

nghiệm thức L-MD, tỉ lệ AP/leu-ala tăng 3 lần từ

26 dph đến 30 dph (P < 0,05) Tỉ lệ AP/leu-ala

ở nghiệm thức LF cao hơn ở nghiệm thức

L-MD ở 23 dph và 26 dph, nhưng thấp hơn ở

30 dph và 33 dph (p < 0,05) Sự thay đổi về tỉ

lệ LAP/leu-ala tương tự như AP/leu-ala nhưng

không sai khác có ý nghĩa thống kê trong cùng

một nghiệm thức (Hình 4b; P > 0,05) Tuy

nhiên, tỉ lệ LAP/leu-ala ở nghiệm thức LF cao

hơn L-DM ở 26 dph (P < 0,05) Kết quả này

nghiên cứu này cũng cho thấy sử dụng enzym

AP là chỉ dấu đánh giá quá trình trưởng thành

của ruột ấu trùng cá giò tốt hơn enzym LAP

Quá trình trưởng thành điển hình của ruột

ấu trùng cá đặc trưng bởi sự giảm dần hoạt

độ enzym nội bào leu-ala của tế bào ruột đồng

thời với sự gia tăng hoạt độ enzym của màng

thành ruột (bbm AP, LAP) đã được báo cáo

ở một số loài cá biển (Zambonino-Infante và

Cahu, 2001; Zouiten và cs, 2008) Trong thí

nghiệm này, sự gia tăng hoạt độ của enzym

bbm AP giữa 23-26 dph ở nghiệm thức LF và

giữa 26-30 dph ở nghiệm thức L-MD chỉ ra

rằng thời điểm ruột phát triển đầy đủ ấu cá giò

ở nghiệm thức LF là 26 dph và L-MD là 30 dph,

cũng trùng với thời điểm enzym leu-ala giảm

thấp so với ấu trùng cá ở giai đoạn 7-17 dph

Chỉ số trưởng thành của ruột được xác định

bởi tỉ lệ giữa bbm AP/leu-ala và bbm LAP/leu-ala thường được dùng để đánh giá quá trình phát triển đầy đủ của ruột ấu trùng cá, và sự gia tăng rõ rệt ở chỉ số này thể hiện sự trưởng thành của ruột ấu trùng nhiều loài cá [3], [8], [10], [12] Trong thí nghiệm này, sự gia tăng

tỉ lệ bbm AP/leu-ala thể hiện rõ nét ở nghiệm thức L-MD (26-30 dph) Tỉ lệ bbm AP/leu-ala ở nghiệm thức LF cao hơn L-MD ở 23 dph và 26 dph chỉ ra rằng ấu trùng cá giò ở nghiệm thức

LF đạt mức trưởng thành của ruột sớm hơn so với ấu trùng ở nghiệm thức L-MD Tuy nhiên, hoạt tính chuyên biệt của enzym bbm AP và

tỉ lệ bbm AP/leu-ala ở nghiệm thức L-MD đều cao hơn nghiệm thức LF từ 30 dph trở đi gợi

ý rằng việc ương ấu trùng bằng thức ăn sống (artemia) kéo dài (sau 26 dph) có thể làm giảm hoạt tính của enzym tiêu hóa ở ruột ấu trùng cá giò so với ấu trùng sử dụng thức ăn tổng hợp

IV KẾT LUẬN

Kết quả thí nghiệm cho thấy tất cả các enzym được sản sinh từ ruột cá đều được phát hiện từ khi cá bắt đầu sử dụng thức ăn ngoài lúc 2 ngày tuổi và hoạt tính của các enzym tăng theo sự tăng trưởng của ấu trùng cá Ấu trùng cá giò sử dụng thức ăn tổng hợp sớm (17 dph) làm giảm tỉ lệ sống và sự phát triển đầy đủ của ruột muộn hơn so với ấu trùng sử dụng thức ăn sống hoàn toàn Tuy nhiên, việc kéo dài sử dụng thức ăn sống (sau 26 dph) có thể làm giảm hoạt tính của enzym tiêu hóa ở ruột cá so với cá sử dụng thức ăn tổng hợp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Benetti, D.D., Sardenberg, B., Welch, A., Hoenig, R., Orhun, M.R., Zink, I., 2008 Intensive larval husbandry

and fi ngerling production of cobia Rachycentron canadum Aquaculture 281, 22-27.

2 Cahu, C.L., Zambonino Infante, J.L., 1994 Early Weaning of Sea Bass (Dicentrarchus labrax) Larvae with a

Compound Diet - Effect on Digestive Enzymes Comparative Biochemistry and Physiology 109, 213-222

3 Cahu, C.L., Zambonino Infante, J.L., Quazuguel, P., Le Gall, M.M., 1999 Protein hydrolysate vs fi sh meal in

compound diets for 10-day old sea bass Dicentrarchus labrax larvae Aquaculture 171, 109-119.

Trang 7

4 Cahu, C.L., Zambonino Infante, J.L., 2001 Substitution of live food by formulated diets in marine fi sh larvae Aquaculture 200, 161-180

5 Faulk, C.K., Benninghoffz, Holt, G.J., 2007 Ontogeny of gastrointestinal tract and selected digestive enzymes

in cobia Rachycentron canadum (L.) J Fish Biology 70, 567-583.

6 Holt, G.J., Faulk, C.K., Schwarz, M.H., 2007 A review of the larviculture of cobia Rachycentron candum,

a warm water marine fi sh Aquaculture 268, 181-187

7 Liao, I.C., Huang, T.-S., Tsai, W.-S., Hsueh, C.M., Chang, S.-L., Leaño, E.M., 2004 Cobia culture in Taiwan: current status and problems Aquaculture 237, 155-165

8 Ma, H., Cahu, C., Zambonino, J., Yu, H., Duan, Q., Le Gall, M.M., Mai, K., 2005 Activities of selected digestive

enzymes during larval development of large yellow croaker (Pseudociaena crocea) Aquaculture 245, 239-248.

9 Nguyen, Q.H., Sveier, H., Bui, V.H., Le, A.T., Nhu, V.C., Tran, M.T., Svennevig, N., 2008 Growth performance

of cobia, Rachycentron canadum, in sea cages using extruded fi sh feed or trash fi sh In: Yang, Y., Vu, X.Z, Zhou,

Y.Q (Eds), Cage aquaculture in Asia: procedings of the second international symposium on cage aquaculture in Asia Asian Fishery Society, Manila, Philippines, and Zhejang University, Hangzhou, China, pp 42-47

10 Wold, P.A., Hoehne-Reitan, K., Cahu, C.L., Infante, J.Z., Rainuzzo, J., Kjørsvik, E., 2007 Phospholipids vs

neutral lipids: Effects on digestive enzymes in Atlantic cod (Gadus morhua) larvae Aquaculture 272, 502-513.

11 Zambonino Infante, J.L., Cahu, C.L., 2001 Ontogeny of the gastrointestinal tract of marine fi sh larvae Comparative Biochemistry and Physiology C-Toxicology & Pharmacology 130, 477-487

12 Zouiten, D., Ben Khemis, I., Besbes, R., Cahu, C., 2008 Ontogeny of the digestive tract of thick lipped grey

mullet (Chelon labrosus) larvae reared in “mesocosms” Aquaculture 279, 166-172.

Ngày đăng: 18/01/2021, 23:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2. Hoạt tính của enzym alkaline phosphase (AP) (a), leucine aminopeptidase (LAP) - Ảnh hưởng của chế độ cho ăn đến hoạt động enzym tiêu hóa ở ấu trùng cá giò (Rachycentron canadum Linnaeus, 1766)
Hình 2. Hoạt tính của enzym alkaline phosphase (AP) (a), leucine aminopeptidase (LAP) (Trang 4)
Hình 1. Tăng trưởng chiều dài tiêu chuẩn (SL) của ấu trùng cá giị sử dụng hồn tồn thức ăn sống  - Ảnh hưởng của chế độ cho ăn đến hoạt động enzym tiêu hóa ở ấu trùng cá giò (Rachycentron canadum Linnaeus, 1766)
Hình 1. Tăng trưởng chiều dài tiêu chuẩn (SL) của ấu trùng cá giị sử dụng hồn tồn thức ăn sống (Trang 4)
Hình 3. Hoạt tính của enzym màng tế bào thành ruột alkaline phosphase (bbm AP) (a) và leucine aminopeptidase (bmm LAP) (b) của ấu trùng ở nghiệm thức LF và L-MD - Ảnh hưởng của chế độ cho ăn đến hoạt động enzym tiêu hóa ở ấu trùng cá giò (Rachycentron canadum Linnaeus, 1766)
Hình 3. Hoạt tính của enzym màng tế bào thành ruột alkaline phosphase (bbm AP) (a) và leucine aminopeptidase (bmm LAP) (b) của ấu trùng ở nghiệm thức LF và L-MD (Trang 5)
trước khi giảm xuống ở 33dph (Hình 3a). Ở nghiệm thức L-MD, gia tăng hoạt tính của bbm  AP muộn hơn (tăng khoảng 2,5 lần; P &lt; 0,05)  từ  26  dph  đến  30  dph,  sau  đĩ  hoạt  tính  của  enzym này cĩ xu hướng giảm xuống ở 33 dph  (Hình 3a) - Ảnh hưởng của chế độ cho ăn đến hoạt động enzym tiêu hóa ở ấu trùng cá giò (Rachycentron canadum Linnaeus, 1766)
tr ước khi giảm xuống ở 33dph (Hình 3a). Ở nghiệm thức L-MD, gia tăng hoạt tính của bbm AP muộn hơn (tăng khoảng 2,5 lần; P &lt; 0,05) từ 26 dph đến 30 dph, sau đĩ hoạt tính của enzym này cĩ xu hướng giảm xuống ở 33 dph (Hình 3a) (Trang 5)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w