[r]
Trang 1Bảo tón các nền Văn hoá thiểu sô : một sỏ suy nghĩ trên cơ sở của những kinh nghiệm cá nhán ở Ân Độ, Thái Lan, Malaysia và Trung Quốc
A N T H O N Y R W A L K E R
D Ẫ N N H Â P : G IỚ I T H IỆ U V Ể T IÊ U s ử
Trong suốt cuộc đời làm nghề nghicn cứu nhân loại học
và viết vãn của tôi, chủ yếu tồi làm việc với những tộc
người bị xem là “ thiểu số” , theo quan điểm của tộc người
đa số trong các quốc gia đa dãn tộc m à trong đó họ sống
Tôi bắt đẩu hành nghể nhân loại học của mình vào năm
1962 bàng việc nghiên cứu người Tođa, m ột dân tộc chãn
nuôi theo lồi cố truyền (hiện nay chỉ có trên 1.100 người)
ớ vùng đổi núi Nilgiri tại Tam il Nadu, mién Nam An Độ
Kế đó, tôi chuyển qua vùng núi ở miền Bắc Thái Lan :
trong 4 năm , từ 1966 đến 1970, tôi đã sống và nghiên cứu
trong vùng người La Hủ thuộc ngôn ngữ Tạng-M iến và
canh tác rầy, với dân sô hiện nay ở vương quốc Thái Lan
là khoảng 40-50 000 người Sau đó, từ 1972 đến 1979, tôi
dạy nhân loại học xã hội tại Đại học Khoa học M alaysia ở
Penang, nơi tôi đã hướng dẫn (ớ đicn dã cũng như ớ trường
đại học) các sinh viên nghiên cíai người Orang Asli, tên
gọi của các dân tộc bán địa có dân số xấp xí 60 000 người
ữ bán đảo M alaysia, bao gồm những người săn bán hái
lượm, nông dân làm rẫy, ngư dân đánh cá biển, nông dân
trồng cây lâu năm và những kiểu kết hợp khác nhau của
các hình thái trên Gần đây, thực sự là từ năm 1990, tôi
đến Vân Nam vào m ỗi m ùa hè để tìm hiểu thêm vé quê
hương tổ tiên của người La Hủ (Lahu) mà tôi đã nghiên
cứu ớ Thái Lan, cũng như đế học hỏi càng nhiều càng tốt
về chính cư dãn La Hú ở T rung Quốc
□ Khi nghiên cứu về các dân tộc thiếu số, mục đích của tỏi là tìm hiểu cách họ quan niệm các truyền thông văn hoá của họ trong m ột bối cánh xã hội và chính trị đặc thù Tôi ít nhiệt tình với sự lý tưởng hoá m ang m àu sắc lãng mạn về một quá khứ vãn hoá vàng son ít bị “ nhiễm ” ảnh hưởng văn hoá ngoại lai Vì vậy, các công trình nghiên cứu của tôi về người T oda chủ yếu nhàm đật lại vấn đề về quan niệm dân gian (không phái hoàn toàn sai lầm) về một cộng đồng xa lạ và biệt lập; chúng chứng minh rằng các cộng đồng này, mặc dù bị biệt lập về mặt địa ỉý trong quá khứ và có m ột nền văn hoá riêng, rõ ràng
đã bám rễ trong hệ tư tưởng giông như An Độ giáo ờ Nam
Ân Độ Ngoài ra, liên quan đến người La Hủ, tôi cũng
m uốn làm nổi bật tính chất đa dạng phong phú trong văn hoá-xà hội của cư dân này rõ ràng cũng là kết quả của nhiều thế kỷ giao tiếp với nhiều truyền thông khác nhau của tộc người Dai (Thái), cũng như với truyền thống của người Hán ở Trung Quốc, v ề các cư dân bản địa người
O rang Asli ớ bán đảo M alaysia, tôi thấy không phải họ hoàn toàn khác với người M alaysia đa số, m à đúng hưn họ chia sẻ với người M alaysia m ột di sản văn hoá chung của thời kỳ Tiền Hồi giáo, cũng như họ phán ứng lại, theo những cách khác nhau, trước sự xuất hiện cua khái niệm Hồi giáo (tươns đòi mới) về tính phố biến của th ế giới được đa số các dần tộc nói tiếng M alaysia ở bán đáo này chia sỏ
Trang 2J Tất cả những điều này là nhằm để nói rằng, mặc dù
tôi thích tập trung nghiên cứu dân tộc học của mình vào
các dân tộc thiếu số ở châu Á hơn, nhưng tôi tin rằng
những truyền thống văn hoá xã hội như của người Toda,
La Hủ và O rang A sli có những mối ràng buộc chặt chẽ với
đa số các dân cư sống bên cạnh họ, không những chỉ về
mặt chính trị (liên hệ với khái niệm N hà nước hiện đại) m à
còn về mặt ý thức hộ Thật vậy, sự độc đáo của văn hoá
Toda m ột phần là do nó là một biến thể của Ân Độ giáo ở
Nam An Độ, cũng như sự độc đáo của văn hoá La Hủ m ột
phần là do nhiều th ế hệ La Hủ ở Vân N am , M ianm ar, Thái
Lan và Lào thích nghi th ế giới quan của họ với th ế giới
quan của những người láng giềng Dai (Thái) và Hán ; còn
sự độc đáo của người O rang Asli là do họ đã chọn lựa m ột
ý thức hệ chính trị, xã hội và tôn giáo nào đó nén sống bên
lề của các văn hoá Hồi giáo ở bán đảo M alaysia, với m ột
nền kinh tế hướng đến các sinh hoạt gắn liền với biển
□ Tuy nhiên, tôi cũng phải nói rằng, trong tất cả
những năm điền dã, sống cùng với các tộc người khác với
tư cách là nhà nhân loại học, tôi đã tạo được nhiều quan hệ
với những người m à tồi nghiên cứu ở bán đảo này Tôi
không nghĩ rằng m ình là m ột ngoại lệ Các nhà nhân loại
học thính thoảng cảm thấy rằng, về m ặt tinh thần, họ phải
cùng với những người mà họ nghiên cứu chống lại các
hình thức đ ế quốc chủ nghĩa về vãn hoá, xuất phát từ các
chính phủ, các tổ chức tôn giáo hay thương mại Thành
thật mà nói, giữa trách nhiệm tinh thần và chủ nghĩa lý
tưởng không có ranh giới rõ ràng V à cái m à nhà nhân loại
học gọi là “chủ nghĩa đ ế quốc văn hoá” không phải lúc
nào cũng đúng là như thế, cũng có thể nó đơn thuần là m ột
sự tiến triển bình thường trong dòng lịch sử và chưa hản đã
là tiêu cực C hảng hạn, khi tôi mới đến sống với người
Toda, họ hầu như chỉ có các chức năng chăn nuôi, chăm
sóc loài trâu sừng dài nửa hoang dã, họp thành từng đàn
rất ỉớn Đời sông xã hội, văn hoá và tồn giáo của họ đã (và
hiện vẫn còn) gắn liền với nhũng con thú này Khi chính
phủ quyết định biến những người chăn nuôi đầy kiêu hãnh
này thành những nông dân, tôi cho đó là m ột chủ trương
hoàn toàn phi lý và th ế nào cũng bị thất bại Ba mươi năm
sau, các đồng cỏ được biến thành rừng, hồ dự trữ nước và
đất canh tác đê đáp ứng với nhu cầu của bộ phận cư dân
không phái là ngưòi T oda đã tãng lên m ột cách kinh
khủng; phần lớn các gia đình Toda không có đú trâu để tự nuôi sống minh nữa, nên càng ngày càng có nhiều người Toda m uốn được trổng khoai tây, bắp cải, cà rốt, chè, V.V Phản ứng của tôi là gì ? v ề m ặt tinh cảm , tôi thích mọi sự đều như xưa; nhưng về m ặt thực tế, các thay đổi là không thê tránh khỏi Người T oda chỉ có dân số m ột ngàn trong
m ột đất nước với dân số trên 800 triệu người cần cơm ăn,
áo mặc và nhà ở và vẫn tiếp tục tăng nhanh về số lượng
□ Khi tôi trở lại vùng đồi núi Thái Lan để gặp những người bạn cũ của tôi vào nừa sau của thập kỷ 60, tòi thấy các mái tôn xấu xí đã thay th ế những mái tranh xinh đẹp
và thích hợp hơn nhiều (dù ít bền hơn) của thời cũ Tồi cũng thấy ít người m ặc những bộ y phục cổ truyền, trái lại phần đông thích bận quần jeans, áo pun, quần soóc, áo sơ
mi và áo dài rẻ tiền sản xuất hàng loạt cho thị trường M ột nhà thờ bấptít thay th ế cho ngôi đền cũ và âm nhạc ồn ào
từ các phim Thái thay th ế cho các âm thanh truyền thống Nhưng, trừ phi tôi chấp nhận nghe các lời lẽ xưa cũ phê bình những nhà nhân loại học m uốn “giữ người ta lại trong các sở th ú ”, tốt hơn hết là tôi nên kiềm ch ế cảm xúc của
m ình và không lên án những điều m à chính phần đông các bạn La Hủ của tôi đã chọn lựa, dù là do sở thích cá nhân hay do sự cần thiết của lịch sử
B IẾ N Đ Ổ I V Ă N H O Á -X Ả H Ộ I VÀ s ự B Ả O T Ồ N
N H Ữ N G N Ề N V Á N H O Á T H IÊ U s ố
Tất cả các xã hội và vàn hoá loài người đều thay đổi qua thời gian, dù tốc độ biến đổi của chúng có thể khác nhau: đó
là m ột quá trình tự nhicn Nếu không hề thay đối gì cả thì
m ột xã hội sẽ bị hoá thạch và chắc chắn sẽ tiêu vong, đặc biệt là nếu một hoàn cảnh m à nó không kiểm soát được lại đưa đẩy nó tiếp xúc với những dân tộc có trình độ kỹ thuật cao hơn và văn hoá năng động hơn Vì vậy, khó tường tượng là có m ột nhà khoa học xã hội nào, nếu xứng đáng với tên gọi này, lại lên án chính hiện tượng biến đổi Tuy nhiên, như nhà nhân loại học M ỹ nổi tiếng Franz Boas đã khẳng định từ đầu th ế ký này, m ỗi nền văn hoá nhân loại
là m ột cái gì độc đáo, và hơn th ế nữa, là một cái gì hết sức quý báu Sự m ất đi của bất cứ m ột nền văn hoá nào cũng làm cho cả nhân loại nghèo đi Vì vậy, bảo tồn những nền vãn hoá thiểu số, cho dù chúng luôn thay đổi, có tầm quan trọng to lớn trong th ế giới hiện đại của chúng ta
Trang 3tiep N hung di6u goi sau day, vi vay, dupe dua tren kinh
nghiem true tiep cua ca nhan toi v6 An Dp, Thai Lan,
M alaysia va tinh Van Nam cua Trung Quoc
J Tai Thai Lan, toi da nghien cuu nguoi La Hu tai
Vien nghien cuu bp lac 6 Chiang M ai D ay la mot co quan
true thuoc Cue phuc loi cong cong cua Bp Noi vu Tai
M alaysia, voi tu cach la hoc gia lam viec thuong xuyen tai
Dai hoc Khoa hoc M alaysia d P enang, toi da co the’ tao
dupe nhung moi quan he kha chat che vdi ngiroi Jabatan
Hal Ehwal Orang Asli va Cue ban dia su vu thuoc chinh
phu lien bang Tai vung nui Nilgiri 6 m ien Nam An Dp,
noi nguoi Toda song, toi co mot so tiep xuc, du la gioi
han, voi Trung tam nghien cun bp lac do D ai hoc Tamil
thanh lap 6 do Co nhieu dieu hay m a toi co thd noi ve cac
1 6 chuc nay; nhung toi nghl rang tat ca da khong bao gid
xem cac tpc nguoi thieu so noi tren la ngang hang voi cac
tpc nguoi khac Ve khia canh nay, cac phong dan tpc thieu
so o' cap tinh, quan va hat cua Trung Quoc co ve kha hon,
vi m6i phong deu co mot ngudi dai dien cho cac tpc nguoi
thieu so tham gia lay quyet dinh : m ot ngudi La Hu, W a
(Ngoa), M iao (Hm ong), Dai (Thai), Bulang (Bo Lang),
v v thuong dung dau m ot to chuc 6 dia phuong hoac co
chirc vu cao hon cac can bp ngudi Han
□ DT nhien trong thdi gian dau, khong de gi thuc hien
dupe trong co quan mot sir dai dien da dan tpc ma toi
thuong thay tai Van Nam Don gian la vi khong co du
ngudi, hay noi chinh xac hon, khong co du ngudi dan tpc
thieu so co nang luc de’ giu nhung chirc vu co trach nhiem
cao trong cac co quan hanh chinh Do do cac co quan noi
tren khong phai luc nao cung dieu hanh tot, so vdi Cue ban
dia sir vu d M alaysia, Vien nghien ciru bo lac d Thai Lan,
hay Trung tam nghien ciru bp lac cua D ai hoc Tamil
N hung nhung kho khan ban dau do cd the: dupe khac phuc
Trong khi theo ch6 toi biet, sau m ot phan tu the ky hoat
dong, van chua cd mot ngudi H m ong, Dao, Lisu, La Hu,
A kha hay Karen nao tro thanh chuyen vien nghien ciru tai
Vien nghien cuu bp lac d Chiang M ai, va sau 40 nam cung
khong cd m ot ngudi Orang Asli nao giu* chuc vu that su
quan trong (giam doc hay pho giam doc d cap lien bang
hay tieu bang) tai Cue ban dia su vu cua M alaysia
gin van hoa truyi n thong cua cac dan tpc thieu sd phai thuoc ve chinh cac dan tpc nay, ch u khong phai dan tpc da
sd Do do, mdi dinh che hay m 6i to chirc xu ly van de nay phai tuyen dung mot sd nhan vien ngudi thieu sd, vi chi cd
ho mdi dupe dong bao cua ho de tin cay va vi, n hu the, ho
se dupe quyen theo doi cac quyet dinh da lay va cac thanh qua da dat trong viec bao ve truyen thong cua chinh ho
□ Khi toi la chuyen vien phu trach nghien ciru ve ngudi La Hu d T rung tam nghien cuu bo lac cua Thai Lan, toi cd mot dong nghiep ngudi T hai, va ngudi nay da thay the toi khi toi roi Thai Lan (Trong nhung nam 60,*Thai Lan can nhung chuyen vien nghien cun ngudi nude ngoai,
vi luc do ca nude chi cd hai nha nghien cuu dan tpc hoc ngudi Thai va ca hai deu ban day dai hoc d Bangkok) Sau
do, nhung nha nghien cuu ngudi ngoai quoc n hu toi phai nhudng chd cho cac dong nghiep ngudi Thai Toi ngh! rang da den luc cac nha nghien cuu ngudi Thai nen cd cac dong nghiep ngudi thieu sd, va nhung ngudi nay, trong mot thdi gian hop ly, se tro thanh nhung nha nghien cuu chinh
□ Toi tin rang cac vien nghien curu da rat tan tuy trong viec thu thap tai lieu dien da, da tfch cuc tham gia vao viec xuat ban sach tra ciru va lap ra cac nha bao tang cung nhu cac thu vien vi do la nhung cong cu rat can thiet cho viec bao ton cac nen van hoa truyen thdng Tuy nhien, cac vien nghien ciru ndi tren khong dupe trd thanh nhung noi khep kin nham duy tri dac quyen ve m at hoc thuat, chi danh cho nhung thanh vien ciia tpc ngudi da sd (nhung ngudi quan sat) de ho nghien ciru nhung dan tpc thieu sd (nhirng ngudi dupe quan sat) Neu tinh trang nay trd nen phd bien thi toi nghi rang toan bp cong tac bao ton cac nen van hoa thieu
sd m ot ngay nao do cd the se gap phai nhung chi trich gay gat ma trudc day da dupe dung de I6n an nganh nhan loai hoc phuong Tay bi xem la lam day td cho chu nghia thuc dan Toi cho rang ngudi thieu sd phai dupe tham gia nghien ciru va quyet dinh ve chinh ho, hoac ngay tir luc dau, hoac ngay khi ho du trinh dp chuyen m on, thong qua dao tao, de lam cac viec vira ndi, tren c o sd binh dang vdi cac nhan vien thuoc dan tpc da sd Viec huan luyen cac nha nghien cuu thieu sd nhu vay la iru tien
Trang 4□ Bây giờ tôi xin trở lại nhận xét đầu tiên của tôi là
mọi nền văn hoá đều biến đổi Biến đối tất nhicn sẽ làm
m ất đi một số nét vãn hoá rất được các thế hệ quá khứ quý
trọng và sẽ tiếp nhận m ột sô nét văn hoá mới, những nét
vãn hoá m à nhiều người không thích, cả ở bên trong lẫn
bên ngoài nền vãn hoá đó Trước hết, về nhừne điều đã bị
bỏ đi, chúng ta thấy rằng chúng vẫn còn là m ột phần của
di sản văn hoá của m ột dân tộc Và nếu đúng là m ột bộ
phận của nhân loại chọn các thay đổi thì, ngược lại, một
bộ phận khác lại m uốn bảo tồn quá khứ bầng cách lim trữ
các tài liệu viết và hình ảnh (phim , video và hiện vật) cũng
như tài liệu bầng âm thanh về vãn hoá truyền thống của
các dân tộc thiểu số N hững thứ này sẽ là nguồn cảm hứng
cho các nhà trí thức và văn nghệ sì tương lai cúa các dân
tộc thiểu sô Việc gìn giữ di sản văn hoá của m ột dân tộc
không nên được xem như là sự ghi lại quá khứ, với tinh
thần duy lý tưởng, cho dù gây thiệt hại cho sự phát triển
trong hiện tại hay trong tương lai, mà phải được xem như
là đặt nền m óng cho m ột truyền thông văn hoá luôn biến
đối nhưng có khả năng thích nghi với th ế giới hiện đại
Còn về việc giới thiệu, trưng bày di sản truyền thống vãn
hoá này, quyền quyết định phải thuộc về chính các dân tộc
thiểu số Do đó, thật hết sức cần thiết phải đưa, ngay khi
có thể được, những người thuộc các tộc người thiểu số vào
các chương trinh nghiên cứu về họ Điều quan trọng là
không nên giới thiệu m ột cách tuỳ tiên các truyền thống và
đổ vật của các dân tộc ĩhiếu số, nếu không sẽ làm tổn
thương sự tự hào của họ và củng c ố các thành kiến tiêu cực
về họ Chính vì vậy, khi trưng bày trước cồng chúng, các
đồ vật phải được ghi chú kỹ càng và không được tuyển
chọn theo các tiêu chuẩn lý thuyết hay thẩm mỹ của thời
nay, hoặc theo m ột triết lý hay m ột chính sách cải cách
□ Biến đổi bao gồm chẳng những việc từ bỏ những
thực tiễn vãn hoá cũ m à còn bao gồm cả sự tiếp nhận các
thực tiễn văn hoá m ới, dựa trên các tiêu chuẩn mới về mặt
ý thức hệ hay kỹ thuật Các cơ quan khác nhau của chính
phủ có trách nhiệm về các tộc người, thường phải đối diện
với câu hỏi sau đây: nên khuyến khích họ thay đổi đến
m ức độ nào và với tốc độ nào ? Các dân tộc thiểu số sẽ
thay đổi, dù không nhất thiết theo con đường và với tốc độ
m à người ngoài cảm thấy đáng mong ước nhất Họ sẽ
không tự để cho m ình hoá thạch, thành những mẫu trưng
bày trong vườn bách thú cho người đa sô đến xcm giải trí
Đ ể trả lời câu hỏi cơ bản liên quan đến mức độ và tốc độ thay đổi, một lần nữa, tôi lại đặt niềm tin vào chính những người thiếu sô Ngu dốt dẫn đến thành kiến Nhưng dĩ nhiên, sự hiểu biết về tha nhân phải không thiên lệch, không bị khai thác và sử dụng cho các mục đích phát triển
xã hội Lại càng có thêm lý do đê cho các tộc người thiểu
sô tích cực tham gia vào việc sưu tập tài liệu về kiến thức
cổ truyền (nhờ nghiên cứu với các sinh viên người An Độ, Trung Q uốc, M alaysia về nhân loại học, tôi mới thấy rằng phần đòng họ ít hiểu biết về cộng đồng của chính họ), và được tham khảo ý kiến về các thay đổi văn hoá, với tư cách là chuyên gia T óm lại, lời khuyên của tôi chỉ đơn giản th ế này: hày hiểu biết càng nhiều càng tốt về văn hoá của các tộc người thiểu số và học cách nghe những gì họ nói về chính văn hoá của họ, và về những gì mà họ cho là cần phải bảo tồn hay thay đổi Nhưng, dù là th ế nào đi nữa, phải luôn luôn ghi lại và gìn giữ mọi yếu tố của các nền vãn hoá đó Lý do là vì, như Franz Boas từ lâu đã dạy chúng ta, mồi chi tiết đều là m ột quan sát quý báu về nhân loại