1. Trang chủ
  2. » Hóa học

Bản sắc và giá trị văn hóa của thờ Nữ Thần của người Việt ở vùng Tây Nam Bộ

15 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cuộc sống đầy biến động của xã hội hiện đại, tín ngưỡng thờ nữ thần ở Tây Nam Bộ không chỉ đáp ứng những nhu cầu tâm linh của người dân, mà còn phát huy được ở mức cao vai trò[r]

Trang 1

BẢN SÁC vft Gllí TAị cùn VftN HÓfi THỜ NỮ THA n

cùn NGƯỜI VIỄT Ở VÙNG Tfiv NHM sô

Trần Ngọc Thêm - Nguyễn Thị Lệ Hằng

1 Dẩn nhập

Tây Nam Bộ là vùng văn hóa hình thành muộn nhất trong lịch sử Việt Nam, chỉ mới hơn ba thế kỷ

về chủ thể, có bốn tộc người chính là Việt, Khmer, Hoa, Chăm; trong

đó, người Việt chiếm 91,97% tổng dân số, người Khmer chiếm 6,88%, người Hoa chiếm 1,03%, và người Chăm chiếm 0,09% Cả bốn tộc người đều là lưu dân từ tứ xứ trên con đường đi tìm một nơi yên ổn để sinh sống và làm ăn đã gặp nhau ờ đây, và lấy người Việt làm trung tâm để gắn kết chặt chẽ với nhau

Trong bốn tộc người chủ thể thì ba tộc Việt, Khmer, Chăm đều có chung ngụồn gốc Đông Nam Á cổ đại vởi truyền thống vãn hóa lúa nưởc mà một trong những đặc điểm quan trọng là tinh thần trọng nữ, trọng âm Trong truyền thống cùa cả ba tộc Việt, Khmer, Chăm đều rất phổ biến tín ngưỡng thờ nữ thần và có hoặc từng có giai đoạn văn hóa mẫu hệ Văn hóa Hán vốn

có gốc du mục nên không phổ biến tín ngưỡng thờ nữ thần, song người Hoa

di dân đến Tây Nam Bộ và Đông Nam Á có nguồn gốc là người Hán phương Nam, đã được (Bách) Việt hóa đến một mức độ nhất định, lại là cư dân đi biển có tín ngưỡng thờ bà Thiên Hậu, nên dễ tiếp nhận và hòa nhập với văn hóa thờ nữ thần của người Việt

' GS, TSKH., Trung tâm Văn hóa học Lý luận và ứ ng dụng, Trường Đại học KHXH & NV, ĐHQG Tp HCM

**ThS„ Trường Đại học KHXH & NV, ĐHQG Tp HCM

Trang 2

B ản sắc và giá trị của văn hóa thờ nư thần 409

v ề không gian, vào thời điểm khi người Việt tới khai phá thì Tây Nam

Bộ là một vùng đất vừa hoang dã, vừa hào phóng Hai đặc điểm này của thiên nhiên vừa góp phần tạo nên tính cách đặc thù cùa cư dân Tây Nam Bộ, vừa góp phần kích thích và duy tri tín ngưỡng thờ nữ thần ở khu vực này

2 Bản sắc văn hóa thờ nữ thần ở Tây Nam Bộ

Bản sắc văn hóa thờ nữ thần ờ Tây Nam Bộ thể hiện khá rõ một phần bản sắc văn hóa của cư dân Tây Nam Bộ nói chung, trong đó nổi bật lên năm phẩm chất tiêu biểu là tính tổng hợp và bao dung, tính thiết thực, tính độc lập

cá nhân, tính linh hoạt năng động, tính trọng nữ và dân chủ

2.1 Tính tổng hợp và bao dung

Văn hóa Việt Nam vốn có tính tổng hợp và tinh thần bao dung, song mức độ bao dung giữa các vùng miền có khác nhau Ở vùng đồng bằng Bắc

Bộ, văn hóa người Việt dễ tiếp nhận các yếu tố văn hóa từ các nền văn hóa lớn, song lại tương đối khép kín, ít chịu sự tác động ngược trở lại từ văn hóa các cộng đồng người thiểu số, bởi vậy tinfr thần bao dung vẫn chỉ là một phần nằm trong tính tổng hợp Đến Tây Nam Bộ, tính bao dung vừa được thừa hưởng truyền thống dân tộc tự ngàn xưa, vừa được vun bồi trong bối cảnh tự nhiên và lịch sử xã hội đặc thù nên đã trở nên đậm nét

2.1.1 Trong quá trình cộng cư, người Việt ở Tây Nam Bộ đã tôn kính

và thờ phụng một cách không phân biệt năm nhóm nữ thần, tạo nên một hệ thống nữ thần khá phong phú và đa dạng với những nét chung và nét riêng như sau:

(a) Những nữ thần gốc Việt mà họ mang theo trong hành trang của mình (các nữ thần ừong Tam Phù, Tứ Phủ);

(b) Những nữ thần của người Chăm, Khmer mà người Việt đã tiếp nhận trên đường Nam tiến (Thiên Ya-na Thảnh Mầu, bà Đen [Neang Khmau] - Lình Sơn Thánh Mẩu);

(c) Những nữ thần của người Khmer mang đến hoặc tạo nên ở Tây

Nam Bộ (Thủy Chân Lạp) trước đó {Bà Ả Rộc [A Răk]); I

(d) Những nữ thần của người Hoa (bà Thiên Hậu, Cừu Thiên Huyền Nữ ) hoặc gốc là người Hoa (như Tứ Vị Đại Càn nương nương1)',

1 Tứ vị Đại Càn Nương Nương nguyên là Tống Thái Hậu và ba Hoàng phi thời Nam Tống Năm 1279, khi bị quân Mông c ổ truy diệttại trận Nhại Sơn (Quảng Đông), bốn bà nhày

Trang 3

410 Van h ó a th ờ Nữ thẩn - MẪU ở VlỆT NAM VÀ CHẢU Á

(e) Những nữ thần mới tạo lập trong quá trình cư trú ở Tây Nam Bộ (như trinh nữ Nguyễn Thị Liệu, Bà c ố - tổ nghề chài lưới, Bù Mụ Cọp).

Tính tổng hợp và bao dung không chi thể hiện ở sự đa dạng phong phú của các đối tượng thờ cúng, mà còn trong việc tổ chức các nơi thờ tự và thực hành các nghi lễ thờ cúng

2.1.2 Trong việc tổ chức các nơi thờ tự, số lượng các đền/miếu/miễu thờ thần nói chung và nữ thần nói riêng rất nhiều Mỗi thôn ấp Tây Nam Bộ đều có từ một đến vài miếu/miễu thờ thần Riêng tại một tình Tiền Giang, trong số 292 ngôi miếu hiện tồn đã có tới 182 miễu thờ-nữ thần (chiếm 62,3%) Các trang thờ tại nhà còn nhiều hơn nữa Có những gia đình, trên một trang thờ Bà, thờ tới vài ba vị Mau thần của các tộc người khác nhau (hình 1.1)

Hình 1.(1) Thờ Quan Công, Phật, và Bà Cửu Thiên tại nhà bà Nguyễn Thị Tây ờ Mỹ Phong, Mỹ Tho\ (2) Miễu Chung ở Khu phố 5, Phường 2, Mỹ Tho\ (3) Miều thờ Bà Thiên Hậu trong chùa Bửu Hưng Phường 2, Mỹ Tho ; (4) Miều thờ Hỏa Đức Tinh Quân Vĩnh Kim, Châu Thành

xuống biển tự tử, xác tấp vào cửa Càn ở Nghệ An Nhân dân địa phương chôn cất, lập

miễu thờ và được các triều đại phong kiến Việt Nam phong tặng, xem là bốn vị nữ thần phù hộ cho người đi biển.

Trang 4

Trong khuôn viên của nhiều ngôi chùa, đình ở Tây Nam Bộ, người ta thường xây dựng một miễu thờ Bà Ngược lại, trong các miếu/miễu thờ Bà, người ta cũng xây dựng những miễu hoặc lập những ban thờ các vị thần khác (hình 1.2-4) Trong Chánh điện miếu Bà Chúa Xứ núi Sam, phía bên phải tượng Bà là một linga bằng đá gọi là “bàn thờ Cậu”, phía bên trái có một tượng gỗ chạm hình yoni, được gọi là “bàn thờ Cô”; ở lởp ngoài là bàn thờ Hội đồng, bên trái có bàn thờ Tiền hiền khai khẩn và bên phải có bàn thờ Hậu hiền khai cơ Như thế, các tín đồ đến chùa lễ Phật hoặc người đến cúng đình có thể kết hợp cúng Bà và các nữ thần Ngược lại, người đến cúng Bà

và các nữ thần có thể kết hợp cúng bái các vị thần khác

2.1.3 Trong việc thực hành các nghi lễ thờ cúng ờ Tây Nam Bộ, vào mỗi dịp tổ chức lễ hội Kỳ yên, thường có nghi thức rước lư hương của tất cả các vị thần thờ trong khu vực gần đó về đình để đồng lai phổi hường.

Trong cách thực hành nghi lễ cúng Bà của người Việt ở vùng Tây Nam

Bộ, các bà bóng không lạy ba lạy như thông lệ ở các vùng miền khác, mà thường lạy đến năm lạy với ý nghĩa là: Nhất bái Thiên, Nhị bái Địa, Tam bái Phật, Tứ bái Thần, Ngũ bái anh hùng liệt sĩ. Khi thinh cầu Mầu thần về nhận

lễ, các bà bóng cũng thường có lời mời cả vong linh của “các chiến sĩ tử vong, đồng bào từ nạn, hà xa ngạ quỳ, thập nhị loại cô hồrí' cùng về chứng

giám cho lòng thành của bổn hội / chủ miễu / gia chủ

Khác với nghi lễ thờ Mầu ở Bắc Bộ thiên về lên đồng, nghi lễ thờ Mầu

ờ Tây Nam Bộ thiên về hát bóng Vai trò của bà Bóng với nhiệm vụ nhảy

múa, dâng lễ vật mời thần linh, giao cảm với thần linh, nhập đồng tiên tri

mọi việc, là dấu vết của văn hóa Chăm

Các kỳ củng Bà ở Tây Nam Bộ trở thành dịp kết nối các tộc ngựời Việt

- Hoa - Khmer - Chăm lại với nhau

2.2 Tính thiết thực

2.2.1 Tính thiết thực của người Việt vùng Tây Nam Bộ có nguồn gốc

từ óc thực tiễn như một giá trị tiềm ẩn có sẵn trong tính cách được người

Việt mang theo từ cái nôi miền Bắc, miền Trung vào vùng đất mới Nhưng ở

miền Bắc thì do tính ừọng âm là đặc trưng chủ đạo, nên óc thực tiễn có phần

bị những phẩm chất như óc lãng mạn, phóng túng, mơ mộng, nhạy cảm,

thích văn chương phù phiếm lấn át Trong khi ở Tây Nam Bộ thì do: (1)

Hoàn cảnh điều kiện tự nhiên vừa hào phóng vừa khắc nghiệt; (2) Văn hóa

Trang 5

412 Van h ó a th ờ Nữ thẩn - MẪU ở Việt NAM VẢ CHÂU Á

Việt ở Tây Nam Bộ là sản phẩm của quá trình dương tính hóa về cả chủ thể, không gian và thời gian; (3) Người Việt ở Tây Nam Bộ tiếp nhận được tính thực dụng trong suốt quá trình giao lưu với văn hóa phương Tây, mà tính thiết thực đã có điều kiện phát triển thành một đặc trưng điển hình của tính cách văn hóa Tây Nam Bộ

Trong văn hóa thờ nữ thần, tính thiết thực thể hiện ở cách thức chức năng hỏa vai trò cùa các nữ thần, ở cách thức lập nơi thờ tự, và ở cách thức

thờ tự.

2.2.2 Nguời Việt ở vùng Tây Nam Bộ rất bao dung trong việc thờ các

nữ thần, số lượng các đền/miếu/miễu thờ thần nói chung và nữ thần nói riêng rất nhiều song việc thờ đó không hề tùy tiện, mà với tính thiết thực, họ đã

chức năng hóa vai trò của các nữ thần cho phù hợp với nhu cầu của mình.

Những thôn ấp làm nghề buôn bán ở ven các thị trấn, ở nơi chợ búa thường lập miếu thờ Ngũ Hành Nương Nương, Thiên Hậu Thánh Mầu Những thôn ấp có dân làm nghề đánh cá, đi biển, đưa đò hoặc những nơi khó khăn về nước sinh hoạt thì lập miễu thờ Thủy Long Thần Nữ (hình 2.1) Các

nữ thần còn lại của người Việt, các nữ thần của người Chăm, người Khmer được coi là phù hộ cho nghề nông và đều được gọi chung là Bà Chúa Xứ, Chúa Xứ Thánh Mau Vì nghề nông là phổ biến nhất nên Bà Chúa Xứ có thể xem là vị thần có quyền năng lớn nhất, phạm vi bao quát rộng nhất Bởi vậy

mà số miếu thờ Bà cũng chiếm số lượng nhiều nhất Tại Tiền Giang, ữong số

182 miễu thờ nữ thần đã có tới 110 miếu thờ Bà Chúa Xứ (chiếm 60,4%)

V , /> •

/

6 '

ÉH * <k. _0

Hình 2: (1) Miễu thờ Thủy Long Thần Nữ Đồng Sơn, Gò Công Táy;

(2) Cúng món heo quay tại miễu thờ Bà Thiên Hậu

Trang 6

B ản sắc và giá trị của văn hóa thờ nữ thần 413

Đối tượng thờ cúng ở nơi công cộng và ở gia đình cũng phân hóa khác nhau Các nữ thần như Bà Chúa Xứ, Linh Sơn Thánh Mầu, Ngũ Hành Nương Nương, Thiên Hậu Thánh Mầu, Thánh Thất Nương Nương, Bà Thủy,

Bà Hỏa, V.V., là những đối tượng thờ tại các miễu thờ công cộng hoặc cùa dòng họ Còn Bà Cửu Thiên Huyền Nữ, Mưòi Hai Bà Mụ thường được thờ tại các gia đình

Ở người Việt Bắc Bộ và Trung Bộ chỉ thờ Mười Hai Bà Mụ chung chung, còn người Việt vùng Tây Nam Bộ thì phân biệt ra hai loại nữ thần là

“Mẹ Sanh, Mẹ Độ” “Mẹ Sanh” là nữ thần độ sinh, phù hộ cho mỗi con người

từ khi hình thành trong bào thai, rồi sinh ra cho đến lúc 12 tuổi (hết một vòng địa chi, 12 con giáp) “Mẹ Độ” là nữ thần hộ mạng, phù hộ cho mỗi con người

từ khi trưởng thành (12 tuổi) đến 60 tuổi (hết một hội 60 năm)

2.2.3. Trong cách thức lập nơi thờ tự, tính thiết thực đã khiến người Việt ở Tây Nam Bộ lập miếu thờ ở những địa điểm rất thuận tiện

Miếu thờ Bà thường được cất ở các vùng ranh đất để tiện cho người dân ờ các khu vực khác nhau đều có thể đến cúng kiếng một cách thuận tiện

Ở vàm (cửa) sông rạch kinh mương, là các ngã ba đường thủy, thuận tiện cho việc chăm sóc, cúng kiếng Ở cạnh ao, cạnh giếng, kề bên gốc xoài, gốc sung, gốc da, gốc xộp vửa thuận tiện cho việc chăm sóc, củng kiếng, vừa râm mát Tại Tây Nam Bộ, việc lập miễu thờ Bà trong vườn, lập trang thờ

Bà trong nhà là rất thuận tiện cho việc chăm sóc, ốúng kiếng hàng ngày, hàng tháng, để Bà phù hộ trực tiếp cho từng người, từng nhà

2.2.4. Trong cách thức thờ tự,một hiện tượng phổ biến đáng chú ý

là đa phần phụ nữ người Việt ờ Tây Nam Bộ khi bước sang tuổi 40 đều thờ

Bà với niềm tin rằng Bà sẽ phù hộ, vuốt ve cho phụ nữ không bị mệt mỏi, đau nhức, mọi bệnh tật sẽ mau thuyên giảm

Tại các miễu thờ Bà Thiên Hậu, ngoài các lễ vật thông thường, người Việt thường dâng cúng thêm món heo quay là món ăn đặc trưng của người Hoa với suy nghĩ rằng đó là món ruột của Bà (hình 2.2)

2.3 Tính độc lập cả nhân

Trong khi văn hóa Việt Nam truyền thống thiên về tính cộng đồng thì

ở văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ, tính cộng đồng làng xã đã giảm đi đáng kể, nhường chỗ cho tính độc lập cá nhân

Trong khi ở Bắc Bộ, các nữ thần được thờ tại các cơ sở thờ tự (đền, miếu, phủ) chung của cộng đồng, thì ở Tây Nam Bộ, bên cạnh các cơ sở thờ

Trang 7

414 Van h ó a t h ờ N ữ th ắ n - MẪU ở V iệ t NAM vA c h a u A

tự chung, rất phổ biến việc lập miễụ thờ Bà trong vườn hoặc lập trang thờ Bà trong từng ngôi nhà để hộ mạng cho các thành viên trong gia đình, đặc biệt

là cho phụ nữ Các gia đình ở nông thôn thường thỉnh Bà Cửu Thiên Huyền

Nữ (phổ biến nhất) và Chúa Tiên, Chúa Ngọc về lập trang thờ ở nơi trang trọng nhất trong nhà (hình 3.1)

Hàng ngày thường có thắp hương (hình 3.2) Vào ngày vía Bà, vào dịp

ba năm đáo lệ một lần, hoặc khi gia đình có sự cố thì sẽ tổ chức cúng kiếng gọi là lễ tạ trang. Sự cố là khi trong gia đình có phụ nữ bị bệnh lâu ngày trị không hết thì làm lễ cúng để cầu xin Bà ban phước lành, độ mạng cho người bệnh chóng bình phục Hoặc khi có phụ nữ bệnh lâu ngày vừa mới chữa ữị xong thì làm lễ tạ trang để tạ ơn Bà (hình 3.3)

Hỉnh 3: (1) Trang thờ Bà tại nhà bà Đặng Thị Tốt ở Bình Ninh, Chợ Gạo\ (2) Cúng Bà hàng ngày tại nhà, (3) Le tạ trang tại nhà bà Đồng Thị Nhài Mỹ Hạnh Đáng, Cai Lậy

Trang 8

B ản sắc và giá trị của văn hóa thờ n ữ thần 415

2.4 Tính linh hoạt

Tính linh hoạt là đặc trưng chung của văn hóa Việt Nam, cũng rất rõ ở vặn hóa thờ nữ thần vùng Tây Nam Bộ

Trong việc chọn địa điểm lập miễu thờ nữ thần, không nhất thiết cứ phải chọn trung tâm làng xỏm mà lập miễu Nguyên tắc chung là chọn nơi nào thuận tiện cho nhiều người trong cộng đồng với những phương tiện di chuyển khác nhau có thể ghé tới cúng bái dễ dàng Ở miệt giồng duyên hải phía Đông, các miễu thờ thường được dựng trên gò đất cao và bên cạnh thường có ao đào (ao làng đã có sẵn trước đó hoặc là ao được đào đồng thời với lúc Iâp miếu) Mầu thần được thờ ở đây ngoài Bà Chúa Xứ còn có Thủy thần dưới dạng thần Ao, thần Giếng Trong khi đó, ở miệt bưng biền kinh rạch chằng chịt thì các miễu thờ được lập dọc theo hai bên bờ sông rạch Đối tượng thờ cúng thì ngoài Bà Chúa Xứ còn có thờ Bà Thủy, Bà Thiên Hậu, Ngũ Hành Nương Nương, là những nữ thần phù hộ cho vùng sông nước, nghề buôn bán, nghề nông

Tính linh hoạt thể hiện trong cách chọn ngày cúng Bà Cùng thờ một

nữ thần giống nhau nhưng các địa phương khác nhau sẽ có ngày cúng miễu khác nhau miễn sao ngày đó phù hợp với số đông để có thể tập trung được nhiều người trong cộng đồng cùng đến cúng bái Cùng thờ một nữ thần giống nhau, nhưng nếu gia chủ khác nhau về nghề nghiệp thì cũng sẽ có ngày cúng khác nhau Cùng thờ Bà Cửu Thiên Huyền Nữ, người làm nông cúng vào ngày 12 tháng chạp âm lịch, còn người làm nghề may thì cúng vào ngày m ùng7 ỉháng Giêng âm lịch

Tuy tiếp nhận nghi lễ múa bóng rỗi của người Chăm, nhưng các hình thức múa dâng bông, dâng đèn, dâng mâm vàng mâm bạc, múa đồ chơi trong các ngày cúng Bà mang đầy bản sắc của văn hóa Việt Các bà bóng ở Tây Nam Bộ có khả năng ứng tác lời rỗi rất nhạy bén linh hoạt Theo dõi lời rỗi của cùng một bà bóng lúc cúng Bà ở những địa điểm khác nhau, ta thấy có sự thay đổi rõ rệt không chì về tên đối tượng được thờ, tên chủ nhân làm lễ tạ, tên địa phương mà còn biến đổi cả một phần nội dung bài rỗi cho phù hợp với thực tễ cụ thể của nơi diễn và cộng đồng cư dân nơi miễu tọa lạc Tài năng của bà bóng được đánh giá không chi ở nghệ thuật rỗi hay, rỗi đúng nhịp theo nhạc mà quan trọng nhất chính là ở tài ứng tác

Có lúc, thay vì sử dụng điệu Lý giọng bóng, điệu Khách, điệu Nam bình để rỗi theo cách rỗi truyền thống nhằm tạo không khí linh thiêng, bà bóng có thể chuyển sang sử dụng các điệu Lý con sáo, điệu Nam xuân để chuyển

Trang 9

4 1 6 V a n h ó a th ờ NữTHẮN - MẪU ở V lỆT NAM VẢ CHÂU Á

sang không khí vui tươi, hồ hởi mang tính giải trí, mua vui phục vụ cộng đồng tham dự lễ cúng Bà

2.5 Tính trọng nữ và dân chủ

Người Nam Bộ gốc, đặc biệt là Tây Nam Bộ, phần lớn là tầng lớp bình dân ít học, rất ít chịu ảnh hưởng cùa Nho giáo Nhờ vậy mà truyền thống trọng

nữ và dân chủ ừong dân gian có điều kiện phát triển

Người phụ nữ Tây Nam Bộ đã trờ thành một trụ cột vững mạnh trong gia đình, một lực lượng quan trọng ngoài xã hội Trong văn hóa giao tiếp của người Việt ở Nam Bộ, xu hướng dùng những từ xưng hô theo dòng bên ngoại (bên nữ) như dì, thím, ngoại, v.v luôn lấn át các từ xưng hô theo dòng bên nội (bên nam) Hiện tượng ở rể rất phổ biến “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, “đội quân tóc dài” là những hiện tượng hình thành ở Tây Nam Bộ Các địa danh mang tên các bà rất phổ biến

Hình 4: (1) Cô Tư Trầu (Nguyễn Văn Tư, Đông Hòa Hiệp, Cái Bè)\

(2) Út Hải (Đặng Thanh Hải, Thạnh Nhựt, Gò Công Tây); (3) út Minh (.Nguyễn Ngọc Minh, Phú Quý, Cai Lậy)', (4) ủt Hùng (Lê Minh Hùng, phường 3, thị xã Gò Công); (5) út Son (Lê Văn Son, Tân Hội, Cai Lậy)',

(6) Út Bé (Nguyễn Văn Bé, Long An, Châu Thành)

Trang 10

Tinh thần trọng nữ biểu hiện một cách nhất quán qua hiện tượng nữ tính hóa ở cả người phục vụ thần và thần: Hiện tượng nữ tính hóa người phục vụ thần đã có từ văn hóa thờ nữ thần truyền thống, ở Tây Nam Bộ được thể hiện một cách mạnh mẽ qua việc hầu hết các “bà bóng” đều là nam ái

nữ. Trong số 54 nghệ nhân đăng ký tham gia Liên hoan nghệ thuật Bóng rỗi của Nam Bộ ở Tiền Giang được tổ chức tháng 5-2007 thi chi có 4 người là

nữ thật sự, còn lại 50 người đều là nam ái nữ Trong cuộc sống hàng ngày, các bà bóng mặc trang phục giống như phụ nữ, dùng các từ chỉ phái nữ để xưng hô với nhau và với người ngoài, thích dùng chữ “ú t” hoặc “Cô” để làm chữ đệm cho tên gọi, gần như 100% các bà bóng đều ăn trầu hút thuốc luôn miệng (hình 4)

Lâu nay tồn tại cách lý giải dân gian cho ràng người lưỡng tính thì

“nhẹ vía” và có “căn” giao cảm với thần linh, hoặc cách lý giải bác học rằng người lưỡng tính phù hợp với vị trí trung gian cần thiết giữa con người với thần thánh siêu nhiên Song hai cách lý giải đó đều không giải thích được vì sao bà bóng lại chi có thể là nam ái nữ chứ không có nữ ái nam? Và càng không thể giải thích được hiện tượng nữ tính hóa thần là điều không có tiền

lệ trong văn hóa thờ nữ thần truyền thống Hiện tượng nữ tính hóa thần ở Tây Nam Bộ không chỉ thể hiện ở việc đưa pho tượng nam thần Vishnu trên núi Sam xuống để biến cải thành tượng Bà Chúa Xứ, mà còn gặp ờ việc một

số linga được vẽ tay vẽ mặt, ậip thêm phần đầu để biến thành Bà Thượng (Thượng Động c ố Hỷ) và Tổ Cô Phạm Thị Hiên tại miếu Bà Thượng ờ núi Sam (Châu Đốc, Anh Giang, hình 5)'

Tính trọng nữ đi cùng với tỉnh dân chủ. Biểu hiện của tính dân chủ trong tín ngưỡng thờ Mầu rất phong phú: Trong hệ thống thần linh, không phân biệt thần của người Việt với thần của các tộc thiểu số Với tin đồ, không phân biệt nam nữ, già trẻ, sang hèn, mới cũ, quen lạ Đứng trước Bà, mọi người đều bình đẳng, không ai có mặc cảm tự ti hoặc tự tôn Cúng xong, lễ vật của mọi người dâng cúng được dọn ra cho cả cộng đồng hường chung, mọi người đều trân trọng lộc của Bà, không phân biệt ngon dở, không có cảnh “chiếu trên, chiếu dưới”

1 Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyền Đại Phúc 1996: Mỹ thuật dân gian Nam Bộ: tượng mục đồng,

H.: Nxb Văn hóa, tr 83.

Ngày đăng: 18/01/2021, 18:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w