Các nghiên cứu xã hội về kỳ thị đối vói những người liên quan tơi HIV/AIDS đều có nhiệm vụ giúp họ tránh xa khỏi những hiểm hoạ và giảm bót lo lắng, nhưng trên thực [r]
Trang 1BẤT BÌNH ĐẲNG ĐÔÌ vứl NGƯỜI có HKV
TRONG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI (qua nghiên cứu trường hỢp thành phố Hà Nội, Việt Nam)
NCS Phan Hồng Giang*
Tóm tắt
Nghiên cứu về bâ't bình đẳng trong phát triển xã hội là một trong những yêu cầu cấp thiết, không thể thiếu được đôì với mọi quốc gia trên thế giới Chúng tôi nhận ra mô'i liên hệ chặt chẽ giữa vấn đề bất bình đẳng với người có HIV1 và sự kỳ thị, phân biệt đối xử của cộng đổng với người có HIV
Sự kỳ thị giông như một hiện tượng, theo đó, một cá nhân bị xã hội của anh ta/cô ta từ chõi bởi một đặc tính nào đó của cá nhân ây, khiêh anh ta/cồ ta
bị mâl uy tín sâu sắc trong cộng đông của mình Sự kỳ thị là một quá trình phản ứng của xã hội đôĩ với những người/nhóm người phá vỡ tính chuẩn mực bình thường của xã hội (Goffman Erving, 1963).
Sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người có HIV là nguyên nhân dẫn đến bâ't binh đẳng với người có HIV Môĩ quan hệ giữa hai vân đề này vừa là mối quan hệ nhân quả đổng thời cũng là môi quan hệ biện chứng, có sự tương tác qua lại Điều này được thể hiện rõ qua thực trạng bất bình đẳng đối với người có HIV hiện nay Chúng tôi phân tích thực trạng bâ't bình đẳng với người có HIV thông qua việc họ tiếp cận
* Khoa Xã hội học, trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN.
1 Trong nghiên cứu này, tác giả sừ dụng thuật ngữ "người có HIV" đế thay thê' cho cụm từ "người bị nhiễm H IV" nhằm giảm sự kỳ thị và giúp cho người bệnh sống tích cực hơn.
Trang 2với các dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục, hạn quyền trong môi trường làm
việc Thêm vào đó, bất bình đẳng đối với người có HIV cũng chịu sự
ảnh hường nặng nề của vấn đề giới Trước hết, vấn đề giói và yêu tố
văn hóa truyền thông về các giá trị của con ngưòi phân theo giói và vị trí trong gia đình (quan niệm về vợ - chổng, quan niệm về vai trò/trách nhiệm của phụ nữ, quan niệm về giá trị của nữ giới trong xã hội ) có một ảnh hưởng lón tói bất bình đẳng với người có HIV nói chung và đối vói nữ giới có HIV nói riêng
Trên cơ sở đánh giá thực trạng bất bình đẳng đôĩ vói người có HIV, chúng tôi nhận diện một số rào cản ảnh hường đến bâ't bình đẳng đô'i với người có H3V như các chuẩn mực xã hội và hiện tượng gán nhãn, sự hạn chế của hệ thông can thiệp, hỗ trợ giải quyết vân đề, sự kỳ thị, phân biệt đối xừ của cộng đổng đối với người có HIV
Từ khoá: Bâ't bình đẳng, kỳ thị, phân biệt đôĩ xử, người có HIV
*
1 Giới thiệu
Từ tư tưởng của các nhà triết học Ánh sáng thế kỷ XVIII cho đến bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (08/1789), câu nói
"Ngưòi ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng và quyền lợi" đã trở nên quen thuộc đổi vơi môi chúng ta Vì vậy, nghiên cứu về vâh đề bâ't bình đẳng trong phát triến xã hội là một trong nhửng yêu cẩu câp thiết, không thể thiếu được đôì vói mọi quốc gia trên thế giói
Bất bình đẳng xã hội là một khái niệm dùng để chi tình trạng mà các nhóm cá nhân trong xã hội không có sự binh đẳng về địa vị xã hội (social status), tầng lóp xã hội (social class), giới xã hội (social circle) Các phạm vi thể hiện sự bâ't bình đẳng xã hội bao gồm: quyền bầu cử, quyền tự do ngôn luận và hội họp, quyển được tư hữu chính đáng, quvền được tiếp cận các dịch vụ về giáo đục, y tế, nhà ở, du lịch, vận chuyển, nghỉ lê và các dịch vụ xã hội có chất lượng tốt khác Bên cạnh
đó, bất b ìn h đ ẳn g còn th ể h iện trong nhiều v ấ n đ ề k h ác n h ư : châ't
Trang 3Bất bình đẳng đối với người có H ĨV trong phát triển xà hội
lượng cuộc sống gia đình, chất lượng môi trường sông, nghề nghiệp,
sự hài lòng về công việc, tiếp cận nguồn tín dụng (Lawrence E Cohen, James R Kluegel and Kenneth c Land, October 1981: 505-524)
"Bình đẳng xã hội là nói tói sự thừa nhận và sự thiết lập các định kiến, các cơ hội và các quyền lợi ngang nhau cho sự tồn tại và sự phát triển của các cá nhân, các nhóm xã hội" (Lê Ngọc Hùng và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2001) Trên lý thuyết, bất bình đẳng xã hội có nghĩa là không bằng nhau, không ngang nhau về các khía cạnh cơ bản của đời sông
xã hội giữa các cá nhân, các nhóm người Trên thực tế, khái niệm bâ't bình đẳng xã hội được dùng chủ yếu để chỉ mô'i tương quan xã hội nào không bằng nhau đến mức gây tổn hại đến quyền và lợi ích của bên yếu thế Như vậy, có thể hiểu bâ't bình đẳng đốỉ với người có HIV
là sự không bằng nhau, không ngang nhau về các khía cạnh cơ bản của đời sống xã hội giữa người có HTV và người không có HIV, gây tổn hại đến quyền và lợi ích của người có HIV Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận ra môi liên hệ chặt chẽ giữa vân đề bất bình đẳng vói người có HIV và sự kỳ thị, phân biệt đối xử của cộng đổng vói người có HIV
Sự kỳ thị giông như một hiện tượng, theo đó, một cá nhân bị xã hội của anh ta/cô ta từ chôĩ bởi một đặc tính nào đó của cá nhân ây, khiến anh ta!cô ta
bị mâĩ uy tín sâu sắc trong cộng đong của mình Sự kỳ thị là một quá trình phản ứng của xã hội đôĩ với những người/nhóm người phá vỡ tính chuẩn mực bình thường của xã hội (Goffman Erving, 1963).
Tuy nhiên, chúng ta cần tránh đồng nhâ't hai vân đề này là một Sự
kỳ thị, phân biệt đối xử vói người có HIV là nguyên nhân dẫn đến bâ't bình đẳng vói người có HIV MÔI quan hệ giữa hai vân đề này vừa là môi quan hệ nhân quả đổng thòi cũng là môì quan hệ biện chứng, có sự
tương tác qua lại Điều này được thể hiện rõ qua thực trạng b ấ t bình
đẳng đối vói người có HIV hiện nay
Nghiên cứu này được tiên hành nhằm trả lời 2 câu hòi: (1) Thực
trạng bât bình đẳng đối vói người có HIV đang diễn ra vói những đặc
điêm như thê nào? (2) Có những rào cản gì trong quá trình nghiên cứu, tìm kiếm, đề xuất và thực hiện các giải pháp nhằm giải quyết tình trạng bất bình đẳng đôi vói người có HIV?
Trang 42 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này được tác giả tiến hành trong vòng 5 năm (từ giữa
2008 - 2013), bằng cách kết hợp cả phương pháp định tính (phòng vân sâu, thào luận nhóm tập trung) và phương pháp định lượng (phỏng vấn nhóm, phỏng vân bằng bảng hỏi cấu trúc)
Sô' liệu thu thập được từ ba mươi phòng vârt sâu vói các đối tượng là nhà tuyên dụng lao động, đại diện lãnh đạo chính quyển địa phương, cán bộ - nhân viên y tê' cán bộ - nhân viên ngành giáo dục, người có HTV, hàng xóm và gia đình người có HIV Mỗi người tham gia được phỏng vấn một lẩn và các cuộc phỏng vấn kéo dài từ 60 phút đến
90 phút Chúng tôi gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận và phỏng vâh sâu những người có HTV, người sử dụng ma tuý, gái mại dâm, hay người đồng tính Bản thân nhóm đôì tượng này họ không thể "công khai danh tính" của minh, đổng thời họ sợ khi họ hợp tác với người nghiên cứu sẽ làm cho chính những thành viên trong gia đình của mình chịu sự kỳ thị
và phân biệt đổi xừ của cộng đồng Chúng tôi sử dụng nhiều kỹ năng phỏng vâh để giúp giải quyết các vâh đề nảy sinh giữa nhà nghiên cứu
và người được phòng vâh, bao gồm việc tạo dựng lòng tin giữa hai bên trưóc khi phỏng vâín, xây đựng hình ảnh tô't trong người được phỏng vâh bằng cách tuân thủ các quy tắc giao tiếp giữa người phòng vấn và người được phòng vấn Thêm vào đó, chúng tôi điều chỉnh thời gian nghiên cứu phù hợp với đôì tượng nghiên cứu và lựa chọn địa điểm thuận lợi cho phỏng vâh giúp giảm thiểu tác động xâu của bôì cảnh nghiên cứu
Thảo luận nhóm tập trung được tiến hành vói một sô' nhóm bao gồm nhóm lãnh đạo chính quyền địa phương, nhóm nhà tuyển dụng lao động, nhóm cán bộ - nhân viên công tác xã hội, nhóm người có HIV, gia đình và cộng đổng người có HIV ĐÔI vói các thảo luận nhóm khác nhau đều có hướng dẫn cụ thể cho tùng nhóm đôi tượng, chẳng hạn, đôi vói nhóm có HIV, chúng tôi tập trung vào sự trải nghiệm kỳ thị, nhóm lãnh đạo tập trung vào các chương trình, các hoạt động, những tổn tại ớ địa phương Sự tương tác đã khuyến khích các cá nhân bày tỏ ý kiến của mình về bối cảnh, nhận thức, thái độ và các mong đợi gắn với hành vi của họ và sự thế hiện của họ trong tương tác nhóm Các thảo luận nhóm này được tổ chức tại các phòng kín đáo trong văn phòng
Trang 5B ất bình đẳng đối với người có H IV trong phát triển xã hội
Chúng tôi tiến hành phỏng vân bằng bảng hỏi câu trúc với 573 người tại Hà Nội, trong đó nam giới chiếm 48,3% (277 người) và nữ giới chiếm 51,7% (296 người) Có 6 người được hỏi mù chữ (1%), 10 người được hỏi học hết tiểu học (1,7%), 55 người được hỏi học hết trung học
cơ sở (9,6%), 204 người được hỏi học hết trung học phổ thông (35,6%)
Tỷ lệ tương ứng cho nhóm học hết trung cấp/cao đẳng, đại học và sau đại học lần lượt là 12%, 35,4% và 4,5% Lứa tuổi của mẫu khảo sát được phân bổ như sau: nhỏ hơn 18 tuổi chiếm tỷ lệ 4,9%, lứa tuổi từ 19 - 25 tuổi với tỷ lệ là 25,0%, lứa tuổi 26 - 40 tuổi chiếm 43,8%, cuốỉ cùng lứa tuổi từ 41 - 55 với tỷ lệ là 19,9% Trong nghiên cứu này, đông nhất là nhóm người có HIV và gia đình người có HIV với tỷ lệ 19,7% tương ứng đối vói mỗi nhóm, mỗi nhóm có 113 người Tiếp theo chiếm đến
107 người (18,7%) là hàng xóm của người có HIV Nhìn chung, đôi với nhóm là cán bộ - nhân viên ngành y tê' cán bộ - nhân viên ngành giáo dục, đại diện lãnh đạo chính quyền địa phương và nhà tuyển dụng phân bố khá đều ở mỗi nhóm Mỗi nhóm chúng tối chọn 48 người tương ứng với tỷ lệ 8,4%
Mặc dù râ't nhiều thông tín được bàn đến trong các cuộc phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung và phỏng vâh bằng bảng hỏi câu trúc, bài viết này tập trung mô tả thực trạng bất bình đẳng đôì với người có HIV trong việc sử dụng một số dịch vụ y tế, tiếp cận dịch vụ giáo dục, tại môi trường làm việc và phân tích một số yếu tô' ảnh hưởng đến thực trạng này
3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Đánh giá thực trạng b ấ t bình đẳng đ ổi với người có H rv trong sự
p h át triển của xã h ộ i qua m ột s ố vấn đ ể nổi bật
3.1,1 Bâ't bình đẳng đôĩ với người có HỈV trong quá trình sử dụng các dịch vụ y tế
Tình trạng bâ't bình đẳng đổi với người có HIV qua tiếp cận các dịch vụ y tế vẫn đang diễn ra Người có HIV thừa nhận rằng, các bác sĩ
và nhân viên y tế có thái độ không cởi mở và không thân thiện khi họ
sử dụng dịch vụ y tế hoặc việc họ bị các bác sĩ đôi xừ không công bằng
Trang 6so vói những người khác cùng đến sử dụng dịch vụ y tế hoặc có những bác sĩ, nhân viên y tế nhìn họ bằng ánh mắt thiếu thiện cảm thay vì tâm
sự để họ bót lo lắng và suy nghĩ tiêu cực hơn, hay thậm chí, có những bác sĩ và nhân viên y tế không thực hiện đúng trách nhiệm, nghĩa vụ và đạo đức nghề nghiệp của mình, từ chôì giúp người có HIV sử dụng các dịch vụ y tế hoặc có nhũng bác sĩ, nhân viên y tế miễn cưỡng giúp họ
sử dụng dịch vụ y tế vói thái độ không thân thiện
Khi chông chị bị áp se thận, phải vào bệnh viện X điêu trị, xét nghiệm thì mới biết là có HIV Lúc đó, tại bệnh viện chị đã hết sức bất ngờ trước thái độ của bác sĩ tại bệnh viện X Bác sĩ không trà kết quà xét nghiệm bằng giây tờ đàng hoàng như các bệnh nhân khác mà chỉ trả lời chị bằng mâm là "bị HIV rôY' Bác sĩ củng không tư vấn gì chị cả, nhìn chị bằng ánh mắt rất khinh bi
Và khi biêl chông chị có HIV' bệnh viện X đã ngay lập tức đuôĩ anh ra khỏi giưàng đang nằm và viêĩ giấy chuyên anh qua bệnh viện ĐĐ Đến bệnh viện
ĐĐ các bác sĩ cũng có thái độ tương tự như vậy và họ cũng viết giây chuyền anh qua bệnh viện XP Đến bệnh viện XP cũng vậy và họ lại viết giây chuyển trà anh vềbệnh viện ĐĐ (Phòng vấn sâu, Nữ, 36 tuổi, Hà Nội).
Bên cạnh đó, với ý kiêh cho rằng "chúng ta nên có những nơi khám chữa bệnh dành riêng cho người có HIV", 63,5% người được hòi cho rằng điều này "Rất cần thiết", 22,3% cho rằng "Cần thiết", vói phương
án "Không cần thiết" và "Rất không cần thiết" chiếm tỷ lệ rất nhỏ, lần lượt là 1,7% và 5,1% Điều này phản ánh rằng phần lón người được hỏi
có mong muốn tách biệt người HIV ra khỏi cộng đổng
Sự bất bình đẳng được thế hiện từ những cấp độ nhẹ nhâ't là việc các bác sĩ, nhân viên y tế không có thái độ cởi mở cho đến cấp độ nặng
nề hon như việc nhìn người có HIV bằng ánh mắt không thân thiện, miễn cương giúp người có HIV sử dụng dịch vụ y tế vói thái độ không vui vẻ, thậm chí từ chối hỗ trợ người có HIV
3.1.2 Bất bình đẳng đôỉ với người có HĨV trong việc tiếp cận dịch vụ giáo dục
Bên cạnh việc bị đôi xứ không bình đang trong vấn đề sử dụng dịch vụ y tế, người có HIV còn gập phải nhiều khó khăn và mât đi cơ hội trong việc tiếp cận dịch vụ giáo dục Qua phòng vấn sâu và thảo luận nhóm tập trung cho thấy nhiều trường hợp phải bỏ học giữa
Trang 7Bất bình đẳng đối với người có H IV trong phát triển xã hội
chừng vì bị gây sức ép hoặc đối xử không công bằng ở trường học, bị
kỳ thị, phân biệt đối xử
Chị củng chẳng sợ công khai là mình có HIV Có một điêu duy nhâì níu kéo chị, làm cho chị không thể nào công khai mình là người có HIV được, đó là con cái và bô'mẹ em ạ Tưởng tượng bây giờ con mình đang đi học như thế, chỉ cân nói ra mình là người có HĨV cải là con mình mất hết tương lai, đến trường
sẽ bị bạn bè tẩy chay, thậm chí, nếu mà phụ huynh khác biêl cháu con của người có HTV thì có khi gây áp lực với hiệu trưởng đ ể đuôi học con mình mất (Thào luận nhóm có HIV)
3.1.3 Bất bình đẳng đổĩ với người có HIV trong môi trường làm việc
Không chi bị đối xử bâ't bình đẳng khi sử dụng các dịch vụ y tế và tiếp cận các dịch vụ giáo dục mà người có HIV còn bị đối xử bất bình đẳng ở môi trường làm việc Do bị kỳ thị, phân biệt đốỉ xử nên người có HIV rất khó để có thể tìm được một công việc ổn định Họ thường phải làm các công việc lao động chân tay, lao động tự do, không cố định, với mức lương thấp và thu nhập bẩp bênh
Tỉ lệ đổng tình với ý kiến "cho người có HIV làm việc cùng với mọi
người" đạt tì lệ cao (43,3% cho rằng hoàn toàn đồng ý, 35,4% đồng ý,
tông đạt 78,7%) Ti lệ "không biết" chiếm 15,7% Ti lẹ không đổng y và hoàn toàn không đổng ý rất thấp, tổng đạt 5,6% Tương ứng với đó, ti lệ không đồng ý với việc "người chủ sa thải nhân công lao động là người có HIV" cũng khá cao, hoàn toàn không đổng ý là 15,5% và không đổng ý là 28,8% (tổng cộng đạt 44,3%) Tuy nhiên vẫn còn nhiều tranh luận ở nhận định "người chủ sa thải nhân công lao động là người có HIV" khi tổng sô' lượng các ý kiến hoàn toàn đồng ý và đổng ý cũng đang ở mức 35,8% (lần lượt là 4,7% và 31,1%)- Có sự mâu thuẫn trong việc biếu lộ thái độ của cộng đổng với người có HIV Khi nhắc đến những ý tưởng tích cực (như việc cho người có HTV làm việc cùng với mọi người, việc giúp đỡ người có HIV khi họ gặp khó khăn, v.v ) một sô'lượng râ't lớn các thành viên trong cộng đổng sẽ ủng hộ cách làm đó Khi được hỏi về các ý tưởng tiêu cực nhằm cách ly người có HIV ra khỏi môi trường làm việc của cộng đồng, thì một sô' lượng lớn người được hỏi cũng sẽ thể hiện quan điểm là đổng tình với điều đó, vì điểu đó sẽ làm giảm các ảnh hưởng tiêu
Trang 8cực đến bản thân họ Kết quả thảo luận nhóm cững cho thấy người có HIV củng đưa ra ý kiến trong quá trinh làm việc, họ phải chịu sự đôì xử bất bình đẳng từ cả phía người quản lý và đổng nghiệp ở noi họ làm việc như: họ bị người quản lý ở nơi làm việc đôì xử không công bằng so vói các nhân viên khác hoặc họ bị các đổng nghiệp khác từ chôì làm việc cùng hoặc các đổng nghiệp miễn cưỡng hợp tác làm việc cùng vơi thải độ khó chịu; hoặc có những đổng nghiệp ở nơi họ làm việc quyết định chuyển đi nơi khác làm vì không muôn làm việc cùng họ Nghịch lý là cho dù pháp luật quy định doanh nghiệp không được quyển từ chôì tiếp nhận nếu người lao động (bị nhiễm HỈV) đủ điều kiện tuyển dụng, tuy nhiên các chủ lao động vẫn khó sử dụng nhóm lao động này Nhiều mô hình dự án đã được áp dụng cũng bắt đầu có hiệu quả: chăn nuôi, rửa xe, gom rác, Bản thân từ chính người có HIV cũng phần nào thấy được lợi ích từ chính những mô hình này
Giúp chúng tôi bớt cảm thấy lạc lõng, bơ vơ, chúng tôi nhiều lúc muôh làm việc chứ, muôn sông những ngày tháng còn lại có ý nghĩa chứ, chúng tôi thây những cơ hội này có ý nghĩa lắm, trước hết chúng tôi không có cảm giác như những người thừa, bị xã hội cộng đồng, gia đình bỏ rơi ị Nam,
quận nội thành)
Mặc dù pháp luật quy định các doanh nghiệp không được từ chôì tiếp nhận người có HIV, nhưng hầu hết các doanh nghiệp đông công nhân đều triển khai khám sức khoẻ định kỳ Trong một sô' trường hợp, nêu cơ quan y tế của cơ quan kết luận "không đủ sức khoẻ làm việc" thì chủ doanh nghiệp có thể dừng hoặc không ký hợp đồng lao động với người có HIV một cách hợ^ lý
Những người đã bị nhiễm HIV khi xin việc chắc chắn khó, bởi vì hiện nay lao động không bệnh còn không có việc nữa là người có bệnh (Phỏng vâh sâu, Lãnh đạo doanh nghiệp)
Tôi mà biết anh ta/chị ta bị nhiễm HIV rồi, mà đến xin việc ở doanh nghiệp cùa tôi, khó mà tôi có thể chấp nhận được, tôi sẽ tìm cách từ chôỉluôn (Phòng vấn sâu, Giám đôc doanh nghiệp)
Có thể nói, môì quan tâm của các chú lao động là năng suâ't, hiệu auá công việc và lợi nhuận Chính vì vậy, chủ doanh nghiệp khó chấp
Trang 9Bất bình đẳng đối với người có H IV trong phát triển xã hội
nhận người có HIV vào làm việc do sức khoẻ không đảm bảo Có lẽ do
sự loại trừ cùng vói thực tế hiện tượng lây nhiễm HIV có ít ảnh hưởng trực tiếp đổi với doanh nghiệp nên chủ lao động chưa thực sự quan tâm đến điều này
3.1.4 B ất bình đẳng v ề giới đốt với người có HIV
Bất bình đẳng đôi với người có HIV cũng chịu sự ảnh hưởng nặng
nề của vâh đề giới Trưóc hết, vân đề giói và yếu tố văn hóa truyền thống về các giá trị của con ngưòi phân theo giới và vị trí trong gia đình (quan niệm về vợ - chổng, quan niệm về vai trò/trách nhiệm của phụ
nữ, quan niệm vê'giá trị của nữ giói trong xã hội ) có một ảnh hưởng lớn tới bất bình đẳng vói người có HIV nói chung và đối với nữ giới có HIV nói riêng Những yếu tố này tác động đến suy nghĩ, tính cách, hành động và gây ra nhiều hạn chế về mặt nhận thức của những phụ
nữ có HIV về quyền và việc trao quyền nhằm nâng cao vị thế của chính mình trong xã hội Vì vậy, bất bình đẳng đôì vói nữ giới có HIV thường xảy ra với tỷ lệ cao hơn so vói nam giói có HIV Diễn biến bâ't bình đẳng đổi với nữ giói có HIV cũng có tính chất đa dạng và phức tạp hơn so vói nam giới có HIV Sự bất bình đẳng về giói đôì vói người có HIV nói chung được thể hiện mạnh mẽ và rõ rệt là trong môi trường gia đình Phụ nữ có HIV phải chịu bâ't lợi không phải bắt nguồn từ sự khác biệt ngoại hình mà từ cách nhìn tiêu cực của xã hội
Bâ't bình đẳng về giới trong gia đình của những người có HIV được thể hiện rõ Trong khi chỉ có 47,5% nữ giới tham gia trả lời được gia đình chia sẻ và giúp đở mọi khó khăn thì tỷ lệ đó ờ nam giới cao hơn hẳn (92,3%) Và nếu chi có 23,5% nữ giói tham gia trả lời được gia đình nhà chổng/vợ thông cảm, chia sẻ đôi vói tình trạng có HIV thì tỷ lệ đó ở nam giói là 53,8% Nếu»64,7% nữ giói có HIV tham gia trả lời được gia đình bô' mẹ đẻ râ't thông cảm thì tỷ lệ đó ở nam giói cũng cao hơn hằn (92,3%)- Trong khi 35,3% nữ giói được gia đình bô' mẹ'đẻ giúp đỡ về vật chất hoặc tinh thẩn thì tỷ lệ đó ở nam giói là 69,2% Như vậy, vấn đề giới củng có ảnh hưởng lón đến sự bất bình đẳng đôi vói người có HIV
Khi nghĩ về lý do nhiễm HIV của nữ giói, rằng nếu họ "không phải
là gái mại dâm thì cũng không phải là người tử tê'", nam giói cũng có
Trang 10cái nhìn khác biệt hơn so vơi bản thân những người nữ nhìn về cộng đổng của mình (14,8% của nam so vói 9,5% của nữ cho rằng điều này là rất đúng) Vói hai ý kiến giả định rằng "Nam giới có HIV là chuyện vẫn thường thây, nhưng nữ giói mà có HIV thì hơi khó chấp nhận" và ý kiến "Nữ giói mà có HIV thi chắc đa phần là gái mại dâm, không thì cũng không phải là người tử tế", tỉ lệ ý kiến cho rằng không đúng/ hoàn toàn không đúng chiếm phần lớn vơi trên 60% Người có HIV thường
bị kỳ thị hơn khi là thành viên của một cộng đổng hay nhóm xã hội vốn
đã bị xem là tiêu cực, chẳng hạn như "nêu bị nhiễm HIV qua đường tình dục, chắc hẳn người đó không phải là người đứng đắn", khó có trường hợp ngoại lệ Vì thế người có HIV có thể bị kỳ thị ở những mức
độ khác nhau tuỳ thuộc vào việc họ bị nhiêm HIV như thế nào Do vậy, một SỐ người có HIV được coi như "vô tội" vì họ lây nhiễm qua đường truyền máu chứ không phải tình dục Do vậy, chúng ta thấy kỳ thị H3V/AIDS xoay quanh quá trinh đố lỗi chứ không đơn giản là đánh giá
và tiếp tục những bâ't bình đẳng tổn tại sẵn giữa người có HIV âm tính hay dương tính Yếu tố hành vi chúng ta thây bao gổm xu hưóng hành động tiêu cực hoặc dự định hành động tiêu cực đô'i với những người là đô'i tượng của định kiến
Bản thân nam giới có sự kì thị khi nghĩ về trường hợp nhiễm HIV của nữ giói, họ cho rằng những người nữ có HIV là chuyện khó châp nhận (9,4% của nam so vói 6,4% của nữ cho rằng điều này là rất đúng) Xét trong tương quan vói nơi cư trú, ta nhận thấy ở khu vực các huyện ngoại thành sẽ có cái nhìn nặng nề hơn so vói khu vực các quận nội thành khi đánh giá việc phụ nữ có HIV thông qua sô' liệu 8,3% dân cư ở huyện ngoại thành cho rằng điều đó là rất đúng, và 7,5% dân cư ở các quận nội thành nghĩ như vậy
Chứng ta thấy có môì quan hệ giữa HIV/AIDS và các dạng định kiên Như Link và Phelan (2001), Stein (2003) cũng chỉ ra điểm tương đổng giữa kỳ thị và các dạng định kiến khác Giông như kỳ thị HIV/AIDS, phân biệt giới tính và định kiến vói người khuyết tật đều liên quan đêh nhửng tư tưởng tiêu cực về sự khác biệt về ngoại hình Sự phân biệt đối xử có thể xày ra trên nền tảng của những định kiến này,
và mọi người có thê tiếp thu những dạng định kiến khác Thêm vào đó,