Sau đây chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu những đặc điểm của hát Xoan thông qua một số đặc điểm như: tổ chức phường Xoan, vai trò của ông trùm phường, tục giữ cửa đình và tục kết nghĩa, k[r]
Trang 1ĐẠI HOC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÀ HỘI NHÂN VĂN
N G U Y ỀN THỊ THU HA
* v » ''
BÁO CHÍ VỚI VIỆC BẢO TỔN VÀ PHÁT TRIỂN
DAN CA XOAN GHẸO
Người huống dán khoa hực: TS Triin Đãng Thao
ĐAI H O C Q U Ố C GIA HẢ NỘI TRUNG TÂM THÕNG TIN THƯ VIÊN
HÀ NỘI - 2005
Trang 2LỜ I CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học của cá nhân tôi Các SC
liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khoa học khác
Trang 3MỤC LỤC
Phần mở đầu
Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Cấu trúc luận văn
Chương 1: Dân ca Xoan, Ghẹo trong đại gia đình vãn hoá Việt Nam1.1 Phác thảo diện mạo văn hoá vùng Phú Thọ
1.2.1 Nguồn gốc của hát Xoan
1.2.2 Đặc điểm của hát Xoan
1.2.2.1 Tổ chức phường Xoan và vai trò của ông trùm
1.2.2.2 Tục giữ cửa đình và tục kết nghĩa
1.2.2.3 Không gian và thời gian diễn xướng
1.2.2.4 Trang phục và nhạc cụ của phường Xoan
1.2.3 Quá trình diễn xướng của hát Xoan
1.2.3.1 Chặng nghi thức
1.2.3.2 Chặng thứ hai: Trình diễn các quả cách
1.2.3.3 Chặng thứ ba của quá trình diễn xướng
1.3 Hát Ghẹo
1.3.1 Nguồn gốc của hát Ghẹo
1.3.2.Tên gọi của hát Ghẹo
1.3.3 Đặc điểm của hát Ghẹo
1.3.3.1 Không gian và thời gian diễn xướng
1.3.3.2 Cách ăn mặc và xưng hô
1.3.4 Quá trình diễn xướng của hát Ghẹo
1.3.4.1 Ví đãi trầu
1.3.4.2 Giọng sổng
1.3.4.3 Sang giọng
1.3.4.4 Ví tiễn chân
ỈA Mối quan hệ giữa hát Xoan, hát Ghẹo với dân ca đồng bằng Bắc bộ
1.4.1 Hát Xoan với dân ca lễ nghi phong tục ở đồng bằng Bắc bộ
1.4.1.2 Hát Chèo tàu
Trang 41.4.1.3 Hát Dậm
1.4.2 Hát Ghẹo với dân ca sinh hoạt giao duyên vùng đồng bằng Bắc bộ1.4.2.1 Vài nét về dân ca Quan họ
1.4.2.2 Mối quan hệ giữa hát Ghẹo với hát Quan họ
Chương 2: Nội dung phản ánh của báo chí đối với công tác bảo tồn và phát huy dân ca Xoan, Ghẹo
2.1 Những vấn đề về bảo tồn và phát huy dân ca Xoan, Ghẹo được phản ánh trên báo chí
2.1.1 Về loại hình dân ca Xoan, Ghẹo được phản ánh trên báo chí
2.1.1.1 Về nguồn gốc của hát Xoan, hát Ghẹo được đề cập trên báo chí2.1.1.2 Về đặc điểm của hát Xoan, hát Ghẹo được đề cập trên báo chí2.1.2 Những thành tựu trong công tác bảo tồn và phát huy dân ca Xoan, Ghẹo được ghi nhận trên báo chí
2.1.3 Những khó khăn, hạn chế trong công tác bảo tồn và phát huy dân
ca Xoan, Ghẹo được phản ánh trên báo chí
2.2 Một số đề xuất và giải pháp của báo chí đối với công tác bảo tồn và phát huy dân ca Xoan, Ghẹo
2.3 Đánh giá về nội dung phản ánh và đóng góp của báo chí đối với công tác bảo tồn và phát huy dân ca Xoan, Ghẹo
Chương 3: Nghệ thuật phản ánh của báo chí về công tác bảo tồn và phát huy dân ca Xoan, Ghẹo
Trang 5PHẨN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân ca là một loại hình nghệ thuật thuộc lĩnh vực văn hoá tinh thần Theo đề nghị của UNESCO lĩnh vực này được các nước thành viên nhất trí gọi
là “văn hoá phi vật thể” Đặc trưng của loại hình vãn hoá này là ở chỗ, nó thể hiện đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm của con người và cộng đồng người Vãn hoá phi vật thể được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác dưới dạng các tri thức, kinh nghiệm, bí quyết và truyền bằng phương pháp truyền miệng
Độ bền vững của nó khá lâu dài vì nó nằm trong ý thức của con người Nhưng cũng chính vì thế mà nó có số phận rất mỏng manh trước những biến đổi của
xã hội và lịch sử
Nền kinh tế thị trường, cùng với nó là sự hội nhập, mở cửa và giao lưu với các nước tư bản đã khiến cho nghệ thuật truyền thống trong đó có dân ca của nước ta đứng trước những nguy cơ, thách thức, khủng hoảng và xuống cấp nghiêm trọng Nhiều làn điệu dân ca bị mai một và thất truyền Sự thống trị của nhạc trẻ, nhạc quốc tế trong đời sống âm nhạc những năm gần đây đã đẩy dân ca đến bờ vực của sự diệt vong Có thể nói, chưa bao giờ nhiệm vụ bảo tồn
và phát huy âm nhạc truyền thống nói chung và dân ca nói riêng lại được đặl
ra cấp bách như giai đoạn hiện nay
Hát Xoan, hát Ghẹo Phú Thọ là bộ phận văn hoá cấu thành nên khc tàng văn hóa truyền thống quí báu của người Việt, là sản phẩm văn hoá tinh thần được sinh thành ngay trên mảnh đất cội nguồn dân tộc, đất tổ Hùnị Vương Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, các thế hệ tiếp nối nhau đã say mê sánị tạo, mài dũa, chắt lọc lưu truyền lại để Xoan, Ghẹo trở thành những loại hìrứ
ca hát độc đáo mang nhiều giá trị Hiện nay, hình thức hát Xoan, hát Ghẹ( xưa và những giá trị của nó đang bị mai một đi rất nhiều
Trang 6Bảo tồn và phát huy dân ca Xoan, Ghẹo là công việc đòi hỏi nhiều thời gian và công sức Đó không đơn thuần là công việc của ngành vãn hoá, ngành khảo cổ, ngành văn học dân gian, âm nhạc mà là công việc đòi hỏi phải có
sự tham gia nhiệt tình của các cấp các ngành trong đó có báo chí
Là một loại hình hoạt động đặc thù, ra đời do những nhu cầu khách quan của xã hội, báo chí mang trong mình những tiềm năng có ý nghĩa rất to lớn đối với xã hội Trong công cuộc bảo tồn và phát huy dân ca Xoan, Ghẹo báo chí có một ý nghĩa nhất định Trước ý nghĩa của vấn đề này chúng tôi đã chọn đề tài “Báo chí với việc bảo tồn và phát huy dân ca Xoan, Ghẹo” để làm luận văn tốt nghiệp
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Hát Xoan, hát Ghẹo Phú Thọ bắt đầu được biết đến từ những năm 1957 với sự quan tâm của nhiều nhạc sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian, văn hoá dân Cho đến này đã có một số công trình nghiên cứu có giá trị về hai loại hình dân ca này và đã được công bố như: “Bước đầu tìm hiểu hát Xoan” của
Tú Ngọc, do Ty Văn hoá Vĩnh Phú xuất bản; “Bước đầu tìm hiểu hát Ghẹo Phú Thọ” của Nguyễn Đăng Hoè do Ty Văn hoá Vĩnh Phú xuất bản; “Hát Xoan, hát Ghẹo Vĩnh Phú” của Nguyễn Khắc Xương và Dương Huy Thiện, Hội Văn học nghệ thuật Vĩnh Phú xuất bản; “Hát Xoan” của Tú Ngọc do Viện
âm nhạc xuất bản; “Thử tìm hiểu về điệu thức trong hát Ghẹo” (luận văn tốt nghiệp của Hứa Đông Hải, Nhạc viện Hà Nội); “Tìm hiểu việc tiếp nhận của chất liệu dân ca Xoan, Ghẹo trong ca khúc một số nhạc sĩ Việt Nam” (luậr văn tốt nghiệp của Ngô Thị Xuân Hương, Nhạc viện Hà Nội); “Dân ca Xoan Ghẹo” (kỷ yếu) do Sở Văn hoá thông tin Vĩnh Phú ấn hành
Những công trình nghiên cứu trên, các tác giả chủ yếu đi sâu vào phâr tích các thành tố cấu trúc âm nhạc, sưu tầm, ghi âm các làn điệu bài bản Tu}
có đề cập đến vấn đề bảo tồn và phát huy nhưng nó chỉ chiếm một phần nhc
và hoàn toàn đứng trên góc độ của những người nghiên cứu âm nhạc thuầi tuý Cũng xây dựng đề tài dựa trên hai loại hình dân ca độc đáo của tỉnh Phi Thọ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về “Báo chí với việc bảo tồn và phát hir
Trang 7dân ca Xoan, Ghẹo” Mục tiêu của luận văn là đi vào tìm hiểu về sự phản ánh,
sự đóng góp của báo chí đối với công cuộc bảo tồn và phát huy dân ca Xoan, Ghẹo
Là luận văn đầu tiên đề cập đến sự phản ánh của báo chí về dân ca Xoan, Ghẹo, chúng tôi gặp không ít khó khăn về vấn đề tài liệu, về thời gian
và đặc biệt là khả năng am hiểu về âm nhạc của dân ca chính vì vậy luận văn này không tránh khỏi những hạn chế Những vấn đề luận văn đặt ra cũng chỉ
là công trình nghiên cứu bước đầu, rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô
và các bạn đồng nghiệp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi vào tìm hiểu về hai loại hình dân ca Xoan, Ghẹo của tỉnh Phú Thọ, so sánh chúng với những loại hình dân cùng hệ phong tục tín ngưỡng hay sinh hoạt giao duyên Trên nền những căn cứ này luận vãn đi sâu vào tìm hiểu hoạt động của báo chí trong việc bảo tồn và phát huy dân ca Xoan, Ghẹo trong thời gian qua Chính vì vậy, chúng tôi đi vào nghiên cứu vấn đề trên 2 tờ báo là Văn hoá, Phú Thọ và 3 tờ tạp chí là Văn hóa nghệ thuật, Văn hoá dân gian và Nguồn sáng dân gian để có cái nhìn chính xác, cụ thể về vấn đề Thời gian nghiên cứu được giới hạn cụ thể trong 15 năm từ nãm 1990 đến hết tháng
6 năm 2005 trên các báo và tạp chí nêu trên
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Tun hiểu về nguồn gốc, đặc điểm, quá trình diễn xướng của hát Xoan, hát Ghẹo
- Bước đầu tìm hiểu về mối quan hệ của hát Xoan, hát Ghẹo với các loại hình dân ca khác của khu vực đồng bằng Bắc bộ qua đó làm rõ vị trí, ý nghĩa của hát Xoan, hát Ghẹo trong đời sống âm nhạc dân gian của người Việt
- Tìm hiểu nội dung tin, bài qua khảo sát để xác định mức độ tham gia của báo chí đối với công tác bảo tồn và phát huy dân ca Xoan, Ghẹo
- Giới thiệu và phân tích nghệ thuật phản ánh của báo chí thông qua các loại tin, bài đăng trên các báo Văn hoá, Phú Thọ và tạp chí Văn hoá nghệ thuật, Văn hoá dân gian và Nguồn sáng dân gian
Trang 8- Bằng khả năng của người làm công tác nghiên cứu, chúng tôi hi vọng
sẽ đưa ra được những ưu, nhược điểm cụ thể về nội dung cũng như hình thức
thể hiện nội dung phản ánh về công tác bảo tồn và phát huy dân ca Xoan
Ghẹo, đồng thời đưa ra những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hơn sự thể
hiện về nội dung và hình thức đề của đề tài trên
5.Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp như: Sưu tầm (Sưu tầm tài liệu, sách,
báo )
Phương pháp điền dã: Tìm hiểu tại các địa phương, các nghệ nhân
Phương pháp hệ thống và liên nghành: Hát Xoan, hát Ghẹo là một hình
thức sinh hoạt văn hoá có liên quan đến phong tục tập quán, dân tộc học, văn
học, âm nhạc nên phải nghiên cứa hệ thống và liên ngành
Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp như:logic lịch sử,
phân tích tổng hợp thống kê, so sánh, quy nạp và diễn dịch
6 Cấu trúc luận văn
Luận văn này gồm 131 trang, không kể phụ lục và mục lục, trong đó
gồm 3 chương chính sau đây:
Chương 1: Dân ca Xoan, Ghẹo trong đại gia đình vãn hoá Việt Nam
(Trang 7 đến trang 57)
1.1 Phác thảo diện mạo văn hoá vùng Phú Thọ (Trang7 đến trang 11)
1.1.1 Đặc điểm vị trí tự nhiên (trang 7 - 8)
1.1.2 Kinh tế - xã hội (Trang 8)
1.1.3.Văn hoá dân gian vùng Phú Thọ (trang 8- 11)
1.2 Hát Xoan (Trang 16-31)
1.2.1 Nguồn gốc của hát Xoan (trang 16- 18)
1.2.2 Đặc điểm của hát Xoan (Trang 18- 23)
1.2.3 Quá trình diễn xướng của hát Xoan (Trang 23- 31)
1.3 Hát Ghẹo (Trang 31- 41)
1.3.1 Nguồn gốc hát Ghẹo (Trang 31 - 35)
1.3.2 Tên gọi của hát Ghẹo (Trang 35)
vọng
Trang 91.3.3 Đặc điểm của hát Ghẹo (Trang 36 - 37).
1.3.4 Quá trình diễn xướng của hát Ghẹo (Trang 38- 41)
1.4 Mối quan hệ giữa hát Xoan, hát Ghẹo với dân ca đồng bằng Bắc bộ (Trang 42- 51)
1.4.1 Hát Xoan và dân ca lễ nghi phong tục ở đồng bằng Bắc bộ (Trang 43- 46)
1.4.2 Hát Ghẹo với dân ca sinh hoạt, giao duyên vùng đồng bằng Bắc
2.1.3 Những khó khăn hạn chế trong công tác bảo tồn và phát huy dân
ca Xoan, Ghẹo được phản ánh trên báo chí (Trang 78- 84)
2.2 Một số đề xuất và giải pháp của báo chí đối với công tác bảo tồn và phát huy dân ca Xoan, Ghẹo (Trang 84- 89)
2.3 Đánh giá về nội dung phản ánh và đóng góp của báo chí đối với công tác bảo tồn và phát huy dân ca Xoan, Ghẹo (Trang 89- 93)
Chương 3.Nghệ thuật phản ánh của báo chí về công tác bảo tồn và phá huy dân ca Xoan, Ghẹo
3.1 Một số thể loại được sử dụng (Trang 94- 111)
Trang 103.2 Ngôn ngữ thể hiện (Trang 111- 126).
3.2.1 Ngôn ngữ tít báo (Trang 111- 119)
3.2.2 Ngôn ngữ thể hiện nội dung (Trang 119- 126)
Kết luận: Đưa ra những ưu điểm, nhược điểm của 2 tờ báo và 3 tờ tạp chí trong việc thể hiện nội dung và hình thức vấn đề
Phụ lục: Đây là phần để giới thiệu về những bài báo thu thập được, những bài hát dân ca Xoan, Ghẹo, những hình ảnh về hát Xoan, hát Ghẹo, được để ở phần cuối cùng của luận văn
Trang 11CHƯƠNG 1 DÂN CA XOAN, GHẸO TRONG ĐẠI GIA ĐÌNH VÃN HOÁ
Về diện tích, Phú Thọ có chiều dài theo đường chim bay từ Bấc xuống Nam là 95km, từ Đông sang Tây rộng 65km, tổng diện tích là 3456km2, gồm
12 huyện thành thị: Sông Thao, Thanh Sơn, Yên Lập, Thanh Ba, Hạ Hoà, Đoan Hùng, Phù Ninh, Lâm Thao, Thanh Thuỷ, Tam Nông, Thị xã Phú Thọ
và thành phố Việt Trì, chia thành 270 xã phường, thị trấn (xem phụ lục ).Phú Thọ có đầy đủ các dạng địa hình: Núi, đồi, thung lũng, đồng bằng
và là nơi hội tụ của ba con sông lớn ( sông Hồng, sông Lô, sông Đà) Với tính chất địa hình đa đạng phức tạp nên khí hậu ở đây cũng đa dạng, mang đặc điểm nhiệt đới nóng ẩm và mưa nhiều Nhiệt độ cao thấp chênh lệch nhiều giữa các mùa, khô ẩm xen kẽ Mùa hè, ảnh hưởng của bão không lớn nhưng thường hay có giông và mưa Mùa đông nhiệt độ thấp, băng giá, sương xuống hay xảy ra mưa phùn và sương mù bao phủ Do đặc điểm địa hình và khí hậu ở đây như vậy nên đã tạo điều kiện cho Phú Thọ có nhiều loại cây cối quanh năm xanh tốt và có nhiều động vật sinh sống, đồng thời cũng tạo cho Phú Thọ
có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp như: Thác Hương Kiện( còn gọi là Thác Đá Thờ) Động Chùa Hang ở thôn Vân Nham huyện Đoan Hùng; Đền Ngọc Tháp ven sông Thao; Đầm Ao Châu ở Hạ Hoà có 99 ngách thu nước từ 99 con suối lớn nhỏ từ bốn phía đổ về; Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Sơn rộng 12.000ha,
là khu rừng nguyên sinh trong thung lũng hẹp, núi cao vây quanh, bên trong
Trang 12có hàng vạn kỳ tích thiên nhiên: Suối, thác, hang động, cây cỏ, động vật tạo nên quần thể thắng cảnh Xuân Sơn kỳ thú.
Phú Thọ còn miền đất lưu giữ nhiều giá trị lịch sử, tiêu biểu nhất là khu
di tích lịch sử Đền Hùng, được xây dựng trên núi Nghĩa Lĩnh, thuộc thôn cổ Tích, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao
1.1.2 kinh tế - xã hội
Phú Thọ ngày nay có dân số 1,3 triệu người trong đó người Kinh chiếm
số đông, ngoài ra còn có gần 10 vạn người Mường, 6 nghìn người Dao và 2 nghìn người Cao Lan sinh sống chủ yếu ở các huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Đoan Hùng
Phú Thọ là mảnh đất giàu tiềm năng tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong phú có thể khai thác phục vụ cho các ngành công nghiệp hoá chất, phân bón, chế biến nông lâm, giấy, vải may mặc, đường, rượu, bia, khai khoáng, vật liệu xây dựng Phú Thọ trở thành một trong những tỉnh có các khu công nghiệp lớn như: Việt Trì, Bãi Bằng, Lâm Thao và đang xây dựng khu công nghiệp ở Bạch Hạc, Thuỵ Vân quy mô mỗi khu từ 60 đến 100 nhà máy
Phú Thọ có hệ thống giao thông đồng bộ gồm cả đường bộ, đường thuỷ, đường sắt chạy qua suốt chiều dài của tỉnh Mạng lưới điện đã phủ khắp địa bàn dân cư trong tỉnh đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội hiện tại và tương lai Thông tin liên lạc đã và đang được hiện đại hoá thuận tiện cho việc giao lưu thông tin trong nước và quốc tế
Bên cạnh những mục tiêu phát triển kinh tế, Phú Thọ cũng ưu tiên phát triển văn hoá - giáo dục, nâng cao trình độ đội ngũ trí thức, nâng cao dân trí, nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân đặc biệt là ở các vùng nông thôn, miền núi, vùng xa đô thị, đưa khoa học kỹ thuật, thông tin vào phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
1.1.3 Văn hóa dân gian vùng Phú Thọ
Với bề dày lịch sử của hàng ngàn năm dựng nước, Phú Thọ được coi là cái nơi phát tích của dân tộc Việt Trên nền tảng bền vững đó, người dân Phú
Trang 13Thọ đã tạo ra một kho tàng vãn hoá dân gian vô cùng phong phú, đa dạng với
những nét đặc trưng riêng của người dân nơi này
1.1.3.1 L ễ hội
Lễ hội dân gian Phú Thọ chính là nơi bảo tồn vãn hoá làng xã và di sản
văn hoá dân tộc cho muôn đời sau Cũng như nhiều địa phương khác, lễ hội ở
Phú Thọ còn mang những hình thức được phổ biến của lễ hội cộng đồng người
Việt cổ, tuy nhiên nó cũng có những nét mang tính đặc thù của vùng núi trung
Trước hết phải kể đến lễ hội Đền Hùng, diễn ra vào ngày 10/3 âm lịch,
được coi là đỉnh cao của tâm thức Việt Nam (xem phụ lục) Hiếm có nơi nào
trên thế giới lại có một ngày giỗ Tổ như ở Việt Nam cho nên Đền Hùng và lễ
hội Đền Hùng là điểm hội tụ cộng đồng dân tộc và là tiêu biểu cho lòng tự hào
của người Việt về ý chí quyết tâm giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc mãi trường
Ngoài lễ hội Đền Hùng mang cấp độ quốc gia, Phú Thọ còn có rất
nhiều lễ hội như:
- Hội Phết Hiền Quan (Tam Nông) diễn ra vào ngày 13 tháng giêng âm ; âm lịch Đánh phết là hình thức cầm một chiếc gậy mà đánh quả cầu để đưa cầu
đi Chơi phết chia thành hai phe, số người tham gia không hạn chế Trên bãi
Phết, mỗi đầu bãi có một cái hố tròn đứng ngập tới đầu gối quả cầu hay quả
phết làm bằng gỗ mít, gỗ xoan hay củ tre to bằng quả bóng da Các cầu thủ
mỗi người cầm một cây tre dài bằng chiếc đòn gánh, gốc đẽo vát hình thìa, đó
là gậy phết Khi chơi, người ta lấy gậy đó mà đưa cầu, bên nào giành được cầu
đánh lọt vào cái hố của bên mình là thắng
-Lễ hội bơi chải ở Bạch Hạc
Bạch Hạc (Việt Trì) là vùng hội tụ của 3 con sông, nơi đây thờ Tam
Giang Đại Vương - là thuỷ thần ngã ba sông Bạch Hạc thường mở hội bơi
chải vào ngày 20 tháng 5 âm lịch Chải ở Bạch Hạc là trải gỗ đẽo liền một tấm
không nối, mỗi trải có 24 khoang gọi là phách với 48 tay chèo, một người lái
Trang 14và một người mõ hiệu, sắc màu của chải, cờ quạt, quần áo, mái chèo thống nhất một màu đỏ.
Phú Thọ còn rất nhiều lễ hội khác như: Lễ hội trò Trám ở Tứ Xã; Rước kiệu Hùng Lô; hội hát Xoan ở Kim Đức; Lễ hội Hương Nha, Kinh Kệ, Hà Thạch; Vân Luông; Gia Thanh; Phú Nham; Hiền Đa; Bình Bộ, Phù Ninh, Thạch Sơn; Tiên Du có khoảng hơn 200 lễ hội lớn nhỏ
1.1.3.2 Tín ngưỡng
Người Việt cổ có tín ngưỡng thờ tổ tiên, trong mỗi gia đình bàn thờ được đặt ở vị trí trung tâm, trang trọng nhất, ngoài ra còn thờ thần linh (thổ công) táo quân
Kể từ khi con người biết trồng trọt, chăn nuôi thì đã xuất hiện tín ngưỡng phồn thực: Cầu cúng cho mùa màng tươi tốt, cho con người sinh sôi phát triển Bởi vậy có tục thờ lúa như gọi vía lúa, rước lúa, rước mạ, thờ lúa cầu nước, cầu ánh sáng cho lúa Ở Phú Thọ cũng có những tín ngưỡng như
vậy Như ở làng Tứ Xã (Lâm Thao) có tục “Rước bông lúa thần” Người ta
buộc những cụm lúa vào một ngọn mía rồi rước khắp cánh đồng để cầu lúa tốt Hay tục rước ông Khiu và bà Khiu ở Thanh Đa (Lâm Thao), vật lễ là mâm lúa, ngô, khoai, đậu, và chiếc bánh tày Sau khi hành lễ cúng trời, ông Khiu
Bà Khiu sẽ tung vật lễ xuống sân cho dân làng cướp lấy Người ta cho rằng ai cướp được chiếc bánh tày sẽ chóng có con; ai cướp được lúa, ngô, khoai, đậu thì làm ăn thịnh đạt
Ở các xã Thanh Uyên (Tam Nông), xã Đại An (Thanh Ba), xã Kinh Kệ (Lâm Thao) vẫn còn tục cướp ngũ cốc, cướp bánh, cướp cơm, xôi, cướp kén tằm và các vật tượng hình sinh thực khí nhằm cẩu mùa, cầu đinh
Một nghi thức không thể bỏ qua được đó là lễ cúng thần Nông như ở xã Thuỵ Vân ( Việt Trì), tổ chức lễ hạ đền vào ngày 15/6, lễ vật gồm 100 miếng trầu cau, đồng thời mỗi giáp phải sửa một ván xôi gà đem ra đình Sau khi chúa điền làm lễ ở đình để cúng thần Nông mới lội xuống ruộng cắm một cây nêu và cấy từ 8 đến 12 khóm lúa quanh cây nêu Cây nêu ở đây tiêu biểu cho
Trang 15cây vũ trụ, nối liền trời đất, âm dương giao hoà sinh sôi Người cấy lúa mở đầu
vụ có thể là đàn ông (dương), đàn bà (âm) tượng trưng cho sự sinh sôi
1.1.3.3 Vãn học và nghệ thuật dãn gian
phong phú với rất nhiều thể loại như: Thần thoại, truyền thuyết, truyện cười,
ca dao, vè, ví
- Thần thoại - truyền thuyết: Chỉ tính riêng truyền thuyết Hùng Vương
cũng đã có trên 200 truyện kể truyện miệng trong nhân dân Từ truyện Lạc
Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng nở thành trãm con, hay truyện “
Vua Hùng dạy dân cấy lúa”; Truyền thuyết “ Sơn Tinh Thuỷ Tinh”; “Tản Viên
Sơn Thánh”; “An Dương Vương dựng cột đá thề”; “ Sự tích rước chúa gái”;
“Sự tích trầu cau”; “ Bánh trưng bánh dầy”
- Truyện cười: cũng là một bộ phận quan trọng trong kho tàng truyện
dân gian Phú Thọ, nổi tiếng nhất là “ Truyện cười Văn Lang” ( Văn Lang tên
gọi một xã thuộc huyện Tam Nông), một số truyện tiêu biểu như: “ Xôi dẻo”,
“khoai dẻo’, “ Đĩa lưỡi chuột”, “ Củ sắn xuyên qua đường 24” ngày nay khi
nhắc đến Văn Lang người ta lại nhắc ngay tới câu “ Văn Lang cả làng nói
phét”
Nhìn chung tiếng cười trong văn học là tiếng cười giàu tính chiến đấu,
trong lao động sản xuất, chống giặc ngoại xâm, người nông dân vẫn luôn cười
vui vẻ, biểu hiện sức mạnh chống cường quyền bạo lực
- Thơ ca dân gian: Người Phú Thọ yêu thơ, thích hát, nên thơ ca dân
gian vô cùng phong phú Nó là kho tàng vô giá, là nguồn dinh dưỡng tinh
thần, là trí tuệ tâm hồn của người dân Đất Tổ ở Phú Thọ có nhiều thơ ca
truyền miệng, có đủ các loại như đồng dao, ca dao, vè, ví Với nghệ thuật thi
pháp và nội dung chủ yếu là trữ tình, trào phúng, mang nhiều điển tích, nói lên
nhận thức về quê hương mình
Đặc điểm địa lý tự nhiên Phú Thọ, có núi cao, sông dài, có khe, có suối,
có đồi, có đồng bằng màu mỡ phì nhiêu Những cảnh sắc trung du ấy cũng đã
được biểu hiện khá đậm nét trong thơ ca dân gian nơi đây:
Trang 16- Sông Thao nước đục người đen
Ai lên Vũ ẻn thì quên đường về
- Sông Thao nước đỏ như son Người đi có nhớ nước non quê nhà
Hình ảnh con sông Thao chở nặng phù sa nên màu nước đục, đỏ như màu son đã đi vào cuộc sống, tình cảm của con người Ngoài con sồng còn có các hình thể danh lam thắng cảnh khác tiêu biểu ở mỗi làng mỗi địa phương cũng đều được khắc hoạ trong thơ ca dân gian:
Mèo Gù, Đá Ngựa đâu xa Chầu về non Tản ấy là tôn nhân
Những triết lý và tính cách của con người Phú Thọ cũng được thể hiện khá rõ nét qua tục ngữ thơ ca dân gian:
- Sông kia uống nước hỏi nguồn từ đâu?
- Gần xa ta cũng một nhàCùng dòng Hồng Lạc, cùng là Viêm bang
Trong kho tàng thơ ca dân gian Phú Thọ, một số lượng rất lớn nói về tình yêu nam nữ, mang màu sắc trung du:
- Lạ lùng em tới nơi đây Thấy cây chè nạm, thấy cây chè đồi
1.2.3.3.2 Nghệ thuật dân gian.
- Múa dân gian: Ra đời rất sớm, là một trong những loại hình nghệ
thuật đầu tiên khi con người có nhu cầu biểu hiện tình cảm tự nhiên của mình Múa thường được biểu diễn có tiếng hô, tiếng hú theo nhịp các nhạc cụ gõ thô
sơ trong dạng hỗn hợp nguyên thuỷ và được biểu diễn ra trong những nghi lễ như cầu mùa, săn bắt Cũng như các địa phương khác, ở Phú Thọ, ngoài các điệu múa văn nghệ truyền thống của người Kinh, còn có một số trò nghi lễ phong tục như: Múa Săn ( Phú Lộc), Múa Mo ( Nam Cường), múa Tùng Dí ( Chu Hoá), múa Xuân Ngưu (Đào Xá), múa Xoan (Phù Đức và An Thái)
- Múa săn (hay còn gọi là múa gà phủ): Ở xã Phú Lộc (Phù Ninh), được
tổ chức vào ngày 7 tháng giêng âm lịch trong lễ mở cửa rừng Trò múa với
Trang 17những động tác đơn giản, mô phỏng hình thức vây lưới, săn bắt, dồn thú, mang tính chất một lễ tiết của cuộc lễ thần Tản Viên, để cầu cho việc săn bắt được thắng lợi.
- Múa mo Nam Cường (Xã Thanh Uyên, Tam Thanh): Tổ chức vào ngày mùng 7 tháng giêng âm lịch là ngày tiệc tế Xuân Nương tại sân đình Điệu múa được ông chúa mo cùng trai gái trong dân làng tham gia biểu diễn, phối hợp nhịp nhàng giữa lời hát và động tác, khi tiến, khi lui, khi đứng một chân, khi quay tròn của chúa mo và tiếng hú của trai gái trong điệu múa
- Đâm Đuống (múa của người Mường): thực chất là hình thức giã gạo, nhưng giã gạo trong hội lễ có tính chất nghệ thuật và có tổ chức, đặc điểm của múa này là chỉ do phụ nữ biểu diễn Mở đầu cuộc diễn là một bà nhiều tuổi nhất trong gia đình đứng đầu cối giã ba tiếng để mở màn, thành ba tiếng
“kênh, kênh, kính” Nghệ thuật ở đây làm sao giã thành ba âm thanh như trên
Chày người già khai mạc như thế gọi là “chày cái”, “chày con”, “chày cháu” Trong nhà có bao nhiêu phụ nữ, phải chuẩn bị bấy nhiêu chày và đủ số cum (cối bằng gỗ) để giã Ngoài đình vào buổi sớm đầu năm khi có tiếng trống cất lên thì tất cả các nhà đều giã (xem phụ lục)
Phú Thọ là nơi có nhiều dân tộc khác nhau, mỗi dân tộc lại có những điệu múa riêng cho nên ngoài các điệu múa trên còn rất nhiều điệu múa khác như: Múa Hương, múa Khăn Đai, múa Gươm, múa Roi, múa Dao
ở Phú Thọ cũng có nhiều làng có các trò diễn khác nhau như trò trình nghề (có nghĩa là trình bày hoặc giới thiệu các nghề của làng) Trò này được
gọi là trò ‘T ứ dân” : Sĩ, nông, công, thương Trò Trám (xã Tứ Xã, huyện Lâm
Thao) là trò trình nghề nổi tiếng được tổ chức vào ngày mùng 1 tháng giêng
âm lịch Bên cạnh các trò trình nghề, còn có các trò diễn về thần tích, về truyền thuyết dân gian như: Trò diễn điểm binh đánh giặc (xã Hiền Quan, huyện Tam Nông) trong ngày hội tế bà Thiều Hoa (Nữ tướng Hai Bà Trưng); Trò “Rước chúa gái” là trò diễn ngày mùng 8 tháng giêng của thôn Triệu Phú
xã Hy Cương (Lâm Thao) Đây là trò diễn về sự tích Tản Viên đón dâu với những tình tiết khác nhau
Trang 181.1.1.3.3 Â m nhạc dân gian' Phú Thọ là nơi có nhiéu hình thức ca hát hát dân gian quen thuộc như hát Ví, Đúm, Cò lả, Trống Quân, xẩm , Ca Trù và
các loại ca hát của các dân tộc như: Xường (Mường); Sịch ca, Vèo ca (Cao
Lan); Pao Dung hay Ay Dung (Dao) Nhưng nổi bật hơn cả và mang tính độc
đáo tiêu biểu cho âm nhạc dân gian Phú Thọ là hát Xoan và hát Ghẹo (đây là
hai loại hình dân ca thuộc đối tượng nghiên cứu của luận văn nên sẽ được
trình bày cụ thể ở phần sau)
Thọ mà còn có ở nhiều nơi khác Ví là loại hát giao duyên của trai gái, có thể
hát quanh nãm trong mọi lúc, mọi nơi Tuy hát Ví không có quy định chặt chẽ
như hát Xoan, nhưng mùa xuân thường hát vào tháng giêng, mùa thu vào
tháng tám Trong hội làng, hát Ví thường được tổ chức hát vào ban đêm Hát
Ví không có bài bản sẵn, cho nên đòi hỏi người hát phải trổ tài ứng khẩu, đối
đáp kịp thời và sinh động Thường một cuộc hát Ví phải qua các chặng: Hát
vào cuộc mời chào, hỏi thăm làm quen; Hát lỡm, hát chua, hát nghịch; Hát đố,
hoạ về giăng gió, thiên nhiên; Hát xe kết, giao duyên; Hát chia tay Nội dung
lời ca của hát Ví bóng bẩy, giàu hình tượng, gần với thiên nhiên, với lao động
sản xuất và đời sống sinh hoạt hàng ngày, đồng thời cũng biểu hiện được cảm
xúc hồn nhiên, chân thành của người lao động
ở Phú Thọ có nhiều loại hát Ví đặc biệt, mang nặng màu sắc quê hương
như: Ví đồi chè của người dân Hạ Hoà, họ vừa hái chè vừa hát Ví với nhau
trên nương:
- Lạ lùng em mới tới đây Thấy chè thì hái biết cây ai trồng Chè đâu thơm lạ thơm lùng Thơm cả người hái người giồng cũng thơm
Ví không phải chỉ có hát trên cạn mà còn có Ví đò dọc, Ví bến nước:
Cách nhau có một mạn thuyền
Để thương để nhớ để phiền cho nhau
Trang 19- Hát Trống Quân: Là loại hình dán ca đối đáp tỏ tình trai gái phổ biến iến của vùng đồng bằng Trung du Bắc bộ.
Tháng tám em đi “chơi xuân”
Thấy đây mở hội Trống Quân em vào
Khác với các loại hình ca hát khác, Trống Quân ở Phú Thọ có những
điệu hát và lối hát riêng Khi hát thường dùng nhịp đệm bằng trống Hát Trống
Quân làng Đức Bác, khi hát nữ đeo một cái trống con trước ngực, dây quàng
qua cổ, hoặc bưng trống trước ngực; Nam cầm dùi gõ vào mặt trống Họ nhìn
nhau, biểu lộ tình cảm cho những câu hát:
Cách sông em phải luỵ thuyền Những như đường liền em tới ngay đây Bây giờ bắt gặp nhau đây Hỏi rằng chuyện ấy nợ này làm sao Trống Quân có làn điệu riêng, nhưng chủ yếu vẫn sử dụng thể loại thơ
lục bát, hết mỗi câu lại có thêm một câu: “Ta hỡi Trống Quân” Một chặng hát
Trống Quân thường có ba phần: Phần mở đầu: Nội dung chủ yếu thãm hỏi, dò
xét quê quán và tên tuổi; phần hai: Nội dung chủ yếu là xe kết duyên, trao đổi
tình tứ và ví von; phần ba: Nội dung chủ yếu là nói về sự chia tay lưu luyến
Ngoài hát Ví, hát Trống Quân, ở Phú Thọ chúng ta còn thấy có một số
loại hình dân ca khác như: Ca Trù, hát ả đào, hát Nhà Tơ hoặc hát xẩm
Phú Thọ nơi mảnh đất cội nguồn của dân tộc, với những điều kiện tự
nhiên môi trường phong phú, là nơi tiếp giáp giữa đồi núi và đồng bằng, nơi
hội tụ của các con sông lớn, nơi có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp và chính
những điều kiện tự nhiên này đã tạo nên cái nôi của dân tộc Việt Nam Hiếm có
nơi nào lại có điều kiện tự nhiên phong phú và có bề dày lịch sử như nơi đây
Đó chính là điều kiện thuận lợi để cho các loại hình nghệ thuật dân gian ra đời
Hát Xoan và hát Ghẹo là những loại hình ca hát dân gian được nảy mầm ngay
trên chính mảnh đất này Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử phát triển khác nhau
nhưng hát Xoan, hát Ghẹo Phú Thọ vẫn mang trong mình những dấu ấn đậm
nét của thiên nhiên, của xã hội và tính cách của con người nơi đây
Trang 201.2.Hát Xoan
Hát Xoan là tục hát vào mùa xuân ở các cửa đình có hội đám, tế thần nên còn được gọi là “khúc đình môn” Lối hát này xuất xứ ở 4 thôn: Phù Đức, Kim Đới, An Thái và Thét thuộc huyện Phù Ninh, Phú Thọ Hát Xoan có tên gốc là hát xuân, là lối hát vào dịp hội hè đình đám của mùa xuân, sau đọc chệch đi thành hát xoan do phạm tên huý của bà công chúa Xuân Lan
1.2.1.Nguồn gốc của hát Xoan
Đối với một số hình thức nghệ thuật dân gian cổ truyền phát triển theo phương thức truyền khẩu, truyền ngón, truyền nghề, có lịch sử lâu đời, có vị trí trong đời sống văn hoá, trong tập tục của cộng đồng như Quan họ, hát Dô, hát Dậm, hát Chèo tàu, hát Ghẹo thường gắn với những truyền thuyết, huyền thoại, dã sử nhằm giải thích nguồn gốc, hoặc xuất xứ của chúng Vấn đề nguồn gốc của hát Xoan cũng không nằm ngoài những mối quan hệ mang tính phổ quát nói trên
Để góp phần làm sáng tỏ vấn đề nguồn gốc của hát Xoan, chúng tôi vừa nêu lên những ‘giả thuyết”, tức là những câu chuyện có tính chất huyền thoại, truyền thuyết về nó, cả những tương truyền có tính “chính sử” về nó đồng thời nêu những căn cứ kinh tế, tín ngưỡng, xã hội, văn hoá tạo nên nguồn gốc sinh thành của nó
Dưới đây là một số truyền thuyết và huyền thoại có liên quan đến nguồn gốc hát Xoan
Trong cuốn “Truyền thuyết Hùng Vương” có kể rằng: Vợ vua Hùng mang thai đã lâu, tới ngày sinh nở, đau bụng mãi mà không để được Có một người hầu gái tâu với vợ Vua về nàng Quế Hoa xinh đẹp, muá giỏi, hát hay nên đón nàng về múa hát có thể làm đỡ đau và sinh nở được Vợ vua nghe lời cho mời Quế Hoa đến Giọng hát trong vắt như chim hót, suối chảy, tay uốn, chân đưa mềm mại như tơ, dẻo như bún, làm cho vợ vua quên cả đau và sinh
nở được dễ dàng Vua Hùng mừng rỡ, hết lời ngợi khen và truyền cho các con gái của mình học lấy điệu hát múa ấy Hát Xoan được ra đời và phát triển cũng bắt đầu từ đây
Trang 21Phó giáo sư Tú Ngọc trong cuốn hát Xoan, có đưa ra những giả thiết về nguồn gốc của hát Xoan mà ông sưu tầm được như sau:
Ngày xưa có ba anh em Vua Hùng từ phía Bắc đến vùng đất này tìm nơi lập nghiệp Ba vị đi qua thôn Phù Đức vào buổi trưa và nghỉ lại ở một khu rừng gần thôn Từ trong khu rừng các vị nhìn ra bãi cỏ trước mặt thấy lũ mục đồng vừa chơi, vừa hát, chỗ thì đánh vật, chỗ thì kéo co Thấy vậy, Đức Thánh Cả liền bảo bọn tuỳ tùng đem một số điệu hát dạy cho lũ trẻ Để kỷ niệm sự kiện này, hàng năm cứ đến ngày 30 tháng một âm lịch dân làng có tục cúng bánh nẳng vào buổi trưa và cúng thịt bò vào buổi chiều ở miếu (sau này được gọi là miếu Lãi Lèn) Đây là hai món ăn dân làng đã từng khoản đãi ba anh em Vua Hùng ngày ấy Tới những ngày mùng 2, mùng 3 tháng Giêng, ngày làng mở hội cầu, nơi xưa kia là địa điểm hát xướng, vui chơi của lũ trẻ
Cứ đến chập tối ngày hội cầu, theo tục lệ hàng năm, phường Xoan phải lên hát thờ ở miếu “Lãi Lèn” Hát Xoan được sinh ra từ đó và phường Xoan làng Phù Đức là phường Xoan gốc
Ngày xưa Đức Thánh Mẫu Lê Xuân Lan (nguyên vợ vua Lý Thần Tông 1128- 1138) có lần đi du xuân qua đất Phù Ninh thấy đám người làm ruộng, đánh cá, hái củi và cả lũ mục đồng vừa chơi, vừa hát Công chúa họ Lê thấy những điệu hát vừa lạ vừa hay bèn cho người theo hầu chép lại Công chúa sau về tu ở chùa Thiên Tạo thuộc làng Hương Nộn, Tam Thanh và khi mất được tôn là Thánh Mẫu Hàng năm vào ngày hội cầu ở làng Hương Nộn dân làng Phù Ninh phải cử phường Xoan đến hát thờ ở đó
Dân làng Cao Mại (huyện Lâm Thao) có truyền tụng một câu chuyện truyền thuyết có liên quan đến tục hát Xoan sau đây: Đức Thánh Hùng (tức vua Hùng) có người con gái lấy Đức Thánh Phù, tức Chử Đồng Tử Một hôm Đức Thánh Phù đưa vợ đi du xuân qua vùng đất Phù Ninh Đang đi chơi thì vợ đau bụng trở dạ Đã có nhiều phương thuốc cứu chữa nhưng vẫn không dứt cơn đau Nhưng khi đi qua đường An Thái nghe thấy tiếng hát của người đàn
bà ru con thì cơn đau dịu lại Đức Thánh Mẫu cho gọi người đàn bà đó đến vừa hát vừa dìu mình về nhà Và ngày mùng
đ ạ i h ọ c q u ố c G i a h ả N ộ i
Trang 22Mẫu sinh được 12 con trai, sau này lớn lên cùng cha đi bình giặc Thục Đức Thánh Mẫu mất đi, dân Cao Mại lập đền thờ Hàng năm vào ngày hội làng mùng 6 tháng Giêng có tục rước kiệu ông, kiệu bà và đón phường Xoan bên
An Thái sang hát thờ và vui chơi [hát xoan, 73-74],
Trong những chuyến đi điền dã tại Kim Đức, quê hương của hát Xoan
để tìm hiểu tư liệu phục vụ cho luận văn chúng tôi được nghe cụ Lê Văn Ngũ (còn được gọi là cụ trùm Ngũ) kể cho nghe về 1 truyền thuyết của hát Xoan như sau: Mùa xuân, vua Hùng trên đường đi kinh lý, qua Lãi Lèn (nay thuộc Kim Đức) thấy phong cảnh hữu tình bèn nghỉ lại Tối đến dân trong làng ra ca hát mừng vua Đi cùng với vua Hùng hôm đó còn có công chúa Nguyệt Cư đang mang thai đến kỳ trở dạ Điệu hát Xoan mượt mà cùng với những động tác múa mềm mại như tơ đã giúp Nguyệt Cư dịu cơn đau và sinh hạ dễ dàng Vua Hùng vui lắm, hết lời ca ngợi và truyền cho mọi người học lấy điệu hát múa này Dân
ca Xoan được phổ biến, lưu truyền và phát triển cũng bắt đầu từ đó
Từ những truyền thuyết, huyền thoại và chuyện kể trên đây có thể cho chúng ta một số nhận xét bước đầu: Phần lớn các chuyện kể đều có liên quan đến thời điểm lịch sử tồn tại của tục hát Xoan là thời các vua Hùng dựng nước Cũng có câu chuyện liên quan đến thời điểm lịch sử tồn tại của lối hát này là triều đại nhà Lý, khoảng thế kỷ XII Qua các truyền thuyết, chuyện kể trên, nơi nào cũng tự coi mình là nơi phát tích của hát Xoan Điều đó đã tự nó phá
vỡ tính logic, tính khoa học của vấn đề Mặt khác, truyền thuyết, huyền thoại thường là mô phỏng, điển hình hoá sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó đối với đời sống tâm linh của con người xưa, chúng cũng điển hình hoá cả phong tục
và ý tưởng nào đó của nhân dân vì vậy chúng không phải là một sử liệu có tính bền vững
Song những truyền thuyết, những chuyện kể mang tính huyền thoại trên đây đều có chung một hạt nhân hợp lý, nói lên được điều cốt lõi của tục hát Xoan: Lối hát này chỉ có thể sinh ra khi việc tế thần cầu mong cuộc sống no
đủ, an khang trong cộng đồng làng xã đã trở thành tập tục Hát Xoan là một
bộ phận cấu thành trong lễ hội của nhiều cộng đồng dân cư vùng đất Văn
Trang 23Lang cổ xưa Theo nhạc sĩ, PGS Tú Ngọc thì “Vấn đề nguồn gốc của hát Xoan cũng như nhiều hình thức ca hát phong tục không thể tách khỏi vấn đề nguồn gốc chung của thể loại, nghĩa là nó hình thành ngay từ khi có những nghi lễ nông nghiệp trên dải đất người Việt cổ Hát Xoan, thuộc về tầng dân ca cổ nhất mà chúng ta được biết từ trước đến nay trong kho tàng dân ca Việt Nam”[ kỷ yếu, 20].
1.2.2 Đặc điểm của hát xoan
Hát Xoan thuộc loại hình dàn ca lễ nghi - phong tục, là loại dân ca thuộc “tầng cổ xưa nhất trong kho tàng dân ca Việt Nam” [ kỷ yếu, 20], Hát Xoan có những đặc điểm hết sức riêng biệt tạo nên nét độc đáo của loại dân ca này Sau đây chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu những đặc điểm của hát Xoan thông qua một số đặc điểm như: tổ chức phường Xoan, vai trò của ông trùm phường, tục giữ cửa đình và tục kết nghĩa, không gian và thời gian diễn xướng của hát xoan, cách ăn mặc trong hát xoan
1.2.2.1 T ổ chức phường xoan và vai trò của ông trùm
Hát Xoan là một loại hình ca hát dân gian phục vụ yêu cầu tín ngưỡng, chính vì vậy, hát Xoan không phổ biến rộng rãi trong nhân dân Những người
đi hát tập hợp trong một tổ chức gọi là “phường Xoan” hay “họ Xoan” Các phường Xoan này được gọi theo tên làng là các làng Phù Đức, Kim Đới, Thét
và An Thái (thuộc huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ) Bốn phường xoan gốc này sống giáp canh giáp cư trên một vùng đất bán sơn địa giáp khu vực Đền Hùng
Số lượng thành viên trong mỗi phường (mỗi họ) thường từ 15 đến 18 người, trạc tuổi mười tám đôi mươi Trai gọi là kép, gái gọi là đào Sô' lượng thành viên trong mỗi phường có thể ít hơn (không dưới 8 người) hoặc nhiều hơn nhưng số đào bao giờ cũng đông hơn số kép Số lượng đào đông để đáp ứng các tiết mục có đội hình múa minh hoạ cho hát, ứng đáp với trai làng sở tại trong các màn múa hát giao duyên Kép có thể là người đứng tuổi đã có vợ con nhưng phường Xoan nào cũng có một hay hai ‘kép con” từ 10 tới 15 tuổi
để múa hát hai điệu giáo trống, giáo pháo Đào Xoan đều là những cô gái tơ xinh xắn có giọng hát hay, tuổi từ 15 tới đôi mươi, gái đã có chồng thường là
Trang 24không theo phường Xoan nữa Mỗi phường Xoan có một người đàn ông đứng tuổi, có uy tín, đã đi hát nhiều năm, thuộc bài bản, đọc được các bản Xoan nôm và được dân làng tín nhiệm đứng đầu, gọi là “ông trùm” Ông trùm lo việc chung cho cả phường, cả họ, từ việc điều hành luyện tập chuyên môn đến việc giao dịch với làng đến hát Ông cũng là người huấn luyện các bài bản, làn điệu cho các đào, kép trẻ mới nhập phường Ông kiêm luôn vai trò người quản trị như quản lý tiền nong, gạo lúa do các làng sở tại tặng, thù lao cho phường
Và khi hết mùa đi hát, trước lúc mỗi thành viên trở về gia đình mình để làm
ăn, cày cấy thì ông phân phối những sản vật, tiền nong cho các thành viên.Trong diễn xướng của Xoan có một số tiết mục vừa hát vừa có múa phụ hoạ và có trống phách giữ nhịp; một số tiết mục không có múa phụ hoạ (hát các quả cách, các màn đối đáp giao duyên) nhưng có trống phách giữ nhịp, có người hát dẫn và người phụ hoạ do đó, các thành viên trong phường đều có
sự phân công thực hiện các vai trò khác nhau trong diễn xướng Vai trò của người kép trẻ nhất là đảm nhiệm mấy tiết mục nghi thức mở đầu (giáo trống, giáo pháo) Các kép khác giữ nhịp trống, phách, có thể hát dẫn một sô' bài bản dài (đặc biệt là các quả cách) Các cô đào vừa hát vừa múa minh hoạ trong một số tiết mục từ nghi thức tới vui chơi, là những nhân vật chính của phường đứng ra đối đáp giao duyên với các trai làng sở tại trong một số trò diễn giao duyên ngoài nghi lễ Ngoài chức năng điều hành, quản lý, ông trùm phường đóng vai trò của người chỉ đạo nghệ thuật trong diễn xướng, cũng là một “diễn viên”, một kép thành thạo trong hát dẫn một số bài bản và thành thạo cả trong giữ nhịp trống phách
1.2.2.2 Tục giữ cửa đình và tục kết nghĩa
Hát Xoan là “hát cửa đình” chính vì vậy mỗi phường Xoan đều có các đình quen thuộc của mình Hát Xoan có một tục lệ là tục “giữ cửa đình” Mỗi
họ Xoan đều có một số cửa đình mà họ giữ lấy cửa: “đình nào họ đấy”, các họ khác không được tự do đến hát Tục giữ cửa đình cũng có một ý nghĩa là tránh
sự tranh chấp và dẫm chân lên nhau giữa các phường Xoan Các phường Xoan thường đi cùng nhau, phường Phù Đức đi với phường Kim Đới, phường An
Trang 25Thái đi với phường Thét Cũng có khi cả bốn phường Xoan đi với nhau cùng hát một đình:
Chúc mừng bốn họ nhà Xoan Trăm năm trăm lộc đưa phần phúc yênTrong hai hay bốn phương cùng đi, phường nào giữ cửa đình vẫn có vinh dự riêng như: Ông trùm được dự tế, đào Xoan được đi dưới gầm kiệu thánh khi rước, được múa khi tế lễ
Tục giữ cửa đình đã đưa tới tục kết nghĩa Phường Xoan giữ cửa đình và dân địa phương kết nghĩa với nhau, tình nghĩa ấy rất được coi trọng Kết nghĩa của Xoan là kết nghĩa giữa họ với làng, khác với hát Ghẹo là kết nghĩa giữa hai hay nhiều làng với nhau, cũng khác với Quan họ Bắc Ninh là kết nghĩa giữa hai Quan họ Trong lệ kết nghĩa của Xoan, bao giờ dân địa phương cũng
là vai anh, còn họ Xoan là vai em Tục kết nghĩa cấm ngặt trai gái hai bên họ
và dân kết hôn với nhau
Mở đầu cho mùa hát và để đón mừng năm mới, các họ Xoan lần lượt hát khai xuân ở đình miếu làng nhà Ngày mùng một tết, các họ hát ở đình An Thái rồi tới Kim Đới, Phù Đức và Thét Từ ngày mùng 5 tết âm lịch, cả 4 phường Xoan đều khăn gói lên đường làm một chuyến du xuân, đến hát ở các đình nước nghĩa
1.2.2.3 Không gian và thời gian diễn xướng
Hát Xoan là tên gọi khác đi (nói chệch) của hai từ hát xuân, là lối hát dùng trong lễ nghi - phong tục, lễ hội diễn ra ở làng xã vào mùa xuân Thời gian diễn xướng của hát xoan được bắt đầu từ ngày mùng một tết nguyên đán đến hết ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch tại các đình làng trong tỉnh Các nhà nghiên cứu âm nhạc và văn hoá dân gian đã thống kê được 21 cửa đình của làng - xã trước đây trong tỉnh có tục hát Xoan
Nếu tính theo địa bàn cấp huyện thì 21 cửa đình này nằm rải rác trong
17 làng xã thuộc các huyện Lập Thạch, Vĩnh Lạc, Tam Thanh, Đoan Hùng, Phù Ninh, Lâm Thao, thành phố Việt Trì Địa bàn của các địa danh trên trải rộng khoảng 2.000 km2 với chiều dài từ xã Kim Xá Vĩnh Lạc, Vĩnh Tường
Trang 26(thuộc tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay) đi sang hướng tây đến xã Tây Cốc (Đoan Hùng) khoảng 60 km; với chiều rộng từ xã Hương Nộn (Tam Thanh) đi lên phía Bắc vượt sông Hồng qua sông Lô đến xã Tử Đà (Tử Du huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc) khoảng 35 km.
Căn cứ vào tài liệu nghiên cứu và thực tế mà chúng tôi tìm hiểu được trong những chuyến đi điền dã tìm hiểu về hát Xoan thì trong số các địa danh
có liên quan đến hát Xoan thì chỉ có 4 làng có người đi hát gọi là phường Xoan Bốn làng đó là: Kim Đới, Phù Đức, An Thái và Thét Còn lại là các làng kết nghĩa với phường xoan, hàng năm mở hội mời phường xoan đến hát.Các làng hàng năm tổ chức lễ hội mời phường Xoan đến hát thờ gồm có: Làng Tử Đà (xã Tử Đà); Làng Phù Ninh (xã Phù Ninh); Làng Y Kỳ (xã
An Đạo); Làng Tiên Du (Kẻ Nghè, xã Tiên Du); Làng Cao Mại (Kẻ Vây, xã Cao Mại); Làng Hữu Bổ (Kẻ Đỏ, xã Kinh Kệ); Làng Thanh Đình (Kẻ Mơ, xã Thanh Đình); Làng c ổ Tích (xã Hy Cương); Làng cẩm Đội (Kẻ Đọi, xã Thuỵ Vân); Làng Tử Du (xã Tử Du); Làng Đức Bác (Kẻ Lép, xã Đức Bác); Làng Hoàng Thượng (xã Kim Xá); Hạ Chuế (xã Kim Xá); Làng Tây Cốc (xã Tây Cốc); Làng Nông Trang (xã Minh Phương); Làng Dữu Lâu (xã Dữu Láu); Làng Hương Nộn (Kẻ Xoài, xã Hương Nộn)
Không gian diễn xướng của hát Xoan là ở các cửa đình và trải dài trên một diện tích rộng với 21 cửa đình thuộc 17 xã khu vực xung quanh đền Hùng Thời gian diễn xướng của hát Xoan được cụ thể như sau:
Ngày mùng 5 tháng giêng hát ở các cửa đình: Tử Đà, Tiên Du, Phù Ninh, Cẩm Đội (nay thuộc huyện Phù Ninh)
Từ mùng 6 đến ngày mùng 10 tháng giêng hát ở các cửa đình: Cao Mại,
Cổ Tích, Dữu Lâu, Nông Trang (Việt Trì), Hoàng Thượng, Hạ Chuế (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc)
Từ ngày 12 tới ngày 15 tháng giêng hát ở các đình: Y Kỳ, Tây Cốc, Hữu Bổ
Tháng hai âm lịch hát ở các đình: Đức Bác, Hương Nộn, Thanh ĐìnhĐiểm hát cuối cùng là đình Tử Du (Lập Thạch) vào mùng 10/3 âm lịch
Trang 27Hát Xoan thường diễn ra từ chập tối cho đến sáng, cũng có khi cuộc hát Xoan kéo dài mấy ngày tuỳ vào tính chất của lễ hội và kinh phí tổ chức của địa phương để mời phường Xoan.
1.2.2.4 Trang phục và nhạc cụ của phường xoan
Về trang phục trong những ngày đi hát, các cô đào đầu vấn khăn, mặc quần láng đen, áo the thâm, thắt lưng cùng màu Ngày nay, do điều kiện kinh
tế - xã hội thay đổi, các cô đào mặc áo tứ thân, thắt lưng xanh hoặc hồng, đầu vấn khăn nhung; Các kép thì mặc áo the thâm, quần trắng, đầu quấn khăn lượt hoặc đội khăn xếp đen
Phương tiện hành nghề của một Phường Xoan rất đơn giản: một trống nhỏ tang làm bằng thân cây cọ già hay lõi gỗ mít già, hai mặt bịt da trâu (hoặc
da bò), mấy cặp phách làm bằng gốc tre già, một quyển sách chữ nôm chép đủ
14 quả cách, quạt giấy
1.2.3 Quá trình diễn xướng của hát Xoan
Ớ một cửa đình lớn, phường Xoan được mời đến cuộc hát có thể được bắt đầu từ chập tối (sau khi đã có những nghi lễ tế thần ở giai đoạn đầu đã được tiến hành vào ban ngày) Trong đình có các bô lão và dân làng ngồi xem Phường Xoan múa hát ở gian giữa đình gọi là đình trung, mặt quay vào án gian, dưới nền trải chiếu Hát Xoan là loại hình dân ca lễ nghi nên quá trình diễn xướng của nó phải theo một trình tự nhất định Quá trình diễn xướng của hát Xoan được chia làm ba giai đoạn hay còn gọi là ba chặng: Chặng đầu là chặng nghi thức, chặng thứ hai là trình diễn 14 quả cách và chặng thứ ba trong quá trình diễn xướng của hát Xoan là phần diễn xướng các giọng vặt gồm các phần hát múa của các cô đào trong phường và dựng các trò chơi gắn với các tiết mục hát múa giữa các cô đào và một số trai làng sở tại
1.23.1 Chặng nghi thức
Để mở đầu cho cuộc hát, người trùm phường cùng người chủ tế của hội làng năm đó đứng ra trước hương án để hát chúc Đây là một bài khấn nguyện
có tính chất nghi thức được đọc lên theo kiểu đọc văn sớ:
Nhập tịch chào vua nẻo trước
Trang 28Vò nước nén nhang Rầm rập bốn phương Mới rước vua lên thượng vì
Tiệc này giả tiệc đức Đại Vương Hộp trầu vò nước nén nhang Của tôi thành kính dâng vua ngự trên linh sàng
(Hát chúc thành hoàng, trích đoạn Xem nguyên vãn phần phụ lục).
Khi ông trùm phường hát xong, một kép trẻ chừng 15 tuổi đeo trước ngực một cái trống nhỏ ra đứng giữa sân đình làm trò giáo trống và giáo pháo Hai điệu hát này có vần điệu đơn giản, dùng lối nói cách điệu trên thể thơ 4 chữ (có ghép thêm tiếng đệm) Người kép trẻ vừa đánh trống giữ nhịp, vừa làm động tác vừa hát, có sự phụ hoạ của tập thể phía sau
Giáo trống mang nội dung của một bài ca khấn nguyện, cầu chúc cho mùa màng và sự thịnh vượng của thôn xã:
Tôi bước chân vào giáo trống Tìm đền Thượng chúc cho minh Năm trống cơm thiên hạ thái bình Năm trống cơm nhà nhà no đủ Năm trống cơm mọi vẻ mọi hay Được mùa hoà thắng lấy cơm bưng trống
(trích)Giáo pháo cũng mang tính chất của một bài ca khấn nguyện nhưng trình bày theo lối hát đuổi, xen kẽ giữa giọng nam và giọng nữ:
Pháo mừng phong quang Dân xã khang trang
Đỏ thời mọi giới Mùa nay mang lại Hội nhất hội nhì Còn quả thứ nhì
Trang 29Cho ra mà đốt
(trích)
Sau Giáo trống, Giáo pháo, chú kép trẻ lui vào hậu trường để nhường chỗ cho 4 cô đào tiến ra sân khấu hát thơ nhang Bốn cô đào đứng xếp hàng ngang trước hương án, hai tay nâng chiếc quạt xoè tán khuỳnh ra trước mặt giống như động tác dâng hương, vừa hát vừa làm điệu bộ tiến hương lên, bước lùi xuống Bài ca khấn nguyện này có tính chất ngâm ngợi, trang nghiêm:
Kính lại chiềng làng Nghe tôi thơ nhang
Mà cho biết ý
(trích, xem nguyên văn phần phụ lục)
Trình diễn xong thơ nhang, các đào kép trong phường Xoan trình bày tiết mục đóng đám Đây vẫn là bài hát chúc tụng mang tính lễ nghi nhưng ở phần cuối, nội dung văn học đã chuyển sang màu sắc giao duyên nam nữ, tính chất khấn nguyện bị mờ đi, mặc dù cùng với 3 điệu hát trên, điệu hát này vẫn được coi là lề lối theo nghi thức Ta thấy ở đây có những lời hát đưa đẩy tình
là kết thúc một giai đoạn trong quá trình diễn xướng
12.3.2 Chặng thứ hai: Trình diễn các quả cách
Giai đoạn thứ hai trong quá trình diễn xướng của hát Xoan là sự trình diễn các quả cách Đây được coi là phần hát thờ, một nghi thức trang trọng của hội đám Theo nhạc sĩ, PGS Tú Ngọc, năm 1957, trong chuyến đi sưu tầm hát Xoan, ông và các cộng sự có tìm được một quyển sách chép bằng chữ nôm
Trang 30ghi năm 1891 có nhan đề “Thành Thái tam niên - Ca Xoan cách’ (Thành Thái năm thứ ba, các cách trong hát Xoan).
Trong hát Xoan có 14 quả cách, được thể hiện do 4 đào vừa múa vừa hát, lần lượt theo thứ tự như sau: Kiều giang cách (hay Kiều dương cách); Nhàn ngâm cách; Tràng mai cách; Ngư tiều canh mục cách; Đối dãy cách; Hồi liên cách; Xoan thời cách; Hạ thời cách; Thu thời cách; Đông thời cách;
Tứ mùa cách; Thuyền chèo cách; Tứ dân cách; Chơi dâu cách
Nội dung của các cách hết sức phong phú: Ca ngợi vua chúa, ca ngợi thiên nhiên, kể chuyện tích xưa, tả cảnh sinh hoạt của các lớp người ở nông thôn Tên của mỗi cách chính là chủ đề của cách đó Ví dụ như “Kiều Dương cách” thuật chuyện nàng Kiều Dương, ‘Nhàn ngâm cách” là khúc hát lúc nhàn nhã, “Tứ mùa cách” ca ngợi 4 mùa trong năm, “Ngư tiều canh mục cách” nói
về sinh hoạt của người nông thôn với 4 nghề: đánh cá, kiếm củi, trồng trọt, chăn nuôi Tuy nội dung phong phú nhưng bài nào cũng có những lời hát khấn chúc Đây là những bài thơ dài theo kiểu trường ca do các nhà nho bình dân sáng tác và đưa vào nội dung của hát Xoan, được coi là bộ phận bác học bên cạnh bộ phận dân gian vốn có
Khi cuộc trình diễn chuyển sang hát cách, người trùm phường (hoặc một kép) đến ngồi giữa khoang đình, trước hương án, tay cầm dùi phách, lần lượt hát các quả cách Những cô đào đứng ở phía bên đồng thanh hát phụ hoạ vào những câu đơn, đoạn đã được quy định
Một quả cách khi diễn xướng thường có bố cục ba phần:
Giáo cách (hay còn gọi là giáo đầu): là phần chỉ do người dẫn cách hát,
độ dài ngắn không nhất định (có đoạn giáo đầu chiếm nửa bài, có khi chiếm một phần ba)
Đưa cách: Trong diễn xướng nhiều khi được coi là phần trung tâm, cốt lõi của một quả cách, ở phần này người kép dẫn cách hát một đoạn dài rồi các đào đứng ở phía bên hát đệm tiếp theo (phần hát của các cô đào được coi như hát phụ hoạ, có khi là lặp lại lời hát của người kép dẫn cách, có khi phụ hoạ nhưng bằng đoạn lời mới)
Trang 31Kết cách: Là phần kết thúc một quả cách Phần này có khi chỉ là một câu ngắn do các cô đào diễn xướng Kết cách thực chất là một bố cục rất ngán gồm những tiếng đệm Chúng là những tín hiệu để báo hết một quả cách bằng giai điệu và lời ca dùng chung cho tất cả các quả cách (Xem phụ lục )
Trình diễn xong các qủa cách coi như kết thúc chặng đường thứ hai của quá trình diễn xướng Đến đây cuộc hát được chuyển sang một chặng khác
các giọng vặt gồm các tiết mục: Bỏ bộ, Bợm gái, Xin huê - đố chữ, Hát Đúm, Cài huê mó cá
Điệu bỏ bộ là một tập hợp các bài hát liên tiếp (dạng như liên khúc ngày nay) gồm các bài trống quân, hát ru, hát ví thường gặp ở nhiều địa phương, nhưng vào hát Xoan các khúc hát này được xây dựng thành những làn điệu độc lập Trong bỏ bộ, 4 đào múa tay không trên chiếu, hình thức múa và giai điệu bài hát phong phú hơn giai đoạn trước Múa bỏ bộ diễn tả mọi sinh hoạt trong đời sống (có thể hiểu bỏ bộ là làm điệu bộ) Ví dụ khi hát câu:
Ta thấy con cò dương cung ta bắn
Ta bắn con cò, con cốc, con le Con cốc nó lặn, con le nó lội, con cò nó bay
Đào múa làm điệu bộ vẫy tay như đôi cánh và động tác bắn cung Tất nhiên đó là những động tác đã được cách điệu hoá và trở thành vũ điệu Hoặc khi hát ru “Xe chỉ luồn kim”, đào làm động tác như may vá Tiết mục bỏ bộ
là tiết mục phong phú nhất về hình thức múa cũng như làn điệu Nội dung trữ tình đậm nét từ đầu đến cuối (Xem phần phụ lục)
Tiết mục Bợm gái cũng giống như tiết mục bỏ bộ là hát tự do nhưng lời nặng về hát chúc tụng, động tác múa cũng đơn giản hơn, đội hình gồm 4 đào vừa múa vừa hát theo nhịp trống Mỗi đoạn trong bài tương đối độc lập nhưng vẫn có chung một chủ đề âm nhạc và được nối với nhau bởi những nét nhạc bắc cầu
Sau các tiết mục bỏ bộ và bợm gái là tiết mục “Xin huê - đố chữ” Đây
là cảnh hát đối đáp trai gái mang tính chất trữ tình giao duyên Theo một số tài
Trang 32liệu nghiên cứu mà chúng tôi có được như: Hát Xoan của Tú Ngọc, Hát Xoan, hát Ghẹo của Nguyễn Khắc Xương và Dương Huy Thiện thì đây là màn hát đối đáp giữa trai làng sở tại và các cô đào ở phường Xoan Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu thực tế tại các địa phương có hát Xoan, chúng tôi thấy ràng đây là đối đáp giữa đào kép trong phường Cũng có thể do hát Xoan đã bị
“lãng quên” trong thời gian khá dài, và tục đi hát ở các đình kết nghĩa của hát Xoan không còn nên màn hát múa này chỉ còn lại trong phạm vi của phường Xoan Tiết mục này gồm hai phần: phần xin huê ( hay gọi là xin hoa) được coi như phần mở đầu, phần đố hoa, đố chữ được coi như phần chính, ở phần này, một kép ngồi gõ trống giữ nhịp, còn 2 kép khác đứng quay mặt vào 4 đào và hát đối nhau Các loại hoa được nhắc tới ở đây có thể là hoa thật (hoa lúa, hoa gạo, hoa lan), cũng có thể là một thứ gì đó trong cuộc sống hàng ngày được coi là hoa (hoa rượu, hoa dầu ), còn cả cách xin hoa đầy ý tứ mang màu sắc dán gian sâu sắc:
Anh xin nàng chút huê trong yếm Huê trong yếm anh thuận huê gì?
Huê trong yếm anh lấy huê tình Huê tình mùa này nó chưa nở
Để một mai nó nở thiếp lại bẻ cho chường
Sợ chường chẳng yêu
Sợ chường chẳng dấu
Để huê nụ héo huê hời huê hỡi là huê
(trích)Sau bài xin hoa là tiếp đến ngay bài đố hoa Cách thức hát vẫn vậy nhưng nhạc điệu tiết tấu đã có sự thay đổi Nam hát đố, nữ hát đáp lại xin giảng rồi nam lại giảng đố Các bài hoa được chọn đố mang màu sắc của vùng trung du rõ nét: Hoa sim, hoa mua, hoa dứa, hoa lúa, hoa cải
Anh đố em biết hoa gì nở trên rừng bạc bội Anh đố em biết hoa gì nở nội đồng không Anh đố em biết hoa gì nở bảy tám lần chông
Trang 33Anh đô em biết hoa gì nở mùa đông vàng trắng vàng
Anh đã đố thời anh lại giảng ba hoà
Em chẳng biết thời anh giảng cho dân làng nghe Hoa sim hoa mua nở trên rừng bạc bội Nhược bằng hoa lúa nở nội đồng không Nhược bằng hoa dứa nở bảy tám lần chông Nhược bằng hoa cải nở mùa đông trắng vàng
(Trích)Bài hát đố chữ được nối ngay với bài đố hoa, chỉ khác về lời ca nhưng nhạc điệu và cách thức biểu diễn không có gì thay đổi Giữa từng đoạn bài có câu hát đệm của tốp nữ “Lường hỡi lường, len hỡi len” Ở những phần này tuy gọi là hát đối đáp nhưng thực ra nam vừa đố lại vừa giảng:
Anh đố em biết chữ gì trên trời rơi xuống Anh đố em biết chữ gì làm ruộng nuôi ta Anh đố em biết chữ gì nên việc cửa việc nhà Anh đố em biết chữ gì thấy người qua mà chẳng chào
Anh đố thời anh lại giảng ba hoà,
em chẳng biết thời anh giảng cho dân làng nghe
Vũ là mưa trên trời rơi xuống Ngưu là trâu làm ruộng nuôi ta Thê là vợ nên việc cửa việc nhà
Nộ là giận thấy người qua mà chẳng chào
(trích)Theo một số nhà nghiên cứu như Tú Ngọc, Nguyễn Khắc Xương thì khởi thuỷ của lối hát này chỉ có xin hoa và đố hoa, phần đố chữ là phần phát triển thêm về sau này, khi nho giáo đặc biệt phát triển, việc học hành thi cử đi sâu vào làng xã [11; 19]
Tiếp theo là phần hát Đúm, đây là phần hát đặc biệt hấp dẫn đối với ngưòi
dự Hát đúm có 2 nội dung: Hát chúc và hát trữ tình giao duyên Trong đó nôi dung hát giao duyên là chính Thông thường thì đào Xoan hát đối đáp với trai địa
Trang 34phương theo từng cặp Trường hợp không có người hát đối được thì đào và kép trong phường Xoan hát đối nhau Để chuẩn bị cho phần hát Đúm, phường Xoan làm sẵn những quả đúm là một chiếc khăn tay bọc một miếng trầu cau và vài đồng tiền cuộn tròn lại Cô đào cất giọng hát những lời trao duyên tình tứ:
Đúm này em đã thơ rồi Đông dân qúi chúc thời ngồi mà nghe Đúm này em dặn thì nghe Đúm bay cho đến áo the đúm vào Đúm vào người hỏi làm sao
Em là quả đúm em vào kết duyênDứt câu hát, cô ném quả đúm vào một ông quan viên nào đó Người nhận được quả đúm sẽ mở ra lấy trầu cau để ăn rồi gói trả lại miếng trầu khác (có khi kèm theo đồng tiền thưởng) rồi trao quả đúm cho một anh trai làng hoặc tự đứng lên hát đáp lại một câu đúm, hát xong tung quả đúm trả lại cô đào Hết đôi này đến đôi khác, quả đúm bay đi, ném lại cùng với những câu hát tình tứ Cuộc chơi có khi kéo dài suốt mấy tiếng đồng hồ
Sau hát đúm là cài huê mó cá, một sự trình diễn kết hợp vừa múa vừa hát nhịp nhàng đẹp mắt ở đây có 12 đào xoan và 4 trai làng (hoặc kép của phường) kết thành 4 cánh hoa, trai ở trong, gái ở ngoài, mỗi cánh hoa là 3 gái
1 trai Hoặc đội hình 9 gái 3 trai thì chỉ kết làm 3 cánh Múa cài huê, trai gái nắm tay nhau uốn mình, lộn vào trong rồi lại lộn ra ngoài rất đẹp, vừa múa vừa hát những câu hát trao duyên:
Tam Thanh một cảnh huê mây
Vì chàng em phải đến đây hát thờ Tam Thanh một cảnh huê nhài Lòng anh muốn lấy cô cài cành huê
(trích)Múa cài huê xong, nam nữ vẫn giữ nguyên đội hình múa tiếp bài Mó cá, không có nghỉ giữa chừng Múa hát mó cá là kết thúc cuộc hát, hát giã nên
Trang 35còn được gọi là giã cá Đây là tiết mục có liên quan đến công việc đánh bắt
cá của nghề nông và được coi như một nghi thức dùng để kết thúc hội đám.Trai làng cùng với các cô đào Xoan cầm tay nhau thành vòng tròn, vừa hát vừa chuyên động đội hình theo đường tròn, có lúc dừng lại đưa những cánh tay lên xuống dập dềnh tựa như sóng nước
Đầu tiên, người trùm phường hoặc một kép nào đó đứng ra hát câu giáođầu:
Chiềng làng chiềng chạ Thượng hạ hai làng Dẹp trống vào tang
Để tôi giáo cá
(trích)Bài hát được trình diễn theo kiểu nam xướng, nữ xô Trong màn diễn cứ dứt một lần xô, người làm cá lại vùng vẫy như muốn thoát khỏi lưới, nhưng lại
bị vây bắt trở lại Cứ như vậy, cuộc hát và trò chơi có thể kéo dài Cuối cùng một con cá cũng đã mắc phải lưới, những người “đánh cá” đã túm được con cá xấu số, lật ngửa nó lên và khiêng đặt lên bàn thờ, nơi hương án để tiến vua Người chủ tế của làng đến thắp hương, cầu khấn trước hương án Lúc đó “cá” vật thờ mới được giải phóng trở lại làm ‘người” Màn múa Giã cá mang dấu vết lễ nghi phồn thực “vào cuối giã cá”, trai làng bắt cá - đào xoan dâng trước bàn thờ thánh
Giã cá là trò múa hát vui nhộn, đặc sắc mặc dù vẫn chứa đựng những hình thức của lễ nghi Nhịp điệu trong “Giã cá” rộn ràng, vui khoẻ, tiết tấu nhịp nhàng phù hợp với nội dung phản ánh hiện thực cuộc sống lao động của người nông dãn thời trước Đến đây quá trình diễn xướng Xoan kết thúc
1.3 Hát Ghẹo
1.3.1.Nguồn gốc của hát Ghẹo
Cũng giống như hát Xoan, cho đến nay, vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của hát Ghẹo Phú Thọ Vẫn chưa có một tài liệu nào xác định được chính xác nguồn gốc, thời gian ra đời và sự hình thành phát triển
Trang 36của lối hát Ghẹo này Một sô nhà nghiên cứu, sưu tầm địa phương cho rằng hát Ghẹo được hình thành và ra đời bởi tục kết nghĩa giữa hai làng từ ngày xưa Khi tiếp xúc với các cụ nghệ nhân hát Ghẹo, cụ Tạ Thị Sẽ, cụ Phạm Thị Đua các cụ cũng kể rằng lối hát này bất nguồn từ sự kết nghĩa giữa các làng với nhau.Cụ thể ở làng Nam Cường kết nghĩa với làng Hùng Nhĩ và Thục Luyện Chính vì vậy mà hát Ghẹo Phú Thọ còn gọi là hát “nước nghĩa” (lối hát kết nghĩa giữa hai làng) Trong quá trình tìm hiểu chúng tôi thu thập được một số những giả thiết về nguồn gốc của hát Ghẹo như sau:
Chuyện thứ nhất:
Ngày xưa, không rõ vào niên hiệu nào, chỉ biết rằng đình làng “Nam Cường” bị cháy Nhân dân ở đây muốn xây dựng lại đình nên đã cùng nhau quyên góp tiền gạo và cử một số thanh niên nam giới khoẻ mạnh đi vào rừng sâu, tìm đến các bản Mường để mua gỗ làm đình Số thanh niên đã đi được một số bản mà người ta vẫn không bán gỗ cho, đến khi họ tới xã “Thục Luyện” (thuộc huyện Thanh Sơn ngày nay) Nhân dân ở đây là những người Mường, khi nghe nói mua gỗ làm đình họ sẵn sàng giúp đỡ cho gỗ, còn cử người đi đẵn gỗ kết bè cho thanh niên Nam Cường thả trôi theo sông Bứa đem
về Đám thanh niên Nam Cường ra về lòng đầy cảm kích trước tấm lòng của người dân Thục Luyện Họ xuống bè thả trôi sông để về, bè gỗ trôi đến địa phận xã Hùng Nhĩ thì bị mắc cạn Đẩy mãi không sao chuyển được, mệt quá
họ lên bờ nghỉ giải lao, đồng thời cất tiếng hát với nhau cho đỡ mệt nhọc Nhân dân làng Hùng Nhĩ ở gần đó nghe thấy tiếng hát đã kéo nhau ra xem và giúp đỡ thanh niên Nam Cường xô bè ra khỏi chỗ cạn, đồng thời còn làm tiệc tiếp đãi anh em Nam Cường, ăn uống xong, họ còn ca hát mãi với nhau rồi mới tiễn nhau xuống bè Đám thanh niên Nam Cường tiếp tục đẩy bè về làng Cảm động trước tấm lòng sốt sắng của hai làng Thục Luyện và Hùng Nhĩ, cho nên nhân dân Nam Cường đã kết nghĩa anh em với nhau, gọi nhau là dân
“nước nghĩa” Từ bấy giờ trở đi cứ nhân dịp tế lễ chính của mỗi làng, họ đều
có qua lại với nhau, cùng tế lễ và xem nhau như là anh em ruột thịt thân thích Nhân dân hai bên rất tôn kính nhau, gọi nhau là anh, là chị và tự xưng là em,
Trang 37dù người kia có ít tuổi hơn mình Trong những dịp đó thanh niên nam nữ của hai làng đều có tổ chức ca hát với nhau Lối ca hát đó gọi là hát Ghẹo Theo tục lệ của hai bên “nước nghĩa” họ không bao giờ được lấy nhau, không được nên duyên vợ chồng.
Cũng cùng một câu chuyện trên nhưng lại có người kể thêm rằng: Khi nghe trai làng Nam Cường ngồi nghỉ trên bờ sông cất tiếng hát thì các chị em
ở làng Hùng Nhĩ đang giặt ở dưới sông nghe tiếng hát, biết chuyện mới chạy
về báo tin cho dân làng cho chị em ra giúp Nhưng khi hai bên gặp gỡ họ chưa
xô bè ngay mà còn ca hát đối đáp với nhau, cho nên sau khi kết nghĩa anh em, nhân những dịp tế lễ hàng nãm dân làng mới tổ chức cho thanh niên nam nữ
ca hát
Cũng có cụ nghệ nhân kể lại rằng: Nam Cường và Thục Luyện đều thờ chung một vị tướng của Hai Bà Trưng tên là Xuân Nương Sau khi chống cự với quân giặc, bà bị thất trận và chạy qua đây, máu của bà nhỏ xuống hai làng này nên các thôn quanh vùng đều làm đền thờ, Thục Luyện và Nam Cường là nơi thờ chính Vì vậy, khi thanh niên Nam Cường đi vào đến Thục Luyện thì nhân dân ở đây biết tin đình thờ Xuân Nương bị cháy và đã sẵn sàng góp công của chặt tre gỗ để cho nhân dân Nam Cường làm lại đình
Chuyện thứ hai:
Chuyện kết nghĩa giữa hai làng “Thanh Uyên” và “Nam Cường”, đó là hai làng giáp nhau Thanh Uyên có rừng và có núi Mủi, ở núi có nhiều gỗ và chân núi còn có đền thiêng gọi là đền Mủi thờ Thánh Mủi ( Cao Sơn đại vương - cùng với truyền thuyết Tản Viên) Nhân dân Nam Cường rất muốn lui tới Thanh Uyên để cầu cúng và lấy gỗ, lấy củi Ngược lại Nam Cường có cánh đồng sâu, có đầm nhiều cá và có bãi thả trâu bò, nhân dân Thanh Uyên lại muốn lui tới đánh cá và thả trâu bò Ngày xưa hai làng thường hay xung đột về quyền lợi riêng đó, mãi về sau nhân dân hai bên mới hoà giải và kết nghĩa anh
em, để tiện đi lại cúng lễ, lấy củi, làm cá, thả trâu bò Từ đó, nhân dân hai làng cũng gọi nhau là anh là chị, khi tế lễ cũng có mời nhau
Trang 38Các câu chuyện về tục kết nghĩa của hát Ghẹo vừa nêu trên, tựu chung lại chúng ta thấy căn bản là có thực, nếu tước bỏ đi những phần huyền ảo do trí tưởng tượng của người dân thêu dệt thêm Trong số những tục kết nghĩa trên thì tục thứ nhất được nhiều người biết đến hơn cả, tuy nhiên mỗi chuyện đều liên quan ít nhiều đến hát Ghẹo và nguồn gốc của hát Ghẹo.
Nhà nghiên cứu, nhạc sĩ Nguyễn Đăng Hoè, sau những năm 1957, 1958 khi về vùng Phú Thọ tìm hiểu về hát Ghẹo thì lại có ý kiến khác: “Chúng tôi cho rằng tục kết nghĩa và sự hình thành hát Ghẹo là hai phần riêng biệt không
có liên quan đến nhau, không phải tục kết nghĩa đặt ra những câu ca, giọng hát Hát Ghẹo với tục kết nghĩa cùng phát triển (chắc chắn là không phải ra đời cùng một giai đoạn lịch sử mà ca hát tất phải có trước), nhưng đến một giai đoạn nào đó (có thể đã ở vào thời Lê, Lý) giai đoạn thịnh vượng của văn hoá, việc lễ bái được xem là nhu cầu cần thiết thì nhân dân chính thức đưa hát Ghẹo vào những dịp tế lễ hội hè ca hát vui chơi, làm cho những ngày hội đầu xuân đó được thêm tốt đẹp, may mắn và cũng làm cho tình kết nghĩa giữa các làng có thêm màu sắc đậm đà” [hát ghẹo phú thọ, 14]
Qua tìm hiểu nội dung của những câu hát, những bài hát Ghẹo chúng tôi nhận thấy: hát Ghẹo không phải là hát tế lễ như hát Xoan mà nó là những lời ca đối đáp giao duyên Có thể tục kết nghĩa không phải nguồn gốc tạo nên hát Ghẹo nhưng nó cũng tạo cho hát Ghẹo có những câu ca, giọng hát liên quan đến việc “nước nghĩa”.Bên cạnh đó tục kết nghĩa còn là nơi giữ gìn và phát triển của hát Ghẹo Chính nhờ có tục kết nghĩa mà nhân dân các làng thường xuyên ca hát, tập luyện, truyền lại cho nhau, đời trước cho đời sau từng câu, từng giọng, những người nhớ được nhiều giọng, có giọng hát hay trong làng được đề cao, coi trọng Việc tổ chức ca hát vào những dịp lễ hội là một sinh hoạt văn hoá rất vui, được đông đảo các tầng lớp nhân dân ưa thích và bảo vệ Nhờ đó mà các câu ca giọng hát Ghẹo được bổ sung thêm những làn điệu mới, được trau truốt mượt mà hơn
Qua thực tế nghiên cứu, tìm hiểu và những chuyên đi điền dã tại quê hương hát Ghẹo, chúng tôi cho rằng: Một trong những chủ nhân chính sáng tạo
Trang 39nên hát Ghẹo là dân làng Nam Cường Tên gọi hát ghẹo chỉ có thể xuất hiện sau khi đã có thiết chế đình làng, mặc dù lối sinh hoạt ca hát dân gian này không liên quan gì đến tín ngưỡng; Tục kết nghĩa có quan hệ mật thiết tới sinh hoạt hát Ghẹo Tuy nhiên hát Ghẹo không phải được hình thành từ tục kết nghĩa.Như chúng ta đã biết, tất cả các loại hình văn hoá nghệ thuật dân gian đều được ra đời và phát triển từ hình thức tự nhiên, tự phát của quần chúng nhân dân lao động Nó xuất phát từ nhận thức, từ tâm tư, tình cảm, tâm lý và nhu cầu thẩm mỹ của con người, thông qua sự sáng tạo của mỗi cá nhân và tập thể sống trong cộng đồng Những sáng tạo ấy dần dần được chấp nhận và uốn nắm gọt dũa để trở thành những sản phẩm của cộng đồng Dân ca nói chung
và hát Ghẹo nói riêng là một bộ phận trong sự sáng tạo nghệ thuật dân gian
đó Nó cũng được ra đời trên cơ sở hình thái tự nhiên, từ những ngôn ngữ, âm thanh gần gũi đầu tiên của con người như: Tiếng nói, tiếng nựng con, ru con, tiếng rì rầm to nhỏ khi cầu khẩn, tiếng gọi, tiếng hú Những âm điệu thô sơ
đó của con người đã hỗ trợ và bắt nguồn cho những dấu hiệu ca hát sơ khai ra đời Với những âm điệu mộc mạc ban đầu đã được người dân lao động phát triển lên bằng con đường truyền miệng, từ người này qua người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, mỗi thế hệ lại bổ sung, đóng góp, gọt dũa, tinh lọc và sáng tạo thêm Chính vì vậy, từ những câu ca đơn giản mà nó trở thành những bài ca và ngày một hoàn thiện hơn
Hát Ghẹo được hình thành như vậy, có thể nó ra đời trước tục kết nghĩa nhưng tục kết nghĩa lại chính là cái nôi để nuôi dưỡng, giữ gìn và phát triển những lề lối, quá trình diễn xướng và có những lời ca, giai điệu khác so với hát Ghẹo ở các vùng khác
1.3.2.Tên gọi của hát Ghẹo
Hát Ghẹo thực chất là cái tên gọi giản dị của hình thức hát đối đáp giao duyên nam nữ của những người nông dân bình dị Có thê nói hát giao duyên là cái tên chữ của hát Ghẹo - một lối hát phổ biến có ở nhiều nơi vào những ngày xuân thu, ngày hội, ngày mùa, những đêm trăng sáng
Trang 40Hát Ghẹo là cái tên được đặt ra nhằm chỉ chung cho lối hát này chứ không phải là tên riêng mà người tham gia ca hát hay nhân dân ở nơi có điệu hát này tự đặt cho nó Hát Ghẹo không có nghĩa là “chòng ghẹo” một cách thô lỗ mà dùng
để chi việc tiến hành ca hát trong sinh hoạt một cách thoải mái, tự nhiên, lành mạnh, trong sáng Hát Ghẹo trước đây đã được diễn ra và phổ biến ở nhiều nơi như: Hát Ghẹo Hải Dương, hát Ghẹo Hưng Yên, hát Ghẹo Hải Phòng, hát Ghẹo Sơn Tây, hát Ghẹo Kiên Du, hát Ghẹo Quảng Yên đi dần vào miền Trung còn
có hát Ghẹo Thiệu Hoá, hát Ghẹo Tĩnh Gia (Thanh Hoá), hát Ghẹo Nghệ Tĩnh
Có thể nói hát Ghẹo là một hình thức sinh hoạt ca hát giao duyên được xuất hiện
ở nhiều nơi, nhất là vùng đồng bằng, trung du Bắc bộ
Thực tế khi tìm hiểu về hát Ghẹo Phú Thọ thì nguồn gốc và tên gọi của thể loại này cũng không nằm ngoài cái chung đó Nó cũng được hình thành từ những lời nói có vần điệu và rồi sau nữa là những câu ca dao, những bài thơ bình dân phát triển mà thành Do mỗi vùng đều có sự khác nhau nên hát Ghẹo
ở các địa phương cũng có sự khác nhau Hát Ghẹo Phú Thọ bị chi phối bởi các điều kiện kinh tế, xã hội của vùng đất Trung du Phú Thọ nên nó có sự khác biệt so với các vùng khác Để phân biệt hát Ghẹo Phú Thọ với các vùng khác, người dân nơi đây vẫn thường gọi hát Ghẹo là hát “nước nghĩa”
1.3.3.Đ ặc điểm của hát Ghẹo
Như phần trên chúng tôi đã trình bày, hát Ghẹo là lối hát đối đáp giữa trai và gái phổ biến ở nhiều nơi trên miền Bắc, nhưng Phú Thọ là mảnh đất mà hát Ghẹo phát triển nhất và nó cũng mang những đặc điểm khác biệt gọi là
“hát nước nghĩa” Để chứng minh điều này, chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu về đặc điểm của hát Ghẹo Phú Thọ thông qua không gian, thời gian diễn xướng, cách
ăn mặc và xưng hô trong hát Ghẹo
1.3.3.1 Không gian và thời gian diễn xướng
Hát Ghẹo Phú Thọ liên quan, gắn bó chặt chẽ với hội hè và tế lễ ở các địa phương có tục hát này, tuy nhiên, hát Ghẹo không diễn ra vào lúc tế lễ mà đươc diễn ra sau khi lễ hôi xong, tối đến mới tô chưc hat tại một nha nao đo (xem phụ lục) Thông thường trước ngày lễ, ngày hội một tháng, làng có lễ