Bảng 6: Quan niệm của giới trẻ về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ theo giới tính Bảng 7: Quan niệm của giới trẻ về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ theo trình độ học vấn Bảng 8:
Trang 1{
;.,,,�-·/ ''.���;��t:l��;�i;(i;;;J��:);,;i: NGHIEN,,CffiJ<KHQA1HQC; CUA;SlNH'VlEN
\ \/ ' \ ·\·-:�-:�:_·.<··-·:�(::""/ / }c,_'··, ,,.1;, ···.::>,',1\!'.,.,� -�.· t:' i��l-:::::�.:, ·_""· ··,�·::,�· ' \
\THANl.GIA:XET:GIArTHUONG,i\•:\· , ·· ''' ., ,' \'\;,\i l t::
Trang 2i
MỤC LỤC
PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Ý nghĩa thực tiễn 2
3 Điểm lại thư tịch 2
3.1 Một số bài viết mang tính chất khái quát về bình đẳng giới ở Việt Nam 2
3.2 Một số công trình liên quan tới đề tài 4
4 Mục tiêu nghiên cứu 9
4.1 Mục tiêu tổng quát 9
4.2 Mục tiêu cụ thể 9
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 9
5.1 Đối tượng nghiên cứu 9
5.2 Khách thể nghiên cứu 9
6 Địa bàn nghiên cứu 9
7 Phạm vi nghiên cứu 9
8 Phương pháp và kĩ thuật nghiên cứu 10
8.1 Loại hình nghiên cứu 10
8.2 Phương pháp thu thập thông tin 10
8.3 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu sẵn có 10
8.4 Phương pháp xử lý thông tin 10
8.5 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 10
9 Cơ sở lý luận 10
9.1 Định nghĩa một số khái niệm 11
9.1.1 Nội trợ 11
9.1.2 Quan niệm 11
Trang 3ii
9.1.3 Giới trẻ 11
9.1.4 Giới và Giới tính 11
9.1.5 Định kiến giới và Bình đẳng giới 11
9.1.6 Sản xuất và Tái sản xuất 12
9.2 Một số lý thuyết áp dụng 12
9.2.1 Lý thuyết về biến đổi xã hội 12
9.2.2 Lý thuyết xã hội hoá về giới 13
9.2.3 Lý thuyết sinh vật học xã hội 14
10 Giả thuyết nghiên cứu 14
11 Mô hình phân tích 15
PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 16
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 16
1.1 Giới tính 16
1.2 Nhóm tuổi 16
1.3 Trình độ học vấn 17
1.4 Nghề nghiệp 17
1.5 Quê quán 18
1.6 Tình trạng hôn nhân 18
1.7 Người làm nội trợ chính trong gia đình 19
CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG VIỆC NỘI TRỢ QUA CÁI NHÌN CỦA GIỚI TRẺ 20
2.1 Khái niệm của giới trẻ về công việc nội trợ 20
2.2 Phân công công việc nội trợ 23
2.3 Đặc điểm công việc nội trợ 25
Trang 4iii
CHƯƠNG 3 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN NIỆM CỦA GIỚI
TRẺ TẠI TP HCM VỀ HIỆN TƯỢNG NGƯỜI ĐÀN ÔNG LÀM NỘI TRỢ 32
3.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm của giới trẻ tại Tp HCM về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ 32
3.2 Các kênh thông tin về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ được giới trẻ biết đến 34
CHƯƠNG 4 HIỆN TƯỢNG NGƯỜI ĐÀN ÔNG LÀM NỘI TRỢ THEO QUAN NIỆM CỦA GIỚI TRẺVÀ MÔ HÌNH GIA ĐÌNH MONG ĐỢI TRONG TƯƠNG LAI 35
4.1 Mức độ ủng hộ của giới trẻ về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ 35
4.2 Mức độ đồng ý của giới trẻ với các nhận định liên quan đến hiện tượng người đàn ông làm nội trợ 39
4.3 Mô hình gia đình lý tưởng trong tương lai 47
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
5.1 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 48
5.2 Kết luận 49
5.3 Kiến nghị và hạn chế 50
5.3.1 Kiến nghị 50
5.3.2 Hạn chế 51
PHẦN III: PHỤ ĐÍNH 51
1 TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
2 PHỤ ĐÍNH 53
2.1 MỘT SỐ BẢNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53
2.2 BẢN HỎI 89
Trang 5iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Nhận định đặc điểm công việc nội trợ
Bảng 2: Mức độ ủng hộ đàn ông trong gia đình làm nội trợ của giới trẻ theo giới tính, nghề nghiệp
Bảng 3: Mức độ ủng hộ hiện tượng đàn ông làm nội trợ theo giới tính
Bảng 4: Mối tương quan giữa mức độ ủng hộ đàn ông làm nội trợ trong gia đình với
mức độ ủng hộ hiện tượng đàn ông làm nội trợ
Bảng 5: Ma trận phân tích về các thành tố chính về mức độ đồng ý với các quan niệm liên quan hiện tượng đàn ông làm nội trợ
Bảng 6: Quan niệm của giới trẻ về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ theo giới tính
Bảng 7: Quan niệm của giới trẻ về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ theo trình độ học vấn
Bảng 8: Quan niệm của giới trẻ về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ theo nghề nghiệp
Bảng 9: Quan niệm của giới trẻ về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ theo tình trạng hôn nhân
Biểu đồ 5: Quê quán
Biểu đồ 6: Tình trạng hôn nhân
Biểu đồ 7: Nội trợ chính
Biểu đồ 8: Định nghĩa của giới trẻ về công việc nội trợ
Biểu đồ 9: Phân công công việc nội trợ
Biểu đồ 10:Yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm của giới trẻ về hiện tượng đàn ông làm
nội trợ
Biểu đồ 11: Các kênh truyền thông
Biểu đồ 12: Mức độ ủng hộ đàn ông trong gia đình làm nội trợ
Biểu đồ 13: Mức độ ủng hộ hiện tượng đàn ông làm nội trợ
Trang 71
PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG
1 Lý do chọn đề tài
Hiện tượng bất bình đẳng giới trong lịch sử phát triển đã đòi hỏi nhân loại tiến
bộ phải thay đổi nhận thức và hành động Bất bình đẳng giới là nguyên nhân của sự đói nghèo, là rào cản chính đối với sự phát triển bền vững của xã hội Vì lẽ đó, vấn đề bình đẳng giới là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia trên thế giới trong thập kỷ vừa qua và được xác định là một trong 8 mục tiêu thiên niên kỷ của toàn cầu Trong tình hình hiện nay, số lượng phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động xã hội ngoài gia đình ngày càng gia tăng Nhưng nói đến vai trò của người phụ nữ, người vợ trong gia đình là nói đến vai trò chăm sóc con cái, đảm nhiệm công việc nội trợ… Khi người phụ nữ phải đảm đương đồng thời hai vai trò chính: vai trò trong tổ chức xã hội chính thức và vai trò trong gia đình, họ sẽ rơi vào tình trạng mâu thuẫn vai trò và rất cần sự trợ giúp của người đàn ông/ người chồng Nhiều người Việt Nam vẫn còn nhiều định kiến về vấn đề này, xem đàn ông làm nội trợ là “bất tài”, là “quẩn quanh xó bếp”, không thể hiện được nam tính Nhưng cũng trong nhiều gia đình ngày hôm nay, người đàn ông, người chồng đã tham gia vào công việc nội trợ Bên cạnh đó, hình ảnh người đàn ông làm nội trợ đề cập nhiều trên các phương tiện truyền thông đại chúng, ví dụ như các gameshow trên truyền hình “Vào bếp là chuyện nhỏ”, “Hương vị cuộc sống”,
“Khi mẹ vắng nhà” hay phim “Mày râu làm vợ”… Phải chăng việc người đàn ông làm nội trợ là biểu hiện của việc bình đẳng giới? Phải chăng có sự thay đổi về vai trò giới giữa nam và nữ? Mặc dù tỉ lệ người chồng đảm nhận chính các công việc nội trợ thấp hơn nhiều so với người vợ, nhưng xu hướng chia sẻ công việc này đang có xu hướng tăng lên, nhất là ở khu vực thành phố Chẳng hạn, hằng ngày ở thành phố Hà Nội có 22.25% người chồng chia sẻ công việc nấu ăn với người vợ, 13.3% người chồng đi chợ mua thực phẩm, 32.6% người chồng giặt quần áo, 31.3% người chồng dọn dẹp nhà cửa và tỉ lệ người chồng chia sẻ với người vợ đặc biệt cao trong các công việc như chăm sóc con cái 74.85%, dạy bảo con là 83.4% (UBDSGĐTE Hà Nội, 2002)
Bên cạnh đó, thành phố Hồ Chí Minh là một khu vực kinh tế năng động nhất cả nước Và giới trẻ - những người sẽ lập gia đình hoặc bắt đầu bước vào cuộc sống gia đình có quan điểm, thái độ như thế nào về vai trò giới khi họ đang sống trong một môi trường xã hội có nhiều biến chuyển (tác động của luật bình đẳng giới; các
Trang 82
phương tiện truyền thông đại chúng; di cư từ nông thôn lên thành thị; khủng hoảng
kinh tế; mô hình gia đình chồng đi làm, vợ ở nhà nội trợ đang dần thay đổi…)
Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu cho rằng việc tìm hiểu quan điểm và thái độ của giới trẻ về hiện tượng người đàn ông nội trợ hiện nay là rất cần thiết
- Cung cấp thông tin cho các nhà chính sách, giáo dục, nhà công tác xã hội,… để
họ có những hoạt động phù hợp góp phần xây dựng xã hội bình đẳng hơn về giới
3 Điểm lại thư tịch
Những công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài nội trợ trong những thập niên qua tuy chưa nhiều lắm nhưng cũng đã có một số công trình của các tác giả quốc tế và trong nước đáng chú ý về những khía cạnh khác nhau Sau đây, chúng tôi sẽ điểm lại trước hết là (a) một số bài viết mang tính chất khái quát về bình đẳng giới ở Việt Nam, sau đó là (b) một số công trình liên quan tới đề tài
3.1 Một số bài viết mang tính chất khái quát về bình đẳng giới ở Việt Nam
Bài viết “Thực trạng của vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam” của Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam 08/03/2013 (http://reds.vn) đã nói lên một thực trạng về bình đẳng giới ở Việt Nam như sau:
“Việt Nam đã có rất nhiều hành động nhằm giảm bớt sự kỳ thị và bất bình đẳng giữa nam giới và nữ giới Những hành động này thậm chí đã được thể chế hóa thành chính sách nhà nước, thành văn bản luật, đơn cử như Luật bình đẳng giới được ban hành năm 2006 và mới đây là Luật phòng chống bạo lực gia đình Cũng không có nhiều nước trên thế giới mà các hành động, biện pháp thực hiện bình đẳng giới được đưa thành chương trình hoạt động cụ thể của từng tỉnh thành, từng địa phương… như
ở Việt Nam Bên cạnh đó cũng còn những góc khuất Ông Phạm Ngọc Tiến, Vụ trưởng Vụ bình đẳng giới (Bộ LĐTBXH) trong một lần phỏng vấn báo chí vào hồi tháng 06/2008, nhân dịp Bộ phối hợp cùng Cơ quan hợp tác phát triển quốc tế Thụy
Trang 93
Điển (SIDA) tổ chức diễn đàn “Bình đẳng giới và giảm nghèo bền vững”, cho biết rằng nữ giới Việt Nam vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi so với nam giới, nạn ngược đãi phụ nữ vẫn còn tồn tại ở một số nơi, đặc biệt là ở những vùng, những khu vực trình độ dân trí chưa cao Chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Nho giáo, vì vậy định kiến về giới còn tồn tại trong xã hội Việt Nam, kể cả ở một số bộ phận cán bộ”
Qua đây chúng tôi có thêm thông tin về tình hình VN từ đó đó nhìn nhận được những hạn chế, khó khăn khi nghiên cứu đề tài
Ngô Thị Hường trong bài “Vai trò của gia đình trong nhận thức và thực hiện bình đẳng giới” (01/07/2013, http://www.moj.gov.vn) cũng phần nào đề cập thực trạng của vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam:
“Vấn đề bình đẳng giới đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và được đánh giá là một động lực và mục tiêu phát triển quốc gia Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới đã được cụ thể hóa trong Luật Bình đẳng giới do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 7 năm
2007 Bên cạnh đó, ngày 24 tháng 12 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2351/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn
2011 – 2020 Chiến lược có mục tiêu tổng quát là sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, đến năm 2020, về cơ bản, bảo đảm bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước Mặc dù vậy, việc thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam còn đứng trước không ít khó khăn, thách thức” Ngoài ra, tác giả nhấn mạnh với thực trạng này,
để hạn chế khó khăn thách thức thực hiện tốt mục tiêu này nhằm phát triển đất nước thì cần đến sự phối hợp của nhiều yếu tố khác nhau Trong đó, gia đình đóng vai trò quan trọng trong nhận thức và thực hiện bình đẳng giới Vì gia đình là nơi định hình các quan hệ giới, truyền tải những chuẩn mực về giới và quyết định những cơ hội cho các thành viên gia đình Gia đình là nơi đưa ra các quyết định cơ bản như: Số con, việc nuôi dạy con, phân bố thời gian và nguồn lực sản xuất, tiêu dùng và đầu tư cho tương lai… Thực tế cho thấy, gia đình có thể làm trầm trọng hơn định kiến giới hoặc có thể làm dịu đi sự phân biệt giới
Trang 104
Bài viết đã đem đến cho chúng tôi những cơ sở lý luận về việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu là giới trẻ, đồng thời qua đó hiểu được sự cần thiết, đóng góp của nghiên cứu để cung cấp thêm thông tin, nhìn nhận vấn đề bình đẳng giới thông qua thái độ của họ về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ để các nhà giáo dục, công tác
xã hội liên quan vấn đề gia đình có hoạt động hỗ trợ tốt hơn
3.2 Một số công trình liên quan tới đề tài
Phân công lao động theo giới trong gia đình
Trong bài viết “Vấn đề giới trong các nghiên cứu về gia đình”của Lê Ngọc Văn
(2005), có đoạn như sau:
“Tình trạng phân công lao động theo giới trong gia đình Việt Nam mang đậm nét truyền thống cả ở khu vực nông thôn và thành thị Phụ nữ vẫn là người đảm nhận chính các công việc tái sản xuất trong gia đình, bao gồm công việc nội trợ, nuôi dưỡng, chăm sóc con, chăm sóc người già, người ốm Số liệu điều tra cơ bản (ĐTCTNB) về gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của trung tâm Nghiên cứu khoa học về Gia đình và Phụ nữ năm 1998 – 2000 cho thấy, trong gia đình có tới 77.9% người vợ đảm nhận chính việc nấu ăn, 86.9% phụ trách chính mua thực phẩm, 77.6% phụ trách giặt giũ quần áo, 43.3% chăm sóc con, 28.6% chăm sóc người già, người ốm Tỉ lệ người chồng làm các công việc trên tương ứng là 2.1%; 2.3%; 1.9%; 2.3% và 3.7%”
Tương tự, nghiên cứu của Vũ Tuấn Huy (1998): “90% phụ nữ được phỏng vấn nói rằng họ thường xuyên làm các công việc như nấu ăn, mua thực phẩm, giặt giũ, trong khi chỉ có khoảng 2% các ông chồng làm công việc này”
Phân công lao động theo giới trong gia đình còn được thể hiện qua lao động của người chồng, thường tập trung nhiều hơn vào những công việc trực tiếp tạo ra thu nhập bằng tiền Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu khoa học Gia đình và Phụ nữ (1996) tại nông thôn đồng bằng Bắc bộ và đồng bằng Nam bộ cho thấy trong 3 khu vực chính
sử dụng lao động gia đình là công việc nhà, sản xuất tiêu dùng và sản xuất để trao đổi thì các lao động nữ trong các gia đình nông thôn chủ yếu tập trung ở khu vực thứ nhất
và khu vực thứ hai, còn lao động nam tập trung nhiều hơn ở khu vực thứ ba Ở đồng
Trang 11Mặc dù tỉ lệ người chồng đảm nhận chính các công việc nội trợ gia đình thấp hơn nhiều so với người vợ, nhưng xu hướng chia sẻ công việc này đang có xu hướng tăng lên, nhất là ở khu vực thành phố Chẳng hạn, hằng ngày ở thành phố Hà Nội có 22.25% người chồng chia sẻ công việc nấu ăn với người vợ, 13.3% người chồng đi chợ mua thực phẩm, 32.6% người chồng giặt quần áo, 31.3% người chồng dọn dẹp nhà cửa và tỉ lệ người chồng chia sẻ với người vợ đặc biệt cao trong các công việc như chăm sóc con cái 74.85%, dạy bảo con là 83.4% (UBDSGĐTE Hà Nội, 2002)
Một số tác giả cho thấy đây là những biến đổi tích cực và nguyên nhân của những biến đổi này một mặt do những thay đổi về nhận thức, trình độ văn hóa của cặp
vợ chồng, thay đổi vai trò kinh tế của người phụ nữ trong gia đình (Đỗ Thị Bình, 2002); mặt khác do đời sống người dân được nâng cao trong những năm đổi mới nên nhiều gia đình được trang bị những tiện nghi hiện đại như bếp ga, tủ lạnh, nồi cơm điện, máy giặt, do vậy các công việc nhà trở nên nhẹ nhàng hơn, vì thế các thành viên trong gia đình có thể dễ dàng làm những công việc này (Nguyễn Ninh Khiều, 2002)
Quá trình xã hội hóa về giới
Sự phân công lao động luôn được chúng ta quan tâm vì thể hiện sự bình đẳng
và công bằng ở mọi tầng lớp, lứa tuổi và giới tính Và gia đình là một xã hội thu nhỏ, phân công công việc trong gia đình cho các thành viên rất quan trọng vì điều này ảnh
Trang 126
hưởng trực tiếp đến tính cách, thái độ và nhận thức của mỗi cá nhân Nhưng trong
“Quá trình xã hội hóa về giới ở trẻ em” của Nguyễn Xuân Nghĩa (2000), sự phân chia lao động theo giới tính ở Việt Nam không rõ ràng Tùy hoàn cảnh, có gia đình có người phụ nữ làm công việc nặng nhọc hay có người đàn ông làm nội trợ Trong quan niệm truyền thống người Việt, ai cũng có thể nhận biết công việc nào của là của đàn ông và công việc nào của phụ nữ trong nhiệm vụ sản xuất và tái sản xuất Chế độ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam chủ trương phân chia quyền lợi và nghĩa vụ công bằng cho
cả hai giới Nam giới miền Bắc chịu ảnh hưởng chủ trương này nhiều hơn nam giới ở các tỉnh phía Nam, có xu hướng giúp đỡ phụ nữ công việc nội trợ Một tác động khác
là môi trường đô thị hóa, phụ nữ tham gia các công việc có thu nhập bên ngoài xã hội,
do đó người đàn ông phải chia sẻ công việc gia đình Thực tế, hoàn cảnh cụ thể của từng hộ gia đình chi phối việc phân chia lao động giữa các thành viên trong gia đình (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2000)
Đây là một bước chuyển biến về chức năng và vai trò của nam và nữ trong công việc gia đình cụ thể là công việc nội trợ và mô hình gia đình trong tương lai đang được xây dựng và đổi mới Chúng ta sẽ tiến dần đến mô hình “gia đình cấu trúc cân đối”, mô hình này không còn xa lạ gì với các nước Mỹ và phương Tây, đã xuất hiện cách đây vài chục năm, nhưng với đất nước đang phát triển như Việt Nam khi được tiếp cận dần với gia đình cấu trúc cân đối là điều đáng quan tâm Hai nhà xã hội học Anh M Young và P Will Mott đề cập rằng gia đình cấu trúc cân đối là gia đình cân xứng, vai trò của người vợ và người chồng tương đương nhau, cùng góp phần vào việc sắp xếp gia đình và kinh tế Mô hình này chủ yếu phát triển nhờ 3 yếu tố sau:
- Chuyển vùng địa lý khi gia đình rời khỏi khu nội thành và vào ngoại ô để gia đình gốc ở lại
- Khuynh hướng gia đình ít con nhờ phương pháp ngừa thai cải tiến
- Nhiều phụ nữ lập gia đình đi làm xa nhà
Hậu quả chủ yếu của sự thay đổi này là đàn ông dành thời gian ở nhà và góp phần vào công việc nội trợ tăng lên để cả hai vợ chồng đều làm việc nhà và cùng chăm sóc con cái (vai trò hôn nhân kết hợp) và dành thời gian cho bố mẹ, họ hàng hơn (Nguyễn Kiên Trường, 2006)
Trang 137
Báo cáo nghiên cứu về vấn đề nội trợ “Quan niệm về nội trợ gia đình của phụ
nữ và vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa phương tiện nội trợ” của Trần Thị Minh Đức và Trần Hương Giang (20/11/2012 , http://gas.hoasen.edu.vn) đã cung cấp cái nhìn bao quát về thực trạng làm việc nội trợ ngày nay Đa số người được phỏng vấn đều đồng tình rằng người đàn ông nên biết làm nội trợ nhưng trên thực tế thì phụ nữ vẫn làm nội trợ nhiều hơn nam Xã hội phát triển, các phương tiện nội trợ tiên tiến ra đời thay thế dần công việc làm bằng sức lực tay chân, giúp người phụ nữ giảm nhẹ lượng công việc nhà, nhưng chính vì các phương tiện nội trợ hiện đại lại khiến nam giới ỷ lại hơn và không tích cực tham gia vào việc nội trợ Cuối cùng người phụ nữ vẫn phải gánh hết công việc nhà
Phân công lao động nội trợ trong gia đình
Tiếp thu kiến thức tương đối về vấn đề bình đẳng giới và tình trạng, tầm quan trọng của gia đình, không chỉ là đưa ra nhận định và mô tả, Vũ Tuấn Huy & Deborah
S Carr (2000) trong “Phân công lao động nội trợ trong gia đình” còn phân tích số liệu
và sử dụng lí thuyết khoa học để đem lại cái nhìn rõ ràng, cụ thể hơn về những nguyên nhân, những biến đổi vai trò giới trong gia đình xưa và nay thông qua một lãnh vực là nội trợ, tìm hiểu những yếu tố tác động đến vai trò người phụ nữ trong gia đình
Tác giả sử dụng mô hình kinh tế vốn được sử dụng rộng rãi trong kinh tế học với luận điểm cơ bản là người phụ nữ làm công việc nội trợ trong gia đình và nam giới lao động kiếm tiền bên ngoài gia đình thì sẽ hợp lý hơn vì thu nhập của nam giới thường cao hơn phụ nữ ở cùng công việc Nếu người đàn ông làm công việc nội trợ thay cho công việc trả lương thì thu nhập của gia đình sẽ bị giảm so với phụ nữ không tham gia lực lượng lao động để đảm nhận các trách nhiệm gia đình Từ đó, tác giả kiểm soát các biến ảnh hưởng tiềm năng đến thu nhập của phụ nữ như học vấn nghề nghiệp thông qua nguồn số liệu từ cuộc nghiên cứu đề tài cấp bộ “Biến đổi cơ cấu gia đình và giới” được tiến hành 7/1997 tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ Với dung lượng mẫu là 500 hộ gia đình, trong đó chọn 200 hộ gia đình tại một phường của khu vực đô thị và 300 hộ gia đình ở một xã thuộc khu vực nông thôn Trong mỗi khu vực này có một danh sách các hộ gia đình dựa trên đăng kí nhân khẩu được liệt kê và các hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên Tác giả đưa ra năm mô hình thử nghiệm: Thứ nhất là mô hình cơ bản bao gồm biến số nhân khẩu học là nhóm tuổi của phụ nữ với nhóm tuổi
Trang 148
tham khảo là phụ nữ sinh sau năm 1969 Thứ hai, mô hình chi phí cơ hội được bổ sung thêm các biến số như học vấn và nghề nghiệp của người vợ, nhóm tham khảo là vợ có học vấn thấp Thứ ba là mô hình trợ giúp gia đình với biến số như số con trai, con gái
là biến số liên tục Thứ tư là biến số con cái làm công việc nội trợ với nhóm tham khảo
là trẻ em có tham gia vào công việc gia đình Cuối cùng là các biến quan niệm và tâm thế về vai trò giới trong gia đình là biến số liên tục được đưa để phân tích
Sau khi kiểm soát, tác giả đưa ra nhận định là công việc nội trợ là hoạt động nhằm thoả mãn trực tiếp các nhu cầu của thành viên trong gia đình là một trong các chức năng của gia đình Tuy nhiên, nội dung và ý nghĩa của công việc nội trợ cho đến nay đã có những biến đổi Điều đó thể hiện, chứng minh thông qua kết quả là trong lĩnh vực nội trợ có biến đổi so với mô hình phân công lao động truyền thống là người chồng làm trụ cột về kinh tế và người vợ làm nội trợ thể hiện qua số liệu nghiên cứu là 6% người vợ nói rằng nghề nghiệp của mình là làm nội trợ Nhưng đáng quan tâm hơn
là tình hình không phải hoàn toàn như vậy, kết quả phân tích cho thấy người vợ vẫn là người làm chính các công việc của gia đình Bên cạnh đó phân tích hồi quy cho thấy phân công lao động nội trợ trong gia đình bị tác động bởi yếu tố nghề nghiệp của vợ và chồng, số con Hơn thế nữa, quan điểm chung của người phụ nữ, định hướng tâm thế hướng tới vai trò về giới truyền thống khá mạnh là phẩm chất của người phụ nữ như biết nội trợ giỏi, biết nuôi dạy con cái được đánh giá cao hơn đối với những đặc điểm như học vấn cao, nghề nghiệp có uy tín và có địa vị xã hội Mặt khác, quan niệm về bình đẳng có thể ảnh hưởng mạnh tới mô hình phân công vai trò giới truyền thống
Bài viết này gợi mở cho chúng tôi về cái nhìn rõ hơn về những yếu tố ảnh hưởng đến công việc nội trợ của người phụ nữ như yếu tố nhân khẩu bao gồm nghề nghiệp, giới tính, học vấn; yếu tố xã hội là quan niệm giới truyền thống, cơ cấu nghề nghiệp theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá Ngoài ra, nó đem lại cách giải thích hợp lý về tỉ lệ lớn người phụ nữ tham gia sản xuất của hộ gia đình bằng xã hội hoá vai trò về giới như sau: Một mặt, phụ nữ thích làm công việc nội trợ Mặt khác, phụ nữ có thể chịu sức ép xã hội- từ người chồng của họ và những người khác để làm công việc này
Nhà xã hội học Ann Oakley trong hai cuốn sách “Xã hội học về công việc nội trợ” (The sociology of housework) và “Người vợ nội trợ” (Housewife) đưa ra khái
Trang 159
niệm “lao động gia đình không được trả công của phụ nữ” (women’s unpaid domestic labour) Theo Oakley, lao động nội trợ của phụ nữ trong gia đình cần phải được coi như lao động trả công, bởi vì nó tốn nhiều thời gian, và đòi hỏi nhiều công sức Chứng bệnh tâm thần, buồn chán, sự thất vọng và bơ vơ là sự trải nghiệm của những người vợ nội trợ trong gia đình (Lê Ngọc Văn, 2006)
4.1 Mục tiêu tổng quát
Tìm hiểu quan điểm của giới trẻ tại Tp.HCM về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ
4.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu giới trẻ hiểu thế nào về công việc nội trợ
- Tìm hiểu quan niệm của giới trẻ về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ
- Những yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm và thái độ của giới trẻ về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ hiện nay:
Các yếu tố nhân khẩu: giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân gia đình
Các yếu tố xã hội: luật bình đẳng giới, thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng, khủng hoảng kinh tế, định kiến và dư luận xã hội…
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Quan điểm của giới trẻ về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ
5.2 Khách thể nghiên cứu
Giới trẻ/Thanh niên sống, học tập và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh
Giới trẻ/Thanh niên đang sinh sống tại Tp.HCM trong độ tuổi 18-35 tuổi đã có
hoặc chưa có gia đình và quan điểm của họ về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ
Trang 1610
8.1 Loại hình nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu của chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Việc sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng cho phép đề tài xác định được mức
độ đồng tình cũng như thái độ đối với việc nam giới làm nội trợ so sánh được sự bình đẳng giữa nam và nữ ngày nay qua thái độ và quan điểm của giới trẻ
8.2 Phương pháp thu thập thông tin
Chúng tôi thu thập thông tin định lượng bằng bản hỏi cơ cấu
8.3 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu sẵn có
Về kỹ thuật phỏng vấn bằng bản hỏi cơ cấu có những ưu và nhược điểm sau:
Ưu điểm: Dễ thực hiện, kết quả mang tính khách quan và tiết kiệm thời gian và chi
phí, có thể thực hiện ở qui mô mẫu lớn
Nhược điểm: Chỉ mang tính mô tả, không đi sâu lý giải tính chất, cơ cấu, xu hướng
biến đổi của các hiện tượng xã hội
8.4 Phương pháp xử lý thông tin
Chúng tôi mã hóa bản hỏi và xử lý dữ liệu thu thập bằng phần mềm SPSS 16.0 (Statistic Package Socia Sciences) và phầm mềm Microsoft Excel 2010
Sử dụng các phương pháp thống kê: Tương quan, Chi-square, Anova, bảng tần
số, bảng chéo, bảng tần số đa phương án trả lời, T-test, phân tích nhân tố…
Mẫu định lượng: chúng tôi chọn mẫu theo phương pháp định ngạch - tiện lợi Quy
mô mẫu bao gồm 366 được chia đều cho hai giới nam và nữ; về nghề nghiệp bao gồm công nhân, sinh viên, cán bộ công nhân viên chức tại thành phố Hồ Chí Minh
Về tuổi, khảo sát giới trẻ/Thanh niên từ 18 tuổi đến 35 tuổi
Cách thức chọn mẫu: Chúng tôi phát bản hỏi đối với những cư dân sinh sống tại TPHCM Địa bàn phát bản hỏi là trường Đại học, xí nghiệp, công ty, nhà trọ của
CN
Trong quá trình chọn mẫu, chúng tôi gặp phải một số khó khăn nhất định nên có
sự chênh lệch về tỷ lệ nam-nữ, công nhân-sinh viên-cán bộ công nhân viên
Trang 17Giới là quan hệ xã hội giữa nam và nữ và cách thức mối quan hệ đó được xây
dựng lên trong xã hội.Giới đề cập đến các quy tắc tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không theo thực tế cá nhân Vai trò giới được xác định theo văn hóa, không theo khía cạnh sinh vật học và có thể thay đổi theo thời gian, theo xã hội và các vùng địa lý
khác nhau (Lê Thị Quý, 2011)
Giới tính là sự khác biệt sinh học giữa nam và nữ.Mỗi người đều mang một
giới tính, nghĩa là khi sinh ra đã mang giới tính nam hay nữ Những quy định này dựa trên một số tố chất đặc thù khiến ta có thể phân biệt được giới tính của mỗi giới (Lê
Thị Quý, 2011)
9.1.5 Định kiến giới và Bình đẳng giới
Định kiến giới là nhận định của mọi người trong xã hội về những gì mà phụ nữ
và nam giới có khả năng và các loại hoạt động mà họ có thể làm với tư cách họ là nam hay nữ Có nhiều biểu hiện khác nhau của định kiến giới song phổ biến hơn cả là những quan điểm về đặc điểm, tính cách và khả năng của phụ nữ và nam giới (Lê Thị
Quý, 2011)
Bình đẳng giới là một tình trạng lý tưởng trong đó phụ nữ và nam giới được
hưởng vị trí xã hội như nhau, được tạo cơ hội và điều kiện thích hợp để phát huy đủ khả năng của mình nhằm đóng góp cho sự phát triển của quốc gia và được hưởng lợi bình đẳng của các kết quả từ quá trình phát triển đó Bình đẳng giới không phải là cào
Trang 1812
bằng mà có tính đến sự khác biệt về giới tính và xã hội của nam và nữ (Lê Thị Quý, 2011)
9.1.6 Sản xuất và Tái sản xuất
Lao động sản xuất: bao gồm những việc làm ra hàng hóa, dịch vụ để trao đổi
hoặc tiêu thụ Cả nam và nữ đều tham gia lao động song hình thức sản xuất công việc
và tiền công khác nhau Nam giới do có sức khỏe, trí tuệ và rảnh rỗi việc nhà hơn phụ
nữ nên thường nhận được các công việc tốt hơn Phụ nữ yếu hơn phải mang thai, sinh
đẻ và chăm sóc con cái trong gia đình nên thường nhận các công việc nặng nhọc, đơn
giản, tiền công thấp (Lê Thị Quý, 2011)
Lao động tái sản xuất
- Tái sản xuất về sinh học: trong khi nam giới sản xuất tinh trùng cho quá trình
thụ thai thì phụ nữ mang thai, sinh con, cho con bú bằng sữa mẹ Công việc của phụ nữ rất nặng nhọc và nguy hiểm không được trả công hoặc trả công thấp (Lê
Thị Quý, 2011)
- Tái sản xuất ra sức lao động: là tất cả những công việc hỗ trợ cho người sản
xuất cả khi họ đang làm việc và khi không làm việc, tạo điều kiện cho họ nghỉ ngơi, bồi dưỡng để có thể tiếp tục làm việc ngày hôm sau tốt hơn Những việc này gồm nấu ăn, dọn dẹp, giặt giũ, trông nom nhà cửa, chăm sóc người ốm, người già, trẻ em Công việc này phần lớn do phụ nữ đảm trách và không được
trả công (Lê Thị Quý, 2011)
9.2 Một số lý thuyết áp dụng
Sau đây là những lý thuyết chúng tôi sẽ sử dụng trong đề tài “Quan niệm của giới trẻ tại Tp.HCM về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ”
9.2.1 Lý thuyết về biến chuyển xã hội
“Biến chuyển xã hội là sự thay đổi có tính cơ cấu trong những tổ chức, trong những lối suy nghĩ và ứng xử của xã hội qua thời gian.” (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2003, tr 200) Biến chuyển xã hội có một số đặc trưng như:
Diễn ra trong những môi trường, các không gian xã hội khác nhau
Tốc độ và tính chất khác nhau
Biến chuyển xã hội cũng diễn ra trên nhiều phương diện khác nhau
Trang 1913
Vừa có tính tự giác, nhưng cũng mang tính phi kế hoạch, có những biến đổi người ta lường trước, nhưng có những thay đổi con người không thể lường được
Biến chuyển xã hội vừa mang kết quả tốt, nhưng cũng mang lại nhiều hậu quả xấu
Có những biến đổi diễn ra trong thời gian ngắn, nhưng cũng có những biến đổi xã hội diễn ra thời gian rất lâu dài
Theo Peter Beger đã thừa kế những biến chuyển trên nhiều bình diện mà Neil Smelser đã đưa ra là kỹ thuật, sinh thái, công nghiệp, chính trị, giáo dục, gia đình, phân tầng xã hội, bình đẳng giới trong xã hội hiện đại và đưa ra thêm bốn sự chuyển
biến mang đến một bức tranh tổng quát hơn về xã hội hiện nay: Thứ nhất, trong xã
hội hiện đại con người càng hướng về tương lai trong khi xã hội truyền thống, trong
xã hội tiền công nghiệp, quá khứ là điểm quy chiếu hành động con người trong hiện tại Con người hiện đại hướng về tương lai tin tưởng các phát minh, khám phá khoa học sẽ làm con người tốt hơn Cuộc sống hướng về tương lai làm cho con người hiện
đại chấp nhận các thay đổi Thứ hai, con người có nhiều sự độc lập và nhiều tự do
trong hoạt động Thứ ba, các nhu cầu của cuộc sống hiện đại được thực hiện bởi các định chế ngoài gia đình (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2010, tr 208) Qua đây, quan niệm giúp ta giải thích nguyên nhân khách quan rằng xã hội hiện nay biến đổi to lớn về kinh tế, chính trị, kỹ thuật khoa học đã kéo theo sự biến đổi nhận thức mối quan hệ về giới trong phân công công việc tái sản xuất lao động là công việc nội trợ mà trước đây
là công việc của nữ và hiện nay thì đã có người đàn ông tham gia có xu hướng ngày càng nhiều
9.2.2 Lý thuyết xã hội hoá về giới
Xã hội hoá là một quá trình mà ở đó, tất cả các cá nhân đều học cách làm sao để đáp ứng được những trông đợi của xã hội thông qua cách ứng xử, giao tiếp với những người khác nhau Xã hội hoá có thể hiểu là một mô hình, khuôn mẫu của xã hội được hình thành như thế nào để tạo sự thích nghi, sự liên kết giữa các cá nhân và nhóm Gia đình là môi trường xã hội hoá đầu tiên của con người (John J Macionis) Theo khía cạnh giới, Jeffrey Rubin và các cộng sự (1974) cho thấy, hầu hết cha mẹ đều nhận thấy những biểu hiện khác biệt về giới tính của con mình (bản năng giới tính)
Trang 2014
Nhưng khi đứa trẻ lớn lên thì chính những quan niệm của cha mẹ về vai trò về giới đã tác động đến cách giáo dục, cư xử của họ với trẻ Việc giáo dục con trai hoặc con gái theo khuôn mẫu giới như con trai phải mạnh mẽ, hướng ngoại còn con gái phải dịu dàng, hướng nội, chăm lo việc gia đình làm quá trình xã hội hoá hình thành nhân cách con người mang đậm màu sắc giới Xã hội hoá nhận thức về giới hình thành một cách khách quan từ môi trường gia đình và xã hội thông qua hệ thống chuẩn mực và giá trị sống của xã hội đó Vận dụng lý thuyết xã hội hoá trong tiếp cận giới, chúng ta nhận thấy xã hội hoá là một quá trình khách quan trong sự phát triển con người vì trong khi tương tác với xã hội, hội nhập với những quy chuẩn xã hội mà họ đang sống, con người cũng tiếp nhận các quy chuẩn về giới trong xã hội đó (Lê Thị Quý, 2010) Lý thuyết giúp chúng tôi nhìn nhận rằng hiểu rằng giới trẻ có sự tương tác trong các mối quan hệ với các thành viên trong gia đình (đặc biệt là cha mẹ), bạn bè, đồng nghiệp
mà tiếp nhận những biến đổi trong hệ thống chuẩn mực và giá trị sống của xã hội về mối quan hệ giới là hướng tới sự “bình đẳng” do đó mà dẫn tới sự thay đổi quan niệm
về người đàn ông trong công việc tái sản xuất lao động của giới trẻ cởi mở hơn
9.2.3 Lý thuyết sinh vật học xã hội
Lý thuyết sinh vật học xã hội nhận định là một số nền văn hoá đôi khi chịu ảnh hưởng bởi yếu tố sinh lý di truyền và gen trong các lối ứng xử và tính vi phạm xã hội Nam và nữ (giới tính) có những khác biệt về yếu tố sinh lý di truyền như nam mạnh hơn nữ về thể chất, nữ có buồng trứng có khả năng sinh sản … Do những khác biệt đó dẫn đến lối ứng xử và thái độ khác nhau của hai bên, từ đó tạo ra sự phân công vai trò trong gia đình khác nhau (Lê Thị Quý, 2010) Vì vậy, không thể phủ nhận tầm quan trọng của yếu tố bẩm sinh để giải thích cho đề tài của chúng tôi trên bình diện hai mặt
là thái độ khác biệt của nam và nữ (đối tượng giới trẻ) và vai trò phân theo giới tính
và mặc nhiên xem rằng phụ nữ làm công việc nội trợ
10 Giả thuyết nghiên cứu
- Đa số giới trẻ ủng hộ hiện tượng người đàn ông làm nội trợ
- Có sự tương quan giữa mức độ ủng hộ người đàn ông trong gia đình làm nội trợ
và sự ủng hộ hiện tượng đàn ông làm nội trợ
- Yếu tố gia đình là yếu tố quyết định đến quan điểm của giới trẻ về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ
Trang 21Quan niệm của giới trẻ về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ
Khái niệm các công việc
Quan điểm của giới
trẻ
Không ủng hộ
Phân công công việc
Đặc điểm
Ủng hộ
- Có sự khác biệt về mức độ ủng hộ của giới trẻ về hiện tượng đàn ông làm nội trợ phân theo giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp và tình trạng hôn nhân
11 Mô hình phân tích
Trang 2216
PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
Trang 23- ĐH
1.4 Nghề nghiệp
Biểu đồ 4: Nghề nghiệp
Nguồn khảo sát tháng 11/2013
Nhóm sinh viên chiếm 33.4% (N = 122), công nhân chiếm 35.6% (N=130), cán
bộ công nhân viên chiếm 30.9 % (N = 113), trong đó nhân viên văn phòng và giáo viên chiếm lần lượt 16.7% và 14.2% Mỗi tầng lớp xã hội có một lối sống riêng, có ngành nghề riêng, hưởng nền giáo dục với chất lượng khác nhau và sử dụng thời gian
nhàn rỗi cũng khác nhau (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2010), chính vì thế chúng tôi chọn 3
nhóm nghề là SV, CBCNV, CN để tìm hiểu liệu có sự khác biệt trong quan niệm của
họ về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ
Trang 2418
Biểu đồ 5: Quê quán
Ng uồn khảo sát tháng 11/2013
Người tham gia nghiên cứu đến từ miền Bắc chiếm 5.8%, miền Trung 17.5% và miền Nam 76.8% Trong miền Nam, người dân có quê quán tại TP.HCM chiếm 25.8% Qua đây cho thấy dân nhập cư chiếm phần đông so với dân thành phố Hồ Chí Minh
Trang 2519
1.7 Người làm nội trợ chính trong gia đình
Biểu đồ 7: Người làm nội trợ chính trong gia đình
Nguồn khảo sát tháng 11/2013
Qua biểu đồ ta thấy,mẹ- người phụ nữ vẫn là người làm nội trợ chính trong gia đình chiếm 47% so với các thành viên khác trong gia đình, bản thân người trả lời là thanh niên/giới trẻ chiếm 22%, vợ/chồng chiếm 21%, cha và người giúp việc đều chiếm 4%, khác (anh chị em, cậu, dì) chiếm 2%
Trang 2620
CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG VIỆC NỘI TRỢ QUA CÁI NHÌN CỦA GIỚI TRẺ
2.1 Khái niệm của giới trẻ về công việc nội trợ
Biểu đồ 8: Định nghĩa công việc nội trợ
Nguồn khảo sát tháng 11/2013
Đa số giới trẻ cho rằng công việc nội trợ bao gồm những nhóm việc sau đây:
nhóm công việc như nấu ăn, giặt giũ quần áo và dọn dẹp nhà cửa Trong khi đó,
những việc thuộc về vai trò cộng đồng thì không được đánh giá là công việc nội trợ như thăm viếng họ hàng, người thân, dự các đám tiệc, đám cưới hoặc tham gia các công tác của địa phương Các công việc chăm sóc và giáo dục con cái cũng ít được
xem là công việc nội trợ Từ các nhận định trên ta có thể thấy giới trẻ nhận định công
việc nội trợ là những công việc làm trong nhà, mang tính thường xuyên và lặp
Trang 2721
lại, còn những việc tương tác với con người, tổ chức bên ngoài thường ít được xem là
công việc nội trợ
Chúng tôi tìm hiểu nhận định của giới trẻ về công việc nội trợ theo giới tính, học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân gia đình để xem có sự khác biệt giữa các nhóm này về công việc nội trợ hay không?
Nhận định về công việc nội trợ theo giới tính (xem phụ lục, bảng 2)
Có sự khác biệt giữa nam và nữ trong nhận định về công việc nội trợ Có 11
công việc được xem là công việc nội trợ khác nhau theo quan điểm của nam và nữ
Đó là: “lau nhà”; “chùi rửa nhà tắm, toilette”; “đổ rác”; “quét mạng nhện”; “lau
chùi cửa sổ”; “ủi quần áo”; “phơi quần áo”; “giặt quần áo bằng máy giặt”; “đi chợ”; “chuẩn bị nấu ăn”; “ rửa bát” Những công việc trên đều được nữ giới xem là
công việc nội trợ nhiều hơn nam giới, qua đó cũng phản ánh rõ thực tế phụ nữ vẫn làm công việc nội trợ chính trong gia đình nên biết nhiều công việc nội trợ hơn nam giới
Nhận định về công việc nội trợ phân theo trình độ học vấn (xem phụ lục,
bảng 3)
Có 7 công việc được xem là công việc nội trợ khác nhau theo các nhóm trình độ
học vấn Đó là: “lau giày, dép”; “tưới cây, chăm sóc cây cảnh, vật nuôi”; “sửa chữa
đèn điện, đồ đạc bị hư”; “cho con ăn”; “chăm sóc người bệnh/ người già”; “hướng dẫn người giúp việc”; “may vá”
Có 4 công việc được nhóm người có trình độ học vấn từ Cao đẳng trở lên nhận
định là công việc nội trợ nhiều hơn những nhóm học vấn khác, đó là “hướng dẫn
người giúp việc”; “may vá”; “cho con ăn”; “lau giày, dép Qua đó cho thấy những
người có trình độ học vấn cao cho rằng công việc nội trợ là tỉ mỉ, tốn nhiều thời gian
như may vá, lau giày dép, cho con ăn, hướng dẫn người giúp việc
Trong khi đó, những người có học vấn THPT và TCCN nhận địnhrằng “sửa
chữa đèn điện, đồ đạc bị hư” và “chăm sóc người bệnh/người già” không phải là
công việc nội trợ nhiều hơn những người có trình độ học vấn khác
Nhận định về công việc nội trợ theo nghề nghiệp (xem phụ lục, bảng 4)
Có 18 công việc được xem là công việc nội trợ khác nhau theo nghề nghiệp Đó
là những công việc như: “chùi rửa nhà tắm, toilette” ; “lau bụi cửa sổ, tủ”; “quét
Trang 2822
mạng nhện”; “mua các thiết bị gia dụng gia đình”; “ủi quần áo”; “lau giày dép”;
“tưới cây, chăm sóc cây cảnh, vật nuôi”; “sửa chữa đèn điện, đồ đạc bị hư”; “cho con ăn”; “chở/đón con đi học”; “chơi với con”; “kiểm tra bài của con”; “dạy con học”; “hướng dẫn người giúp việc”; “may vá”; “chăm sóc người bệnh/người già”;
“thăm viếng họ hàng, người thân; dự các đám tiệc, đám cưới, đám giỗ”
Có sự khác biệt lớn giữa công nhân với sinh viên và CBCNV về nhận định công việc nội trợ Công nhân không đồng ý với nhận định những công việc sau là công việc nội trợ có tỉ lệ phần trăm cao hơn những người thuộc nhóm SV và CBCNV
: “tưới cây, chăm sóc cây cảnh, vật nuôi”; “sửa chữa đèn điện, đồ đạc bị hư”; “cho
con ăn”; “chở/đón con đi học”; “chơi với con”; “kiểm tra bài của con”; “dạy con học”; “hướng dẫn người giúp việc”; “may vá”; “chăm sóc người bệnh/người già”
Những công việc ít được xem là công việc nội trợ nhất là: “thăm viếng họ hàng,
người thân”;“dự các đám tiệc đám cưới, đám giỗ” Công nhân đánh giá những công
việc như chăm sóc giáo dục con cái hay tham gia các hoạt động cồng đồng không
phải là công việc nội trợ Qua đó, ta thấy người công nhân nhận định rằng công
việc nội trợ chỉ là những việc trong gia đình, phải làm việc tay chân và thường chỉ bó gọn trong lĩnh vực như dọn dẹp nhà cửa, nấu ăn
Nhận định công việc nội trợ theo tình trạng hôn nhân (xem phụ lục, bảng 5)
Có sự khác biệt giữa nhóm người độc thân và đã kết hôn về nhận định công
việc nội trợ Đối với việc “may vá”, những người độc thân (72%) đồng ý đây là công
việc nội trợ nhiều hơn những người đã kết hôn (61.8%)
Trang 2923
Phân công công việc nội trợ
Biểu đồ 9: Phân công việc nội trợ theo giới
Nguồn khảo sát tháng 11/2013
*Phân công việc nội trợ theo giới tính(xem phụ lục, bảng 6)
Đa số giới trẻ đều đồng ý các công việc kể trên dành cho cả hai giới, điều này cho thấy không có sự phân chia rạch ròi trong công việc nội trợ theo định kiến giới
Ở đây chỉ có sự khác biệt về quan niệm phân công công việc nội trợ giữa nam
và nữ trong những công việc: “đổ rác”; “giặt quần áo bằng máy giặt”; “phơi quần
áo”; “ủi quần áo”; “kiểm tra bài của con”
Nam giới có xu hướng cho rằng đây là những công việc dành cho nữ nhiều hơn:
đổ rác; “giặt quần áo bằng máy giặt”; “phơi quần áo”; “ủi quần áo”
Kiểm tra bài của con cũng có sự khác biệt giữa nhận định của nam và nữ khi phân chia công việc này Nam cho rằng nam kiểm tra bài của con (9.7%) nhiều hơn nữ (7.4%), thông thường học vấn của người chồng cao hơn vợ nên dễ dàng kiểm tra bài học của con Điều này cũng phù hợp với những dữ liệu nghiên cứu cho thấy tỉ lệ người
Trang 3024
đàn ông tăng lên trong nhóm công việc chăm sóc và giáo dục con cái Những người chồng, người bố cũng đã chịu dành thời gian nhiều hơn để chăm sóc và giáo dục con cái Trong khi đó, người phụ nữ lại cho rằng họ kiểm tra bài cho con (5.2%) nhiều hơn nam giới (2.6%) vì họ vẫn là người gần gũi và chăm sóc con nhiều nhất Điều này giống với nghiên cứu của Vũ Tuấn Huy, tỉ lệ người chồng chia sẻ với người vợ đặc biệt cao trong các công việc như chăm sóc con cái 74.85%, dạy bảo con là 83.4% (UBDSGĐTE Hà Nội, 2002)
Mặc dù có nhiều bước chuyển tiếp đáng kể khi đa số giới trẻ cho rằng công việc này cả hai đều làm được, nhưng trên thực tế thì phụ nữ vẫn là người làm chính công việc này Nam giới vẫn cho rằng phụ nữ nên làm công việc này và chính phụ nữ cũng
cho rằng họ nên làm công việc này Từ đó cho thấy vẫn còn định kiến giới trong
quan niệm của nam và nữ về phân công công việc nội trợ
*Phân công việc nội trợ theo nghề nghiệp (xem phụ lục, bảng 7)
Có sự khác biệt về quan điểm phân công công việc nội trợ theo nghề nghiệp
Đó là những công việc: “chùi rửa nhà tắm, toilette”;“lau bụi cửa sổ, tủ”; “đi chợ”;
“giặt quần áo bằng máy giặt”; “lau giày, dép”; “tưới cây, chăm sóc cây cảnh, vật
nuôi”; “cho con ăn”
Trong đó, CN nhận định rằng những công việc trên nên dành cho nữ nhiều hơn
những người thuộc nhóm SV và CBCNV Cụ thể là: “chùi rửa nhà tắm, toilette”;
“lau bụi cửa sổ, tủ”; “lau giày, dép”; “giặt quần áo bằng máy giặt”
Đặc biệt đối với công việc “đi chợ” công nhân cho rằng đây là công việc của phụ nữ chiếm 57.7% CN cho rằng “tưới cây, chăm sóc cây cảnh, vật nuôi” nên dành
cho nam nhiều hơn những người thuộc nhóm nghề khác
Qua đó ta thấy có sự khác biệt giữa nghề nghiệp (CN, SV, CBCNV) về nhận
định phân công công việc nội trợ.Công nhân có cái nhìn vẫn mang nặng yếu tố
truyền thống hơn những người thuộc nhóm nghề khác
*Phân công việc nội trợ theo trình độ học vấn(xem phụ lục, bảng 8)
Có sự khác biệt giữa nhóm người có trình độ học vấn khác nhau về phân công
công việc nội trợ Đó là những công việc như: “lau bụi cửa sổ”; “lau giày dép”; “tưới
cây, chăm sóc cây cảnh, vật nuôi”
Trang 3125
Những người có trình độ học vấn từ CĐ – ĐH trở lên nhận định những công việc trên dành cho cả hai nhiều hơn những người có trình độ học vấn là TCCN và THPT
Những người có học vấn THPT và TCCN nhận định nữ giới nên làm “lau bụi
cửa sổ” và “lau giày dép” nhiều hơn những người có trình độ học vấn khác “lau bụi cửa sổ”; “lau giày dép”
Về công việc “tưới cây, chăm sóc cây cảnh, vật nuôi”, những người có trình độ
học vấn THPT và TCCN nhận định rằng đây là công việc của nam giới nhiều hơn những người có trình độ học vấn khác
*Phân công việc nội trợ theo tình trạng hôn nhân gia đình (xem phụ lục, bảng 9)
Có sự khác biệt giữa nhóm người độc thân và đã kết hôn về phân công công
việc nội trợ Có 6 công việc như sau: “lau nhà”; “đổ rác”; “lau bụi cửa sổ”; “đi
chợ”; “rửa chén bát”; “kiểm tra bài cho con”
Nhóm người đã kết hôn nhận định những công việc trên dành cho nữ
nhiều hơn nhóm người độc thân Cụ thể là: “lau nhà”; “đổ rác; “lau bụi cửa
sổ”;“đi chợ”;“rửa chénbát” Có thể lý giải điều này rằng những người đã kết hôn
chịu nhiều áp lực xã hội, định kiến giới và ảnh hưởng về quan niệm vai trò truyền thống là phụ nữ làm nội trợ nhiều hơn những người độc thân
2.2 Đặc điểm công việc nội trợ
Bảng 2: Đặc điểm công việc nội trợ
Làm nội trợ không cần nhiều kiến thức, ít sáng tạo 2.6
Phải làm việc suốt cả ngày, hao tốn nhiều thời gian 3.2
Công việc nội trợ ngày nay nhẹ nhàng hơn trước kia vì đã có máy
móc hỗ trợ
3.8
Trang 3226
Làm nội trợ sẽ khiến người ta được tự chủ, tự quyết định công
việc
3.3
Đây là công việc không có lương nên bị xem thường 2.4
Công việc nội trợ và người làm nội trợ rất đáng trân trọng 4.1
(1:Rất không đồng ý -> 5:Rất đồng ý)
Nguồn khảo sát tháng 11/2013
Khi hỏi về mức độ đồng ý về những nhận định liên quan đến tính chất công
việc nội trợ thì giới trẻ không chắc với 5 nhận định sau “công việc mang yếu tố nữ
tính”; “đòi hỏi sự tỉ mỉ”; “bao gồm rất nhiều việc lặt vặt, không tên”; “phải làm việc suốt cả ngày, hao tốn nhiều thời gian”; “công việc nội trợ ngày nay nhẹ nhàng hơn trước kia vì đã có máy móc hỗ trợ” Giới trẻ có mức độ đồng ý cao hơn với 3 nhận
định: “đòi hỏi sự tỉ mỉ” (ĐTB= 3.8); “bao gồm rất nhiều việc lặt vặt, không tên” (ĐTB= 3.8), “công việc nội trợ ngày nay nhẹ nhàng hơn trước kia vì đã có máy móc
hỗ trợ” (ĐTB= 3.8) Và giới trẻ không đồng ý công việc nội trợ là công việc “nhẹ nhàng”; “nặng nhọc”; “làm nội trợ không cần nhiều kiến thức, ít sáng tạo”
Khi hỏi về mức độ đồng ý về những nhận định liên quan đến trạng thái công
việc nội trợ thì giới trẻ không chắc “làm nội trợ sẽ khiến người ta được tự chủ, tự
quyết định công việc” Và giới trẻ không đồng ý công việc nội trợ là công việc “buồn
tẻ, đơn điệu, lặp đi lặp lại”; “làm nội trợ sẽ khiến người ta cảm thấy cô đơn”
Khi hỏi về mức độ đồng ý về những nhận định liên quan đến thái độ công việc
nội trợ thì giới trẻ không đồng ý “đây là công việc không có lương nên bị xem
thường” (ĐTB= 2.4) Bên cạnh đó, họ đồng ý rằng “công việc nội trợ và người làm nội trợ rất đáng trân trọng” (ĐTB= 4.1)
*Phân theo giới tính (xem phụ lục, bảng 10)
Không có sự khác biệt trong nhận định về tính chất công việc nội trợ theo giới
tính như “công việc mang yếu tố nữ tính; “nhẹ nhàng”; “nặng nhọc”; “đòi hỏi sự tỉ
mỉ”; “làm nội trợ không cần nhiều kiến thức, ít sáng tạo” Mặt khác, có sự khác biệt
trong nhận định về tính chất công việc nội trợ theo giới tính “bao gồm rất nhiều việc
Trang 3327
lặt vặt, không tên”;“phải làm việc suốt cả ngày, hao tốn nhiều thời gian”; “công việc nội trợ ngày nay nhẹ nhàng hơn trước kia vì đã có máy móc hỗ trợ”; “làm nội trợ sẽ
khiến người ta được tự chủ, tự quyết định công việc” Nữ có mức độ đồng ý cao hơn
nam trong các nhận định nêu trên Cụ thể là ở nhận định “bao gồm rất nhiều việc
lặt vặt, không tên” nam (ĐTB= 3.51), nữ (ĐTB= 3.98); “phải làm việc suốt cả ngày, hao tốn nhiều thời gian” nam (ĐTB= 3.03), nữ (ĐTB= 3 35); “công việc nội trợ ngày nay nhẹ nhàng hơn trước kia vì đã có máy móc hỗ trợ” nam (ĐTB= 3.66), nữ
(ĐTB= 3 91)
Không có sự khác biệt trong nhận định về trạng thái công việc nội trợ theo giới
tính như “buồn tẻ, đơn điệu, lặp đi lặp lại”;“làm nội trợ sẽ khiến người ta cảm thấy
cô đơn” Tuy nhiên, có sự khác biệt trong nhận định về trạng thái công việc nội trợ
theo giới tính,nam có mức độ đồng ý thấp hơn nữ rằng “làm nội trợ sẽ khiến người ta
được tự chủ, tự quyết định công việc”
Không có sự khác biệt trong nhận định về thái độ với công việc nội trợ theo
giới tính bao gồm “công việc nội trợ là công việc không lương và bị xem thường” và
“công việc nội trợ và người làm nội trợ rất đáng trân trọng”
Qua đây, ta thấy nữ có mức độ đồng ý cao hơn nam trong các nhận định “bao
gồm rất nhiều việc lặt vặt, không tên”; “phải làm việc suốt cả ngày, hao tốn nhiều thời gian”;“công việc nội trợ ngày nay nhẹ nhàng hơn trước kia vì đã có máy móc hỗ trợ”; “làm nội trợ sẽ khiến người ta được tự chủ, tự quyết định công việc” Điều này
là dễ hiểu vì tình trạng phân công lao động theo giới trong gia đình Việt Nam mang đậm nét truyền thống cả ở khu vực nông thôn và thành thị Theo số liệu số liệu năm
1998 – 2000, điều tra cơ bản (ĐTCTNB) về gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của trung tâm Nghiên cứu khoa học về Gia đình và Phụ nữ cho thấy, trong gia đình có tới 77.9% người vợ đảm nhận chính việc nấu ăn, 86.9% phụ trách chính mua thực phẩm, 77.6% phụ trách giặt giũ quần
áo, 43.3% chăm sóc con, 28.6% chăm sóc người già, người ốm Tỉ lệ người chồng làm các công việc trên tương ứng là 2.1%, 2.3%, 1.9%, 2.3% và 3.7% Năm 2007, theo thống kê của Viện Khoa học xã hội Việt Nam, tỉ lệ nữ đi chợ mua thức ăn là 88.6%, nam là 5.5%; việc nữ nấu cơm là 79.9% và nam là 3.3%; công việc giặt giũ ở
nữ là 77.3% và 2.8% là nam; trong khi đó, đối với việc chăm sóc người ốm và chăm sóc con cái, tỉ lệ vợ chồng làm ngang nhau là cao hơn, tương ứng là 33.3% với nữ và
Trang 3428
38.2% với nam Nhưng công việc vẫn tập trung vào người phụ nữ Do đó tại Tp.HCM hiện nay, phụ nữ vẫn là người đảm nhận chính công việc nội trợ và tham gia hoạt động xã hội, làm kinh tế nên họ phải chịu cùng lúc hai gánh nặng Vì thế cũng dễ hiểu
nếu họ nhận định công việc nội trợ là “nặng nhọc”; “tốn nhiều thời gian”;“công việc
nội trợ ngày nay nhẹ nhàng hơn trước kia vì đã có máy móc hỗ trợ”
*Phân theo trình độ học vấn (xem phụ lục, bảng 11)
Không có sự khác biệt trong nhận định về tính chất công việc nội trợ theo trình
độ học vấn như “công việc mang yếu tố nữ tính”;“làm nội trợ không cần nhiều kiến
thức, ít sáng tạo”; “đòi hỏi sự tỉ mỉ”; “làm nội trợ không cần nhiều kiến thức, ít sáng tạo”;“bao gồm rất nhiều việc lặt vặt, không tên”; “công việc nội trợ ngày nay nhẹ nhàng hơn trước kia vì đã có máy móc hỗ trợ” Nhưng có sự khác biệttrong nhận định
về tính chất công việc nội trợ theo trình độ học vấn như “công việc mang yếu tố nữ
tính”;“nhẹ nhàng”; “nặng nhọc”; “phải làm việc suốt cả ngày, hao tốn nhiều thời gian”
Người có trình độ học vấn TCCN, THPT thì mức độ đồng ý với nhận định là
công việc nôi trợ “nhẹ nhàng” cao hơn người có trình độ từ CĐ trở lên Còn những
người trình độ học vấn từ CĐ trở lên có mức độ đồng ý với nhận định là công việc nội
trợ “nặng nhọc”; “phải làm việc suốt cả ngày, hao tốn nhiều thời gian” cao hơn người trình độ TCCN, THPT Cụ thể, ở nhận định “nhẹ nhàng” TCCN (ĐTB = 2.92), THPT (ĐTB= 3.42), CĐ-ĐH (ĐTB= 2.49), trên ĐH (ĐTB= 2.45); “công việc nôi trợ nặng
nhọc” TCCN (ĐTB= 2.72), THPT (ĐTB= 2.62), CĐ-ĐH (ĐTB= 3), trên ĐH (ĐTB=
2.86); “phải làm việc suốt cả ngày, hao tốn nhiều thời gian” TCTN (ĐTB= 2.95),
THPT (ĐTB= 2.99), CĐ-ĐH (ĐTB= 3.33), trên ĐH (ĐTB = 3.23)
Không có sự khác biệt trong nhận định về trạng thái công việc nội trợ theo
trình độ học vấn như “buồn tẻ, đơn điệu, lặp đi lặp lại”; “làm nội trợ sẽ khiến người
ta cảm thấy cô đơn” Song có sự khác biệt trong nhận định về trạng thái công việc nội
trợ theo trình độ học vấn “làm nội trợ sẽ khiến người ta được tự chủ, tự quyết định
công việc”, THPT (ĐTB= 3.7), CĐ-ĐH (ĐTB= 3.1), trên ĐH (ĐTB= 2.91) Người có
trình độ học vấn TCCN, THPT thì mức độ đồng ý với nhận định “làm nội trợ sẽ khiến
người ta được tự chủ, tự quyết định công việc” cao hơn người có trình độ từ CĐ trở lên
Trang 3529
Không có sự khác biệt trong nhận định về thái độ với công việc nội trợ theo
trình độ học vấn như“công việc không lương và bị xem thường” và “công việc nội trợ
và người làm nội trợ rất đáng trân trọng”
Tóm lại, người có học vấn càng cao thì có mức độ đồng ý cao rằng công việc
nội trợ là “nặng nhọc”; “phải làm việc suốt cả ngày, hao tốn nhiều thời gian”, còn người có học vấn càng thấp thì có mức độ đồng ý cao rằng công việc nội trợ là “nhẹ
nhàng”; “làm nội trợ sẽ khiến người ta được tự chủ, tự quyết định công việc”
*Phân theo nghề nghiệp (xem phụ lục, bảng 12)
Không có sự khác biệt trong nhận định về tính chất công việc nội trợ theo nghề
nghiệpnhư “đòi hỏi sự tỉ mỉ”; “làm nội trợ không cần nhiều kiến thức, ít sáng tạo”;
“bao gồm rất nhiều việc lặt vặt, không tên”; “công việc nội trợ ngày nay nhẹ nhàng hơn trước kia vì đã có máy móc hỗ trợ” Tuy nhiên,có sự khác biệt trong nhận định về
tính chất công việc nội trợtheo nghề nghiệp như “công việc mang yếu tố nữ tính”;
“nhẹ nhàng”; “nặng nhọc”; “làm nội trợ không cần nhiều kiến thức, ít sáng tạo”.CN
có mức độ đồng ý cao hơn SV và CBCNV ở nhận định “nhẹ nhàng” CN, SV (ĐTB= 2.39), CBCNV (ĐTB= 2.55); “làm nội trợ không cần nhiều kiến thức, ít sáng tạo” CN
(ĐTB= 2.88), SV (ĐTB= 2.38), CBCNV (ĐTB= 2.41) CBCNV và SV có mức độ
đồng ý cao hơn CN ở nhận định “công việc mang yếu tố nữ tính” CN (ĐTB= 3.52),
SV (ĐTB= 2.53), CBCNV (ĐTB= 2.89); “nặng nhọc” CN (ĐTB= 2.62), SV (ĐTB= 2.93), CBCNV (ĐTB= 3.06); “phải làm việc suốt cả ngày, hao tốn nhiều thời gian”
CN (ĐTB= 3.03), SV (ĐTB= 3.26), CBCNV (ĐTB= 3.31)
Không có sự khác biệt trong nhận định về trạng thái công việc nội trợ theo
nghề nghiệpnhư “buồn tẻ, đơn điệu, lặp đi lặp lại”; “làm nội trợ sẽ khiến người ta
cảm thấy cô đơn” Bên cạnh đó có sự khác biệt trong nhận định về trạng thái công việc
nội trợtheo nghề nghiệp “làm nội trợ sẽ khiến người ta được tự chủ, tự quyết định
công việc”CN (ĐTB= 3.64), SV (ĐTB= 3.20), CBCNV (ĐTB= 2.96) CN có mức độ
đồng ý cao hơn SV và CBCNV ở nhận định “làm nội trợ sẽ khiến người ta được tự
chủ, tự quyết định công việc”
Không có sự khác biệt trong nhận định về thái độ với công việc nội trợ theo
nghề nghiệp“công việc nội trợ và người làm nội trợ rất đáng trân trọng”, song có sự khác biệt trong nhận định về thái độ với công việc nội trợ theo nghề nghiệp “đây là
công việc không có lương nên bị xem thường” CN (ĐTB= 2.33), SV (ĐTB= 2.16),
Trang 3630
CNBCV (ĐTB= 2.59) Ta thấy CBCNV và SV có mức độ đồng ý cao hơn CN ở nhận định trên
Qua đây, CN có mức độ đồng ý cao hơn SV và CBCNV ở nhận định “nhẹ
nhàng”; “làm nội trợ không cần nhiều kiến thức, ít sáng tạo”; “làm nội trợ sẽ khiến người ta được tự chủ, tự quyết định công việc” Còn CBCNV và SV có mức độ đồng ý
cao hơn CN ở nhận định “công việc mang yếu tố nữ tính”; “nặng nhọc”; “phải làm
việc suốt cả ngày, hao tốn nhiều thời gian”; “đây là công việc không có lương nên bị xem thường” Có sự khác biệt này vì đời sống, suy nghĩ, chức năng của CN đơn giản
hơn so với SV, CBCNV
*Phân theo tình trạng hôn nhân (xem phụ lục, bảng 13)
Không có sự khác biệt trong nhận định về tính chất công việc nội trợ theo tình
trạng hôn nhân như “nặng nhọc”; “đòi hỏi sự tỉ mỉ”; “bao gồm rất nhiều việc lặt vặt,
không tên”; “phải làm việc suốt cả ngày, hao tốn nhiều thời gian”; “công việc nội trợ ngày nay nhẹ nhàng hơn trước kia vì đã có máy móc hỗ trợ” Bên cạnh đó, có sự khác
biệt trong nhận định về tính chất công việc nội trợ theo tình trạng hôn nhân “công việc
mang yếu tố nữ tính”; “nhẹ nhàng”; “làm nội trợ không cần nhiều kiến thức, ít sáng tạo” Cụ thể là nhận định công việc nội trợ “công việc mang yếu tố nữ tính” thì người
độc thân (ĐTB= 2.81), người đã kết hôn (ĐTB= 3.32); “nhẹ nhàng” thì người độc thân (ĐTB= 2.6), người đã kết hôn (ĐTB= 3.03); “làm nội trợ không cần nhiều kiến
thức, ít sáng tạo” người độc thân (ĐTB= 2.44), người đã kết hôn (ĐTB= 2.72) Người
độc thân có mức độ đồng ý thấp hơn người đã kết hôn ở các nhận định “công việc
mang yếu tố nữ tính”; “nhẹ nhàng”; “làm nội trợ không cần nhiều kiến thức, ít sáng tạo”
Không có sự khác biệt trong nhận định về trạng thái công việc nội trợ theo tình
trạng hôn nhân bao gồm “buồn tẻ, đơn điệu, lặp đi lặp lại”; “làm nội trợ sẽ khiến
người ta cảm thấy cô đơn”; “làm nội trợ sẽ khiến người ta được tự chủ, tự quyết định công việc”
Không có sự khác biệt trong nhận định về thái độ công việc nội trợ theo tình
trạng hôn nhân “công việc nội trợ và người làm nội trợ rất đáng trân trọng”, songcó
sự khác biệt trong nhận định về thái độ công việc nội trợ theo tình trạng hôn nhân,
“đây là công việc không có lương nên bị xem thường” người độc thân (ĐTB= 2.25),
Trang 3731
người đã kết hôn (ĐTB= 2.57) Người độc thân có mức độ đồng ý thấp hơn người đã
kết hôn ở các nhận định “đây là công việc không có lương nên bị xem thường”
Số liệu cho thấy, người độc thân có mức độ đồng ý thấp hơn người đã kết hôn ở
các nhận định “công việc mang yếu tố nữ tính”; “nhẹ nhàng”; “làm nội trợ không cần
nhiều kiến thức, ít sáng tạo”; “đây là công việc không có lương nên bị xem thường” vì
những người độc thân có tự do cá nhân cao hơn người đã kết hôn vì không có sự ràng buộc về pháp lí hôn nhân nên với họ, công việc nội trợ mang tính cá nhân có thể làm qua loa còn người đã kết hôn công việc nội trợ mang tính gia đình, là công việc quan trọng không thể làm qua loa Bên cạnh đó, theo quan niệm vai trò giới truyền thống,
công việc nhà vẫn xem là của phụ nữ nên người đã kết hôn nhận thức nội trợ là “công
việc mang yếu tố nữ tính” là dễ hiểu
KẾT LUẬN: Đa số giới trẻ hiểu công việc nội trợ là công việc trong nhà bao gồm những công việc như: nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ, còn những công việc
như chăm sóc, giáo dục con cái, tham gia các hoạt động xã hội thì ít được xem là công việc nội trợ Theo khảo sát nghiên cứu, người có trình độ từ CĐ trở lên và thuộc nhóm
SV, CBCNV xem những công việc chăm sóc, giáo dục con cái và tham gia các hoạt động xã hội cũng là công việc nội trợ Trong xã hội truyền thống công việc nội trợ được cho rằng là của phụ nữ, nhưng trong xã hội hiện nay giới trẻ cho rằng việc nội trợ dành cho cả nam và nữ, nam san sẻ với nữ một số công việc như nấu ăn, dọn dẹp, giặt giũ và đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, chăm sóc con cái Qua đó, có thể thấy có sự thay đổi trong việc phân công việc nội trợ trong gia đình Nhóm CN và những người
có trình độ THPT, TCCN dễ hài lòng với công việc nội trợ, họ thấy công việc nội trợ nhẹ nhàng, không cần nhiều kiến thức và giúp họ tự chủ, tự quyết trong công việc Ngược lại, những người có trình độ CĐ trở lên và thuộc nhóm SV, CBCNV thì đánh giá việc nội trợ là nặng nhọc, hao tốn thời gian, công việc không lương và bị xem thường
Trang 3832
CHƯƠNG 3 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN NIỆM CỦA GIỚI TRẺ TẠI TP HCM VỀ HIỆN TƯỢNG NGƯỜI ĐÀN ÔNG LÀM NỘI TRỢ 3.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm của giới trẻ tại Tp HCM về hiện
tượng người đàn ông làm nội trợ
Để tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm của giới trẻ về hiện tượng đàn ông làm nội trợ, nhóm nghiên cứu đưa ra những nhận định sau đây
Biểu đồ 10: Yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm của giới trẻ tại Tp HCM về hiện tượng đàn ông làm nội trợ
Nguồn khảo sát tháng 11/2013
Điểm trung bình
Trang 3933
(1: Hoàn toàn không đồng ý 5: Hoàn toàn đồng ý)
Hầu hết các yếu tố mà giới trẻ cho rằng ảnh hưởng đến quan niệm của họ về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ ở mức tương đối, không chắc chắn
Những yếu tố ở mức độ không đồng ý (ĐTB < 3) là “Về công việc nội trợ, cha
mẹ của anh/chị phân công rõ: con gái phải làm nội trợ”; “Bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp có nhiều lời nói không tốt về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ”; “Khủng hoảng kinh tế, tình trạng thất nghiệp tăng, nên nam giới ở nhà làm nội trợ”
Những yếu tố ở mức độ không chắc là “Nhiều người ngày nay cho rằng nam
phải là trụ cột của gia đình”; “Nhiều người ngày nay cho rằng nữ phải đảm đang việc nhà- việc nội trợ”; “Truyền thống văn hóa Việt Nam với chuẩn mực: đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”; “Về cơ hội học tập, cha mẹ của anh/chị luôn đối xử bình đẳng đối với con trai và con gái”; “Luật Bình đẳng giới và các chính sách Nhà nước khuyến khích người đàn ông tham gia công việc nội trợ cùng người phụ nữ”; “Các phương tiện truyền thông đại chúng, sách, báo đề cập nhiều đến hiện tượng người đàn ông làm nội trợ”; “Các chương trình/hội thảo, cuộc thi chào mừng 8/3,20/10 khuyến khích nam giới tham gia”; “Thiết bị gia dụng hiện đại nam giới làm nội trợ nhiều hơn”
Tuy vậy,trong những yếu tố không chắc, còn phân vân, các yếu tố “Về cơ hội
học tập, cha mẹ của anh/chị luôn đối xử bình đẳng đối với con trai và con gái”
(ĐTB= 3.61); “Truyền thống văn hóa Việt Nam với chuẩn mực: đàn ông xây nhà, đàn
bà xây tổ ấm” (ĐTB= 3.57) có điểm trung bình cao nhất, gần với mức độ đồng ý Khi
người phụ nữ có cơ hội học tập ngang bằng nam giới đồng nghĩa với việc nam và nữ được đối xử bình đẳng trong mọi phương diện cuộc sống Tuy vậy, yếu tố truyền
thống văn hóa Việt Nam “Truyền thống văn hóa Việt Nam với chuẩn mực: đàn ông
xây nhà, đàn bà xây tổ ấm” vẫn là một yếu tố rất quan trọng Điều đó cho thấy xã hội
Việt Nam đang có sự đan xen giữa tính truyền thống và tính hiện đại
*Phân theo giới tính (xem phụ lục, bảng 16)
Có sự khác biệt giữa nam và nữ với các yếu tố “Luật Bình đẳng giới và các
chính sách Nhà Nước khuyến khích người đàn ông tham gia công việc nội trợ cùng phụ nữ”; “Các chương trình hội thảo, cuộc thi chào mừng 8/3, 20/10 khuyến khích nam giới tham gia”; “Khủng hoảng kinh tế, tình trạng thất nghiệp tăng, nên nam giới
ở nhà làm nội trợ” Nữ chịu ảnh hưởng bởi yếu tố xã hội nhiều hơn nam Tư tưởng
của nam về hiện tượng đàn ông làm nội trợ chưa cởi mở, còn nhiều e ngại
Trang 4034
*Phân theo nghề nghiệp (xem phụ lục, bảng 15)
Có sự khác biệt giữa ba nhóm nghề nghiệp với yếu tố “Về công việc nội trợ,
cha/mẹ của anh chị phân công rõ: con gái phải làm nội trợ” Vì nhóm sinh viên đa
phần chưa độc lập về kinh tế, còn phụ thuộc gia đình nên còn bị gia đình tác động nhiều hơn nhóm nghề khác
*Phân theo trình độ học vấn (xem phụ lục, bảng 117)
Không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với những yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm của giới trẻ về hiện tượng đàn ông làm nội trợ theo nghề nghiệp Các nhóm trình độ có sự nhìn nhận hiện tượng đàn ông làm nội trợ như nhau
*Phân theo tình trạng hôn nhân (xem phụ lục, bảng 18)
Không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với những yếu tố ảnh hưởng đến quan niệm của giới trẻ về hiện tượng đàn ông làm nội trợ theo tình trạng hôn nhân Người độc thân có cùng quan niệm về các yếu ảnh hưởng với những người đã kết hôn
3.2 Các kênh thông tin về hiện tượng người đàn ông làm nội trợ được giới trẻ