1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu sự ảnh hưởng của thuế thu nhập hoãn lại đối với giá trị thị trường của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

49 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kế toán thuế thu nhập và tác động của thuế thu nhập đối với báo cáo tài chính đã thu hút sự chú ý của không ít nhà nghiên cứu khiến cho kế toán thuế thu nhập trở thành vấn đề cần được bà

Trang 8

trang 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang ngày càng hoàn thiện và sự vươn lên không ngừng của nền kinh tế quốc gia để có thể sánh vai với các cường quốc kinh tế lớn trên thế giới, doanh nghiệp có một vị trí đặc biệt trong nền kinh tế Doanh nghiệp là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP), góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, ảnh hưởng đến quyết định phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn

đề xã hội như: tạo công ăn việc làm, xoá đói, giảm nghèo và đặc biệt là tăng thu ngân sách cho nhà nước thông qua các loại thuế Vì vậy, Nhà nước luôn quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp phát triển

Trong những năm gần đây khi ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới đang trong tình

trạng suy thoái kéo theo nền kinh tế Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ Ngày

23/1/2012, trong báo cáo xếp hạng môi trường kinh doanh “Doing Business 2013” mà Ngân hàng Thế giới (World Bank – WB) và Tập đoàn Tài chính quốc tế (International Finance Corporation – IFC) công bố, Việt Nam xếp thứ 99 của trong tổng số 185 nền kinh tế trên thế giới – đây cũng là vị trí thấp nhất của Việt Nam trong xếp hạng này kể

từ năm 2006 Theo báo cáo “Cập nhật tình hình phát triển kinh tế Việt Nam” của Ngân

hàng Thế giới (WB) công bố, tháng 7/2013 tăng trưởng GDP tăng 5,25% trong năm

2012 (theo giá so sánh năm 2010), mức thấp nhất kể từ năm 1998 Từ 2010 đến 2013, Việt Nam tăng trưởng chậm hơn Indonesia và Philippines – đây là lần đầu tiên trong

hai thập kỷ vừa qua Trước tình hình này, hàng loạt doanh nghiệp đang phải đối mặt

với nhiều khó khăn, đặc biệt chịu sức ép từ các chi phí trong đó có chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp (http://vietnammiracle.wordpress.com/2013/10/29/viet-nam-tru-hang-vi-tri-99-xep-hang-moi-truong-kinh-doanh/

update-on-vietnams-recent-economic-development-key-findings)

http://www.worldbank.org/vi/news/feature/2013/07/12/taking-stock-july-2013-an-Nhà nước đã có nhiều biện pháp hỗ trợ nhằm giúp doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng thua lỗ hay tăng trưởng chậm bằng cách giảm thuế suất hay giãn thời gian nộp thuế Nếu như các chính sách về thuế của nhà nước về giảm thuế suất liên quan chủ yếu đến chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành thì sự thay đổi chính sách thuế

Trang 9

lại liên quan trực tiếp tới thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại, các yếu tố này đều tác động đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Kế toán thuế thu nhập và tác động của thuế thu nhập đối với báo cáo tài chính đã thu hút sự chú ý của không ít nhà nghiên cứu khiến cho kế toán thuế thu nhập trở thành vấn đề cần được bàn luận trong các nghiên cứu trong lĩnh vực kế toán điển hình như các công trình nghiên cứu của Eli Amir, Michael Kirschenheiter & Kristen Willard (1997) nghiên cứu ở thị trường Mỹ; Cheryl Chang, Kathleen Herbohn & Irene Tutticci (2009) nghiên cứu ở thị trường Australia; Gao Fan & Jiang Wei (2012) nghiên cứu ở thị trường Hồng Kông… các nghiên cứu này đã mang lại nhiều giá trị thực tiễn và có tính ứng dụng cao đối với các nhà đầu tư trong việc đưa ra các quyết định; các nhà quản trị trong việc đưa ra các chiến lược, chính sách; kiểm tra nội dung thông tin của các tài khoản thuế và vai trò của chúng trong quản lý thu nhập và đặc biệt là các quyết định quản trị doanh nghiệp để nâng cao giá trị doanh nghiệp ở các quốc gia trong thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay, đồng thời thấy được vai trò của thuế thu nhập trong nền kinh tế

Ở Việt Nam, thuế thu nhập doanh nghiệp đóng một vai trò rất quan trọng Thứ nhất, tất cả các công ty đều là đối tượng chịu thuế, làm cho thuế thu nhập doanh nghiệp là một phần không thể thiếu trên báo cáo tài chính Thứ hai, các tờ khai thuế được gửi đến cho các cơ quan thuế nhằm xác định số thuế thu nhập mà nhà nước sẽ thu được Thứ ba, thuế cũng là một thước đo thu nhập còn lại của doanh nghiệp Tuy nhiên, thuế thu nhập doanh nghiệp chưa được các chủ thể kinh tế quan tâm nhiều, đặc biệt là thuế thu nhập hoãn lại Những công trình nghiên cứu trước đây về thuế thu nhập tập trung chủ yếu xoay quanh việc xử lý chênh lệch thuế thu nhập doanh nghiệp theo chuẩn mực kế toán và theo quy định của thuế để phân loại là tài sản hay nợ phải trả Nghiên cứu của nhóm chúng tôi với đề tài “Nghiên cứu sự ảnh hưởng của thuế thu nhập hoãn lại đến giá trị thị trường của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” xem xét sự ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại đến giá trị của công ty trên thị trường chứng khoán Việt Nam nhằm cung cấp thêm nguồn thông tin cho các quyết định kinh tế, đánh giá giá trị của doanh nghiệp của nhà quản trị; giúp Nhà nước nắm rõ cũng như có thể đánh giá một cách toàn diện tình hình của

Trang 10

trang 3

1.2 Mục tiêu của đề tài

— Xác định các nhân tố cần thiết của thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp

— Xây dựng thang đo cho mô hình lý thuyết trở thành mô hình nghiên cứu

— Kiểm định mô hình nghiên cứu bằng dữ liệu thị trường

— Giải thích ảnh hưởng của các nhân tố của thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại đến giá trị doanh nghiệp, đề xuất chiến lược từ kết quả nghiên cứu nhằm giúp các chủ thể đưa ra các quyết định đúng đắn

1.3 Phương pháp, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

 Phương pháp nghiên cứu

Với những mục tiêu đặt ra, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phương pháp định lượng, với dữ liệu thu thập trên cơ sở quan sát các doanh nghiệp phi tài chính đã được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

— Nghiên cứu định tính: mục tiêu xây dựng mô hình nghiên cứu thông qua các công trình nghiên cứu tiền nhiệm kết hợp thảo luận nhóm bao gồm các bước sau:

 Bước 1: Tổng quan lý thuyết về thuế thu nhập doanh nghiệp, giá trị doanh nghiệp thông qua các công trình nghiên cứu trước đây

 Bước 2: Nghiên cứu các mô hình trong công trình nghiên cứu tiền nhiệm

 Bước 3: Xem xét và đưa ra mô hình nghiên cứu giả định

— Nghiên cứu định lượng: nghiên cứu sử dụng số liệu thống kê, chạy các mô hình kinh tế lượng để đánh giá tương quan giữa các biến số bằng dữ liệu thực tế, thông qua các công cụ thống kê bao gồm các bước:

 Bước 1: Lấy số liệu từ báo cáo tài chính năm 2012 của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

 Bước 2: Kiểm định mô hình theo phương pháp hồi quy chạy trên phần mềm excel

 Bước 3: Kết luận và hàm ý chính sách

 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu sự ảnh hưởng của thuế thu nhập hoãn lại đến các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 11

 Phạm vi nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu lựa chọn các doanh nghiệp phi tài chính có báo cáo tài chính năm 2012 được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

 Thời gian nghiên cứu

Nhóm thực hiện nghiên cứu trong khoảng thời gian từ tháng 11/2013 đến tháng 3/2014 Thời gian thu thập và xử lý dữ liệu là từ tháng 12/2013 đến tháng 1/2014, thời gian này trên thị trường chứng khoán chỉ có báo cáo tài chính và báo cáo thường niên đến năm 2012 được niêm yết

1.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu

Nhằm khám phá mối quan hệ giữa thuế thu nhập hoãn lại và giá trị doanh nghiệp, trên thế giới một số nghiên cứu đã được công bố, cụ thể:

Eli Amir, Michael Kirschenheiter & Kristen Willard (1997), nghiên cứu các giá trị thị trường của thuế hoãn lại bằng cách sử dụng một mô hình định giá dựa trên khuôn mẫu lý thuyết của Feltham & Ohlson (1995) Nghiên cứu giới thiệu thuế hoãn lại như một loại tài sản riêng biệt để định giá và trình bày các giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu như là một nghĩa vụ hiện tại và tương lai đối với những thu nhập bất thường, tài sản hoạt động thuần, tài sản tài chính thuần và tài sản thuế hoãn lại thuần, mỗi loại tài sản có một hệ số định giá khác nhau Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính và thuế hoãn lại là những giá trị thích hợp trong việc giải thích mô hình hồi quy đến giá thị trường của doanh nghiệp Kết quả phân tích thực nghiệm chỉ ra rằng hoạt động kinh doanh, tài chính và thuế hoãn lại là những giá trị có liên quan trong việc giải thích sự thay đổi giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu Cheryl Chang, Kathleen Herbohn & Irene Tutticci (2009), nghiên cứu tiếp cận theo phương pháp báo cáo thu nhập (AASB 1020) trong giai đoạn 2001-2004 Kết quả cho thấy có mối quan hệ thuận chiều (tích cực) giữa tài sản thuế hoãn lại được ghi nhận và giá trị doanh nghiệp, trong khi kết quả từ mô hình lợi nhuận đề xuất rằng thuế thu nhập hoãn lại phản ảnh đến thuế phải trả trong tương lai Số dư của tài sản thuế hoãn lại chưa được ghi nhận cho thấy dấu hiệu ngược chiều (tiêu cực) đến lợi nhuận doanh nghiệp trong tương lai, đặc biệt là những công ty thuộc ngành nguyên vật liệu, năng lượng và những công ty bị lỗ

Trang 12

Sau khi xem xét mối quan hệ giữa thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại và giá trị thị trường của các công trình nghiên cứu tiền nhiệm, nhóm nghiên cứu có thể khẳng định: nội dung và mục tiêu nghiên cứu của nhóm là hoàn toàn khả thi

Trang 13

1.5 Thiết kế nghiên cứu

Tổng quan lý thuyết

Mô hình nghiên cứu đề nghị Thảo luận nhóm

Kết quả và thảo luận kết quả

Thu nhập dữ liệu

Phân tích dữ liệu, kiểm định giả

thuyết bằng mô hình hồi quy

Trang 14

trang 7

1.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

— Kiểm tra sự ảnh hưởng của thuế thu nhập hoãn lại đến giá trị thị trường của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

— Xác định các nhân tố của thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại tác động đến giá trị doanh nghiệp

— Nghiên cứu tạo tiền đề cho các nghiên cứu về thuế thu nhập sau này

— Đưa ra các nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt giữa kế toán và thuế ở Việt Nam

và các quốc gia khác Từ đó cho thấy được thực trạng của kế toán thuế thu nhập hoãn lại ở Việt Nam nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách về kế toán, về thuế cần xem xét cũng như là các doanh nghiệp xem xét lại hệ thống kế toán của mình để hội nhập với hệ thống kế toán quốc tế, tạo cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam hơn khi chính sách thuế ổn định, công bằng

1.7 Kết cấu của báo cáo nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của nghiên cứu gồm:

— Chương 1: Tổng quan

— Chương 2: Cơ sở lí luận và mô hình nghiên cứu

— Chương 3: Phương pháp và kết quả nghiên cứu

— Chương 4: Kết luận và gợi ý chính sách

Trang 15

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 2.1 Giới thiệu

Một trong những công cụ đắc lực góp phần thu hút đầu tư, nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội chính là thuế, đồng thời thuế cũng là nguồn thu chính của Ngân sách Nhà nước Để có được cái nhìn tổng quan về thuế thu nhập doanh nghiệp, hiện nay có rất nhiều khái niệm liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp theo cách tiếp cận phổ biến ở Việt Nam và thế giới

2.2 Một số khái niệm

2.2.1 Thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 17 (VAS 17), thuế thu nhập doanh nghiệp

là toàn bộ số thuế thu nhập tính trên thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp, kể cả các khoản thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ tại nước ngoài mà Việt Nam chưa ký Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần Thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm cả các loại thuế liên quan khác được khấu trừ tại nguồn đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam không có cơ sở thường trú tại Việt Nam được thanh toán bởi công ty liên doanh, liên kết hay công ty con tính trên các khoản phân phối cổ tức, lợi nhuận (nếu có) hoặc thanh toán dịch vụ cung cấp cho đối tác cung cấp dịch vụ nước ngoài theo quy định của luật thuế doanh nghiệp hiện hành

Theo chuẩn mực kế toán quốc tế sô 12 năm 2012 (IAS12), thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành là số thuế thu nhập phải nộp liên quan đến lãi (lỗ) tính thuế trong một kỳ kế toán

Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập sau khi trừ đi các khoản chi phí liên quan đến thu nhập của cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ Thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng chung cho tất cả các thành phần kinh tế, điều chỉnh cả đối với cơ sở thường trú của công ty nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt Nam (http://www.hocbaocaothue.com/2012/10/khai-niem-thue-thu-nhap-doanh-

nghiep.html)

Trang 16

trang 9

2.2.2 Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 12 năm 2012 (IAS12), chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp là giá trị trong việc xác định lãi hoặc lỗ trong năm tài chính liên quan đến thuế hiện hành và thuế hoãn lại trong một kỳ kế toán

Còn theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 17 (VAS 17), chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp (hoặc thu nhập thuế thu nhập doanh nghiệp) là tổng chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành và chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại (hoặc thu nhập thuế thu nhập hiện hành và thu nhập thuế thu nhập hoãn lại) khi xác định lợi nhuận hoặc lỗ của một kỳ

Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành là số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp (hoặc thu hồi được) tính trên thu nhập chịu thuế và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp năm hiện hành

 Chênh lệch tạm thời

Chênh lệch tạm thời là chênh lệch giữa cơ sở thuế và giá trị ghi sổ của tài sản và

nợ phải trả Khoản chênh lệch này dựa trên số tiền chịu thuế hoặc được khấu trừ trong tương lai khi tài sản được thu hồi hoặc nợ phải trả được thanh toán (John R.Graham, Jana S Raedy & Douglas A Shackelford, 2012)

Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 12 năm 2012 (IAS 12), chênh lệch tạm thời

là sự chênh lệch giữa giá trị ghi sổ của một tài sản hoặc nợ phải trả trong báo cáo tài chính và căn cứ tính thuế

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 17 (VAS 17), chênh lệch tạm thời là khoản chênh lệch giữa giá trị ghi sổ của các khoản mục tài sản hay nợ phải trả trong bảng cân đối kế toán và cơ sở tính thuế thu nhập của các khoản mục này

Chênh lệch tạm thời được chia làm 2 nhóm:

1 Chênh lệch tạm thời phải chịu thuế là các khoản chênh lệch tạm thời làm phát sinh thu nhập chịu thuế khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trong tương lai khi mà giá trị ghi sổ của các khoản mục tài sản hoặc nợ phải trả liên quan được thu hồi hay được thanh toán

2 Chênh lệch tạm thời được khấu trừ là chênh lệch tạm thời làm phát sinh các khoản được khấu trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trong tương lai khi mà giá trị ghi sổ của các khoản mục tài sản hoặc nợ phải trả liên quan được thu hồi hoặc thanh toán

Trang 17

Cơ sở tính thuế thu nhập của một tài sản hay nợ phải trả là giá trị tính cho tài sản hoặc nợ phải trả cho mục đích xác định thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo thông tư số 20/2006/TT-BTC, các khoản chênh lệch tạm thời là chênh lệch phát sinh do sự khác biệt về thời điểm doanh nghiệp ghi nhận thu nhập hoặc chi phí và thời điểm pháp luật về thuế quy định tính thu nhập chịu thuế hoặc chi phí được khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế

 Chênh lệch vĩnh viễn

Chênh lệch vĩnh viễn là chênh lệch phát sinh phát sinh do có sự khác biệt nhất định trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, sự khác biệt không phát sinh từ vấn đề thời gian mà phát sinh từ bản chất kinh tế (John R.Graham, Jana S Raedy & Douglas A Shackelford, 2012)

Theo thông tư số 20/2006/TT-BTC, các khoản chênh lệch vĩnh viễn là chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế phát sinh từ các khoản doanh thu, thu nhập khác, chi phí được ghi nhận vào lợi nhuận kế toán nhưng lại không được tính vào thu nhập, chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp

2.2.2 Thuế thu nhập hoãn lại phải trả

Trong bài nghiên cứu về “Nhận thức của thị trường của các khoản trích trước thuế thu nhập hoãn lại” của Cheryl Chang, Kathleen Herbohn & Irene Tutticci (2009), thì một nghĩa vụ thuế thu nhập hoãn lại, được gọi là “dự phòng thuế thu nhập hoãn lại”, được ghi nhận khi chi phí thuế thu nhập vượt quá thuế thu nhập phải nộp Sự khác biệt này có thể phát sinh từ hai nguồn – doanh thu và chi phí Doanh thu kế toán được ghi nhận khác với doanh thu được tính trong thu nhập tính thuế trong kỳ báo cáo làm cho lợi nhuận trước thuế thấp hơn, tức là doanh nghiệp nộp thuế ít hơn vào năm hiện hành và sẽ phải nộp nhiều hơn vào những năm sau Sự khác biệt giữa chi phí kế toán ghi nhận (theo chuẩn mực kế toán) và chi phí theo quy định của thuế dẫn đến một khoản chênh lệch mà theo quy định thuế chấp nhận cho doanh nghiệp đưa vào kỳ này Có nghĩa là trong kỳ báo cáo một khoản chi phí theo kế toán chưa được ghi nhận nhưng theo quy định thuế thì cho phép doanh nghiệp ghi nhận làm cho lợi nhuận chịu thuế giảm dẫn đến doanh nghiệp nộp thuế ít hơn vào năm hiện hành nhưng phải nộp nhiều hơn vào năm sau (Cheryl Chang, Kathleen Herbohn & Irene Tutticci, 2009)

Trang 18

trang 11

Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 12 năm 2012 (IAS 12) thuế thu nhập hoãn lại phải trả là số thuế thu nhập phải nộp trong tương lai đối với chênh lêch tạm thời chịu thuế

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 17 (VAS 17), thuế thu nhập hoãn lại phải trả là thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ phải nộp trong tương lai tính trên các khoản chênh lệch tạm thời chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm hiện hành

2.2.3 Tài sản thuế thu nhập hoãn lại

Tài sản thuế thu nhập hoãn lại, gọi là “lợi ích về thuế thu nhập trong tương lai”, được ghi nhận dựa trên báo cáo kết quả kinh doanh khi thuế thu nhập phải nộp vượt quá chi phí thuế thu nhập Sự khác biệt này có thể phát sinh từ hai nguồn – doanh thu

và chi phí Trong kỳ báo cáo doanh thu được kế toán ghi nhận khác với doanh thu được tính trong thu nhập tính thuế dẫn đến lợi nhuận trước thuế cao hơn, tức là doanh nghiệp sẽ phải nộp thuế nhiều hơn vào năm hiện hành và sẽ nộp ít hơn vào những năm sau Khác biệt giữa chi phí được kế toán ghi nhận (theo chuẩn mực kế toán) và chi phí theo quy định của thuế dẫn đến một khoản chênh lệch mà theo quy định thuế không chấp nhận cho doanh nghiệp đưa vào kỳ này, có nghĩa là một khoản chi phí được kế toán ghi nhận trong kỳ báo cáo nhưng theo quy định thuế thì không được ghi nhận làm cho lợi nhuận trước thuế sẽ nhiều hơn dẫn đến doanh nghiệp nộp nhiều hơn vào năm hiện hành và nộp ít thuế hơn vào những năm sau (Cheryl Chang, Kathleen Herbohn & Irene Tutticci, 2009)

Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 12 năm 2012 (IAS 12), tài sản thuế thu nhập hoãn lại là số thuế thu nhập thu hồi trong tương lai đối với:

— Chênh lệch tạm thời được khấu trừ

— Các khoản lỗ tính thuế chưa sử dụng

— Các khoản ưu đãi thuế chưa sử dụng

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 17 (VAS 17), tài sản thuế thu nhập hoãn lại

là thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ được hoàn lại trong tương lai tính trên các khoản:

— Chênh lệch tạm thời được khấu trừ

— Giá trị được khấu trừ chuyển sang các năm sau của các khoản lỗ tính thuế chưa

sử dụng

— Giá trị được khấu trừ chuyển sang các năm sau của các khoản ưu đãi thuế chưa

sử dụng

Trang 19

Như vậy, chuẩn mực kế toán Việt Nam số 17 (VAS 17) có cùng quan điểm với chuẩn mực kế toán quốc tế năm 2012 (IAS 12)

2.3 Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp

Thuế thu nhập doanh nghiệp có một vai trò hết sức quan trọng

Thứ nhất, đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân sách Nhà nước Thuế là

nguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nước nhằm đảm bảo trang trải cho các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, cho nên cũng giống như các loại thuế khác, vai trò đầu tiên của thuế thu nhập doanh nghiệp là đảm bảo một nguồn thu ổn định và không nhỏ cho ngân sách Nhà nước thông qua việc ngày càng mở rộng đối tượng chịu thuế, có khả năng bao quát được hầu hết các nguồn thu nhập phát sinh trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển, xuất hiện nhiều loại hình thu nhập phức tạp và tinh vi hơn trước

Thứ hai, thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc quản lí vĩ mô nền kinh tế, điều tiết các hoạt động kinh doanh Thông

qua hệ thống ưu đãi về thuế suất, miễn giảm thuế, thuế thu nhập doanh ngiệp góp phần định hướng cho các nhà đầu tư, từ đó thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế nhằm đảm bảo cơ cấu kinh tế hợp lí, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong từng thời kỳ

Thứ ba, thuế thu nhập doanh nghiệp thể hiện vai trò đặc trưng của thuế là đảm bảo công bằng xã hội Là sắc thuế trực thu, thuế thu nhập doanh nghiệp có khả

năng đảm bảo công bằng theo chiều dọc: đối tượng nộp thuế có thu nhập chịu thuế cao thì nộp thuế nhiều, đối tượng nộp thuế có thu nhập chịu thuế thấp thì nộp thuế ít Đối tượng nộp thuế gặp khó khăn thì được giảm thuế, được chuyển lỗ sang những năm sau… thuế thu nhập doanh nghiệp có nhiều mức thuế suất ưu đãi khác nhau Trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh, thu nhập của một cá nhân hay một tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào việc cung cấp các yếu tố sản xuất (vốn, lao động, công nghệ…) Sự phân hóa giàu nghèo là điều không thể tránh khỏi Trong hoàn cảnh đó, thuế thu nhập

sẽ là một biện pháp tốt để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các thành viên trong

xã hội

Thứ tư, thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ thúc đẩy việc nâng cao trình

độ hạch toán kế toán đối với các đối tượng nộp thuế Theo luật thuế thu nhập doanh

Trang 20

trang 13

xác của số liệu phụ thuộc rất lớn vào chất lượng công tác hạch toán kế toán ở đơn vị

Để đảm bảo thu đúng, thu đủ thuế thu nhập doanh nghiệp, cơ quan thuế phải chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra người nộp thuế qua đó có thể phát hiện những sai sót hoặc biểu hiện tiêu cực trong quá trình hạch toán kế toán của người nộp thuế và tùy vào từng trường hợp sai phạm mà cán bộ thuế sẽ áp dụng các biện pháp xử lí kịp thời… nhờ đó ý thức của người nộp thuế sẽ dần được nâng cao và công tác hạch toán kế toán cũng từng bước hoàn thiện hơn

Thứ năm, thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ đánh giá hiệu quả hoạt động của người nộp thuế Nhìn vào số thuế thu nhập doanh nghiệp mà đơn vị phải

nộp, so sánh đối chiếu với số thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp cùng ngành ở địa phương và trong cả nước có thể đánh giá khái quát về hiệu quả sản xuất kinh doanh của đơn vị Vì doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có lãi thì mới phát sinh số thuế phải nộp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp càng lớn thì số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp càng cao Và nếu số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tăng lên qua các năm thì chứng tỏ doanh nghiệp có mức tăng trưởng khá và ngược lại là hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đang giảm sút Như vậy thuế thu nhập doanh nghiệp là một công cụ đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của đơn vị

một cách khá chính xác

Thứ sáu, thuế thu nhập doanh nghiệp còn có vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh

tế Thông qua chính sách miễn, giảm, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, Nhà nước sẽ

ưu tiên cho ngành cần phát triển để chuyển dịch, thu hút nhà đầu tư từ ngành chưa cần phát triển sang ngành cần phát triển, phục vụ mục đích chuyển dịch cơ cấu kinh tế (http://luanvan.co/luan-van/de-tai-hoan-thien-ke-toan-thue-thu-nhap-doanh-nghiep-trong-cac-doanh-nghiep-viet-nam-23645/)

2.4 Giá trị doanh nghiệp

Giá trị doanh nghiệp (Enterprise value – EV) hoặc giá trị công ty (Firm value – FV) là thước đo phản ánh giá trị thị trường của toàn bộ một doanh nghiệp Đó là số tiền phải trả cho chủ nợ và cổ đông Giá trị doanh nghiệp là một trong những số liệu cơ bản được sử dụng trong định giá doanh nghiệp, mô hình tài chính, kế toán, phân tích danh mục đầu tư (http://en.wikipedia.org/wiki/Enterprise_value)

Giá trị thị trường của doanh nghiệp được xác định bằng số tiền bỏ ra để mua lại toàn bộ doanh nghiệp trong điều kiện hiện tại

Trang 21

Giá trị thị trường của doanh nghiệp tương đương với giá trị thị trường của cổ phiếu nhân với số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành

Giá trị thị trường thể hiện mức giá hình thành trên thị trường công khai và cạnh tranh Thị trường này có thể là thị trường trong nước hoặc thị trường quốc tế, có thể bao gồm nhiều người mua, người bán hoặc bao gồm một số lượng hạn chế người mua, người bán

Giá trị thị trường của cổ phiếu thể hiện mức giá ước tính mà trên cơ sở đó bên bán và bên mua thoả thuận tại một thời điểm sau khi cả hai bên đã khảo sát, cân nhắc đầy đủ các cơ hội và lựa chọn tốt nhất cho mình từ các thông tin trên thị trường trước khi đưa ra quyết định mua hoặc quyết định bán một cách hoàn toàn tự nguyện, không nhiệt tình mua hoặc nhiệt tình bán quá mức

(http://archive.saga.vn/dictview.aspx?id=1755)

Giá trị doanh nghiệp là một thước đo giá trị của một công ty, thường được sử dụng để thay thế cho vốn hóa thị trường đơn giản Giá trị doanh nghiệp được tính như vốn hóa thị trường cộng với nợ, cổ đông thiểu số và cổ phiếu ưu đãi, trừ đi tổng tiền và tương đương tiền

Giá trị doanh nghiệp được sử dụng để thay thế cho vốn hóa thị trường Nó là một ước tính chính xác hơn về giá mua lại của một công ty so với vốn hóa thị trường (http://www.readyratios.com/reference/market/enterprise_value_ev.html)

Giá trị doanh nghiệp (Firm value) là đánh giá của nhà đầu tư về doanh nghiệp nào đó, thường phản ảnh qua giá cổ phiếu Giá cổ phiếu cao đồng nghĩa với giá trị của doanh nghiệp cũng cao Mục đích chính của các doanh nghiệp theo “Lý thuyết doanh nghiệp” là tối đa hóa tài sản hoặc giá trị doanh nghiệp (Salvatore, 2005)

Trang 22

trang 15

Theo lý thuyết uản lý kinh tế và chiến lược kinh doanh của Michael R Baye (dẫn theo Pike & Bill, 2006), giá trị của một doanh nghiệp là giá trị của lợi nhuận hiện tại và tương lai của doanh nghiệp đó

Mặc dù có rất nhiều định nghĩa về giá trị thị trường của doanh nghiệp, tuy nhiên trong nghiên cứu này, nhóm sử dụng thuật ngữ giá trị thị trường theo hướng tiếp cận của tác giả Salvatore (2005), cũng như trên trang web:

(http://archive.saga.vn/dictview.aspx?id=1755), nghĩa là giá trị doanh nghiệp được xác định theo giá cổ phiếu tại thời điểm đóng cửa của phiên giao dịch cuối cùng cuối năm tài chính (năm dương lịch)

2.5 Mối quan hệ giữa thuế thu nhập doanh nghiệp và giá trị doanh nghiệp

Ở Mỹ, nghiên cứu của Eli Amir, Michael Kirschenheiter & Kristen Willard (1997) về giá trị của thuế hoãn lại cho thấy có sự tác động của thuế hoãn lại đến giá trị doanh nghiệp Thông qua các yếu tố lợi nhuận từ hoạt động bất thường (Current Abnormal Operating Earning – AE), tài sản hoạt động ròng (Net Operating Assets – NOA), tài sản tài chính ròng (Net Financial Assets – NFA) và thuế hoãn lại (Net Deferred Taxes – DT) Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại một mối quan hệ trái chiều (tiêu cực) giữa thuế hoãn lại (DT) và giá trị của doanh nghiệp (P) Tài sản thuế hoãn lại phát sinh từ các khoản lỗ tính thuế và giá trị của các khoản lỗ được chuyển sang các năm sau có quan hệ trái chiều với giá cổ phiếu

Ở Úc, nghiên cứu của Cheryl Chang, Kathleen Herbohn & Irene Tutticci (2009), ghi nhận mối quan hệ thuận chiều (tích cực) giữa tài sản thuế hoãn lại và giá trị doanh nghiệp, trong khi kết quả từ mô hình lợi nhuận cho rằng thuế thu nhập hoãn lại sẽ ảnh hưởng đến thuế phải trả trong tương lai Số dư của tài sản thuế hoãn lại không được ghi nhận cho thấy dấu hiệu trái chiều về khả năng sinh lời trên thị trường trong tương lai, đặc biệt là những công ty thuộc ngành nguyên vật liệu, năng lượng và những công

ty bị lỗ

Ở Hồng Kông, nghiên cứu của Gao Fan & Jiang Wei (2012) đã sử dụng giá cổ phiếu được công bố trên thị trường chứng khoán tại phiên giao dịch cuối cùng của năm tài chính thay vì sử dụng giá cổ phiếu được trình bày trong bảng cân đối kế toán tại ngày kết thúc niên độ để phản ánh giá trị của doanh nghiệp ua đó, nghiên cứu ghi nhận mối quan hệ trái chiều giữa giá trị thị trường của doanh nghiệp và thuế hoãn lại phải trả Những nhà đầu tư thì xem thuế hoãn lại phải trả này như một khoản nợ phải

Trang 23

trả trong tương lai Ngoài ra, nghiên cứu cũng ghi nhận mối quan hệ thuận chiều (tích cực) giữa giá trị thị trường của doanh nghiệp và tài sản thuế hoãn lại, tức là các nhà đầu tư xem tài sản thuế hoãn lại như một tài sản sẽ thu hồi trong tương lai Tuy nhiên, nghiên cứu không tìm được mối quan hệ quan trọng nào giữa giá trị thị trường của doanh nghiệp và tài sản thuế hoãn lại chưa được ghi nhận

Ở Việt Nam, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu chính thức nào về thuế thu

nhập hoãn lại liên quan đến giá trị doanh nghiệp

Trang 24

trang 17

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Xây dựng mô hình đo lường

3.1.1 Cách đo lường nhân tố ở các công trình nghiên cứu tiền nhiệm

Trên cơ sở các công trình nghiên cứu tiền nhiệm về tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại đến giá trị của các doanh nghiệp của các tác giả Feltham & Ohlson’s (1995), Amir (1997), O’Hanlon & Taylor (2007), Gao Fan & Jiang Wei (2012), các biến đo lường trong các nghiên cứu trên được người nghiên cứu tóm lược như sau:

Tên tiếng Anh Nhà nghiên cứu Cách tính

Thuế hoãn lại phải trả

DTA Deferred tax

 Gao Fan & Jiang Wei (2012)

{(nguyên giá của tài sản cố định hữu hình năm t) – (nguyên giá của tài sản cố định hữu hình năm t-1)}/(nguyên giá của tài sản

cố định hữu hình năm t-1)

Ngày đăng: 18/01/2021, 18:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm