Ngoài ra, SRI còn làm tăng khả năng ứng phó với biến đổi khi hậu như: Cây lúa cứng, khỏe hơn nên ít bị đổ ngả trong điều kiện mưa bão, đồng thời tăng khả năng chống chịu đối với sâu bện[r]
Trang 1HƯỚNG DẪN XÂY DỰNG MÔ HÌNH ỨNG DỤNG HỆ THỐNG CANH TÁC LÚA CẢI TIẾN
System of Rice Intensification (SRI)
A ĐẶT VẤN ĐỀ
Hệ thống canh tác lúa (System Rice Intensification - SRI) được Chương trình IPM Quốc gia, Cục Bảo vệ thực vật hướng dẫn nông dân các tỉnh phía Bắc ứng dụng
từ năm 2003 Từ 2005, SRI được ứng dụng trên quy mô từ 2-5 ha, và quy mô hàng chục – hàng trăm ha từ 2007 Ngày 15/10/2007 Bộ Nông nghiệp và PTNT đã có Quyết định số 3062/QĐ-BNN-KHCN về việc công nhận (SRI) là tiến bộ kỹ thuật áp dụng trong sản xuất lúa ở các tỉnh phía Bắc Vụ Mùa 2010 đã có 22 tỉnh thực hiện, với tổng
diện tích ứng dụng trên 286,053 ha (2 vụ Đông Xuân và Mùa), với 781,282 nông dân
tham gia (Hà Nội, Hòa Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hưng Yên, Hà Nam, Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Bắc Giang, Lai Châu, Điện Biên, Yên Bái, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, TT-Huế)
Kết quả ứng dụng ở các tỉnh cho thấy: Ở những diện tích áp dụng SRI, lượng thóc giống giảm từ 70 đến 90%, phân đạm giảm 20 đến 25%, tăng năng suất bình quân
9 đến 15% Canh tác theo SRI tạo điều kiện sinh thái đồng ruộng bất lợi cho dịch hại phát triển như bệnh khô vằn, ốc bươu vàng, bệnh nghẹt rễ…, đồng thời tăng khả năng chống chịu sâu, bệnh của cây lúa Tiền lãi thu được của ruộng áp dụng SRI tăng trung bình trên 2 triệu đồng/ha, giá thành/kg thóc giảm trung bình 342 đồng đến 520 đồng, tiết kiệm được khoảng 1/3 chi phí về thủy lợi
Ngoài ra, SRI còn làm tăng khả năng ứng phó với biến đổi khi hậu như: Cây lúa cứng, khỏe hơn nên ít bị đổ ngả trong điều kiện mưa bão, đồng thời tăng khả năng chống chịu đối với sâu bệnh mới xuất hiện; Canh tác theo SRI, nhu cầu nước tưới cho ruộng lúa giảm được khoảng 30% so với canh tác truyền thống, điều này rất hữu ích trong điều kiện khan hiếm nguồn nước tưới; Mặt khác, việc không giữ nước ngập mặt ruộng thường xuyên sẽ hạn chế khí nhà kính phát thải vào khí quyển
Việc ứng dụng SRI ở Việt Nam tập trung hướng dẫn nông dân nắm chắc những nguyên tắc cơ bản của SRI, và khuyến khích cộng đồng sáng tạo, phát triển các biện
pháp kỹ thuật thâm canh cây trồng bền vững trong điều kiện sản xuất cụ thể của địa
phương Những nghiên cứu đồng ruộng do nông dân thực hiện như: mật độ cấy, tuổi
mạ, liều lượng phân bón, áp dụng SRI trên lúa gieo thẳng, nghiên cứu chọn giống thích ứng với biến đổi khí hậu, sản xuất giống, phương pháp trồng khoai tây theo phương pháp làm đất tối thiểu, cải tiến công cụ làm cỏ xới xáo đất, tổ chức sản xuất cây trồng theo hướng GAP…
Trang 2B ĐỀ CƯƠNG HƯỚNG DẪN CƠ BẢN VỀ SRI
Những yêu cầu chính về kỹ thuật SRI :
1 Cấy mạ non 2 - 2,5 lá, mạ gieo thưa, bứng mạ (mạ xúc)
2 Cấy 01 dảnh/khóm, Cấy thưa, cấy nông tay, tránh làm đứt rễ mạ
3 Cấy nông tay để rễ mạ nhanh mọc
4 Rút cạn nước ruộng khi cấy
5 Không giữ nước ngập mặt ruộng thường xuyên từ khi cấy đến hết giai đọan làm đòng, nhưng, phải duy trì đủ ẩm cho đất Nên giữ cho mặt ruộng “nẻ chân chim”.
6 khi bón phân, đưa nước vào ruộng để phân dễ hòa tan , sau khi bón phân, để cho nước tự rút cạn mặt ruộng
7 Tăng cường bón phân hữu cơ hoai mục, phân vi sinh, giảm phân hóa học.
8 Bón thúc đạm lần thứ nhất sau khi cấy 5 ngày
9 Thiết kế ruộng ở chế độ tự thoát nước để sau mỗi khi mưa ruộng sẽ tự rút kiệt nước.
10 Đưa nước vào ruộng mỗi khi bón phân, làm cỏ sau đó, để cho nước tự rút cạn mặt ruộng.
11 Để sớm hạn chế cỏ dại: sục bùn/xới xáo kỹ mặt ruộng vào thời điểm 10-12 ngày sau cấy (Mùa/Hè Thu)
12 Kết hợp làm cỏ và xới phá váng mặt ruộng tạo độ thông khí cho đất
I Năm nguyên tắc của SRI
1 Mạ khoẻ: Mạ non (chỉ có 2 lá - 2,5 lá đối với dất thuờng, 4 lá đối với đất phèn/ mặn), gieo thưa
2 Cấy thưa, mỗi khóm chỉ cấy 1 cây mạ
3 Phòng trừ cỏ dại kịp thời: ít nhất là 3 lần vào 10 - 12 ngày, 25 - 27 ngày và
40 - 42 ngày sau cấy Không dùng thuốc trừ cỏ
4 Quản lý nước: Không giữ nước ngập mặt ruộng thường xuyên từ khi cấy đến hết giai đọan làm đòng, nhưng, phải duy trì đủ ẩm cho đất Nên giữ cho mặt ruộng “nẻ chân chim” làm khô định kỳ và thông khí đất sâu trong giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng (sau cấy 15 ngày đến giai đoạn tượng khối sơ khởi hoặc khi 10% số dảnh chính
đã có lá thắt đầu) của cây; mức nước nông 3 - 4 cm trong giai sinh trưởng sinh thực (sau tượng khối sơ khởi đến chín đỏ đuôi)
5 Bổ sung chất hữu cơ: Tăng cường bón phân hữu cơ hoai mục, phân vi sinh, giảm phân hóa học
Trang 3II Hướng dẫn kỹ thuật
1 Gieo mạ thế nào?
Cây mạ non 2 lá sẽ phát triển thành các dảnh lúa khoẻ, từ một cây mạ có thể sinh ra trên 30 dảnh/khóm trong 30 đến 60 ngày Để phát triển được ra hai lá, cây mạ cần được ươm từ 8 đến 10 ( ngày tuỳ thuộc vào nhiệt độ không khí
Luống gieo mạ cần tạo điều kiện thoát nước khi có mưa Cần liên tục duy trì độ
ẩm của đất (thông khí) để các cây mạ sau khi nảy mầm có thể trao đổi khí thuận lợi và
để rễ cây phát triển mạnh
Nên gieo theo phương pháp mạ sân, mạ xúc Có thể gieo mạ tại ruộng: tận dụng tấm bao bì bao xi măng hoặc bao xác rắn, trải lên mặt ruộng (ở góc ruộng), phủ một lớp bùn đã trộn với phân, rồi gieo mạ giống như phương pháp thông thường Bứng mạ (không nhổ mạ) để cây mạ không bị đứt rễ
Sau khi bứng mạ phải cấy ngay trong ngày
+ Mỗi mét vuông gieo từ nửa lạng đến 1 lạng thóc là tốt nhất (50-100gr/m 2 )
+ Để cấy 01 sào Bắc bộ (360 m 2 ) cần khoảng 2 đến 4 lạng thóc giống, với diện tích mạ là 3 đến 5 m2
+ Đối với 01 sào Trung bộ (500 m 2 ) cần 2 lạng rưỡi đến 5 lạng thóc giống, gieo trên diện tích mạ từ 4 đến 7 m2
2 Cấy như thế nào?
Cấy 1 dảnh; Cấy thưa; Cấy vuông mắt sàng; cấy nông tay, tránh làm đứt rễ mạ Cấy mạ non 2 đến 2 lá rưỡi là tốt nhất
Đất được xục bùn kỹ, khi cấy giữ cho mặt ruộng ở dạng (bùn nhão), không nên
để nước ngập mặt ruộng
Có tác dụng gì?
+ Cây lúa nhanh hồi xanh, đẻ nhánh nhiều, tốn ít giống, tốn ít công cấy, nhiều dảnh hữu hiệu Cấy vuông mắt sàng, ánh sáng phân bố đều, cây quang hợp tốt hơn, ruộng thoáng khí hơn.
Lưu ý: dảnh lúa vô hiệu cũng có hại như cỏ dại
+ Nếu cây mạ được cấy cấy một cách nhẹ nhàng ngay sau khi bứng, nó sẽ phục hồi nhanh chóng và sẽ cứng cáp và xanh trở lại chỉ trong vòng 12 giờ đồng hồ.
Lưu ý:
Số mạ thừa, nên cấy thật dày, tập trung ở góc ruộng để dự phòng
3 Chia luống cấy như thế nào?
Đào rãnh thoát nước xung quanh ruộng, và giữa các luống; Chia ruộng thành các luống, mỗi luống cấy được 5- 10 hàng lúa Rãnh thoát nước giữa các luống: (rộng 25cm, sâu 25cm)
Trang 4Có tác dụng gì?
+ Dễ chăm sóc,
+ Dễ điều tiết nước
+ Dễ phòng ngừa ốc bươu vàng
4 Xác định khoảng cách cấy thế nào?
Để xác định được mật độ cấy cho phù hợp với từng chân đất, giống cần bố trí thí nghiệm mật độ theo hướng dẫn như sau:
Tùy điều kiện đất đai để chọn khung mật độ thử nghiệm trong bảng sau:
Khoảng cách cấy
(cm)
Số cây mạ trên (1 m 2 )
40 x 40 6
30 x 30 11
25 x 25 16
22 x 22 21
20 x 20 25
18 x 18 30
16 x 16 39
5
Làm thế nào để hạn chế cỏ dại?
Việc phòng trừ cỏ dại kịp thời và triệt để có vai trò quyết định trong việc đảm bảo cho cây lúa phát triển và cho năng suất cao Cần tiến hành phòng trừ cỏ dại ít nhất
là 3 lần vào 10 - 12 ngày, 25 - 27 ngày và 40 - 42 ngày sau khi cấy
Làm cỏ lần một: (khoảng 10 ngày sau cấy đối với vụ Mùa/Hè Thu), hoặc khi
bắt đầu thấy cây lúa có rễ trắng Sục bùn hoặc xới xáo kỹ mặt ruộng kể cả khi chưa thấy cỏ mọc Lần làm có thứ nhất có vai trò rất quan trọng, nó quyết định tình trạng cỏ dại trong sau này Sục bùn kỹ sẽ khống chế hạt cỏ nảy mầm hoặc làm kéo dài thời gian nay mầm của hạt cỏ
Đối với cỏ lồng vực, phải cắt bỏ toàn bộ hoa cỏ trước khi hạt cỏ chín để ngăn ngừa cỏ tích lũy cho các vụ sau
Các lần làm cỏ sau, cần kết hợp với xới xáo, sục bùn để thông khí cho đất
Có tác dụng:
+ Thông khí cho đất.
+ Hạn chế bệnh nghẹt rễ.
+ Diệt cỏ, hạn chế cỏ cho vụ sau
6 Quản lý nước và thông khí định kỳ cho đất
Việc thông khí cho đất bằng cách làm khô đất, kết hợp xới xáo cho đất ở giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng có tác dụng thúc đẩy quá trình phát triển bộ rễ, và nhờ đó thúc đẩy sự phát triển và đẻ nhánh của cây lúa và cho năng suất lúa cao hơn Cây lúa
hô hấp qua hệ thống rễ Trong điều kiện ngập nước thường xuyên, đất sinh ra các chất
Trang 5độc làm cho bộ rễ sẽ bị bị ảnh hưởng, các tế bào rễ biến dạng Việc làm khô đất cho đến khi bề mặt đất bị nứt ra, nhờ đó, rễ cây sẽ phát triển sâu hơn xuống lòng đất
Những điểm cần lưu ý:
- Không giữ nước ngập mặt ruộng thường xuyên từ khi cấy đến hết giai đọan làm đòng, nhưng, phải duy trì đủ ẩm cho đất Nên giữ cho mặt ruộng “nẻ chân chim”
Có tác dụng:
+ Rễ mọc nhiều hơn, dài hơn, khỏe hơn nên hút được nước ở độ sâu hơn, và tăng khả năng hút dinh dưỡng nuôi cây.
+ Giảm bệnh nghẹt rễ.
+ Giảm phát thải khí nhà kính.
+ Cứng cây, tăng khả năng chống đổ.
Lưu ý: Vào những ngày quá nắng nóng, khi lúa chưa khép hàng có thể tháo nước ngập mặt ruộng để phản xạ tia nắng mặt trời, hạn chế nắng chiếu thẳng xuống ruộng, nhờ vậy đất sẽ không bị nóng
- Giai đoạn trổ bông đến chín sữa, duy trì mực nước trong ruộng khoảng 1 đến
3 cm
Lưu ý : Nếu đất bị khô vào bất cứ thời điểm nào trong giai đoạn trổ bông đến chín sữa đều sẽ làm giảm năng suất lúa một cách nghiêm trọng
- Giai đoạn lúa chín sáp trở đi, tưới tiêu nước ruộng như truyền thống địa phương Khi hạt lúa đã chín, tháo cạn nước trong ruộng và để đất khô
- Khi bón phân, cần đưa nước vào ruộng (như phương pháp truyền thống) để phân hòa tan đều Sau khi bón phân, để cho nước tự rút cạn mặt ruộng, chỉ giữ nước trong rãnh luống
7 Làm thế nào để biết trong đất đủ ẩm?
Nếu thấy trong rãnh luống có nước nghĩa là đất có đủ độ ẩm Vì vậy phải luôn đảm
bảo mức nước trong rãnh khoảng 10 - 15cm
8 Bón phân như thế nào?
Nguyên tắc: Tăng cường bón phân hữu cơ, phân vi sinh, giảm phân hóa học Lưu ý: Phân gia súc, phân chuồng phải được ủ hoai mục.
Có thể bổ sung khoảng 10 tấn phân gia súc hoặc phân chuồng hoặc phân ủ tốt trên một ha hoặc bổ sung 5 tấn phân gà trên mỗi ha ruộng để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây lúa nếu năng xuất trung bình của ruộng là 6 - 7 tấn/ ha Trong trường hợp năng xuất lúa cao hơn, tỷ lệ chất hữu cơ bổ sung phải cao hơn Cần thử nghiệm để kiểm chứng liệu có thể dùng phân hữu cơ để thay thế phân bón hoá học không hay cần kết hợp cả phân hữu cơ và phân hoá học Các nhóm nông dân cần nghiên cứu sử dụng phân vi sinh
9 Quản lý dịch hại: Theo IPM