Cũng không phải ngẫu nhiên trong lịch sử, nhà triết học được gọi là nhà thông thái, nhà hiền triết, người nắm được bí mật của sự vật… thậm chí trong lịch sử nhân loại, có những thời đoạn
Trang 1MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 4
Chương 1 TRIẾT HỌC – MỘT MÔN KHOA HỌC 4
1.1 Sự ra đời của triết học và định nghĩa triết học 4
1.1.1 Sự ra đời của triết học 4
1.1.2 Định nghĩa Triết học 6
1.2 Triết học với tư cách là một khoa học 8
1.2.1 Đối tượng của Triết học 8
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu 10
1.2.3 Vấn đề cơ bản của Triết học 11
1.2.4 Hệ thống các phạm trù và các quy luật 12
1 3 Đặc điểm của khoa học triết học 13
1.3.1 Triết học tồn tại như một hình thái ý thức xã hội 13
1.3.2 Triết học là hệ thống tri thức chung nhất 14
1.3.3 Triết học mang tính giai cấp 14
Chương 2: VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 15
2.1 Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn 15
2.1.1 Ý Thức xã hội triết học có thể vượt trước hoặc lạc hậu hơn tồn tại xã hội 15
2.1.2 Tư tưởng triết học tác động trở lại đời sống xã hội 16
2.2 Vai trò của Triết học trong đời sống xã hội 16
2.2.1 Chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận của triết học 16
2.2.2 Chức năng phản ánh hiện thực của đời sống xã hội và chức năng động lực cho sự phát triển xã hội 18
KẾT LUẬN 20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Không phải ngẫu nhiên có người coi triết học như là khoa học của mọi khoa học Cũng không phải ngẫu nhiên trong lịch sử, nhà triết học được gọi là nhà thông thái, nhà hiền triết, người nắm được bí mật của sự vật… thậm chí trong lịch sử nhân loại, có những thời đoạn xã hội đã đặt nhà triết học vào vị trí cao nhất, có nhà cải tạo đặt nhà triết học vào
vị trí cao nhất của cơ cấu tổ chức xã hội (Platon với mô hình "Nhà nước lý tưởng")…
Triết học, ngay từ khi mới nảy sinh và cho đến mãi tận nay, dù tồn tại ở phương Đông hay phương Tây, dù dưới dạng các hệ thống, trào lưu, trường phái rất khác nhau, nhưng nội dung cốt lõi của triết học bao giờ cũng bao gồm những quan điểm lý luận chung nhất, những lời giải đáp có luận chứng (dù được tán thành hay không được tán thành) cho những câu hỏi của con người về thế giới xung quanh mình, về vị trí của con người trong thế giới đó, về quan hệ giữa con người với thiên nhiên và với bản thân con người Trong triết học, người ta luôn tìm thấy những biện luận, phán xét suy tư, những băn khoăn, trăn trở cùng những lời giải đáp cho các câu hỏi về số phận của cá nhân con người trước thiên nhiên bao la, về nguồn gốc cùng những bí ẩn của thiên nhiên bao la ấy, những sức mạnh, những lực lượng chi phối nó và chi phối cuộc sống của chính bản thân con người, về cuộc sống và cái chết của họ Những lời giải đáp ấy, dù là khác nhau trong các hệ thống, trào lưu, trường phái triết học khác nhau nhưng đều là những cách lý giải nhất định về thế giới
mà trong đó con người đang sống theo quan điểm của các hệ thống, trào lưu, trường phái triết học đó Tất cả những điều ấy khiến triết học trở thành một môn học, một lĩnh vực thú
vị, một cái gì đó kì bí làm con người ở mọi thời đại đam mê, ham muốn hiểu sâu hơn và đóng góp sức mình vào kiến thiết tòa lâu đài kì bí và hoa lệ đó
Kể từ khi ra đời, trải qua nhiều giai đoạn phát triển đạt được nhiều thành tựu rực rỡ thì triết học luôn phản ánh sự phát triển trí tuệ loài người và thúc đẩy tư duy loài người, đôi khi còn trở thành vũ khí sắc bén nhất cho những gì tiến bộ của sự phát triển đó Ngày nay triết học đã thực sự trở thành khoa học, đã hoàn chỉnh hơn vì vậy ý nghĩa là động lực cho
sự phát triển của đời sống xã hội càng rõ nét hơn, con người càng được hoàn thiện hơn về
tư duy lý luận Đó là mặt tác động đến đời sống xã hội từ bản thân khoa học triết học Ngày nay, mặc dù sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, sự phát triển về mặt vật chất
Trang 3của đời sống xã hội… cũng không hề làm giảm đi tính chất kì bí và vai trò đối với thực tiễn của triết học, mà vấn đề là phải có một tư duy lý luận, đúng đắn để không bị "lạc lối" trong
sự phát triển đó, hơn nữa, sự phát triển về mặt xã hội của khoa học kỹ thuật… cũng tác động ngược trở lại khoa học triết học: chứng minh hay bác bỏ những quan điểm triết học, nhận chân được những tư tưởng đúng đắn
Với vai trò to lớn của triết học với sự phát triển tư tưởng xã hội và với thực tiễn đời sống xã hội như vậy, tiểu luận này chỉ mong tổng hợp lại một số vai trò đã được thừa nhận của triết học trong đời sống xã hội Tiểu luận "Tìm hiểu vai trò của triết học trong đời sống
xã hội" được trình bày gồm 3 phần:
Phần 1: Lời mở đầu
Phần 2: Nội dung:
Chương I: Triết học - Một môn khoa học Chương II: Vai trò của môn triết học trong đời sống xã hội Phần 3: Kết luận
Trang 4NỘI DUNG Chương 1 TRIẾT HỌC – MỘT MÔN KHOA HỌC 1.1 Sự ra đời của triết học và định nghĩa triết học
1.1.1 Sự ra đời của triết học
Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ VII trước công nguyên) Tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hi Lạp Theo người Trung Quốc, thuật ngữ triết học có nguồn gốc ngôn ngữ là chữ triết và khoa học này hiểu theo nghĩa là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí, là sự hiểu biết sâu sắc của con người Theo người ấn Độ, triết học được coi là Danshana, có nghĩa là chiêm ngưỡng nhưng mang hàm
ý là trí thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải ở phương Tây thuật ngữ triết học suất hiện ở HiLạp, theo tiếng HiLạp triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái, nó là khoa học vừa mang tính định hướng vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội Với quan niệm
đó, triết học cổ đại không có đối tượng nghiên cứu riêng của mình, mà được xem là "khoa học của mọi khoa học"
Từ thế kỷ XV - XVI đến thế kỷ XVIII, các bộ môn khoa học chuyên ngành, nhất là khoa học thực nghiệm phát triển mạnh mẽ, dần dần tách ra khỏi triết học, từng bước làm phá sản tham vọng muốn đóng vai trò "khoa học của mọi khoa học" của một số học thuyết triết học lúc bấy giờ, đặc biệt là triết học Hêghen
Đầu thế kỷ XIX, triết học Mác ra đời đã đoạn tuyệt hoàn toàn với quan niệm trên và xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và
ý thức trên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy Quan niệm macxit cho rằng: "Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức,
Trang 5của thái độ con người đối với thế giới; là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy"
Khác với các khoa học cụ thể chỉ đi vào nghiên cứu từng lĩnh vực riêng biệt của thế giới, triết học xem xét thế giới như một chỉnh thể và đem lại một hệ thống các quan niệm
về chỉnh thể đó Triết học là sự diễn tả thế giới quan bằng lý luận Mặc dù có sự khác nhau giữa các hệ thống triết học, nhưng điểm chung của chúng là đều nghiên cứu những vấn đề chung nhất của tự nhiên, xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của
tư duy nói riêng với thế giới
Như vậy, Triết học xuất hiện do hoạt động nhận thức của con người nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống, song với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học không thể xuất hiện cùng sự xuất hiện của xã hội loài người, mà chỉ xuất hiện khi có những điều kiện nhất định Triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau:
nô lệ - chế độ xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử nhân loại Bởi vậy ngay từ khi Triết học xuất hiện đã tự mang trong mình tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của những giai cấp, những lực lượng xã hội nhất định…
+ Triết học là một hình thái ý thức xã hội có tính khái quát và tính trừu tượng cao,
do đó, triết học chỉ xuất hiện khi con người đã có sự phát triển cả về thể lực và trí lực, có
Trang 6một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng, trình độ tư duy trừu tượng hoá, khái quát hoá, hệ thống hoá để có thể rút ra được cái chung từ vô số các sự vật và hiện tượng riêng lẻ xây dựng nên các học thuyết, các lý luận…
Điều đó khẳng định rằng, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, triết học đã ra đời từ thực tiễn và do nhu cầu của thực tiễn quy định
1.1.2 Định nghĩa Triết học
Triết học thật sự là gì, vai trò của nó ra sao đối với cuộc sống của mọi người chúng ta? Để giải đáp cho những câu hỏi đó cũng phức tạp như từ “văn hóa”, mà các nhà nghiên cứu xưa nay đã nêu ra đến vài trăm định nghĩa, không cái nào giống hẳn cái nào Khái niệm triết học cũng chưa được đồng nhất, mà khác nhau còn tùy theo do ai đưa ra, dựa trên quan điểm nào, cách diễn đạt ra sao Nói chung ngay từ trong các định nghĩa, thấy ngay việc đưa
ra một đinh nghĩa thống nhất cho Triết học thật sự đã có phần rắc rối, phức tạp
Trong cuốn Từ vựng Triết học (Vocabulaire de la Philosophie) của André Lalande
(NXB Presses Universitaires de France in năm 1956), nơi mục từ PHILOSOPHIE (triết học), trích dẫn nhiều loại định nghĩa khác nhau của các triết gia từ Aristote (384-322 TCN)
trở đi: “(Triết học) là sự hiểu biết dựa trên lý tính, sự thông thái, theo nghĩa tổng quát nhất của từ này Nghĩa này đã được bảo tồn lâu nơi các tác giả hiện đại” (Lalande, tr 774)
Từ điển triết học của TS Triết học Trần Văn Hiến Minh, tác giả đưa ra sơ lược đến bốn định nghĩa khác nhau: “(1) Theo Aristote, môn học nghiên cứu hữu thể xét như là hữu thể Nghiên cứu bằng tìm hiểu các nguyên nhân: nguyên nhân chất thể, mô thể, tác thành, mục đích (2) Theo Descartes và Kant: nghiên cứu về nhận thức con người, về giá trị của
nó (3) Theo Khổng Tử: nghiên cứu về nguyên lý của vũ trụ và của nhân sinh (4) Theo quan niệm hiện đại: học về tinh thần con người với tất cả chiều hướng hiện sinh của nó”
(Từ điển và Danh từ Triết học, Tủ Sách Ra Khơi, 1969, tr 278-279)
Theo Từ điển Triết học do một nhóm nhà nghiên cứu triết học Liên Xô biên soạn (NXB Sự Thật, Hà Nội, 1960) thì: “Trước khi chủ nghĩa Mác ra đời, triết học được coi như
là ‘khoa học của những khoa học’ bao gồm toàn bộ sự hiểu biết của loài người và thay thế cho tất cả các khoa học” (tr 823), “Chủ nghĩa duy vật biện chứng là phương pháp duy nhất
Trang 7có giá trị của các khoa học hiện đại, là lý luận duy nhất khoa học để giải thích và cải tạo
tự nhiên và xã hội” (tr 828)
Với một quan điểm và cách giải thích tương tự, nhưng phần đầu sách Giáo trình triết học Mác-Lênin của Bộ Giáo dục biên soạn dành cho các trường cao đẳng, đại học (NXB
Chính Trị Quốc Gia, 2004) lại đưa ra một định nghĩa tương đối dễ hiểu và ít lan man hơn:
“Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy” (tr 8) Về nguồn gốc và tính chất của triết học, bài giảng trong bộ giáo trình trên nêu tiếp: “Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn… Từ khi ra đời, triết học, tự nó đã mang trong mình tính giai cấp, nghĩa là nó phục vụ cho lợi ích của những giai cấp, những lực lượng xã hội nhất định”
Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên) thì nói rằng: “Khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của thế giới và sự nhận thức thế giới” (tr 1707) Định nghĩa này so với định nghĩa trong Từ điển Oxford của Anh dường như không được rõ bằng: “Sự dùng lý trí và lý lẽ để tìm kiếm chân lý và tri thức về thực tại, nhất là về những nguyên nhân cùng bản chất các sự vật cũng như những nguyên tắc chi phối sự tồn tại” Lại còn một cách diễn đạt khác nữa trong Triết học đại từ điển của Trung Quốc (Thượng Hải Từ Thư Xuất Bản Xã, 2007), theo một hướng có vẻ tổng hợp và đầy đủ hơn: “Học thuyết về thế giới quan Hệ thống các quan điểm căn bản của con người đối với toàn bộ giới tự nhiên, xã hội
và tư duy Đó là sự khái quát và tổng kết về thế giới quan, tri thức tự nhiên và tri thức xã hội đã được lập thành hệ thống và lý luận” (tr 1)
Trong cuốn sách Trò chuyện Triết học của Bùi Văn Nam Sơn (NXB Tri Thức in
2012) bằng những liên hệ thực tế trong những cuộc tranh luận giữa các nhân vật trong sinh
hoạt đời thường, tác giả Trò chuyện triết học cho thấy triết học không phải là thứ gì xa lạ
tách rời cuộc sống con người, mà đâu đâu cũng cần tới nó, nhưng nó vẫn không phải là một
công cụ hay phương pháp để chỉ đạo, quản lý, vì nếu là công cụ, “nó sẽ giới hạn chân trời hoạt động và bắt con người phụ thuộc vào công cụ Là ‘phương pháp’, nó sẽ bắt người theo phương pháp ấy làm tù binh! Trái lại, chỉ có thể từ triết học, tức từ thái độ được nuôi dưỡng bằng tư duy triết học: triết học giống như nhà tư vấn giúp ta có cái nhìn sâu vào hậu trường, vào tất cả mọi hậu trường… Chính trong tinh thần ấy, triết học thường được hiểu ‘ba trong
Trang 8một’: triết học như là khoa học khai minh, giúp xóa bỏ những ảo tưởng, định kiến; triết học như là khoa học điều hòa, giúp cân đối mọi lối nhìn; triết học như là khoa học hành động, giúp định hướng cho mọi lựa chọn, quyết định” (tr 13-14) Vì có hiểu hậu cảnh rồi mới
“quyết định có cơ sở; hành động có trách nhiệm; hoạt động có hiệu quả; truyền thông rõ ràng, sống thanh thản, hạnh phúc” (tr 14)
Tóm lại, Đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm
ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý Vậy: Triết học là hệ thống trí thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí vai trò của con người trong thế giới ấy
1.2 Triết học với tư cách là một khoa học
Ngày nay, Triết học không còn là bí mật mà chỉ những nhà Triết học mới biết nữa (Ph.Ăngghen, "Chống Đuy-rinh") nó từ "Khoa học của các khoa học" đã trở thành một môn khoa học độc lập Là một môn khoa học độc lập, Triết học cần phải có: Đối tượng riêng của nó, phải có phương pháp nghiên cứu (cần phương pháp luận và phương pháp riêng); có các vấn đề cơ bản; có các khái niệm và các phạm trù; các quy luật
1.2.1 Đối tượng của Triết học
Khi mới xuất hiện, Triết học Cổ đại còn được gọi là Triết học tự nhiên - bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực, không có đối tượng riêng Đây là nguyên nhân sâu
xa làm nảy sinh quan niệm sau này cho rằng Triết học là khoa học của mọi khoa học
- Thời kỳ Trung cổ, ở Tây Âu khi quyền lực của giáo hội Thiên chúa bao trùm mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì Triết học trở thành một bộ phận của thần học Triết học chỉ có nhiệm vụ lý giải và chứng minh cho sự đúng đắn của nội dung trong kinh thánh Triết học
tự nhiên bị thay thế bởi nền Triết học kinh viện
- Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18, để đáp ứng yêu cầu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành có tính chất là khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách
là các khoa học độc lập Triết học lúc này có tên gọi là Siêu hình học - Khoa học hậu vật
Trang 9lý Đối tượng của Triết học thời kỳ này là nghiên cứu cái ẩn dấu, cái bản chất đằng sau các
sự vật, hiện tượng “vật thể” có thể thực nghiệm được
+ Triết học duy vật dựa trên cơ sở tri thức của khoa học thực nghiệm đã phát triển nhanh chóng, đạt tới đỉnh cao mới với các đại biểu như Ph Bây cơn, T.Hốpxơ (Anh), Diđrô, Hen Vêtiúyt (Pháp), Xpinôda (Hà Lan)
+ Mặt khác, tư duy Triết học cũng được phát triển trong các học thuyết duy tâm mà đỉnh cao là Triết học Hêghen
+ Song, cũng chính sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từng bước làm phá sản tham vọng của Triết học muốn đóng vai trò “Khoa học của mọi khoa học”, mà Triết học Heghen là Triết học cuối cùng mang tham vọng đó Heghen xem Triết học của mình là một hệ thống phổ biến của nhận thức, trong đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào Triết học
- Đầu thế kỷ 19, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, cùng với sự chuyển biến tính chất từ khoa học thực nghiệm sang khoa học lý thuyết là cơ sở khách quan cho triết học đoạn tuyệt triệt để với quan niệm “khoa học của mọi khoa học” Triết học Mác - Triết học duy vật biện chứng ra đời thể hiện sự đoạn tuyệt đó Triết học Mác xít xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội
và tư duy
- Do tính đặc thù của Triết học là xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống lý luận về chỉnh thể đó.Và điều đó chỉ thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học, lịch sử của bản thân tư tưởng Triết học Cho nên, vấn đề
tư cách khoa học của Triết học và đối tượng của nó đã gây ra cuộc tranh luận kéo dài cho đến hiện nay
Tóm lại, cái chung trong các học thuyết Triết học từ cổ tới kim là nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tư duy con người nói riêng với thế giới xung quanh Theo Ph.ăngghen: "Triết học là khoa học về các quy luật chung nhất sử sự vận động và phát triển của thế giới; từ tự
Trang 10nhiên, xã hội và cả tư duy", (Ph ăng ghen, "chống Đuy-rinh") Như vậy có thể coi đối tượng của Triết học là tự nhiên, xã hội và tư duy của con người: nhưng Triết học không phải là khoa học tự nhiên, khoa học về xã hội, khoa học về tư duy (logic học) mà là khoa học chung nhất, nó coi thế giới là "một chỉnh thể thống nhất" các mặt trên
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Thế giới quan: Là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới
- Thế giới quan là sự hoà nhập giữa tri thức và niềm tin: Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan; niềm tin định hướng cho hoạt động của con người, từ đó tri thức trở thành niềm tin, niềm tin phải trên cơ sở tri thức
- Có một điều đặc biệt của khoa Triết học, đó là, với khoa học này thì sự khác nhau
về phương pháp luật là cơ sở để phân biệt các trường phái Triết học (siêu hình hay biện chứng), thể hiện tính khoa học hay phản động của một hệ thống Triết học Nguyên nhân của hiện tượng này xuất phát từ đối tượng của Triết học: Coi thế giới như là một chỉnh thể, nghiên cứu bao trùm thế giới: tự nhiên, xã hội, tư duy với các loại thế giới quan (phân chia theo sự phát triển):
+ Thế giới quan huyền thoại: Là phương thức cảm nhận thế giới của người nguyên thuỷ, có đặc điểm là các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, cái thật và cái ảo, cái thần và cái người hoà quyện vào nhau thể hiện quan niệm về thế giới
+ Thế giới quan tôn giáo: Niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu, tín ngưỡng cao hơn lý trí, cái ảo lấn át cái thật, cái thần trội hơn cái người
+ Thế giới quan triết học diễn tả quan niệm dưới dạng hệ thống các phạm trù, qui luật đóng vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thức Như vậy, Triết học được coi như trình độ tự giác trong quá trình hình thành phát triển của thế giới quan Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, đóng vai trò định hướng, củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử