Thông qua việc phân tích tài chính, các nhà quản trị sẽ thấy được bức tranh toàn cảnh về tài chính, giúp cho doanh nghiệp có thể nhận dạng được những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó
Trang 1Luận văn thạc sĩ khoa học Ngành quản trị kinh doanh
Phân tích và đề xuất một số giảI pháp nhằm cảI thiện tình hình tài chính tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại cẩm trướng thanh hoá
đinh thị huệ
Trang 2Luận văn thạc sĩ khoa học Ngành quản trị kinh doanh
Phân tích và đề xuất một số giảI pháp nhằm cảI thiện tình hình tài chính tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại cẩm trướng thanh hoá
đinh thị huệ
Người hướng dẫn khoa học: ts tạ thị đoàn
Trang 3CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP .3
1.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp ………… ………… 4
1.1.1 Khái niệm và vai trò của tài chính doanh nghiệp 4
1.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp 5
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp .9
1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp ……… 13
1.2.1 Thực chất và mục tiêu phân tích tài chính 13
1.2.2 Căn cứ để phân tích tài chính 16
1.2.3 Nội dung và trình tự phân tích tài chính 19
1.3 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 27
1.3.1 Phương pháp so sánh 28
1.3.2 Phương pháp tỷ số 29
1.3.3 Phương pháp thay thế liên hoàn 30
1.3.4 Phương pháp phân tích Dupont 31
TÓM TẮT CHƯƠNG 1………33
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI CẨM TRƯỚNG THANH HÓA………34
2.1 Giới thiệu về công ty cổ phần sản xuất và thương mại Cẩm Trướng Thanh Hóa 35
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 35
2.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty 36
2.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý của công ty …… 38
Trang 42.2.1 Phân tích các chỉ tiêu hiệu quả tài chính 46
2.2.2 Phân tích chỉ tiêu an toàn tài chính 55
2.2.3 Phân tích các đòn bẩy tài chính 59
TÓM TẮT CHƯƠNG 2……… 65
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI CẨM TRƯỚNG THANH HÓA 67
3.1 Phương hướng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong thời gian tới………… ………68
3.1.1 Mục tiêu hoạt động ……….68
3.1.2 Nhiệm vụ, kế hoạch phát triển ……… 69
3.2 Một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại Cẩm Trướng Thanh Hóa ……… 71
3.2.1 Giải pháp 1 ……… 71
3.2.2 Giải pháp 2 ……… ……… ……….76
TÓM TẮT CHƯƠNG 3………80
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 51 Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty 38
2 Bảng 2.2 Bảng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 41
3 Bảng 2.3 Bảng cân đối kế toán của công ty năm 2008 - 2009 42
8 Bảng 2.8 Phân tích cụ thể tình hình biến động của tài sản 54
9 Bảng 2.9 Phân tích tính cân đối giữa tài sản và nguồn vốn 55
11 Bảng 2.11 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán 56
13 Bảng 2.13 Phân tích cụ thể tình hình biến động của nguồn vốn 58
20 Bảng 3.4 So sánh tình hình sử dụng nguyên vật liệu 74
21 Bảng 3.5 Kết quả thực hiện sau giải pháp giải pháp 1 75
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện hiện nay, sự biến động của nền kinh tế trong nước cũng như khu vực và thế giới luôn mang lại cho doanh nghiệp những cơ hội, thánh thức và rủi ro Vì vậy, là các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải đưa ra những quyết định kinh doanh phù hợp mới có thể tồn tại và phát triển được
Vậy làm thế nào để đưa ra được những quyết định đúng đắn trong kinh doanh? Đây luôn là câu hỏi được đặt ra với những nhà quản trị trong doanh nghiệp Muốn vậy, các nhà quản trị không thể không quan tâm đến tài chính, phải hiểu biết thấu đáo những thông tin mà các báo cáo tài chính phản ánh bằng việc phân tích tài chính doanh nghiệp một cách thường xuyên, chính xác
và toàn diện Thông qua việc phân tích tài chính, các nhà quản trị sẽ thấy được bức tranh toàn cảnh về tài chính, giúp cho doanh nghiệp có thể nhận dạng được những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn về mặt tài chính; tìm hiểu, phân tích các nguyên nhân đứng sau thực trạng đó để từ đó có thể tìm ra các giải pháp cải thiện vị thế tài chính của doanh nghiệp và đưa ra những dự báo về tài chính trong ngắn hạn cũng như trung và dài hạn
Có rất nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, mỗi đối tượng quan tâm đến một khía cạnh khác nhau Có thể nói
phân tích tài chính là công cụ cung cấp thông tin quan trọng cho mọi đối tượng
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tài chính, với kiến thức
đã học, kiến thức thực tế và với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo TS.Tạ Thị
Đoàn, tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài: “Phân tích và đề xuất một số giải
pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại Cẩm Trướng Thanh Hóa”
Trang 82 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Dựa vào kết quả của phân tích tài chính để các nhà quản trị đưa ra các quyết định về tài chính nhằm mục đích nâng cao hiệu quả tài chính tại công
ty Đề tài tập trung vào các vấn đề sau:
- Phân tích, đánh giá tình hình tài chính của công ty
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả tài chính tại công ty
3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tài chính tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại Cẩm Trướng Thanh Hóa
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chủ yếu tập trung xem xét, phân tích và đánh giá các chỉ tiêu của hoạt động tài chính doanh nghiệp thông qua các số liệu trên báo cáo tài chính của công ty từ năm 2008 đến năm 2009
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp: quan sát, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, kết hợp với việc sử dụng các bảng biểu, số liệu minh họa để làm sáng tỏ quan điểm của mình về vấn đề nghiên cứu đã đưa ra
4 Tên và kết cấu của luận văn
- Tên đề tài: “Phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại Cẩm Trướng Thanh Hóa”
- Kết cấu luận văn: Ngoài lời cam đoan, mục lục, danh mục bảng, biểu,
sơ đồ, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp
Chương 2: Phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại Cẩm Trướng Thanh Hóa
Chương 3: Một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại công
ty cổ phần sản xuất và thương mại Cẩm Trướng Thanh Hóa
Trang 9CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ
Trang 101.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và vai trò của tài chính doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải có một số vốn tiền tệ nhất định, đó là một tiền đề cần thiết Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm quá trình hình thành, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Trong quá trình đó đã phát sinh các luồng tiền tệ gắn liền với hoạt động đầu tư và các hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp, tạo thành sự vận động của các luồng tài chính của doanh nghiệp
Vì vậy, tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế
Các quan hệ tài chính bao gồm:
- Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với Nhà nước
Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, khi nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp
- Các quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp thị trường tài chính
Quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ Trên thị trường tài chính, các doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn
để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn Ngược lại, doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi
Trang 11bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động Thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định được nhu cầu hàng hóa và dịch vụ cần thiết cung ứng Trên cơ sở
đó, doanh nghiệp có thể xây dựng kế hoạch đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thỏa mãn các nhu cầu thị trường
- Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp
Là quan hệ giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, giữa các cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn Các mối quan hệ này được thể hiện thông qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp như chính sách cổ tức, chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn
1.1.1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp có vai trò vô cùng to lớn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, biểu hiện trên các mặt:
- Công cụ khai thác, thu hút các nguồn tài chính đảm bảo cho nhu cầu đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Có vai trò trong việc sử dụng vốn một cách tiết kiệm, có hiệu quả
- Có vai trò là đòn bẩy để kích thích và điều tiết sản xuất kinh doanh
- Công cụ quan trọng để kiểm tra các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
Để đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, có thể sử dụng rất nhiều chỉ tiêu Có thể chia các chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp thành 2 nhóm như sau:
1.1.2.1 Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả tài chính
Khi đầu tư vốn, các nhà đầu tư, nhà cho vay luôn đặt ra câu hỏi: tài sản của mình được sử dụng có hiệu quả không? Mức độ hiệu quả như thế nào?
Trang 12Nói cách khác là họ rất quan tâm đến khả năng sinh lời trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, người ta phải tính toán được hiệu quả sử dụng tài sản Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sử dụng tài sản , nguồn lực của doanh nghiệp Bao gồm hai nhóm chỉ tiêu cụ thể: Nhóm chỉ tiêu hiệu quả tài chính và nhóm chỉ tiêu hiệu quả hoạt động
a/ Nhóm chỉ tiêu hiệu quả tài chính:
+ Doanh lợi doanh thu sau thuế (ROS):
Chỉ tiêu này được tính như sau:
+ Tỷ suất thu hồi tài sản (ROA):
Chỉ tiêu này được tính như sau:
+ Tỷ suất thu hồi vốn chủ sở hữu (ROE):
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Trang 13b/ Nhóm chỉ tiêu hiệu quả hoạt động:
+ Vòng quay tổng tài sản:
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Vòng quay tổng tài sản
=
Doanh thu thuần Tổng tài sản bình quân Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
+ Vòng quay tài sản ngắn hạn:
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Vòng quay tài sản ngắn hạn
=
Doanh thu thuần Tài sản ngắn hạn bình quân Một đồng tài sản ngắn hạn góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu hiệu quả tài sản ngắn hạn có thể được đánh giá bởi hai chỉ tiêu:
- Vòng quay hàng tồn kho:
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Vòng quay hàng tồn kho
=
Doanh thu thuần Hàng tồn kho bình quân Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn đầu tư vào hàng tồn kho góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
- Vòng quay khoản phải thu: (Kỳ thu tiền bình quân)
Chỉ tiêu này được tính như sau:
VQ các khoản phải thu
=
Doanh thu thuần Khoản phải thu bình quân
Trang 14Chỉ tiêu này sử dụng để đánh giá khả năng thu tiền trong thanh toán trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu bình quân một ngày Khoản phải thu là phần giá trị vốn bị ứ đọng trong khâu thanh toán bao gồm phải thu của khách hàng, tạm ứng, ứng trước cho người bán… các khoản phải thu lớn hay nhỏ phụ thuộc vào chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp và các khoản trả trước
+ Vòng quay tài sản dài hạn:
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Vòng quay tài sản dài hạn
=
Doanh thu thuần Tài sản dài hạn bình quân Một đồng tài sản dài hạn góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
1.1.2.2 Nhóm chỉ tiêu về an toàn tài chính
Nhóm chỉ tiêu này thể hiện tình hình tài chính của doanh nghiệp có an toàn hay không, do những nhân tố nào tác động Mức độ an toàn thể hiện ở hai hệ số: Hệ số tài trợ và hệ số thanh toán
a/ Hệ số tài trợ: Hệ số này cho biết doanh nghiệp có đủ khả năng thanh
toán các khoản nợ ngắn hạn hay không và tài sản dài hạn có được tài trợ một cách vững chắc bằng nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu hay không
b/ Khả năng thanh toán: Hệ số này nói lên khả năng đảm bảo trả được
các khoản nợ bất cứ lúc nào Đây là những chỉ tiêu rất được nhiều người quan tâm như nhà đầu tư, người cho vay, người cung cấp nguyên vật liệu… Họ luôn đặt ra câu hỏi: Hiện doanh nghiệp có khả năng trả các món nợ ngắn hạn hay không? Khi phân tích chỉ tiêu hệ số thanh toán của doanh nghiệp người ta thường phân tích các hệ số sau:
+ Khả năng thanh toán hiện hành:
Trang 15Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Khả năng thanh toán hiện hành
=
Tài sản ngắn hạn Tổng nợ ngắn hạn
Hệ số này được sử dụng để đo lường khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp (nợ và các khoản phải trả) bằng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp như tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho
+ Khả năng thanh toán nhanh: Hệ số này cho biết liệu doanh nghiệp có
đủ tài sản ngắn hạn để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán hàng tồn kho đi hay không
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Khả năng thanh toán nhanh
=
Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho
Tổng nợ ngắn hạn
+ Khả năng thanh toán tức thời: Hệ số này nói lên khả năng doanh
nghiệp sử dụng tiền mặt để thanh toán các khoản nợ đến hạn phải trả của doanh nghiệp
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Khả năng thanh toán tức
thời
=
Tiền
Nợ đến hạn phải trả
1.1 3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp
Sự tồn tại, phát triển cũng như suy thoái của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố: có những yếu tố bên trong và những yếu tố bên ngoài, có những yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan Các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp cũng như vậy
Trang 161.1.3.1 Các yếu tố bên trong:
Những nhân tố bên trong là những nhân tố mang tính chủ quan của các doanh nghiệp Đó là những yếu tố thuộc về tổ chức doanh nghiệp, ngành sản phẩm mà doanh nghiệp kinh doanh, quy trình công nghệ, năng lực của lao động, năng lực và trình độ của các nhà quản trị doanh nghiệp
a/ Yếu tố con người:
Con người là yếu tố rất quan trọng, đó là những cán bộ quản lý và lực lượng lao động trong doanh nghiệp Cán bộ quản lý là những người nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của phân tích tài chính doanh nghiệp, những người
có toàn quyền quản lý và sử dụng toàn bộ tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp
và là người chịu trách nhiệm quyết định mọi vấn đề tài chính trong doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên viên
đủ lớn, lực lượng cán bộ phân tích tài chính cần phải thường xuyên được nâng cao, đảm bảo cả về mặt số lượng lẫn chất lượng
b/ Yếu tố về công nghệ sản xuất:
Việc nghiên cứu chính sách đầu tư của doanh nghiệp vào công cụ sản xuất cũng là điều rất cần thiết trong việc phân tích chiến lược, nhằm mục đích nghiên cứu và phát triển những chi phí cho việc đầu tư vào máy móc thiết bị
là hết sức cần thiết Ví dụ như khi doanh nghiệp đầu tư vào máy móc thiết bị, doanh nghiệp phải khấu hao từng phần trong nhiều năm, không cho phép khấu trừ toàn bộ chi phí ngay từ đầu năm Vậy khi doanh nghiệp nhận thấy có
sự giảm sút về các khoản khấu hao, cũng có nghĩa là tăng về kết quả kinh doanh, thì cần phải biết nguyên nhân vì sao, có phải do máy móc thiết bị đã lỗi thời, hoặc doanh nghiệp không có dự án khả thi, dẫn đến nguy cơ suy giảm
về sản xuất, giảm sút về năng lực cạnh tranh Do vậy yếu tố công nghệ là một
Trang 17trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp
c/ Yếu tố về chiến lược:
Chiến lược kinh doanh được nói đến ở đây là cách phân chia những giới khách hàng khác nhau trong tổng doanh thu của nó Trên thực tế, một doanh nghiệp phải luôn phụ thuộc vào khách hàng và nhà cung cấp Nếu một khách hàng quen và luôn mua với số lượng nhiều nhưng lại chuyển sang mua của nhà cung cấp khác thì tình trạng gì sẽ xảy ra, như vậy doanh nghiệp phải chấp nhận những điều kiện ưu đãi hơn cho khách hàng này Tình hình này sẽ dẫn đến những khó khăn về tình hình tài chính lâu dài Vì vậy, điều quan trọng với một doanh nghiệp là không nên tập trung quá vào một nhóm đối tượng khách hàng Mở rộng nhiều nhóm khách hàng tốt hơn là tập trung vào một khách hàng lớn
d/ Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp
Hình thức pháp lý của doanh nghiệp khác nhau sẽ chi phối đến việc tổ chức, huy động vốn, quản lý vốn và phân phối kết quả kinh doanh Chẳng hạn đối với doanh nghiệp nhà nước, vốn điều lệ ban đầu có thể được ngân sách nhà nước đầu tư toàn bộ hoặc một phần, nhà nước quy định quản lý vốn và phân phối kết quả kinh doanh Đối với doanh nghiệp tư nhân thì vốn là do chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ ra, cũng có thể huy động thêm từ bên ngoài dưới hình thức đi vay nhưng không được phép phát hành chứng khoán trên thị trường để tăng vốn Hoạt động quản lý vốn, phân phối thu nhập thuộc quyền của chủ doanh nghiệp Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn thì vốn điều lệ của công ty là do các thành viên đóng góp Trong quá trình hoạt động vốn có thể tăng lên bằng cách kết nạp thêm thành viên mới, trích từ quỹ dự trữ hoặc
đi vay bên ngoài nhưng không được phép phát hành chứng khoán Việc phân
Trang 18phối kết quả sản xuất kinh doanh do các thành viên quyết định, mức lợi nhuận các thành viên nhận được phụ thuộc vào vốn đóng góp…
1.1.3.2 Các yếu tố bên ngoài
b/ Yếu tố lãi suất:
Lãi suất là biến số kinh tế nhạy cảm, sự thay đổi của lãi suất sẽ tác động làm thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dùng của xã hội, về phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn các nước đã chứng minh, sự thay đổi lãi suất sẽ tác động đến sản lượng và giá cả, người ta thường phải đánh giá giá trị của các chi phí và các khoản thu lợi đó qua các đơn vị tiền tệ và chúng được gọi là chi phí và thu nhập Các khoản chi phí và thu nhập đó lại xảy ra ở các mốc thời gian khác nhau, do đó phải xét đến vấn đề thời giá của tiền tệ hay giá trị theo thời gian của đồng tiền, giá trị theo thời gian của tiền được biểu hiện qua tiền lãi , tiền lãi là giá cả mà người đi vay phải trả cho người cho vay để được sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định
c/ Yếu tố tỷ giá:
Tỷ giá hối đoái cũng ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của doanh nghiệp Chênh lệch hối đoái là khoản chênh lệch dương hoặc âm giữa giá trị nợ phải
Trang 19thu và nợ phải trả bằng đồng ngoại tệ đổi sang đồng nội tệ Chênh lệch này có thể làm lợi nhưng ngược lại cũng có thể là khoản lỗ cho doanh nghiệp
d/ Yếu tố tình hình phát triển kinh tế xã hội:
Bao quanh doanh nghiệp là một môi trường kinh tế xã hội phức tạp và luôn biến động, đó chính là thách thức đối với doanh nghiệp trong việc cạnh tranh
1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Thực chất và mục tiêu của phân tích tài chính
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức
độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó
Nghiên cứu phân tích tài chính là một khâu quan trọng trong quản lý doanh nghiệp Phân tích tài chính được các nhà quản lý bắt đầu chú ý từ cuối thế kỷ XIX Từ đầu thế kỷ XX đến nay, phân tích tài chính thực sự được phát triển và được chú trọng hơn bao giờ hết bởi nhu cầu quản lý doanh nghiệp có hiệu quả ngày càng tăng, sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tài chính, sự phát triển của các tập đoàn kinh doanh và khả năng sử dụng rộng rãi công nghệ thông tin
Phân tích tài chính được áp dụng trong mọi đơn vị kinh tế như các doanh nghiệp thuộc mọi hình thức, các tổ chức xã hội, tập thể và các cơ quan quản lý, tổ chức công cộng Đặc biệt sự phát triển của các doanh nghiệp, các ngân hàng và của thị trường vốn đã tạo nhiều cơ hội để phân tích tài chính chứng tỏ thực sự là có ích và vô cùng cần thiết
Thông qua việc tính toán các chỉ tiêu tài chính, xem xét các mối quan
hệ chiến lược, phân tích tài chính giúp cho người sử dụng thông tin đánh giá chính xác sức mạnh tài chính, khả năng sinh lãi, triển vọng phát triển của
Trang 20doanh nghiệp và là cơ sở để dự báo về tình hình tài chính, đưa ra các quyết định tài chính Bởi vậy, phân tích tài chính là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như: Ban giám đốc, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các khách hàng, các cơ quan nhà nước, những người lao động trong doanh nghiệp Mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau, sử dụng các chỉ số và các thông tin thu được để đưa ra các quyết định khác nhau
Phân tích tài chính đối với các nhà quản trị
Các hoạt động phân tích tài chính trong doanh nghiệp được gọi là phân tích tài chính nội bộ, nó khác với phân tích tài chính bên ngoài do các nhà phân tích ngoài doanh nghiệp tiến hành Bởi các nhà quản trị trong doanh nghiệp có thông tin đầy đủ và hiểu rõ hơn về doanh nghiệp Đây là lợi thế để phân tích tài chính tốt nhất
Thông qua phân tích tài chính doanh nghiệp giúp các nhà quản trị: + Tạo ra những chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong giai đoạn đã qua, đánh giá được hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xác định điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp, từ đó tiến hành thực cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và rủi ro tài chính trong doanh nghiệp
+ Đưa ra được các quyết định phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp như quyết định đầu tư, tài trợ, phân phối lợi nhuận
+ Phân tích tài chính doanh nghiệp là cơ sở cho những dự đoán tài chính
+ Phân tích tài chính doanh nghiệp là công cụ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động quản lý trong doanh nghiệp
Trang 21Phân tích tài chính làm nổi bật tầm quan trọng của dự báo tài chính và
là cơ sở cho các nhà quản trị làm sáng tỏ không chỉ chính sách tài chính mà còn làm rõ các chính sách chung
Phân tích tài chính đối với những nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người giao vốn của mình cho doanh nghiệp quản
lý và sử dụng, do vậy có thể có những rủi ro Đó là các cổ đông, các cá nhân hoặc các đơn vị, doanh nghiệp khác Các đối tượng này quan tâm trực tiếp đến những tính toán về giá trị của doanh nghiệp Thu nhập của các nhà đầu tư
là tiền lời được chia và thặng dư giá trị của vốn Hai yếu tố này phần lớn chịu ảnh hưởng bởi lợi nhuận thu được của doanh nghiệp Trong thực tế, các nhà đầu tư thường đặt ra câu hỏi: tiền lời mình thu được sẽ là bao nhiêu? Các nhà đầu tư thường không hài lòng với lợi nhuận tính theo sổ sách kế toán mà họ thường dựa vào kết quả phân tích của các nhà chuyên môn để dự báo về triển vọng của doanh nghiệp, đánh giá cổ phiếu của doanh nghiệp Họ rất quan tâm tới tình hình thu nhập của chủ sở hữu, tới khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Đó là một trong những căn cứ giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định có bỏ vốn vào doanh nghiệp hay không? Có nên mua thêm hay bán cổ phiếu mà họ đang nắm giữ?
Phân tích tài chính đối với người cho vay
Người cho vay là những người cho doanh nghiệp vay vốn để sản xuất kinh doanh Khi cho vay, họ luôn quan tâm đến lãi suất tiền vay và khả năng hoàn trả tiền vay Vì vậy, phân tích tài chính là rất cần thiết nhằm mục tiêu xác định rõ hiện trạng tài chính của khách hàng: giá trị tài sản, tình hình công
nợ, khả năng thanh toán Dự báo về tình hình tài chính của doanh nghiệp trong tương lai, dự báo về các rủi ro có thể xảy ra ảnh hưởng đến khả năng trả
nợ của khách hàng
Trang 22Phân tích tài chính đối với những người hưởng lương trong doanh nghiệp
Khoản tiền lương nhận được từ doanh nghiệp luôn là nguồn thu nhập đáng kể của những người lao động trong doanh nghiệp, vì vậy mà kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ có tác động lớn đến tiền lương và thu nhập khác của họ Ngoài ra, trong một số doanh nghiệp, người lao động được tham gia mua một lượng vốn cổ phần nhất định, nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp như một nhà đầu tư Do đó họ rất quan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp
Ngoài ra, phân tích tài chính cũng rất cần thiết đối với một số đối tượng khác như các cán bộ thuế, thanh tra, cảnh sát kinh tế, luật sư dù họ công tác
ở các vị trí khác nhau, nhưng họ muốn biết về tình hình hoạt động của doanh nghiệp nhằm phục vụ cho công việc của mình
1.2.2 Căn cứ để phân tích tài chính
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải, thuyết phục thực trạng hoạt động tài chính của doanh nghiệp, phục vụ quá trình dự đoán tài chính Nó bao gồm cả những thông tin nội bộ và những thông tin bên ngoài
1.2.2.1 Những thông tin trong nội bộ doanh nghiệp
Để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của một doanh nghiệp,
có thể sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồn thông tin quan trọng bậc nhất, trong đó chủ yếu là các báo cáo tài chính Báo cáo tài chính rất hữu ích với việc quản trị doanh nghiệp và là nguồn thông tin chủ yếu đối với những người ngoài doanh nghiệp Báo cáo tài chính doanh nghiệp phản ánh hệ thống thông tin được xử lý bởi hệ thống kế toán tài chính, nhằm cung cấp những thông tin kinh tế tài chính có ích cho các đối tượng sử dụng
Trang 23Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Thuyết minh báo cáo tài chính
Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính chủ yếu phản ánh một cách tổng quát tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định
Thông thường, bảng cân đối kế toán được trình bày dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản kế toán, trong đó một bên phản ánh tài sản và một bên phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp
Mặt hạn chế của bảng cân đối kế toán cũng như của các báo cáo tài chính nói chung làm ảnh hưởng đến công tác phân tích tình hình tài chính, đó
là dữ liệu mà chúng cung cấp thuộc về quá khứ, trong khi phân tích lại hướng đến tương lai
Báo cáo kết quả kinh doanh
Nội dung của báo cáo kết quả kinh doanh là chi tiết hóa của các chỉ tiêu của đẳng thức tổng quát quá trình kinh doanh:
Doanh thu - Chi phí = Lợi nhuận
Từ đó báo cáo kết quả kinh doanh cho biết tình hình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp trong năm là lãi hay lỗ
Hạn chế của báo cáo kết quả kinh doanh là các chỉ tiêu chi phí phụ thuộc vào quan điểm của kế toán trong quá trình hạch toán, doanh thu bán hàng được ghi nhận ngay khi khách hàng chấp nhận thanh toán, trong khi việc thanh toán tiền hàng lại xảy ra vào các thời điểm khác Nhược điểm này dẫn đến sự cần thiết của Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Trang 24Bá o cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là loại báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh
sự hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm 3 phần:
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giúp nhà phân tích giải thích được nguyên nhân thay đổi về tình hình tài sản, nguồn vốn, khả năng thanh toán của doanh nghiệp và thiết lập mức ngân quỹ dự phòng tối thiểu cho doanh nghiệp nhằm mục tiêu đảm bảo chi trả
Thuyết minh báo cáo tài chính
Đây là báo cáo quan trọng được trình bày bằng lời văn nhằm giải thích thêm chi tiết của những nội dung thay đổi về tài sản, nguồn vốn mà các dữ liệu bằng số trong các báo cáo tài chính không thể thể hiện hết được như: Đặc điểm hoạt động kinh doanh (hình thức sở hữu, hình thức hoạt động, lĩnh vực kinh doanh), chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp, phương thức phân bổ chi phí, phương pháp trích khấu hao, tỉ giá hối đoái được dùng để hạch toán trong kỳ, sự thay đổi trong đầu tư, tài sản cố định, vốn chủ sở hữu, tình hình thu nhập của nhân viên và các tình hình khác
Ngoài hệ thống báo cáo tài chính ra, còn phải căn cứ vào báo cáo tình hình doanh thu, chi phí, số liệu của hội đồng quản trị đặt ra
1.2.2 2 Những thông tin bên ngoài doanh nghiệp
Nguồn tài liệu, thông tin bên ngoài phục vụ cho công tác phân tích tài chính doanh nghiệp rất đa dạng Tuy nhiên, trong những thông tin bên ngoài, cần chú ý thu thập những thông tin sau:
Trang 25- Thông tin chung liên quan đến trạng thái nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, lãi suất
- Thông tin về ngành kinh doanh như vị trí của ngành trong nền kinh tế,
cơ cấu ngành, các sản phẩm của ngành, tình trạng công nghệ, thị phần, hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành
1.2.3 Nội dung và trình tự phân tích tài chính
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về phân tích tài chính doanh nghiệp
và mỗi một công trình đề cập đến những góc độ khác nhau Công trình này có thể nhấn mạnh ở điểm này, công trình khác có thể lại đi sâu vào phân tích những vấn đề kia của hoạt động tài chính doanh nghiệp Nhưng tựu chung các công trình đã phản ánh những nội dung rất cơ bản về phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp và đều dựa vào hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp với nội dung chủ yếu sau:
- Phân tích tình hình biến đổi về quy mô, cơ cấu tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp
- Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình đảm bảo nguồn vốn lưu động cho việc dự trữ tài sản lưu động của doanh nghiệp
- Phân tích tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp
- Phân tích tình hình thanh toán với ngân sách nhà nước của doanh nghiệp
- Phân tích tình hình đầu tư và nguồn vốn tự tài trợ của doanh nghiệp
- Phân tích tình hình rủi ro về tài chính của doanh nghiệp
- Phân tích tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
Nhưng theo tôi phân tích tài chính doanh nghiệp có thể tổng hợp thành các nội dung sau:
Trang 261.2.3.1 Phân tích hiệu quả tài chính
Phân tích chỉ tiêu hiệu quả tài chính nhằm xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp hiệu quả hay không, hiệu quả là do những nhân tố nào tác động và nguyên nhân gây nên những tác động đó Phân tích hiệu quả tài chính
có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhà tín dụng và các cổ đông vì nó gắn liền với lợi ích của họ cả về hiện tại và tương lai
Để đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả tài chính, nhà phân tích thường tính
và so sánh các chỉ tiêu sau:
a/ Tính toán các chỉ tiêu hiệu quả tài chính: ROS, ROA, ROE:
+ D oanh lợi doanh thu sau thuế (ROS)
Chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Hệ số này càng lớn, chứng tỏ khả năng sinh lợi của vốn càng cao và hiệu quả kinh doanh càng lớn
+ Tỷ suất thu hồi tài sản (ROA)
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Đây là một chỉ tiêu tổng hợp được dùng để đánh giá khả năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp được phân tích và phạm vi so sánh mà người ta lựa chọn thu nhập trước thuế
và lãi hoặc thu nhập sau thuế để so sánh với tổng tài sản
+ Tỷ suất thu hồi vốn chủ sở hữu (ROE)
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là một mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp
Những chỉ số tài chính trên phản ánh bức tranh chung về tình hình tài chính của doanh nghiệp Khi tính toán phải so sánh giữa năm nay với năm
Trang 27trước, so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành và so sánh với chỉ tiêu trung bình ngành để biết được tình hình tài chính hiện nay của doanh nghiệp mình
b/ Các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động:
Các chỉ tiêu này dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp được đặc trưng bởi: Năng suất sử dụng tổng tài sản, năng suất
sử dụng tài sản lưu động, năng suất sử dụng tài sản cố định, vòng quay hàng tồn kho, vòng quay các khoản phải thu Sau khi xác định được các chỉ số tài chính đặc trưng của doanh nghiệp thì lập bảng phân tích so sánh với năm trước và rút ra những nhận xét, đánh giá
+ Vòng quay của tổng tài sản (năng suất sử dụng tổng tài sản)
Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả sử dụng toàn bộ các loại tài sản của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này cao chứng tỏ tài sản của doanh nghiệp có chất lượng cao, được tận dụng đầy đủ, không bị nhàn rỗi và không bị giam giữ trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh Vòng quay tổng tài sản cao là một cơ sở tốt để có lợi nhuận cao
+ Vòng quay tài sản ngắn hạn (Năng suất sử dụng tài sản ngắn hạn):
Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản ngắn hạn góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ tài sản ngắn hạn quay được bao nhiêu vòng Nếu số vòng này càng cao, chứng tỏ tài sản ngắn hạn có chất lượng cao, được tận dụng đầy đủ, không bị nhàn rỗi và không bị ứ đọng trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh
Năng suất sử dụng tài sản ngắn hạn cao là cơ sở tốt để có lợi nhuận cao nhờ tiết kiệm được chi phí và giảm được lượng vốn đầu tư
Trang 28Năng suất sử dụng tài sản ngắn hạn thấp là do nhiều nguyên nhân như: Tiền mặt nhàn rỗi, thu hồi các khoản phải thu kém, bán chịu nhiều, quản lý vật tư chưa tốt, …
Chỉ tiêu này có thể được đánh giá bởi hai chỉ tiêu:
- Vòng quay hàng tồn kho: Chỉ tiêu này càng cao càng tốt
- Vòng quay khoản phải thu
+ Vòng quay tài sản dài hạn (Năng suất sử dụng tài sản dài hạn): Chỉ
tiêu này cho biết một đồng tài sản dài hạn góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ tài sản dài hạn có chất lượng cao, được tận dụng đầy đủ, không bị nhàn rỗi
Chỉ tiêu này thấp chứng tỏ tài sản dài hạn không hoạt động, chất lượng tài sản cố định kém hoặc không hoạt động hết công suất
1.2.3.2 Phân tích an toàn tài chính
Phân tích chỉ tiêu an toàn nhằm mục đích xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp có an toàn hay không an toàn và do những nhân tố nào tác động?
Trang 29Ở đây cần so sánh giữa tài sản ngắn hạn với nợ ngắn hạn, tài sản dài hạn với nguồn vốn dài hạn (bao gồm nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu)
Để tình hình tài chính của doanh nghiệp an toàn thì giữa tài sản và nguồn vốn phải có quan hệ với nhau như sau:
- Nợ ngắn hạn dùng để đầu tư cho tài sản ngắn hạn
- Tài sản dài hạn được tài trợ bằng nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu Khi phân tích ta cần tính toán và so sánh giữa nguồn vốn với tài sản:
• Nợ dài hạn + nguồn vốn chủ sở hữu < Tài sản dài hạn
Tài sản ngắn hạn < Nợ ngắn hạn
Chứng tỏ, nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu không đủ đầu tư cho tài sản dài hạn, doanh nghiệp phải đầu tư vào tài sản dài hạn một phần nợ ngắn hạn Tài sản ngắn hạn không đủ đáp ứng nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán của doanh nghiệp mất thăng bằng, doanh nghiệp phải dùng một phần tài sản dài hạn để thanh toán nợ ngắn hạn đến hạn trả
• Nợ dài hạn + nguồn vốn chủ sở hữu > Tài sản dài hạn
Tài sản ngắn hạn > Nợ ngắn hạn
Chứng tỏ nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu tài trợ đủ cho tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn đủ để doanh nghiệp trả các khoản nợ ngắn hạn, tình hình tài chính của doanh nghiệp an toàn
b/ Phân tích chỉ tiêu khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán là khả năng doanh nghiệp dùng tiền và các khoản tương đương tiền (tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền) để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Thông qua nghiên cứu khả năng thanh toán, người ta
có thể đánh giá được thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp và thông qua đó người ta biết được xu hướng phát triển của doanh nghiệp
Mặt khác, để phân tích khả năng thanh toán, người ta còn sử dụng các
hệ số khả năng thanh toán hiện hành, hệ số thanh toán nhanh và hệ số thanh
Trang 30toán tức thời để xem xét mức độ thanh toán các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp
+ Khả năng thanh toán hiện hành:
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Khả năng thanh toán hiện hành
=
Tài sản ngắn hạn Tổng nợ ngắn hạn
Nợ ngắn hạn là những khoản nợ phải trả trong một thời gian ngắn (thường dưới một năm)
Chỉ tiêu này cho biết, với tổng giá trị tài sản ngắn hạn, doanh nghiệp có đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn hay không, nó cho biết trước được khả năng trả nợ của doanh nghiệp
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành của doanh nghiệp được chấp nhận hay không tùy thuộc vào sự so sánh với giá trị trung bình ngành mà doanh nghiệp đang kinh doanh Bên cạnh đó nó cũng được so sánh với các giá trị của tỷ số này trong những năm trước đó của doanh nghiệp
Khi tỷ số này giảm, chứng tỏ khả năng trả nợ của doanh nghiệp đã giảm và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn tài chính trong thời gian tới
Khi tỷ số này tăng, chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn cao
Nếu tỷ số này càng lớn (lớn hơn 1) chứng tỏ doanh nghiệp có đầy đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và có khi nó báo hiệu dấu hiệu tài chính của doanh nghiệp là lành mạnh
Tuy nhiên tỷ số này quá cao có nghĩa là việc quản trị tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp không hiệu quả bởi có quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi gây ra
Trang 31lãng phí trong việc sử dụng vốn vì nó có thể làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
+ Khả năng thanh toán nhanh:
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Khả năng thanh toán nhanh
=
Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho
Tổng nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này cho thấy khả năng thanh toán nhanh các khoản nợ ngắn hạn bằng các tài sản có tính thanh khoản cao nhất (tiền và các khoản tương đương tiền, đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu), hàng tồn kho không dùng để thanh toán nhanh vì nó khó có thể chuyển đổi ra tiền mặt một cách dễ dàng
Hệ số này càng lớn (lớn hơn 1) chứng tỏ doanh nghiệp có đầy đủ khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và đã quá hạn tại một thời điểm nhất định
Nếu hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn hệ số thanh toán hiện thời rất nhiều chứng tỏ tài sản ngắn hạn phụ thuộc rất lớn vào hàng tồn kho Cần phải
so sánh hệ số thanh toán nhanh của năm nay so với năm trước, so sánh với hệ
số của doanh nghiệp cùng ngành để có đánh giá tương quan và tìm biện pháp giải quyết
+ Khả năng thanh toán tức thời:
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Khả năng thanh toán tức
thời
=
Tiền
Nợ đến hạn phải trả Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp sử dụng tiền mặt để thanh toán các khoản nợ đến hạn Hệ số này càng cao, chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng
Trang 32thanh toán các khoản nợ lớn Tuy nhiên, nếu hệ số này quá cao lại không tốt
vì điều đó có nghĩa là doanh nghiệp dự trữ quá nhiều tiền mặt và không đưa tiền vào trong lưu thông, gây ra lãng phí vốn
1.2.3.3 Phân tích đòn bẩy tài chính
a/ Đòn bẩy tác nghiệp DOL
Hệ số đòn bẩy tác nghiệp (DOL): Là mức thay đổi tính bằng tỷ lệ phần trăm của EBIT ứng với mức thay đổi tính bằng phần trăm của doanh thu
Đòn bẩy tác nghiệp cao có thể khiến cho một thay đổi nhỏ về doanh thu
có thể gây ra một thay đổi lớn về lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Doanh nghiệp có đòn bẩy tác nghiệp cao khi tỷ trọng chi phí cố định trong tổng chi phí của doanh nghiệp cao
∆EBIT/EBIT
∆Q/Q Tuy nhiên để xác định lợi nhuận hoạt động sẽ thay đổi như thế nào so với mức sản xuất và ở mức nào thì doanh nghiệp hòa vốn, thì cần phải phân
tích điểm hòa vốn Điểm hòa vốn là mức doanh thu tạo ra bằng tổng chi phí hoạt động hoặc là mức doanh thu tạo ra thu nhập bằng không
Công thức tính điểm hòa vốn như sau:
EBIT = Doanh thu - Tổng chi phí
b/ Đòn bẩy tài chính DFL (Đòn bẩy nợ)
Đòn bẩy tài chính là một khái niệm phản ánh mức độ doanh nghiệp sử dụng các khoản vay nợ có lãi suất tương đối ổn định trong cơ cấu vốn của mình Doanh nghiệp được coi là có đòn bẩy tài chính cao khi tỷ trọng nợ trên tổng tài sản của doanh nghiệp cao Đòn bẩy nợ càng cao thì rủi ro tài chính càng lớn, tuy nhiên lợi nhuận của cổ đông đại chúng càng cao nếu tỷ suất sinh lời chung của doanh nghiệp cao hơn lãi suất vay nợ
Trang 33Hệ số của đòn bẩy tài chính (DFL): Là mức thay đổi tính bằng tỷ lệ phần trăm của lãi ròng của cổ đông đại chúng (EPS) ứng với mức thay đổi tính bằng phần trăm của lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT)
∆EPS/EPS
∆EBIT/EBIT
c/ Đòn bẩy tổng DTL
Đòn bẩy tổng là một khái niệm phản ánh tác động của một sự thay đổi
về doanh thu đến lợi tức trên mỗi cổ phiếu (EPS)
Độ nghiêng của đòn bẩy tổng (DTL) là mức thay đổi tính bằng tỷ lệ phần trăm của lãi ròng của cổ đông đại chúng (EPS) ứng với mức thay đổi tính bằng phần trăm của doanh thu
∆EPS/EPS
∆Q/Q Đòn bẩy tổng là kết quả tổng hợp của đòn bẩy tác nghiệp và đòn bẩy tài chính, do vậy nếu doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tác nghiệp và đòn bẩy tài chính cao thì chỉ tác động nhỏ về doanh thu sẽ gây tác động lớn về lợi nhuận trên mỗi cổ phần (EPS)
1.3 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối liên hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
Trang 34Lựa chọn phương pháp phân tích tài chính là một nội dung cơ bản của công tác phân tích tài chính trong các doanh nghiệp, là chìa khoá để cung cấp thông tin cho nhà quản trị theo các lợi ích khác nhau Xuất phát từ đặc điểm hoạt động kinh doanh của từng bộ phận, từng doanh nghiệp khác nhau trong quá trình phân tích có thể vận dụng những phương pháp cho phù hợp với mục đích của việc nghiên cứu
Trong đó, các phương pháp thường được sử dụng nhiều nhất trong phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm:
1.3 1 Phương pháp so sánh
Là phương pháp được sử dụng để xác định xu hướng phát triển và mức
độ biến động của các chỉ tiêu phân tích
Phương pháp so sánh được sử dụng nhiều trong quá trình phân tích hoạt động kinh doanh, đặc biệt là đối với phân tích tài chính doanh nghiệp
- Tiêu chuẩn so sánh: Là chỉ tiêu được chọn làm căn cứ so sánh Tùy theo yêu cầu của phân tích mà chọn làm căn cứ thích hợp như: Khi đánh giá tốc độ tăng trưởng thì chỉ tiêu làm căn cứ so sánh là số liệu kỳ trước, khi cần đánh giá các mức độ phấn đấu hoàn thành kế hoạch thì chỉ tiêu làm căn cứ là
số kế hoạch…
- Điều kiện so sánh: Khi so sánh các chỉ tiêu với nhau phải có cùng điều kiện, đảm bảo thống nhất về nội dung kinh tế, tiêu chuẩn biểu hiện là phương pháp tính toán, thời gian tương ứng và đại lượng biểu hiện, thống nhất về đơn vị tính các chỉ tiêu (cả về hiện vật, giá trị và thời gian)
Nội dung bao gồm:
- So sánh giữa các số thực tế kỳ phân tích với số thực tế của kỳ kinh doanh trước nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp
- Đánh giá tốc độ tăng trưởng hay tụt hậu của một hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 35- So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số kế hoạch nhằm xác định mức phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch
- So sánh theo chiều dọc: Xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể cả về số tuyệt đối và số tương đối qua các niên độ kế toán liên tiếp Trên
cơ sở đó đánh giá được tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hay xấu, hiệu quả hay không hiệu quả
1.3.2 Phương pháp tỷ số
Phương pháp truyền thống được áp dụng trong phân tích tài chính là phương pháp tỷ số Phương pháp tỷ số là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng để phân tích, đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này
so với chỉ tiêu khác Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện do nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến, cung cấp đầy đủ hơn là cơ sở để hình thành những tỷ lệ tham chiếu đáng tin cậy; việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán các tỷ số, hệ thống được hàng loạt các tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực của các tỷ số của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính Sự biến đổi các tỷ số phản ánh sự biến đổi của các đại lượng tài chính Các tỷ số này được phân thành các nhóm
tỷ số đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp Bao gồm nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán, nhóm chỉ tiêu về cơ cấu vốn, nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động và nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời Mỗi nhóm tỷ số lại bao gồm nhiều tỷ số phản ánh riêng lẻ từng bộ phận hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo
giác độ phân tích, người phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích của mình
Trang 36Cũng như phương pháp so sánh, phương pháp tỷ số đơn giản và được
sử dụng ở rất nhiều doanh nghiệp, nó yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các định mức, để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ
sở so sánh các tỷ số của doanh nghiệp với tỷ lệ tham chiếu Vì vậy để nâng cao hiệu quả phân tích tài chính, phương pháp tỷ số thường được sử dụng kết hợp với phương pháp so sánh
1.3.3 Phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp thay thế liên hoàn dùng để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu phân tích bằng cách thay thế lần lượt từng nhân tố trong khi cố định các nhân tố khác
Trình tự thực hiện như sau:
Bước 1: Lập đẳng thức kinh tế mà một bên là chỉ tiêu phân tích (giả sử
X), một bên là các nhân tố ảnh hưởng có quan hệ một tích hoặc thương (giả
sử các nhân tố là a,b,c ) Các nhân tố này được sắp xếp theo thứ tự nhân tố số lượng trước, nhân tố chất lượng sau: X = a × b × c
Xác định đối tượng phân tích là biến động chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ phân tích và kỳ gốc: ∆X = X1 - X0
Bước2: Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố theo thứ tự đã
sắp xếp:
+ Xác định ảnh hưởng của nhân tố nào thì lấy nhân tố đó ở kỳ gốc làm
cơ sở, sau đó thay bằng kỳ phân tích Sau mỗi lần thay thế chênh lệch giữa kết quả mới tìm được với kết quả trước đó là mức độ ảnh hưởng của nhân tố vừa thay thế
+ Cần chú ý rằng khi nhân tố số lượng thì phải cố định nhân tố chất lượng
ở kỳ gốc, ngược lại khi thay thế nhân tố chất lượng thì phải cố định nhân tố số lượng ở kỳ phân tích Cụ thể:
Trang 37Thay thế lần 1: biến động của nhân tố a làm cho chỉ tiêu X thay đổi:
Bước 3: tổng hợp mức độ ảnh hưởng của các nhân tố phải bằng đối
tượng phân tích biểu hiện bằng phương trình:
∆X = ∆Xa+ ∆Xb+ ∆Xc Ngoài những phương pháp trên, phân tích tài chính doanh nghiệp còn
sử dụng một số phương pháp khác như dùng biểu đồ, sơ đồ phân tích
1.3.4 Phương pháp phân tích Dupont
Trang 39Phân tích Dupont mục đích là xác định ảnh hưởng của 3 nhân tố này đến ROE của doanh nghiệp để tìm hiểu nguyên nhân làm tăng, giảm chỉ số này
Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó đối với tỷ số tổng hợp
Việc triển khai phương trình Dupont giúp cho nhà phân tích có một cái nhìn toàn diện và cụ thể về các nhân tố tác động đến chỉ tiêu hoàn vốn
Trên đây là một số phương pháp phân tích tài chính tương đối phổ biến Mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm nhất định Do vậy, khi phân tích chúng ta có thể kết hợp các phương pháp phân tích để có hiệu quả tốt nhất
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Phân tích tình hình tài chính là một vấn đề được rất nhiều người quan tâm vì chỉ có phân tích tình hình tài chính thì các nhà quản trị mới có thể biết được sức mạnh về tài chính của doanh nghiệp
Trên đây là những cơ sở lý luận trong phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp Trong phần cơ sở lý luận đề cập đến những vấn đề cơ bản của việc phân tích tài chính của doanh nghiệp, áp dụng cái chung để đi đến cái riêng, đó là mục tiêu của nhà phân tích Vì vậy, qua quá trình nghiên cứu đồ
án này sẽ đi đến phân tích cái riêng, cái cụ thể của tình hình tài chính tại công
ty cổ phần sản xuất và thương mại Cẩm Trướng Thanh Hóa để biết được điểm mạnh cũng như điểm yếu, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty trong thời gian tới
Trang 40CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẨN SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG
MẠI CẨM TRƯỚNG THANH HÓA