Đó là sự cố gắng của toàn thể cán bộ công nhân viên của nhà máy mặt khác cũng là do lãnh đạo nhà máy, công ty đã hiểu được công tác lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh có vai trò quan trọn
Trang 1TỔ HỢP CƠ KHÍ CHẾ TẠO VINASHIN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hà Nội - 2010
Trang 2MỞ ĐẦU
1, Lý do chọn đề tài
Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường và thực hiện nền kinh tế mở có
sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ Cùng với sự phát triển của mọi thành phần kinh tế, các doanh nghiệp quốc doanh không còn giữ được thế độc quyền như trước nữa, song song với nó là sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác Tuy nhiên, tất cả các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển vững mạnh trong nền kinh tế quốc dân phải xác định được chỗ đứng của mình, nắm bắt được sự tác động của môi trường kinh doanh và mọi thời cơ để tổ chức sản xuất, kinh doanh có hiệu quả
Để thích nghi với cơ chế thị trường, mỗi doanh nghiệp phải tìm ra giải pháp để đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của thị trường Đó là vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp Đó cũng chính là lí do tại sao mỗi doanh nghiệp phải lựa chọn cho mình một phương án sản xuất, kinh doanh tối ưu
Có thể nói, kế hoạch hoá là một công cụ quan trọng, hữu hiệu để doanh nghiệp xây dựng chiến lược phát triển sản xuất, kinh doanh của mình và trong
đó việc lập kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp đóng góp một phần quan trọng vào thành công của doanh nghiệp
Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện đổi mới công tác kế hoạch hóa, đặc biệt là lập kế hoạch sản xuất ở các doanh nghiệp vẫn còn nhiều vấn đề cần bàn bạc và tiếp tục hoàn thiện trên nhiều phương diện từ nhận thức của người làm kế hoạch đến phương pháp, nội dung làm kế hoạch
Nhà máy Cơ khí chính xác nằm trong Tổ hợp Cơ khí chế tạo Vinashin và
là nhà máy của Công ty cổ phần Cơ khí chính xác Vinashin hoạt động trong
Trang 3lĩnh vực cơ khí chế tạo Ra đời được hơn 5 năm, Nhà máy đã đạt được những thành công nhất định trong sản xuất, kinh doanh Đó là sự cố gắng của toàn thể cán bộ công nhân viên của nhà máy mặt khác cũng là do lãnh đạo nhà máy, công ty đã hiểu được công tác lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh có vai trò quan trọng như thế nào đối với các hoạt động của công ty Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động vẫn tồn tại nhiều hạn chế cần hoàn thiện để hoạt động hoạt động của công ty được hiệu quả hơn Vì vậy tác giả đã nghiên cứu
và lựa chọn đề tài:
“Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác kế hoạch hóa sản xuất tại Nhà máy Cơ khí chính xác nằm trong Tổ hợp Cơ khí chế tạo Vinashin”
2, Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu: Hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng từ
đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác kế hoạch hóa sản xuất tại Nhà máy Cơ khí chính xác Vinashin Trên cơ sở lý thuyết, số liệu tổng kết qua các năm đánh giá thực trạng công tác lập kế hoạch Xác định điểm mạnh, điểm yếu, tìm ra nguyên nhân để từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất tại Nhà máy Cơ khí chính xác Vinashin
Đối tượng nghiên cứu: Nhà máy Cơ khí chính xác Vinashin
Phạm vi nghiên cứu: Phân tích, đánh giá thực trạng công tác kế hoạch
hóa, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác kế hoạch hóa tại nhà máy Cơ khí chính xác Vinashin nằm trong Tổ hợp Cơ khí chế tạo Vinashin
3, Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác kế hoạch hóa trong các doanh nghiệp Áp dụng cơ sở lý luận vào phân tích và đánh giá thực trạng công tác
Trang 4lập kế hoạch sản xuất của Nhà máy Cơ khí chính xác Vinashin để thấy được những hạn chế, tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh
doanh và thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp
4, Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học kinh tế, tổng hợp cơ sở lý luận để tìm hiểu nội dung nghiên cứu Trên cơ sở đó, phân tích và khái quát các dữ liệu thu thập được tại doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu của đề tài
5, Nội dung của luận văn
Luận văn bao gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về công tác kế hoạch hóa sản xuất
Chương II: Phân tích thực trạng của công tác kế hoạch hóa sản xuất tại Nhà máy Cơ khí chính xác nằm trong Tổ hợp Cơ khí chế tạo Vinashin
Chương III: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác kế hoạch hóa
sản xuất tại Nhà máy Cơ khí chính xác nằm trong Tổ hợp Cơ khí chế tạo Vinashin
Trang 5Công tác kế hoạch hóa trong doanh nghiệp bao gồm hai mặt: lập ra kế hoạch hoạt động và tổ chức thực hiện kế hoạch đó Công tác kế hoạch hóa trong doanh nghiệp chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong hoạt động kinh doanh và trong mọi hoạt động khác của con người Bởi vì nếu không có kế hoạch trước thì con người ta không thể thực hiện bất cứ việc gì có hiệu quả cao được [7, 27]
Lập kế hoạch sản xuất là một phạm trù trong lập kế hoạch nói chung Cho đến nay, có nhiều khái niệm về lập kế hoạch Mỗi khái niệm có cách tiếp cận từ góc độ khác nhau
Với cách tiếp cận từ góc độ chức năng: Lập kế hoạch sản xuất là vấn
đề cơ bản nhất trong các chức năng quản lý, bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn chương trình hành động trong tương lai Chẳng những lập kế hoạch là một chức năng quản lý cơ bản của các nhà quản lý ở mỗi cấp trong một tổ chức, mà các chức năng còn lại của nhà quản lý cũng phải dựa trên nó để tiến hành cho tốt [2, 4]
Tùy theo thuyết quản lý sản xuất của các nhà nghiên cứu khác nhau mà người ta chia ra chức năng quản lý theo các cách phân loại khác nhau:
* Hệ thống 4 chức năng: [5, 35]
Trang 6- Lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh
- Đảm bảo tổ chức bộ máy và tổ chức cán bộ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
- Điều phối hoạt động sản xuất, kinh doanh
- Kiểm tra chất lượng của sản phẩm, tiến độ thực hiện công việc, mọi khoản chi, nguồn thu,
* Hệ thống 5 chức năng của Henry Fayol: [6, 66]
- Dự kiến: Doanh nghiệp chỉ thu được kết quả khi nó được hướng dẫn bởi một chương trình hoạt động, một kế hoạch
- Tổ chức: Tức là trang bị tất cả những gì cần cho hoạt động của doanh nghiệp: vốn, máy móc, nhân viên, vật liệu
- Phối hợp: Là làm cho đồng điệu giữa tất cả những hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo dề dàng và có hiệu quả
- Chỉ huy: Công việc trong tổ chức phải có người thực hiện
- Kiểm tra: Bao gồm việc xác định, thu thập thông tin về thành quả thực
tế, so sánh với thành quả kỳ vọng từ đó tiến hành các biện pháp sửa chữa nếu
có sai lệch nhằm bảo đảm hoàn thành mục tiêu
Qua đó ta thấy, dù theo hệ thống nào đi nữa thì lập kế hoạch hoạt động cũng là chức năng đầu tiên của quản lý, là một chức năng quản lý quan trọng hàng đầu Nếu có sai sót từ khâu lập kế hoạch thì sẽ kéo theo một loạt các sai lệch trong những khâu tiếp theo
Với cách tiếp cận từ góc độ nội dung và vai trò:
Theo Ronner: Hoạt động của công tác lập kế hoạch là một trong những hoạt động nhằm tìm ra con đường để huy động và sử dụng các nguồn lực của
Trang 7doanh nghiệp một cách có hiệu quả nhất để phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh [3, 54]
Theo Henrypayh: Lập kế hoạch là một trong những hoạt động cơ bản của quá trình quản lý cấp công ty, xét về mặt bản chất thi hoạt động này nhằm mục đích xem xét các mục tiêu, các phương án kinh doanh, bước đi trình tự
và cách tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh [3, 54]
Vậy, lập kế hoạch có nghĩa là cần phải xác định trước xem làm cái gì? Khi nào làm? Làm ở đâu? Tại sao làm Lập kế hoạch là một nhịp cầu từ trạng thái hiện tại của chúng ta tới thời điểm ta mong muốn có trong tương lai Nó không chỉ bao gồm một cách rõ rệt các sự việc mới mà còn có những sáng kiến hợp lý và khả năng phải làm gì, nó sẽ làm cho các công việc có thể xảy
ra sẽ không xảy ra khác đi Mặc dù, ít khi có thể dự đoán chính xác về tương lai và các sự kiện chưa biết trước có thể gây trở ngại cho kế hoạch đã định trước, nhưng nếu không có kế hoạch thì hành động của con người sẽ đi đến chỗ vô mục đích, mất phương hướng và đi đến chỗ phó thác cho may rủi Như vậy, ta có thể hiểu rằng: Việc lập kế hoạch sản xuất là phải xác định trước một cách có hệ thống tất cả những công tác cần và phải cố gắng làm được, nhằm đạt được những mục tiêu cuối cùng của công tác triển khai sản
xuất Điều nay ảnh hưởng rất lớn đến các mục tiêu: Năng suất, chất lượng của
sản phẩm; thời gian giao hàng; lợi nhuận; uy tín của doanh nghiệp Vì thế, có thể coi đây là một khẩu hiệu và là một chương trình hành động trong mọi công ty
Có thể hiểu một cách rõ ràng hơn: Việc lập kế hoạch sản xuất là xây dựng lên các công việc cụ thể và vạch ra tiến trình thực hiện chúng phù hợp với các điều kiện đã có sẵn và các điều kiện có thể đạt được nhằm đạt được mục tiêu ban đầu của nhà sản xuất [2, 5]
Trang 81.2, Hệ thống các loại kế hoạch hóa trong doanh nghiệp
Để lập kế hoạch có hiệu quả, cần phân biệt rõ các loại kế hoạch Tùy theo tính chất cụ thể của các hoạt động cần có trong tương lai mà người ta phân chia các loại kế hoạch Xét về mặt thời gian, có thể chia ra kế hoạch hóa chiến lược (dài hạn) và kế hoạch hàng năm (ngắn hạn)
1.2.1, Kế hoạch hóa chiến lược [7, 29]
Kế hoạch hóa chiến lược là lập kế hoạch cho thời gian dài, xa hơn một năm Tùy thuộc vào khả năng nhìn xa trông rộng (tức trình độ của nhà kế hoạch) và tiềm năng của doanh nghiệp mà lập kế hoạch cho 2 năm, 3 năm, 5 hay 10 năm sau
Hoạch định chiến lược vạch ra mục tiêu trong dài hạn, đề ra chiến lược tổng quát về các chiến lược bộ phận, đề ra các giải pháp cho doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định trong tương lai
1.2.2, Kế hoạch hàng năm [7, 30]
Kế hoạch hàng năm (ngắn hạn) dựa vào chiến lược và giải pháp đã vạch
ra để lập ra các chỉ tiêu cụ thể (không còn là mục tiêu nữa) phải đạt được trong năm kế hoạch Nó cũng đưa ra kế hoạch hành động, tức các biện pháp phải tổ chức thực hiện để đạt được những chỉ tiêu đó và cũng là để chiến lược kinh doanh được thực hiện
Kế hoạch hàng năm của doanh nghiệp còn có tên gọi là kế hoạch kinh tế-
kỹ thuật hay kế hoạch sản xuất- kinh doanh Đây là chương trình cụ thể triển khai toàn bộ các mặt hoạt động sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp với các biện pháp bảo đảm thực hiện, được lập ra cho thời gian một năm Nó bao gồm 7 bộ phận:
- Kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Trang 9- Kế hoạch khoa học- công nghệ
- Kế hoạch xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn
- Kế hoạch lao động tiền lương
- Kế hoạch cung ứng vật tư
- Kế hoạch giá thành sản phẩm
- Kế hoạch tài chính
Các bộ phận này có mối quan hệ qua lại hữu cơ với nhau trong đó kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm là bộ phận chủ đạo Từ kế hoạch này người ta xác định các chỉ tiêu của các bộ phận kế hoạch khác Bên cạnh đó, nhờ áp dụng kế hoạch khoa học- công nghệ mà thay đổi các định mức kinh tế-
kỹ thuật, là căn cứ xác định các chỉ tiêu kế hoạch, làm cho chất lượng các chỉ tiêu kế hoạch tốt hơn kỳ trước Thông qua kế hoạch khoa học- công nghệ mà những ý đồ chiến lược có thể được thực hiện có hiệu quả
1.3, Vai trò và tầm quan trọng của kế hoạch hóa trong quản lý sản xuất 1.3.1, Vai trò của kế hoạch hóa trong quản lý sản xuất
Trong quá trình sản xuất, việc lập kế hoạch giữ một vai trò hết sức qua trọng, nó góp phần giúp doanh nghiệp:
- Ứng phó với tình huống bất định và sự thay đổi trong nội bộ doanh nghiệp cũng như ngoài môi truờng
Lập kế hoạch là sự lựa chọn phương án hành động trong tương lai và quá trình thực hiện các kế hoạch này cũng xảy ra trong tương lai Trên thực tế thì kinh tế càng phát triển thì càng chứa nhiều yếu tố bất định và ngẫu nhiên Nếu không có các kế hoạch, các dự báo cho tương lai cũng như các biện pháp giải quyết khi các yếu tố bất định xảy ra thì người quản lý khó có thể ứng phó với các tình huống đó và kết quả là doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn
Trang 10Tuy nhiên, cần phải nói rằng để có thể đối phó với các tình huống bất định và ngẫu nhiên nói trên, trong quá trình xác định các kế hoạch cho doanh nghiệp, người quản lý cần phải phân tích và dự báo các tình huống có thể xảy
ra Thiết lập hệ thống kiểm tra, kiểm soát quá trình thực hiện các kế hoạch và đưa ra các biện pháp điều chỉnh kịp thời khi các mục đích của doanh nghiệp
đã lệch khỏi hành lang an toàn nào đó Điều này thể hiện tính linh hoạt của việc lập kế hoạch trong nền kinh tế thị trường
- Việc lập kế hoạch sẽ đưa ra hệ thống mục tiêu cụ thể cho doanh nghiệp Giúp tập trung khả năng chú ý vào các mục tiêu đã định
Vì toàn bộ công việc lập kế hoạch sẽ tập trung sự chú ý của của doanh nghiệp vào các mục tiêu này Việc lập kế hoạch được xem xét toàn diện sẽ thống nhất được những hoạt động tương tác giữa các bộ phận trong doanh nghiệp Người quản lý phải thông qua việc lập kế hoạch để xem xét tương lai, thậm chí phải định kỳ xem xét, mở rộng và điều chỉnh kế hoạch để đạt được mục tiêu đề ra
- Lập kế hoạch tạo điều kiện cho việc tổ chức tạo các hoạt động tác nghiệp về kinh tế
Việc lập kế hoạch sẽ thay các hoạt động đơn lẻ, không được phối hợp của các cá nhân, của các bộ phận bằng các nỗ lực có định hướng chung, thay thế các hoạt động thất thường bằng các hoạt động đều đặn và thay thế sự phán xét vội vàng bằng các quyết định được cân nhắc kỹ lưỡng Nó giúp giảm chi phí về sản xuất, giảm thời gian, giảm công sức…
- Việc lập kế hoạch sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm soát các hoạt động, quá trình thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp
Việc lập kế hoạch sẽ làm cho việc kiểm tra, kiểm soát trong công tác quản lý được dễ dàng bởi vì người quản lý sẽ không thể kiểm soát được công
Trang 11việc của các cấp dưới nếu như không có các mục tiêu đã định để đo lường
1.3.2, Tầm quan trọng của kế hoạch hóa trong quản lý sản xuất
Sản xuất là hoạt động tạo ra nguồn gốc giá trị, tạo ra của cải vật chất cho
xã hội, tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp và cho người lao động
Với vai trò trực tiếp tạo ra giá trị sử dụng của sản phẩm và qua đó cho phép thoả mãn các nhu cầu khác nhau do vậy sản xuất được coi là hoạt động quan trọng trong doanh nghiệp cùng với hoạt động tài chính Mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý là làm sao tạo ra lượng của cải vật chất nhiều nhất Bởi vậy việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho hoạt động sản xuất trở thành một hoạt động chủ đạo của doanh nghiệp mà trong đó doanh nghiệp sử dụng tối đa nguồn lực, thu hút đến 70 ÷ 80% lao động để sản xuất ra sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ Đây cũng là xu hướng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hiện nay
Xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì kế hoạch hóa là một trong những công cụ điều tiết chủ yếu của Nhà nước Còn trong phạm vi một doanh nghiệp hay một tổ chức thì lập kế hoạch là khâu đầu tiên, là chức năng đầu quan trọng của quá trình quản lý và là cơ sở để thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao, đạt được mục tiêu đề ra
Các nhà quản lý cần phải lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh bởi vì lập kế hoạch cho biết phương hướng hoạt động trong tương lai, làm giảm sự tác động của những thay đổi từ môi trường, tránh được sự lãng phí và dư thừa nguồn lực, đồng thời thiết lập nên những tiêu chuẩn thuận tiện cho công tác kiểm tra
Kế hoạch sản xuất, kinh doanh là những chỉ tiêu những con số dự kiến và ước tính trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó cho phù hợp với yêu cầu của thị trường, với pháp luật và khả năng thực tế của từng cơ sở sản
Trang 12xuất kinh doanh xuất phát từ quan điểm trên ta có thể rút ra các vấn đề như các con số dự kiến, ước tính trong kế hoạch phải có cơ sở khoa học và sát thực tế của các cơ sở các con số dự kiến ước tính trong kế hoạch hoàn toàn có khả năng, mà khả năng trở thành hiện thực phải được tiến hành thông qua các công tác tổ chức chỉ đạo thực hiện
Về mặt nội dụng kế hoạch sản xuất, kinh doanh được phản ánh thông qua
hệ thống các biểu mẫu bao gồm các chỉ tiêu và các chỉ tiêu đều được thực hiện bằng các con số cụ thể trong cơ chế quản lý tập trung các chỉ tiêu kế hoạch thường được cấp trên giao xuống theo nhiệm vụ chung của toàn ngành dẫn tới các chỉ tiêu thường thiếu thực tế và công tác kế hoạch dần bị hạ thấp trong công tác quản lý doanh nghiệp khi chuyển sang cơ chế mới – “cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” mới tạo ra môi trường có kế hoạch hoạt động Trong cơ chế này kế hoạch hóa phát ra theo nhu cầu của thị trường
từ khả năng thực tế của doanh nghiệp và trong điều kiện pháp luật cho phép Xuất phát từ cơ sở này, kế hoạch hóa mới thực sự trở thành một công cụ quản
lý quan trọng để xác định mục tiêu phương hướng của các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh từ đó xác định hướng phát triển và đầu tư mở rộng hoặc thu hẹp quy mô của doanh nghiệp cho phù hợp với môi trường kinh doanh
Ngày nay kế hoạch sản xuất, kinh doanh là công cụ quản lý không thể thiếu được trong mỗi doanh nghiệp Kế hoạch kinh doanh có thể chứng minh tính khả thi của ý tưởng kinh doanh của doanh nghiệp trong việc khởi sự doanh nghiệp mới hoặc mở rộng doanh nghiệp hiện có Nếu kế hoạch không được chuẩn bị kỹ thì không thể trở thành hiện thực Mặt khác kế hoạch hóa còn giúp doanh nghiệp tiếp tục công việc kinh doanh của mình
Nhờ có kế hoạch sản xuất, kinh doanh mà doanh nghiệp mới tạo được thế chủ động trên mọi lĩnh vực như: Chủ động trong việc khai thác triệt để
Trang 13mọi nguồn khả năng tiềm tàng về vốn, vật tư, thiết bị, lao động hiện có Chủ động trong việc mua sắm trang thiết bị phục vụ chủ trương đổi mới kỹ thuật, công nghệ Chủ động trong việc tạo và tìm kiếm nguồn vốn, chủ động trong việc liên doanh, liên kết và hợp tác với các đơn vị bạn Chủ động trong việc mua nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm
Thực tế quá trình hoạt động của các doanh nghiệp ở nước ta đã chứng minh rằng trong cơ chế thị trường sản xuất, kinh doanh mà không có kế hoạch
và công tác kế hoạch hóa không được chú trọng thì sẽ không đạt hiệu quả cao
và liên tục
1.4, Các nhân tố, yếu tố đầu vào cho quá trình lập kế hoạch sản xuất
Trong quá trình lập kế hoạch sản xuất, ta cần hiểu và xác định được các nhân tố, yếu tố đầu vào Có thể thấy các nhân tố, yếu tố đầu vào như sau: (sơ
Trang 141.4.1, Tài chính
Là một vấn đề hết sức quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến việc lập kế hoạch sản xuất Khả năng tài chính cho phép nhà sản xuất có cái nhìn toàn diện, đầy đủ hơn cũng như có thể trở tay kịp khi các biến động khác xảy ra
Vì vậy, khi khả năng tài chính suy yếu sẽ đồng thời kéo theo suy yếu nhiều yếu tố khác
1.4.2, Dự báo nhu cầu của khách hàng
Tùy theo thời điểm và công tác tiếp thị giữa các doanh nghiệp, tùy theo mức độ cạnh tranh mà đôi khi nhu cầu của khách hàng có những sự biến động rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiêu thụ sản phẩm đối với doanh nghiệp
Do đó, trong khi lập và thực hiện kế hoạch, bao giờ yếu tố tiếp thị, cạnh tranh dựa trên sự tìm hiểu nhu cầu của khách hàng không được tách rời nhau
1.4.3, Công suất thiết bị, hàng tồn kho
Trong quá trình lập kế hoạch, thường người lập kế hoạch có xu hướng lập ra những kế hoạch sao cho tận dụng hết công suất của thiết bị, dụng cụ, nhà xưởng, nhân lực, hàng tồn kho mà quên tính đến những trục trặc, khó khăn sẽ xảy đến trong quá trình lập và thực hiện kế hoạch Vì vậy, khi lập kế hoạch sản xuất, luôn cần nhớ vận dụng tính sáng tạo, linh hoạt và nhịp nhàng
để tận dụng tối đa công suất theo thiết kế của nhà máy và lượng hàng hóa, vật
tư tồn kho, dự trữ
1.4.4, Công nghệ
Công nghệ đóng vai trò trợ giúp đắc lực trong quá trình lập và thực hiện
kế hoạch Công nghệ càng hoàn chỉnh, ổn định bao nhiêu thì càng dễ dàng đạt được kế hoạch đề ra bấy nhiêu Do đó, trong sản xuất công nghiệp, việc cải tiến công nghệ, chuyên môn hóa sản xuất luôn gắn liền với việc nâng cao tính
Trang 15đồng nhất về chất lượng của sản phẩm, đảm bảo tốt được kế hoạch đã đề ra
1.4.5, Cung ứng vật tư đầu vào
Sự biến động của các yếu tố đầu vào bao gồm: nguyên vật liệu, trang thiết bị, máy móc, các chính sách áp dụng… mà ta không thể lường trước được, và như thế chúng tác động tích cực hay tiêu cực đến quá trình lập kế hoạch sản xuất
Do sự biến động của các yếu tố đầu vào nên khi tiến hành lập kế hoạch sản xuất, cần tìm hiểu kỹ về đặc điểm, kỹ năng, công suất, phương thức giao dịch, thanh toán,… của doanh nghiệp cung ứng hàng hóa cho doanh nghiệp của ta Từ đó, có thể dễ dàng lường trước được những trục trặc nếu có về nguồn cung ứng nguyên phụ liệu Thông thường, ta nên có mối quan hệ đa dạng hơn về nguồn cung ứng để tác động của chúng không quá lớn đến kế hoạch sản xuất của chúng ta
1.4.6, Nguồn nhân lực
Yếu tố con người là rất quan trọng trong sản xuất kinh doanh Khi tiến hành lập kế hoạch sản xuất, cần đề ra những biện pháp để sử dụng nguồn nhân lực sẵn có và có những chế độ, chính sách cho nguồn nhân lực này luôn
ổn định Đông thời kích thích đội ngũ cán bộ công nhân viên luôn gắn bó với nhau vì lợi ích chung của công ty
Trong các kế hoạch dài hạn, cần có những phương án thu hút, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu của xã hội cũng như của chính
bản thân doanh nghiệp
1.5, Các bước lập kế hoạch sản xuất [2, 6]
Khi tiến hành lập kế hoạch, để đạt được hiệu quả cao cần làm tuần tự theo một trình tự nhất định Quá trình đó bao gồm các bước sau:
Trang 161.5.1, Nhận thức cơ hội
* Phân tích tình huống cạnh tranh (phân tích mục tiêu kinh tế xã hội):
- Tìm hiểu thực trạng, xu hướng biến đổi của xã hội
- Tìm hiểu các nhu cầu, mong đợi của xã hội
- Nhận dạng những đặc điểm kinh tế của ngành mình và của mục tiêu hoạt động
- Nhận dạng những yếu tố quan trọng cho sự phát triển của ngành nghề
mà doanh nghiệp đang hoạt động
- Nhận dạng vị trí cạnh tranh tương đối giữa các ngành trong nền kinh tế
để tìm kiếm và đánh giá cơ hội phát triển của doanh nghiệp
- Đánh giá những đe dọa có thể xuất hiện từ phía những đối thủ cạnh tranh
* Phân tích tình trạng nội tại của doanh nghiệp
- Đánh giá kết quả thực tế của doanh nghiệp
- Thực hiện việc phân tích các khía cạnh: Mối đe dọa, cơ hội, thế mạnh, thế yếu
1.5.2, Lập các mục tiêu
Khi phân tích các yếu tố để tiến hành lập các mục tiêu, cần xác định mục tiêu từ nhỏ đến lớn, từ gần đến xa, từ vi mô đến vĩ mô và tính toán trước mục tiêu cuối cùng cần đạt tới của doanh nghiệp là gì để từ đó xác định kế hoạch cho phù hợp
1.5.3, Xem xét các tiền đề lập kế hoạch
Cần có những nhận thức rõ ràng, kỹ càng và nhiều mặt trên nhiều phương diện để có hiểu biết về những cơ sở, những tiền đề của doanh nghiệp
Trang 17đang có Việc phân tích này càng kỹ lưỡng, đầy đủ bao nhiêu thì càng giúp cho doanh nghiệp tránh được nhiều rủi ro trong hoạt động sản xuất, kinh doanh bấy nhiêu
Khi tiến hành so sánh các phương án đã đề ra cần lập bảng so sánh thật tỉ
mỉ các nội dung cần đạt được của các phương án Tốt nhất, ta nên dùng phương pháp cho điểm để dễ dàng thuận lợi khi lựa chọn phương án sau cùng của việc lập kế hoạch
1.5.6, Chọn phương án
Sau khi đã tính toán, so sánh, lựa chọn giữa các phương án, ta cần đi đến quyết định để chọn ra phương án tối ưu Đối với doanh nghiệp, ta cần phải xác định them một số yếu tố như sau:
- Phương án đã khả thi hay chưa
- Những yêu cầu thiết yếu để phương án có thể hoàn thiện được
- Các biện pháp nhằm thực hiện tốt phương án
- Cần phải tổ chức thực hiện như thế nào
Tóm lại, khi xem xét, so sánh lựa chọn quyết định cho một phương án, cần đáp ứng được các tiêu chuẩn sau:
- Phù hợp với những nhu cầu của mục tiêu
Trang 18- Đáp ứng được yêu cầu của cạnh tranh
- Phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp
- Phù hợp với chu kỳ sống của sản phẩm
1.5.7, Lập kế hoạch hỗ trợ
Sau khi đã chọn một phương án, ta cần ngồi lại và phân tích thật kỹ càng yếu tố “làm thế nào?” Trả lời câu hỏi đó sẽ phát sinh một loạt những mục tiêu mới và đòi hỏi phải có những kế hoạch để đáp ứng những mục tiêu này Đây chính là những kế hoạch hỗ trợ cho việc thực hiện mục tiêu ban đầu (phương án đã chọn) Các kế hoạch hỗ trợ này được xem như các kế hoạch con và các bước thực hiện lại quay trở về bước đầu tiên
1.5.8, Số hóa bằng các kế hoạch để lập ngân quỹ
Sau quá trình chuẩn kỹ càng các kế hoạch thực hiện, ta cần phải số hóa các kế hoạch đó bằng các số liệu cụ thể Các số liệu này có nhiệm vụ căn chỉnh cho quá trình thực hiện kế hoạch đi đúng hướng Công việc số hóa này thường bao gồm:
- Lập được tiến độ, thời gian giao nhận hàng
- Tìm hiểu được số lượng sản xuất bao nhiêu, giá bán bao nhiêu, năng suất như thế nào
- Chi phí cho các tác nghiệp cần có
- Chi phí cho trang thiết bị cần có
- Khả năng thu hồi vốn
1.6, Các phương pháp lập kế hoạch sản xuất
Trong thực tế doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều phương pháp để lập kế hoạch sản xuất kinh doanh để phù hợp với mục đích, yêu cầu đặt ra
Trang 191.6.1, Phương pháp cân đối
Phương pháp này gồm các bước sau:
Bước 1: Xác định khả năng của doanh nghiệp, bao gồm khả năng sẵn có
và khả năng chắc chắn có trong tương lai của doanh nghiệp và các yếu tố sản xuất
Bước 2: Cân đối giữa nhu cầu của thi trường và khả năng về các yếu tố
đó là nhu cầu của thị trường và khả năng có thể khai thác các nguồn lực của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch
- Thực hiện cân đối liên hoàn, nghĩa là tiến hành nhiều cân đối kế tiếp nhau để bổ sung và điều chỉnh phương án cho phù hợp với những thay đổi của môi trường kinh doanh
- Trước khi tiến hành cân đối tổng thể thì phải thực hiện cân đối trong những yếu tố trước Kết quả cân đối tổng hợp phải là căn cứ để xác định năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là cơ sở để xác định hoặc điều chỉnh các phương án kinh doanh của doanh nghiệp
1.6.2, Phương pháp tỷ lệ cố định
Nội dung của phương pháp này là tính toán một số chỉ tiêu của năm kế hoạch theo một tỷ lệ đã được xác định trong năm báo cáo trước đó Theo
Trang 20phương pháp này, doanh nghiệp sẽ coi tình hình của năm lập kế hoạch giống như tình hình của năm báo cáo đối với một số chỉ tiêu nào đó
Phương pháp này cho thấy kết quả nhanh nhưng thiếu chính xác, vì thế chỉ nên sử dụng trong trường hợp không đòi hỏi độ chính xác cao và thời gian thực hiện kế hoạch không kéo dài
1.6.3, Phương pháp lập kế hoạch từ việc phân tích các nhân tố tác động
Đây là phương pháp lập kế hoạch có tính chất truyền thống và vẫn được
sử dụng rộng rãi Việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi các nhà quản lý phải
có cách xem xét, phân tích hệ thống và tổng thể nhiều vấn đề Phải biết đặt tình trạng của doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế của các yếu tố ngoại lai Cần xem xét các yếu tố sau:
- Các yếu tố kinh tế vĩ mô như: Tổng sản phẩm quốc dân, mức cung ứng tiền tệ,
- Sự phát triển về dân số, độ tuổi và tình hình thay đổi thói quen trong cuộc sống
- Các yếu tố chính trị và pháp luật như cạnh tranh, luật thuế,
- Sự biến động của thị trường và thái độ của khách hàng, quy mô thị trường, chu kỳ vận động của thị trường, sự trung thành của khách hàng, sức mua
- Sự thay đổi của khoa học công nghệ, cấu trúc ngành nghề như loại sản phẩm, cấu trúc giá, chi phí của các đối thủ cạnh tranh
- Các đặc điểm về nguồn lực của doanh nghiệp như phần thị trường, chu
ky sống của sản phẩm, trình độ lao động, chi phí tiền lương, tình hình doanh thu, chất lượng sản phẩm
Trang 211.6.4, Phương pháp lợi thế vượt trội
Phương pháp này gợi mở cho các nhà quản lý khi lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh phải xem xét khai thác các lợi thế vượt trội để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Khi lập kế hoạch, doanh nghiệp cần phát huy lợi thế vượt trội trên các mặt sau:
- Lợi thế vượt trội trong lĩnh vực tiêu thụ, trong việc triển khai các kênh phân phối sản phẩm với các đối tác khác
- Lợi thế vượt trội trong sản xuất thể hiện trong việc tăng cường liên doanh, liên kết để phát huy chuyên môn hóa
- Lợi thế vượt trội trong việc hợp tác nghiên cứu điều tra dự báo
- Lợi thế vượt trội nhờ năng lực và trình độ của các nhà quản lý trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh cụ thể
1.6.5, Phương pháp mô hình PIMS (Profit Impact Market Strategy)
Theo phương pháp này, khi lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh các nhà lập kế hoạch phải phân tích kỹ 6 vấn đề sau:
- Sức hấp dẫn của thị trường như: mức tăng trưởng thị trường, tỷ lệ xuất nhập khẩu,
- Tình hình cạnh tranh: Đó là thị phần tương đối của doanh nghiệp so với tổng thị trường của 3 đối thủ cạnh tranh lớn nhất Chỉ tiêu này tính bằng tỷ lệ phần trăm của phần thị trường tuyệt đối của doanh nghiệp trên tổng phân thị trường tuyệt đối Đây là chỉ tiêu mà phương pháp này sử dụng để phân tích cho từng loại sản phẩm của doanh nghiệp
- Hiệu quả hoạt động của các hoạt động đầu tư: Tốc độ đầu tư, doanh thu trên mỗi hoạt động đầu tư
Trang 22- Sử dụng ngân sách của doanh nghiệp: Chỉ cho marketing trong doanh thu, hệ số năng suất
- Các đặc điểm của doanh nghiệp như: Quy mô hoạt động của doanh nghiệp, mức độ phân tán của doanh nghiệp
- Vấn đề cuối cùng là phân tích sự thay đổi: Phần thị trường liên kết, giá
cả, chất lượng sản phẩm và sự thay đổi sản lượng
Phương pháp này nhằm xác định tỷ suất lợi nhuận so với tổng vốn kinh doanh của từng đơn vị sản xuất chiến lược của doanh nghiệp để lập kế hoạch trên cơ sở phân tích các vấn đề trên
1.6.6, Phương pháp phân tích chu kỳ sống của sản phẩm
Chu kỳ sống của sản phẩm là khoảng thời gian từ khi nó được đưa ra thị trường cho đến khi nó không còn tồn tại trên thị trường Chu kỳ sống của sản phẩm được đặc trưng bởi bốn giai đoạn chủ yếu: Triển khai, tăng trưởng, bão hòa và suy thoái Tương ứng với mỗi giai đoạn là các vấn đề và cả cơ hội kinh doanh Do vậy, doanh nghiệm cần nắm vững đặc điểm của từng giai đoạn để lập kế hoạch sản xuất phù hợp vì mỗi giai đoạn của chu kỳ sống có mức độ tiêu thụ trên thị trường khác nhau
1.7, Quy trình thực hiện kế hoạch hóa sản xuất
Để có thể lập kế hoạch sản xuất tốt, người lập kế hoạch phải hiểu và nắm vững quy trình thực hiện kế hoạch sản xuất
Việc thực hiện kế hoạch đòi hỏi phải được quan tâm đúng mức và phải tuân thủ theo một quy trình nghiêm ngặt Việc thực hiện kế hoạch ở mỗi cấp thấp hơn phải đảm bảo tính khả thi, nếu điều này không thực hiện được cần phải phản hồi cụ thể và kịp thời để có các kế hoạch điều chỉnh cần thiết Có thể thấy rõ điều này trong sơ đồ thực hiện kế hoạch sản xuất (sơ đồ hình 1.2)
Trang 23Hình 1.2: Sơ đồ thực hiện kế hoạch sản xuất [2, 11]
Qua sơ đồ ta thấy rõ, muốn hoạch định nhu cầu vật tư chính xác, phải xác định chính xác tính khả thi của lịch tiến độ trong mối quan hệ với công suất máy móc thiết bị Do đó, hoạt động điều khiển lịch tiến độ sản xuất có tầm quan trọng đặc biệt, nó có tác động đến công tác hoạch định nhu cầu vật tư và
kế hoạch sản xuất
Lịch trình tiến độ kế hoạch sản xuất là bộ phận chủ yếu của chu kỳ sản xuất Thông thường, các doanh nghiệp lập tiến độ sản xuất chung cho mỗi thời kỳ sản xuất nhất định và sau đó, quy định thời gian ngắn hơn để thực hiện kế hoạch đó Mỗi sự vi phạm tiến độ kế hoạch sản xuất đều không được chấp nhận trong quá trình sản xuất
Kế hoạch nhu cầu vật tư Lịch trình tiến độ sản xuất
KH nhu cầu công suất thiết bị
Xác định tính hiện thực
Thực hiện kế hoạch công suất
Thực hiện kế hoạch vật tư
KẾ HOẠCH SẢN XUẤT NĂM
Không đáp ứng
Trang 241.8, Lập lịch trình sản xuất
Trong quá trình sản xuất, ta cần tiến hành nhiều việc khác nhau và những công việc này cần được sắp xếp thành một lịch trình chặt chẽ, nhất là trong những thời kỳ cao điểm Việc lập lịch trình đòi hỏi người cán bộ kế hoạch cần
có kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn, vốn sống và độ nhạy trong xử lý tình huống phát sinh
Thông thường, để lập lịch trình, phòng kế hoạch cần dựa vào các dữ liệu
đã có về thời gian, năng suất, phương pháp tính toán để có hiệu quả tối ưu trong quá trình sản xuất
Muốn sắp xếp tối ưu các công việc, cần nắm vững các nguyên tắc ưu tiên sau đây
1.8.1, Các nguyên tắc ưu tiên [2, 13]
- Nguyên tắc 1: Công việc được đặt hàng trước thì làm trước (FCFS: First Come First Service)
- Nguyên tắc 2: Công việc nào phải hoàn thành sớm nhất sẽ được làm trước (EDD: Earliest Due Date)
- Nguyên tắc 3: Công việc nào có thời gian thực hiện ngắn nhất thì làm trước (SPT: Shortest Processing Time)
- Nguyên tắc 4: Công việc nào có thời gian thực hiện dài nhất thì làm trước (LPT: Longest Processing Time)
Trong các nguyên tắc trên thì nguyên tắc SPT là tốt nhất, tuy nhiên nguyên tắc này có bất lợi là đẩy những công việc có thời gian thực hiện dài xuống dưới, dễ gây mất lòng đối với những khách hàng quan trọng và dễ gây
ra những thay đổi biến động đối với những công việc cần làm trong một thời gian dài
Trang 25Bên cạnh đó, nguyên tắc FCFS tuy hiệu quả không cao, nhưng nó làm hài lòng khách hàng, thẻ hiện tính công bằng Đây cũng là một yếu tố rất quan trọng trong sản xuất và dịch vụ
Nguyên tắc EDD có thể được lựa chọn để áp dụng cho những trường hợp
đã tận dụng tối đa công suất của trang thiết bị và năng suất của công nhân Tóm lại, tùy theo trường hợp cụ thể của doanh nghiệp, khi cần phân tích lịch trình và sắp xếp thứ tự ưu tiên của các công việc trên một máy hay trên một dây chuyền, người ta có thể ứng dụng các nguyên tắc vừa nêu để lựa chọn lịch trình phù hợp nhất trong công ty, xí nghiệp hay phân xưởng
1.8.2, Đánh giá mức độ hợp lý của các công việc (MĐHL) [2, 17]
Trong thực tế, nhiều khi khó có thể lựa chọn và sắp xếp các công việc ưu tiên theo các nguyên tắc nêu trên Do đó, cần xem xét thêm một đại lượng nữa gọi là kiểm tra lại mức độ hợp lý của các công việc, giúp ta có thể đi đến quyết định lựa chọn sự ưu tiên cho các công việc, giúp ta có thể đi đến quyết định lựa chọn sự ưu tiên cho các công việc được dễ dàng hơn như sau:
MĐHL = Tổng thời gian còn lại
Số công việc còn lại tính theo thời gian Nếu thời gian có đơn vi tính là ngày thì:
MĐHL = Tổng số ngày còn lại tính đến thời điểm giao hàng
Số công việc còn lại theo hợp đồng đến thời điểm giao hàngĐánh giá: khi công việc có MĐHL > 1, công việc đó sẽ hoàn thành sớm hơn kỳ hạn, không được ưu tiên Khi MĐHL < 1, công việc đó sẽ bị chậm, cần ưu tiên tập trung thực hiện Khi MĐHL = 1, công việc đó sẽ hoàn thành đúng kỳ hạn Và MĐHL càng nhỏ sẽ được ưu tiên sớm nhất
Trang 26Công dụng của chỉ tiêu MĐHL khi lập lịch trình sản xuất:
- Quyết định vị trí của các công việc đặc biệt
- Lập thứ tự ưu tiên giữa các công việc đặc biệt
- Lập quan hệ giữa các công việc được lưu lại để dành thời gian thực hiện các công việc phải thực hiện ngay
- Điều chỉnh thứ tự ưu tiên và thay đổi theo yêu cầu trên cơ sở sự tiến triển của các công việc
- Theo dõi chặt chẽ sự tiến triển và vị trí của các công việc
1.8.3, Phương pháp vẽ sơ đồ GANTT [2, 18]
Đối với các chương trình sản xuất dịch vụ đơn giản bao gồm ít công việc cũng như đối với các chương trình ngắn hạn, ta có thể dùng phương pháp sơ
đồ GANTT do Henry Gantt tìm ra năm 1910 để lập lịch trình sản xuất
Mục tiêu cần đạt được là đưa các nguồn tài nguyên, nguồn lực vào sử dụng phù hợp với các quá trình sản xuất và đạt được thời gian yêu cầu
Thực chất phương pháp sơ đồ Gantt là biểu diễn các công việc và thời gian thực hiện chúng theo phương nằm ngang và theo một tỷ lệ quy định trước Lịch trình thường được lập theo kiểu tiến tới từ trái sang phải, công việc nào cần làm trước thì xếp trước, công việc nào làm sau thì xếp sau giống như công nghệ yêu cầu Tuy vậy, cũng có thể lập sơ đồ theo kiểu giật lùi từ phải sang trái, công việc cuối cùng được xếp trước, giật lùi về công việc đầu tiên
Phương pháp sơ đồ Gantt được dùng rất phổ biến trong các doanh nghiệp Xét ví dụ minh họa: một doanh nghiệp cần hoàn thành hợp đồng sản xuất gồm có 4 công việc A, B, C, D Sau khi cân đối vật tư, thiết bị, nhân lực
Trang 27để tính toán thời gian thực hiện từng công việc và sử dụng sơ đồ Gantt để sắp xếp lịch trình thực hiện như sau (xem hình 1.3)
Tuy nhiên, phương pháp sơ đồ Gantt có những ưu điểm và nhược điểm riêng:
- Ưu điểm: Đơn giản, dễ lập Nhìn thấy rõ các công việc, thời gian thực hiện chúng Thấy rõ tổng thời gian hoàn thành tất cả các công việc
- Nhược điểm: Không thấy rõ mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các công việc như thế nào Không thấy rõ công việc nào là trọng tâm, phải tập trung chỉ đạo Khi có nhiều phương án lập lịch trình (nhiều sơ đồ cùng hoàn thành một nhóm công việc) thì khó đánh giá được sơ đồ nào tốt, hay chưa tốt Không có điều kiện giải quyết bằng sơ đồ các yêu cầu về tối ưu hóa tiền bạc thời gian cũng như các nguồn lực khác
Hình 1.3: Hình minh họa sơ đồ Gantt
1.8.4, Phương pháp sơ đồ PERT
Phương pháp này chủ yếu dùng cho các dự án sản xuất
Xây dựng và thực hiện kế hoạch theo thời gian hoàn thiện các hoạt động Các hoạt động này được coi là mốc quan trọng trong cả một quy trình thực
Trang 28hiện liên tục Sơ đồ mạng PERT là một mạng hoạt động rút ra từ việc xây dựng các mối quan hệ theo trình tự bắt đầu và kết thúc tất cả các hoạt động cần thực hiện theo một trình tự logic nhất định
Để xây dựng một sơ đồ mạng PERT cần nắm rõ các nguyên tắc như: xác định rõ các sự kiện và hoạt động, chỉ rõ mối liên hệ giữa các hoạt động, chỉ rõ thời gian trùng, xác định hoạt động chính, hoạt động giả, thời gian quan trọng nhất Từ đó, xác định thời gian tối thiểu để hoàn thành các hoạt động (sơ đồ găng) và xác định được hoạt động nào có thể linh động được, hoạt động nào không thể thay đổi về mặt thời gian, không thể trì hoãn được qua đường găng (thể hiện qua thứ tự các hoạt động có thời gian dự trữ = 0)
Dựa vào sơ đồ, ta xác định được thứ tự các công việc cần thực hiện trước, qua đó sẽ cắt ngắn được thời gian sản xuất, giảm thiểu chi phí cho các hoạt động đồng thời tạo điều kiện cho công tác phối hợp và lập kế hoạch Trên sơ đồ mạng PERT, ta sử dụng thuật ngữ "nút mạng" - chỉ định lúc bắt đầu và kết thúc đúng hạn các hoạt động Dựa vào việc tính thời gian trên các nút, ta sẽ xây dựng sơ đồ mạng PERT và xác định đường găng
Ví dụ minh họa: Một công ty nhận thực hiện một dự án với các công việc
và thời gian thực hiện các công việc đó (theo bảng 1.1)
Tiếp theo ta xác định các giới hạn về thời gian của các công việc trong
dự án, bao gồm:
ES: Thời gian bắt đầu sớm nhất
LS: Thời gian bắt đầu chậm nhất
EF: Thời gian hoàn thành sớm nhất
LF: Thời gian hoàn thành chậm nhất
S: Thời gian rảnh rồi (bằng LS - ES hay LF - EF)
Trang 29Bảng 1.1: Ví dụ minh họa sơ đồ PERT [9, 218]
Công việc Hoạt động trước đó Thời gian thực hiện
Bảng 1.2: Tiến độ và thời gian rảnh rỗi của dự án [9, 220]
Công việc ES EF LS LF S Nằm trên đường găng
Trang 30:
Hình 1.4: Hình minh họa sơ đồ PERT [9, 221]
Nhìn vào sơ đồ ta thấy các hoạt động nằm trên đường găng đường găng (theo thứ tự chiều mũi tên kép trên hình 1.4) là A → C → E → G → H Các hoạt động nằm trên đường găng thì không thể trì hoãn được, còn những hoạt động như B, D, F là những hoạt động có thể trì hoãn được
Xây dựng sơ đồ PERT có thể thấy được hoạt động nào xảy ra trước giúp cho việc quản lí dễ dàng hơn Tuy nhiên, việc xây dựng sơ đồ có nhược điểm
là khá phức tạp và tốn nhiều thời gian
F3
G5
Trang 31Kết luận chương 1
Để thực hiện mục tiêu đặt ra là cung cấp những cơ sở, luận cứ khoa học
có tính hệ thống, làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng công tác kế hoạch hóa sản xuất tại Nhà máy Cơ khí chính xác Vinashin ở chương 2 và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất tại Nhà máy Cơ khí chính xác Vinashin ở chương 3, nội dung trong chương 1 đã hoàn thành
được những nhiệm vụ như sau:
- Nêu rõ khái niệm, vai trò, tầm quan trọng, phương pháp, quy trình, của công tác kế hoạch hóa trong doanh nghiệp và những yếu tố, nhân tố đầu vào ảnh hưởng đến công tác lập kế hoạch sản xuất
- Hệ thống lại những nội dung cơ bản của công tác kế hoạch hóa sản xuất trong doanh nghiệp giúp người lập kế hoạch có được cơ sở lý thuyết căn bản
để hiểu hơn về công tác kế hoạch hóa qua đó giúp họ làm tốt hơn công việc của mình
- Đưa ra cơ sở lý luận trợ giúp cho việc hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất
Trang 32Nhà máy Cơ khí chính xác nằm trong Tổ hợp Cơ khí chế tạo Vinashin và
là nhà máy của Công ty cổ phần Cơ khí chính xác Vinashin
Tổ hợp Cơ khí chế tạo Vinashin được thành lập tại Khu công nghiệp Tàu thủy Lai Vu Địa chỉ: Xã Lai Vu- Kim Thành- Hải Dương là một tổ hợp bao gồm các nhà máy:
- Nhà máy Cơ khí chính xác Vinashin
- Nhà máy sản xuất bi và hạt mài kim loại Vinashin
- Nhà máy cơ khí nặng Vinashin
- Nhà máy Đúc, rèn Vinashin (đã lập dự án)
- Nhà máy Chế tạo, lắp ráp động cơ Diezel Vinashin (đã lập dự án)
2.1.1, Thông tin chung về Công ty cổ phần Cơ khí chính xác Vinashin
* Thông tin giao dịch
- Tên công ty: Công ty cổ phần Cơ khí chính xác Vinashin
Tên giao dịch: Vinashin Precision Engineering Joint Stock Company (VINASHINA)
- Địa chỉ trụ sở chính: Thôn Quyết Tâm, xã Lai Vu, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương
Điện thoại: 0320 3 728838, Fax: 0320 3 728848
Trang 331
Tổng công ty
Công nghiệp Tàu
thủy Việt Nam
Số 109, phố Quán Thánh, phường Quán Thánh, quận Ba Đình, TP Hà Nội
Trang 34- Đại diện công ty:
Chủ tịch hội đồng quản trị: Ông Hoàng Đình Phi
Giám đốc công ty: Ông Vũ Anh Tuấn
* Chức năng nhiệm vụ của công ty
Công ty cổ phần Cơ khí chính xác Vinashin có nhiệm vụ nghiên cứu, sản xuất, ứng dụng và phát triển công nghệ gia công cơ khí chính xác, gia công các thiết bị chuyên dùng phục vụ ngành đóng tàu, điện, xi măng và các ngành công nghiệp khác
Các ngành, nghề kinh doanh:
- Sản xuất và kinh doanh sản phẩm kết cấu thép
- Sản xuất sản phẩm cơ khí, thiết bị, phụ tùng phục vụ ngành công nghiệp tàu thủy và cơ khí chế tạo
- Mua bán vật tư, phụ tùng máy công nghiệp
- Dịch vụ mạ kẽm các sản phẩm cơ khí phục vụ ngành công nghiệp tàu thủy và cơ khí chế tạo
- Dịch vụ lắp đặt, sửa chữa, bảo hành các dây chuyền thiết bị công nghiệp
2.1.2, Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần
Cơ khí Chính xác Vinashin
* Quá trình hình thành, xây dựng và phát triển
Công ty cổ phần Cơ khí chính xác Vinashin (VINASHINA) được thành lập tháng 5 năm 2004 theo Quyết định của Chủ tịch hội đồng quản trị Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam nay là Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (VINASHIN), trong đó VINASHIN nắm giữ cổ phần chi phối
Trang 35Văn phòng đại diện và Trung tâm Nghiên cứu Phát triển của công ty đặt tại tầng 9 tòa nhà Sannam, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, Hà Nội Nhà máy được xây dựng trên diện tích 18 ha tại khu Công nghiệp tàu thủy Lai
Vu (xã Lai Vu, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương)
Tháng 12- 2005, Nhà máy Cơ khí thính xác Vinashin đã khánh thành và
đi vào hoạt động với các phân xưởng đầu tiên:
- Phân xưởng chế tạo cơ khí chính xác, thiết bị thủy lực (phân xưởng 1)
- Phân xưởng chế tạo kết cấu thép và đường ống (phân xưởng 2)
Tháng 2- 2006, với nhu cầu rất lớn về mạ kẽm nhúng nóng cho các sản phẩm kết cấu thép và đường ống trong ngành đóng tàu, nhà máy đã xây dựng xong và đưa vào hoạt động phân xưởng mạ kẽm nhúng nóng (phân xưởng 3)
để phục vụ các sản phẩm chế tạo tại nhà máy và cung cấp dịch vụ mạ kẽm nhúng nóng cho khách hàng bên ngoài
Tháng 4- 2006, Phân xưởng chế tạo thiết bị đóng tàu và thiết bị công nghiệp (phân xưởng 4) được xây dựng xong và đi vào hoạt động
Tháng 5- 2006, Phân xưởng lắp ráp, lắp đặt các dây chuyền xử lý bề mặt các tấm tôn và dây chuyền tự động gia công phân đoạn phẳng phục vụ trong công nghiệp đóng tàu (phân xưởng 5)
Các phân xưởng, xí nghiệp trong nhà máy được trang bị dây chuyền sản xuất hiện đại, theo công nghệ có bản quyền của Châu Âu, Trung Quốc Các thiết bị, công nghệ sản xuất được xây dựng và lắp đặt trên cơ sở hợp đồng hợp tác liên doanh về kỹ thuật và công nghệ với các đối tác Italia, Cộng hòa Liên bang Đức và Trung Quốc
* Khả năng công nghệ
Nhằm tăng cường năng lực công nghệ về nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, đa
Trang 36dạng hóa chủng loại sản phẩm và phối hợp nhận thầu các công trình lớn, Công ty đã ký hợp đồng hợp tác về công nghệ và kinh doanh với các đối tác trong và ngoài nước:
- Viện Nghiên cứu Cơ khí (bộ Công nghiệp)
- Vianova, Italia
- Contarini, Italia
- Tập đoàn Sumec, Trung Quốc
- Changzhou hydraulic, Trung Quốc
và đào tạo nguồn nhân lực cho công ty Từ những nòng cốt ban đầu đến cuối năm 2007, nguồn nhân lực của công ty đã tăng lên hơn 700 người Tuy nhiên,
do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế trên thế giới và của Tập đoàn Vinashin từ năm 2008 nên hiện nay đội ngũ cán bộ công nhân viên của Công
ty đã giảm xuống còn gần 400 người
* Một số thành quả đạt được
Công ty đã liên kết với một số đơn vị khác hoàn thành việc chế tạo các dây chuyền thiết bị với yêu cầu kỹ thuật cao cho nhà máy Parker của Nhật Bản tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long
Trang 37Công ty đã chế tạo và lắp đặt nhà xưởng kết cấu lớn và thiết bị cho Nhà máy Cán thép nóng Cái Lân
Chế tạo các dây chuyền tự động làm sạch tấm kim loại và dây chuyền gia công phân đoạn phẳng cho các nhà máy đóng tàu
Thiết kế, gia công và thi công xy lanh, hệ điều khiển thủy lực kẹp xà lan cho tàu Lash 12.500 tấn và hệ thống nắp hầm hàng tàu chở hàng rời 20.000 tấn Là hai dự án nằm trong chương trình nội địa hóa ngành đóng tàu của Tập đoàn Vinashin
Nội địa hóa thiết bị cho dây chuyền sản xuất xi măng cho nhà máy Xi măng Hạ Long và nhà máy Xi măng Thái Nguyên
Trong lĩnh vực thủy điện, Công ty đã liên danh (làm nhà thầu phụ) với công ty Guangxi G-Energy Engineering and Consulting Co., Ltd (Trung Quốc) cung cấp toàn bộ thiết bị cho trạm thủy điện Sông Côn
Ngoài ra còn một số dự án cho các lĩnh vực công nghiệp khác
2.1.3, Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và chức năng, nhiệm vụ các phòng ban, bộ phận của Công ty cổ phần Cơ khí chính xác Vinashin
* Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý (xem sơ đồ hình 2.1)
Mô hình quản lý của Công ty là mô hình trực tuyến chức năng Trong đó, giám đốc Công ty là người đại diện về pháp luật và chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị của Công ty Giám đốc Công ty điều hành chung toàn bộ công
ty thông qua Phó giám đốc công ty, Giám đốc tài chính và Giám đốc trung tâm R&D (trung tâm nghiên cứu, phát triển)
Giám đốc tài chính điều hành phòng tài chính, kế toán
Giám đốc trung tâm R&D điều hành trung tâm nghiên cứu, phát triển (R&D) của công ty
Trang 39Phó giám đốc Công ty trực tiếp điều hành phòng kinh doanh, phòng đầu
tư và nhà máy thông qua Giám đốc nhà máy
Trợ giúp cho Giám đốc nhà máy là 3 phó giám đốc: Phó giám đốc sản xuất, Phó giám đốc kỹ thuật, Phó giám đốc nội chính
Phó giám đốc sản xuất kiêm trưởng phòng kế hoạch điều hành 3 phòng: Phòng kế hoạch, phòng vật tư và phòng thiết bị cơ điện
Phó giám đốc kỹ thuật kiêm trưởng phòng kỹ thuật điều hành 2 phòng: Phòng kỹ thuật và phòng KCS
Phó giám đốc nội chính kiêm trưởng phòng hành chính điều hành 2 phòng: Phòng hành chính và phòng nhân sự
Điều hành các phân xưởng, xí nghiệp trong nhà máy là các Quản đốc các phân xưởng
* Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban
Hội đồng quản trị: Thực hiện chức năng quản lý và kiểm tra, giám sát hoạt động của Công ty, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Giám đốc tổ chức, thực hiện các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được
Ban kiểm soát: Trưởng ban kiểm soát là thành viên Hội đồng quản trị, thực hiện nhiệm vụ do Hội đồng quản trị giao về việc kiểm tra, giám sát các hoạt động điều hành của Giám đốc, bộ máy giúp việc và các bộ phận trong Công ty trong các hoạt động tài chính, chấp hành pháp luật, điều lệ công ty, các nghị quyết và quyết định của Hội đồng quản trị
Trung tâm R&D: Tiếp nhận đầu vào về mặt kỹ thuật của Công ty Nghiên cứu, thiết kế các sản phẩm cơ khí; tiếp nhận chuyển giao công nghệ trong việc chế tạo các dây chuyền nhập từ nước ngoài và nghiên cứu nội địa
Trang 40hóa từng phần các dây chuyền đó Lập các quy trình công nghệ sản xuất áp dụng trong nhà máy
Phòng đầu tư: Lập dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà xưởng, mua máy móc trang thiết bị trong quá trình xây dựng nhà máy Tổ chức tham gia làm
hồ sơ thầu các dự án
Phòng kinh doanh: Phụ trách toàn bộ đầu ra của Công ty Quảng bá các sản phẩm và dịch vụ của Công ty, tìm thị trường tiêu thụ, tạo doanh thu cho Công ty
Phòng tài chính, kế toán: Đảm bảo nguồn vốn cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty Tổ chức hạch toán, luân chuyển chứng từ, số liệu từ đó tổng hợp số liệu và đưa ra các thông tin đầy đủ, chính xác về hoạt động sản xuất, kinh doanh Báo cáo tài chính quý, năm theo đúng quy định của nhà nước Tính toán, ghi chép số liệu về tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước
Phòng kế hoạch: Lập lịch trình sản xuất toàn bộ, cân đối về thời gian gia công, thời gian giao nhận hàng, về năng lực, lao động xây dựng kế hoạch sản xuất, triển khai kế hoạch sản xuất cho các bộ phận, lập tiến độ sản xuất hàng tháng, hàng quý Lập kế hoạch vật tư cần thiết, điều độ sản xuất cho các phân xưởng, đảm bảo cho các quá trình sản xuất là liên tục
Phòng vật tư: tiếp nhận yêu cầu vật tư từ phòng kế hoạch và các phòng ban khác, có kế hoạch nhập và xuất vật tư Quản lý kho vật tư của nhà máy, kiểm kê và tổng hợp để có kế hoạch nhập các vật tư thường xuyên sử dụng dự trữ sẵn
Phòng thiết bị, cơ điện: Quản lý toàn bộ máy móc, thiết bị trong nhà máy Có kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa, thay thế máy móc đảm bảo hoạt động trong các phân xưởng, xí nghiệp liên tục