Tính cấp thiết của đề tài Tốc độ đô thị hoá nhanh có nghĩa là hệ thống hạ tầng kỹ thuật, giao thông và hạ tầng xã hội trong đô thị được xây dựng mở rộng và phát triển nhanh; hình thành
Trang 1GIẢI PHÁP DỊCH VỤ TRONG HOẠT ĐỘNG
VỆ SINH MÔI TRƯỜNG TẠI THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Ngành Quản trị kinh doanh
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
Họ và tên: Nguyễn Đình Hạ
GIẢI PHÁP DỊCH VỤ TRONG HOẠT ĐỘNG
VỆ SINH MÔI TRƯỜNG TẠI THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Trang 3Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MARKETING DỊCH VỤ VÀ
DỊCH VỤ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ
4
1.1 Tổng quát về Marketing dịch vụ và dịch vụ VSMT đô thị
1.2 Vai trò của Marketing dịch vụ và dịch vụ VSMT trong hoạt động
công ích đô thị
8
1.2.2 Vai trò Marketing dịch vụ trong hoạt động công ích đô thị 91.2.3 Vai trò dịch vụ VSMT trong hoạt động công ích đô thị 10
1.3 Cơ sở lý thuyết tiếp cận phương pháp nghiên cứu phát triển mô
hình dịch vụ trong hoạt động VSMT tại TP Nam Định
10
1.3.1 Phát hiện vấn đề và hình thành mục tiêu nghiên cứu 11
1.4 Cơ sở lý thuyết về dịch vụ trong hoạt động VSMT đô thị 14 1.4.1 Cơ sở lý thuyết về quản lý tổng hợp CTR đô thị 14 1.4.2 Cơ sở lý thuyết về hệ thống quản lý kỹ thuật CTR đô thị 17
1.5 Cơ sở lý thuyết về xã hội hoá cung ứng dịch vụ trong hoạt động
VSMT đô thị
23
1.5.1 Đặc điểm của dịch vụ trong hoạt động VSMT 23
Trang 4động VSMT đô thị
1.6.1 Marketing phi lợi nhuận 27
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ DỊCH VỤ TRONG HOẠT
ĐỘNG VỆ SINH MÔI TRƯỜNG CỦA THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
VÀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN MÔI TRƯỜNG NAM ĐỊNH
32
2.1 Giới thiệu dịch vụ trong hoạt động VSMT tại TP Nam Định 32
2.1.2 Tổ chức dịch vụ trong hoạt động VSMT tại TP Nam Định 32
2.2 Xác định và phân tích đánh giá những tiêu chí về dịch vụ trong
hoạt động VSMT tại TP Nam Định
2.3 Phân tích đánh giá điều kiện và yếu tố về dịch vụ trong hoạt động
VSMT của Công ty TNHH MTV Môi trường Nam Định
41
2.3.1 Điều kiện về pháp lý, cơ chế chính sách 412.3.2 Các yếu tổ về tổ chức bộ máy quản lý và lao động 422.3.3 Các yếu tố về cơ sở vật chất 44
2.4 Phân tích đánh giá thực trạng dịch vụ trong hoạt động VSMT tại
Trang 52.4.4 Thực trạng về mô hình xã hội hoá cung ứng dịch vụ trong hoạt động VSMT tại TP Nam Định
55
2.5 Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động Marketing hỗ trợ phát
triển dịch vụ trong hoạt động VSMT tại TP Nam Định
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP DỊCH VỤ TRONG HOẠT ĐỘNG VỆ
SINH MÔI TRƯỜNG TẠI THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
67
3.1 Mục tiêu và phương hướng thực hiện chiến lược trong hoạt động
VSMT tại TP Nam Định giai đoạn (2011-2015) và những năm sau đó
67
3.1.2 Mục tiêu, phương hướng hoạt động VSMT tại TP Nam Định 68
3.2 Giải pháp dịch vụ trong hoạt động VSMT tại TP Nam Định 70 3.2.1 Giải pháp 1: Phát triển mô hình dịch vụ trong hoạt động
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tốc độ đô thị hoá nhanh có nghĩa là hệ thống hạ tầng kỹ thuật, giao thông và
hạ tầng xã hội trong đô thị được xây dựng mở rộng và phát triển nhanh; hình thành thêm các khu đô thị mới, khu công nghiệp dẫn đến thay đổi cơ cấu nền kinh tế chuyển từ nông nghiệp sang sản xuất và kinh doanh dịch vụ, tạo điều kiện cho sản xuất hàng hoá và các hoạt động kinh doanh dịch vụ gia tăng Điều đó cũng dẫn đến phát sinh những vấn đề phức tạp về quản lý đô thị như dân số tăng thiếu nhà ở, tình trạng giao thông đô thị quá tải, môi trường ô nhiễm… Một trong những vấn đề bức xúc nhất đó là môi trường đô thị bị ô nhiễm bởi lý do dân số, số lượng doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ, số lượng cơ quan trường học…gia tăng, dẫn đến nguồn phát sinh chất thải rắn (CTR) ở đô thị cũng gia tăng, lượng CTR phát sinh hàng ngày không được xử lý hợp vệ sinh để thải bỏ ra môi trường sẽ làm ô nhiễm nguồn nước, đất, khí và gây mất mỹ quan đô thị ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống của người dân đô thị, cộng đồng xã hội Đây là vấn đề bức xúc đối với một thành phố đô thị, vậy tôi mạnh dạn chọn đề tài như sau:
Tên của đề tài: “Giải pháp dịch vụ trong hoạt động vệ sinh môi trường tại thành phố Nam Định”
2 Phạm vi giới hạn của đề tài
Trong những năm qua cùng với xu hướng chung phát triển mạng lưới đô thị trên cả nước thì TP Nam Định cũng mở mang phát triển với tốc độ khá cao Trong thời gian 10 năm trở lại đây đã hình thành hai khu công nghiệp, sáu khu đô thị mới
và thành lập 05 đơn vị hành chính phường mới, bởi vậy dẫn đến số dân tăng, tổ chức doanh nghiệp sản xuất dịch vụ, cơ quan, trường học… gia tăng Do đó nguồn thải CTR gia tăng, và nếu CTR không được xử lý hợp vệ sinh gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra đối với chính quyền TP Nam Định cần phát triển một mô hình dịch vụ trong hoạt động VSMT đô thị nhằm đáp ứng kịp yêu cầu phát triển đô thị hoá của thành phố trong giai đoạn tới và lâu dài Do đó
Trang 7phạm vi giới hạn nghiên cứu của đề tài là mô hình dịch vụ VSMT đang hoạt động trên địa bàn TP Nam Định
3 Mục tiêu của đề tài:
+ Nghiên cứu và phân tích lý luận cơ bản về dịch vụ, marketing dịch vụ, quản lý tổng hợp CTR đô thị và xã hội hoá cung ứng dịch vụ VSMT đô thị
+ Phân tích đánh giá những tiêu chí về dịch vụ; thực trạng dịch vụ trong hoạt động VSMT của TP Nam Định và Công ty TNHH MTV Môi trường Nam Định
+ Đề xuất giải pháp dịch vụ trong hoạt động VSMT tại TP Nam Định nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ VSMT cho người dân và cộng đồng ở TP Nam Định
4 Phương pháp khoa học ứng dụng trong nghiên cứu
Cơ sở lý luận khoa học được vận dụng trong đề tài này là hệ thống lý luận các lý thuyết về dịch vụ, marketing dịch vụ và các lý thuyết về quản lý tổng hợp CTR đô thị; những chủ trương của nhà nước, của chính quyền địa phương về hoạt quản lý tổng hợp CTR đô thị nói chung và dịch vụ VSMT nói riêng
Phương pháp nghiên cứu được lựa chọn trong đề tài này là phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp điều tra, so sánh, thống kê, dự báo…Thông qua việc sử dụng thông tin thu thập được từ tài liệu, tạp chí chuyên ngành; thông tin nội bộ; kết quả điều tra thăm dò ý kiến của của người dân, các nhà quản lý các cấp và ý kiến của chuyên gia về các thông tin liên quan Thông tin được tập hợp phân loại,
hệ thống, phân tích, đánh giá để rút ra những kết luận cần thiết giúp đưa ra những giải pháp dịch vụ có tính hệ thống lôgic trong hoạt động VSMT tại TP Nam Định nhằm nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ cho người dân và cộng đồng
5 Vấn đề mới và giải pháp đề tài giải quyết
Cơ sở lý thuyết của luận văn là đã hệ thống hoá được các lý luận về dịch vụ, marketing dịch vụ và xã hội hoá cung ứng dịch vụ công Điểm mới cơ sở lý thuyết
là hệ thống các yếu tố cấu thành trong hoạt động vệ sinh môi trường đô thị, trong đó yếu tố cốt lõi là hệ thống kỹ thuật quản lý chất thải rắn đô thị; luận văn cũng nêu được vai trò và nội dung của marketing trong quảng bá hình ảnh địa phương
Trang 8Phân tích đánh giá của luận văn đã nêu ra được những tiêu chí về dịch vụ trong hoạt động vệ sinh môi trường đô thị làm căn cứ so sánh rút ra những kết luận
về chất lượng của mô hình cung ứng dịch vụ trong hoạt động vệ sinh môi trường Giải pháp của luận văn đã đề xuất được phát triển một mô hình dịch vụ mới trong hoạt động vệ sinh môi trường đô thị đó là “Tăng cường xã hội hoá trong hoạt động vệ sinh môi trường” Nội dung cốt lõi là cần phải hoàn thiện một hệ thống cơ chế chính sách pháp định về quản lý tổng hợp chất thải rắn đô thị và cần phải có giải pháp hoạt động marketing hỗ trợ kèm theo phát triển mô hình và thúc đẩy thu hút mọi người dân và toàn thể cộng đồng xã hội tham gia vào hoạt động vệ sinh môi trường Từ đó sẽ huy động được tối đa mọi nguồn lực của xã hội để cung ứng một dịch vụ VSMT tốt hơn, hiệu quả hơn và giảm một phần gánh nặng chi ngân sách của nhà nước đối với loại hình dịch vụ công về lĩnh vực môi trường này
Với những điểm nêu trên, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những độc giả quan tâm, đặc biệt là các nhà quản lý ở chính quyền đô thị để lựa chọn việc phát triển một mô hình dịch vụ mới trong hoạt động vệ sinh môi trường phù hợp với điều kiện của địa phương Tuy nhiên, do còn hạn chế nhất định trong quá trình nghiên cứu nên khó tránh khỏi sai sót, mong nhận được sự thông cảm và góp ý
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị của luận văn thì phần nội dung của luận văn được trình bày gồm có 3 chương như sau:
+ Chương 1: Cơ sở lý thuyết về Marketing dịch vụ và dịch vụ vệ sinh môi trường đô thị
+ Chương 2: Phân tích đánh giá về dịch vụ trong hoạt động vệ sinh môi trường của thành phố Nam Định và của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Môi trường Nam Định
+ Chương 3: Giải pháp dịch vụ trong hoạt động vệ sinh môi trường tại thành phố Nam Định
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MARKETING DỊCH VỤ
VÀ DỊCH VỤ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ
1.1 Tổng quát về Marketing dịch vụ và dịch vụ vệ sinh môi trường đô thị 1.1.1 Khái niệm về dịch vụ
Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách
hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu [14, tr6]
Dịch vụ là một loại hàng hóa đặc biệt, nó có những đặc điểm đặc trưng mà hàng
hóa hiện hữu không có Dịch vụ có bốn đặc điểm nổi bật sau:
Thứ nhất, dịch vụ không hiện hữu
Đây là đặc điểm cơ bản của dịch vụ, với đặc điểm này cho thấy dịch vụ là vô hình không tồn tại dưới dạng vật thể Tuy vậy sản phẩm dịch vụ vẫn mang tính chất vật chất nhất định (chẳng hạn nghe bài hát, bài hát không tồn tại dưới dạng vật thể nào, không cầm được nó, nhưng âm thanh là vật chất) Tính không hiện hữu được biểu lộ khác nhau đối với từng loại dịch vụ Trên thực tế từ hàng hóa hiện hữu tới dịch vụ phi hiện hữu có bốn mức độ như sau:
+ Hàng hóa hiện hữu hoàn hảo (như đường, xà phòng)
+ Hàng hóa hoàn hảo bao gồm những loại hàng hóa hiện hữu khi tiêu dùng phải
có dịch vụ đi kèm để tăng sự thỏa mãn (đồ uống nhẹ, đồ trang sức, giải khát) + Dịch vụ chủ yếu: Được thỏa mãn thông qua sản phẩm hàng hóa hiện hữu (khách sạn, du lịch, hàng không, chữa bệnh …)
+ Dịch vụ hoàn hảo: hoàn toàn không hiện hữu (dịch vụ đào tạo, trông trẻ, tư vấn pháp luật, văn hóa nghệ thuật …)
Vì tính vô hình, không hiện hữu của dịch vụ đã gây rất nhiều khó khăn cho quản lý điều hành và Marketing dịch vụ và cho việc nhận biết dịch vụ
Để nhận biết dịch vụ chúng ta thường phải tìm hiểu qua những đầu mối vật chất trong môi trường hoạt động dịch vụ, chẳng hạn như các trang thiết bị, dụng cụ,
Trang 10trang trí nội thất, ánh sáng, màu sắc, âm thanh và con người … có quan hệ trực tiếp tới hoạt động cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp
Thứ hai, dịch vụ không đồng nhất
dịch vụ không tiêu chuẩn hóa được Trước hết do hoạt động cung ứng, trong quá trình này các nhân viên cung cấp dịch vụ không thể tạo ra được dịch vụ như nhau trong những thời gian làm việc khác nhau Hơn nữa khách hàng là người quyết định chất lượng dịch vụ dựa vào cảm nhận của họ, cảm nhận này cũng sẽ là khác nhau trong những thời gian khác nhau và những khách hàng khác nhau cũng có những cảm nhận khác nhau Dịch vụ sẽ có giá trị cao khi thỏa mãn nhu cầu riêng biệt của khách hàng Do vậy trong cung cấp dịch vụ thường thực hiện cá nhân hóa, thoát ly khỏi những qui chế Điều đó càng làm cho dịch vụ tăng thêm mức độ khác biệt giữa chúng
Dịch vụ là vô hình ở đầu ra nên không thể đo lường và qui chuẩn hóa được Vì những nguyên nhân trên mà dịch vụ có tính chất không đồng nhất Tuy nhiên chúng
ta cần chú ý rằng dịch vụ không đồng nhất, không giống nhau giữa một dịch vụ này với một dịch vụ khác nhưng những dịch vụ cùng loại chúng chỉ khác nhau về lượng trong sự đồng nhất để phân biệt với dịch vụ khác
Thứ ba, dịch vụ không tách rời
Dịch vụ gắn liền với hoạt động cung cấp dịch vụ Các sản phẩm cụ thể là không mang tính đồng nhất nhưng chúng đều mang tính hệ thống, đều từ cấu trúc của dịch
vụ cơ bản phát triển thành Quá trình cung cấp dịch vụ gắn liền với tiêu dùng dịch
vụ Từ đây cho thấy việc cung ứng dịch vụ không tùy tiện phải thận trọng Phải có nhu cầu, có khách hàng thì quá trình cung cấp mới có thể thực hiện được
Thứ tư, sản phẩm dịch vụ không tồn trữ
Dịch vụ không thể tồn kho, không cất trữ và không thể vận chuyển từ khu vực này tới khu vực khác Dịch vụ có tính mau hỏng như vậy nên việc cung cấp và tiêu dùng nó bị giới hạn bởi thời gian Đặc điểm này làm mất cân đối quan hệ cung cầu cục bộ giữa các thời điểm khác nhau trong ngày, trong tuần
Đặc tính mau hỏng của dịch vụ quy định cung cấp và tiêu dùng dịch vụ phải
Trang 11đồng thời, trực tiếp, trong một thời gian giới hạn Nếu không sẽ không có cơ hội mua bán và tiêu dùng nó (vé máy bay sẽ không có ý nghĩa gì cả với khách hàng và người bán khi máy bay đã cất cánh)
1.1.2 Khái niệm về Marketing dịch vụ
Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì mà họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào hàng
và trao đổi những sản phẩm có giá trị với người khác [17, tr19]
Marketing dịch vụ là sự thích nghi lý thuyết hệ thống vào thị trường dịch vụ, bao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân phối các nguồn lực của tổ chức Marketing được duy trì trong sự năng động qua lại giữa sản phẩm dịch vụ với nhu cầu của người tiêu dùng và những hoạt động của đối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội [14, tr17]
Khái niệm trên chứng tỏ Marketing dịch vụ đã đề cập đến các vấn đề liên quan như sau:
+ Trước hết đó là việc nghiên cứu nhu cầu của thị trường mục tiêu và những yếu tố ảnh hưởng tới thị trường mục tiêu
+ Tiếp theo là làm sao thỏa mãn được các nhu cầu đó thông qua việc sử dụng tốt các nguồn lực trong sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ cạnh tranh
+ Hoạt động của Marketing dịch vụ diễn ra trong toàn bộ quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ, bao gồm giai đoạn trước tiêu dùng, tiêu dùng và sau khi tiêu dùng
+ Tuy nhiên không phải thỏa mãn các nhu cầu đó bằng mọi giá mà phải xét tới
sự cân bằng lâu dài của ba lợi ích đó là lợi ích của xã hội, người tiêu dùng và nhà cung cấp
Trang 121.1.3 Khái niệm về dịch vụ vệ sinh môi trường đô thị
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự
tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.[6, tr34]
Theo nghĩa hẹp “Môi trường chỉ bao gồm các nhân tố môi trường thiên nhiên và
xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng sống của con người, không xem xét tài
nguyên thiên nhiên trong đó”
Đô thị là nơi tập trung dân với mật độ cao, mà hoạt động của họ là phi nông nghiệp, là nơi tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, sản phẩm của xã hội cao gấp nhiều lần so với trị số trung bình của quốc gia, là nơi phát sinh nhiều chất thải nhất, làm ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí đối với bản thân nó cũng như vùng xung quanh Do đó ở đô thị các thành tố đối với môi trường quan trọng nhất bao gồm:
+ Môi trường nước
+ Môi trường không khí
Để kiểm soát CTR cần có hệ thống quản lý, đó là một cơ cấu tổ chức quản lý chuyên trách về CTR trong cấu trúc quản lý tổng thể của một tổ chức (cơ quan quản
lý nhà nước về môi trường, doanh nghiệp sản xuất )
Trang 13Hoạt động vệ sinh môi trường (VSMT) đô thị là hoạt động của hệ thống quản lý CTR đô thị nhằm kiểm soát các vấn đề liên quan đến CTR bao gồm:
+ Sự phát sinh
+ Thu gom, lưu trữ và phân loại tại nguồn
+ Thu gom tập trung
+ Trung chuyển và vận chuyển
+ Phân loại, xử lý và chế biến
+ Thải bỏ CTR một cách hợp lý
Khái niệm dịch vụ VSMT đô thị: Là một quá trình hoạt động của tổ chức kinh
tế, doanh nghiệp nhằm cung cấp cho cộng đồng nhân dân dịch vụ đáp ứng được mục đích bảo vệ sức khoẻ; bảo vệ môi trường; sử dụng tối đa vật liệu, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng; tái chế tái sử dụng tối đa rác hữu cơ và giảm thiểu CTR
1.2 Vai trò của Marketing dịch vụ và dịch vụ VSMT trong hoạt động công ích của thành phố đô thị
1.2.1 Hoạt động công ích của thành phố đô thị
Hoạt động công ích là một loại dịch vụ công, tức là dịch vụ có quan hệ chặt chẽ với phạm trù hàng hóa công cộng Theo ý nghĩa kinh tế học, hàng hóa công cộng có một số đặc tính cơ bản như:
+ Là loại hàng hóa mà khi đã được tạo ra thì khó có thể loại trừ ai ra khỏi việc sử dụng nó
+ Việc tiêu dùng của người này không làm giảm đi lượng tiêu dùng của người khác
+ Không thể vứt bỏ được, tức là ngay khi không được tiêu dùng thì hàng hóa công cộng vẫn tồn tại
Nói một cách, thì những hàng hóa nào thỏa mãn cả ba đặc tính trên được gọi
là hàng hóa công cộng thuần túy là sản phẩm của dịch vụ công [37]
Dịch công ích đô thị là một loại của dịch vụ công, đó là các hoạt động cung cấp các hàng hoá, dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho người dân và cộng đồng như: Vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp nước sạch, vận tải công cộng đô thị…chủ yếu
Trang 14do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện Có một số hoạt động ở địa bàn cơ sở do khu vực tư nhân đứng ra đảm nhiệm như vệ sinh môi trường, thu gom vận chuyển rác thải
Dịch vụ VSMT đô thị là dịch vụ công ích nên có thể do doanh nghiệp công lập hoặc cơ sở ngoài công lập cung ứng không vì mục tiêu lợi nhuận hoặc không đề cao mục tiêu lợi nhuận mà có thể là hoạt động phi lợi nhuận
1.2.2 Vai trò của Marketing dịch vụ trong hoạt động công ích đô thị
Do dịch vụ VSMT là dịch vụ công ích mang tính phi lợi nhuận, nên Marketing dịch vụ có vai trò không vì mục tiêu mang lại lợi nhuận chủ thể cung ứng dịch vụ là
cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp công lập hay cơ sở ngoài công lập Do đó Marketing dịch vụ đối với hoạt động cung ứng dịch vụ VSMT là Marketing phi lợi
nhuận và có những đặc điểm sau:
+ Có thể được thực hiện bởi các tổ chức là cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp công lập hoặc cơ sở ngoài công lập (Những tổ chức này gọi là tổ chức phi lợi nhuận)
+ Đối tượng là các ý tưởng giữ VSMT, truyền thông, quảng cáo nâng cao nhận thức của cộng đồng
+ Bản chất có sự trao đổi nhưng bên nhận không xem tiền là mục tiêu cao nhất của tổ chức mà thay vào đó là niềm tin và uy tín
+ Giá dịch vụ do tổ chức phi lợi nhuận đặt ra thông thường không có quan hệ gì với chi phí hay giá trị tạo ra sản phẩm dịch vụ [18, tr124]
Như vậy, từ khái niệm và đặc điểm trên vai trò Marketing phi lợi nhuận trong hoạt động công ích đô thị nói chung, dịch vụ VSMT nói riêng mang lại lợi ích cho
là chính quyền đô thị nhận được niềm tin của cộng đồng nhân dân tạo sự phát triển bền vững cho xã hội Mặt khác việc cung ứng dịch vụ công có xu hướng chuyển đổi dần theo hướng xã hội hoá, tự cân đối thu chi Đây cũng là yếu tố bên ngoài bắt buộc doanh nghiệp dịch vụ phải vận dụng Marketing vào hoạt động của mình để tồn tại và phát triển
Trang 151.2.3 Vai trò của dịch vụ VSMT trong hoạt động công ích đô thị
Theo tài liệu Đổi mới dịch vụ công ở Việt Nam.[37] thì dịch vụ VSMT là một loại dịch vụ công ích đô thị tạo ra sản phẩm cung cấp cho xã hội là loại hàng hoá công cộng, mang lại lợi ích cho cả cộng đồng không những chỉ có lợi cho những người phải trả tiền Cung ứng dịch vụ VSMT tốt tức là một trong những nội dung của hoạt động công ích đô thị được làm tốt sẽ mang lại cho mọi thành viên xã hội lợi ích sau:
+ Được hưởng thụ lợi ích về sức khoẻ giảm chi phí chữa bệnh cho xã hội + Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
+ Có thể tiết kiệm việc sử dụng tài nguyên vốn đã khan hiếm
+ Mang lại hình ảnh thành phố đô thị sạch đẹp, văn minh hiện đại tạo tiền đề cho phát triển đô thị theo hướng bền vững
Như vậy, dịch vụ VSMT có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động công ích đô thị Cùng với các dịch vụ đô thị khác như cấp nước, thoát nước, cấp điện, thông tin liên lạc, sẽ tạo nên một trong những yếu tố nền tảng để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của thành phố đô thị
1.3 Cơ sở lý thuyết tiếp cận nghiên cứu phát triển mô hình dịch vụ trong hoạt động VSMT tại TP Nam Định
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là xây dựng các giải pháp dịch vụ trong hoạt động VSMT nhằm nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ cho cộng đồng, người dân trên địa bàn TP Nam Định
Phạm vi nghiên cứu, tác giả chọn phương pháp phân tích đánh giá để tìm ra những mặt thành công và hạn chế trong hoạt động VSMT hiện nay tại TP Nam Định, từ đó xây dựng giải pháp phát triển mô hình trong giai đoạn tới
Việc thu thập đầy đủ thông tin liên quan đến vấn đề của mục tiêu nghiên cứu
là hết sức quan trọng Những thông tin sẽ được thu thập từ hai nguồn tài liệu đó là
số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp Để có được thông tin đầy đủ chính xác phục vụ cho nghiên cứu, tác giả vận dụng lý thuyết về thu thập thông tin trong nghiên cứu Marketing làm phương pháp nghiên cứu
Trang 16Nghiên cứu Marketing là việc xác định một cách có hệ thống những tài liệu cần thiết về hoàn cảnh Marketing đứng trước công ty, là thu thập, phân tích và báo cáo kết quả về các thông tin đó [2, tr42] Quá trình nghiên cứu Marketing được thực hiện theo như Hình 1.1
Hình 1.1 Quá trình nghiên cứu Marketing [2, tr44]
1.3.1 Phát hiện vấn đề và hình thành mục tiêu nghiên cứu
Trước hết vấn đề cần phải xác định chính xác để đề xuất mục tiêu nghiên cứu Nếu vấn đề không rõ ràng thì việc nghiên cứu có thể không có hiệu quả Vấn
đề quá rộng thì tính khả thi mục tiêu nghiên cứu không cao, ngược lại vấn đề hẹp thì phạm vi nghiên cứu không đề cập hết đầy đủ mục tiêu nghiên cứu
Hình thành mục tiêu nghiên cứu có thể từ tìm kiếm thăm dò, có nghĩa là thu thập những tài liệu sơ bộ làm sáng nên vấn đề, và có thể giúp cho việc đề ra các giả thuyết hoặc có thể là mục tiêu dạng mô tả, có nghĩa là dự tính sự mô tả hiện tượng nhất định hoặc có trường hợp là những mục tiêu tìm kiếm nguyên nhân thông qua mối quan hệ nhân quả nào đó
1.3.2 Lập kế hoạch nghiên cứu
* Nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu thứ cấp (cấp hai): Là thông tin mà đã có sẵn ở đâu đó tức là
thông tin được thu thập trước đây vì mục tiêu khác [2, tr46] Ngồn tài liệu gồm: + Nguồn tài liệu bên trong: Báo cáo đánh giá tình hình hoạt động, báo cáo đánh giá kết quả thực hiện các mô hình thí điểm
Thu thập thông tin nghiên cứu
Xử lý và phân tích thông tin
đã thu thập
Phân tích đánh giá kết quả
Trang 17+ Nguồn tài liệu bên ngoài: Các văn bản, ấn phẩm của cơ quan Nhà nước; tạp chí báo chuyên ngành phát hành thường kỳ; sách chuyên ngành
+ Những nguồn tài liệu thứ cấp là xuất phát điểm của việc nghiên cứu là nguồn rẻ tiền dễ chấp nhận được Tuy nhiên khi sử dụng phải phân loại những tài liệu cũ, không chính xác, không đầy đủ và độ tin cậy thấp
Nguồn tài liệu sơ cấp ( cấp 1:) Là thông tin được thu thập lần đầu tiên vì
mục tiêu cụ thể nào đó [2, tr46]
* Các phương pháp nghiên cứu
Có ba cách thức khác nhau thu thập tài liệu sơ cấp gồm:
+ Quan sát là phương pháp mà người nghiên cứu thực hiện sự theo dõi, quan sát mọi người và hoàn cảnh Người nghiên cứu có thể ở đâu đó nghe xem mọi người nói gì, nghĩ gì về sản phẩm dịch vụ của mình
+ Thực nghiệm là phương pháp chọn lọc các nhóm chủ thể có thể so sánh được với nhau, tạo ra đối với nhóm đó hoàn cảnh khác nhau, tạo ra các biến số đã xác lập và xác định trình độ ý nghĩa của những sự khác nhau được theo dõi
+ Điều tra là phương pháp rất tiện lợi cho việc nghiên cứu mô tả cho phép có những thông tin về sự am hiểu, lòng tin và sự ưa thích về mức độ thoả mãn như đo lường sự bền vững của doanh nghiệp
* Các công cụ nghiên cứu
Có thể sử dụng phiếu điều tra - bản câu hỏi là công cụ nghiên cứu phổ biến nhất khi thu thập tài liệu sơ cấp Bản câu hỏi phải được soạn thảo cẩn thận, phải lấy
mẫu thử nghiệm để loại bỏ những thiếu sót phát hiện trước khi sử dụng rộng rãi
+ Nội dung câu hỏi được lựa chọn cẩn thận các câu hỏi đặt ra, lựa chọn hình thức câu hỏi đó, cách diễn đạt và tính lôgic chúng Câu hỏi đặt ra phải liên quan trực tiếp đến nhu cầu thông tin để thực hiện mục tiêu của nghiên cứu Câu hỏi gì sẽ do nhu cầu thông tin quyết định
+ Hình thức câu hỏi: Có hai loại là câu hỏi đóng và câu hỏi mở Câu hỏi đóng dựa vào các phương án có khả năng trả lời mà người được hỏi chỉ lựa chọn một trong số đó Câu hỏi mở đưa lại khả năng cho người được hỏi trả lời bằng lý lẽ
Trang 18và ý kiến riêng của mình
+ Từ ngữ trong câu hỏi: Sử dụng các từ đơn giản không bao hàm hai nghĩa, trước khi sử dụng rộng rãi nên thử nghiệm
+ Thứ tự câu hỏi trong bản câu hỏi: Câu hỏi đầu tiên là câu hỏi có khả năng gây kích thích người được hỏi Những câu hỏi khó hoặc mang tính cá nhân, những câu hỏi phân nhóm người được hỏi nên để sau cùng
* Kế hoạch lấy mẫu
Mẫu là đoạn (bộ phận) dân cư tiêu biểu cho toàn bộ dân cư nói chung [2,tr53] Phải lựa chọn mẫu nào mà thông tin thu thập từ đó có thể đáp ứng được nhiệm vụ đặt ra:
+ Hỏi ai?
+ Số lượng người cần hỏi?
+ Lựa chọn thành viên mẫu ngẫu nhiên hay theo hình thức nào?
* Các phương thức tiếp xúc
Có thể tiếp xúc với các thành viên của mẫu bằng các cách sau:
+ Qua điện thoại
+ Bảng câu hỏi gửi qua bưu điện
+ Tiếp xúc trực tiếp
+ Phỏng vấn nhóm tập trung
1.3.3 Thu thập thông tin
Thu thập thông tin là giai đoạn quan trọng nhưng cũng dễ sai lầm nhất Thường gặp một số khó khăn sau:
+ Người được hỏi vắng
+ Một số người từ chối tham gia
+ Một số trả lời thiên lệch, không thành thật, vô bổ
+ Người chủ trì có thể không thành thật vì lý do chủ quan
1.3.4 Xử lý và phân tích thông tin
Xử lý và phân tích thông tin thu thập được là giai đoạn rút ra từ tài liệu thu thập được những thông tin và kết quả quan trọng Kết quả nghiên cứu được tổng
Trang 19hợp thành bảng, trên cơ sở đó xem xét sự phân bố các thông tin theo mật độ cao, trung bình, tản mạn
Nếu là nghiên cứu định tính thì căn cứ vào mật độ trả lời hay tần suất xuất hiện thông qua các con số giả thiết Nếu là nghiên cứu định lượng cần phải dựa vào con số thực hoặc những chỉ tiêu đã tính toán
1.3.5 Phân tích đánh giá kết quả nghiên cứu
Tuỳ quy mô nghiên cứu mà có cách thức báo cáo kết quả khác nhau Khi viết báo cáo thể hiện rõ vấn đề và mục tiêu nghiên cứu, viết theo trình tự nhất định là nêu vấn đề, mục tiêu nghiên cứu và các kết luận Phân tích trình tự và kết quả nghiên cứu, nêu hạn chế của kết quả nghiên cứu vì những lý do nhất định
1.4 Cơ sở lý thuyết về dịch vụ trong hoạt động VSMT đô thị
1.4.1 Cơ sở lý thuyết về hệ thống quản lý tổng hợp CTR đô thị
Hệ thống quản lý CTR đô thị là một cơ cấu tổ chức quản lý chuyên trách về CTR trong đô thị trong cấu trúc quản lý tổng thể của một tổ chức ( cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, doanh nghiệp, công ty, xí nghiệp, đơn vị sản xuất).[15,tr7]
Hình 1.2 Mối liên hệ giữa các thành phần trong hệ thống quản lý CTR [15, tr8]
Phân loại, lưu trữ, tái sử dụng CTR tại nguồn
Nguồn phát sinh CTR
Thu gom tập trung
Trang 20Các thành phần trong hệ thống quản lý CTR gồm: Sự phát sinh; thu gom, lưu trữ; phân loại lưu trữ, tái sử dụng; thu gom tập trung; trung và vận chuyển; phân loại xử lý và tái chế; thải bỏ
Sự lựa chọn kết hợp giữa công nghệ, kỹ thuật và chương trình quản lý phù hợp để đạt mục tiêu quản lý CTR, được gọi là quản lý tổng hợp CTR Nguyên tắc chung của hệ thống quản lý tổng hợp CTR là ưu tiên các biện pháp giảm thiểu tại nguồn, sau đó mới đến các biện pháp khác như tái chế, tái sử dụng và chôn lấp hợp
- Cơ cấu luật:
+ Luật bảo vệ môi trường
Trang 21+ Chiến dịch truyền thông chung
+ Phân biệt các loại sản phẩm
- Tạo thị trường và tiếp thị tại nguồn các sản phẩm tái chế
+ Khuyến khích các sản phẩm có chứa các vật liệu tái chế
+ Giáo dục người tiêu dùng
+ Khuyến khích sử dụng các vật liệu tái chế trong sản xuất
+ Trợ cấp cho các nghiên cứu và phát triển công nghệ tái chế
+ Khuyến khích cho các công nghiệp tái chế
Trong những yếu tố cấu thành hệ thống quản lý tổng hợp CTR thì yếu tố hệ thống kỹ thuật thu gom, vận chuyển và xử lý CTR là hoạt động cung ứng dịch vụ VSMT cho người dân và cộng đồng Ngoài ra các yếu tố cơ cấu chính sách, luật và
Trang 22hành chính là những thành tố liên quan quản lý hoạt động dịch vụ VSMT Luận văn này nghiên cứu yếu tố chính cấu thành nên dịch vụ trong hoạt động VSMT đó là hệ thống thu gom, trung vận chuyển và xử lý CTR
1.4.2 Cơ sở lý thuyết về hệ thống kỹ thuật quản lý CTR đô thị
Hệ thống kỹ thuật là một trong những yếu tố cấu thành quản lý tổng hợp CTR các hoạt động gồm: Dịch vụ thu gom, trung vận chuyển và xử lý CTR
1.4.2.1 Dịch vụ và hệ thống thu gom CTR đô thị
Dịch vụ thu gom CTR là quá trình thu nhặt rác thải từ các hộ dân, công sở hay từ những điểm thu gom, chất chúng lên xe và vận chuyển đến điểm trung chuyển, trạm xử lý hay những nơi chôn lấp CTR [15, tr47]
Thu gom CTR ở đô thị là vấn đề khó khăn, bởi nguồn phát sinh CTR ở đô thị
từ mọi nhà, mọi khu khu thương mại, công nghiệp cũng như trên đường phố, công viên và ngay cả ở các khu đất trống Sự phát triển của các vùng ngoại ô lân cận trung tâm đô thị đã làm phức tạp cho công tác thu gom
a) Dịch vụ thu gom CTR đô thị
Hoạt động thu gom phụ thuộc vào loại rác và vị trí phát sinh Hệ thống thu gom được chia hai loại gồm hệ thống thu gom CTR chưa phân loại tại nguồn và hệ thống thu gom CTR đã được phân loại
* Dịch vụ thu gom CTR chưa phân loại
Các cách thu gom CTR dạng này phụ thuộc vào từng nguồn phát sinh: khu dân cư biệt lập thấp tầng; khu dân cư thấp tầng và trung bình; khu dân cư cao tầng, khu thương mại và công nghiệp Các cách thu gom gồm:
Khu dân cư biệt lập thấp tầng bao gồm các dịch vụ
Dịch vụ thu gom lề đường: Chủ nhà chịu trách nhiệm đặt các thùng rác đã đầy rác ở lề đường vào ngày thu gom và chịu trách nhiệm mang các thùng đã được
đổ bỏ trở về vị trí đặt chúng để tiếp tục chứa chất thải
Dịch vụ thu gom kiểu mang đi - trả về: Các thùng chứa rác được mang đi và
mang trả lại cho chủ nhà sau khi đổ bỏ CTR, công việc được thực hiện bởi các đội trợ giúp Đội trợ giúp cùng đội thu gom chịu trách nhiệm về việc dỡ tải từ các thùng
Trang 23chứa CTR lên xe thu gom
Dịch vụ kiểu mang đi: Việc đưa thùng chứa CTR có thể bằng thủ công hoặc
cơ giới Đối với cách thủ công sử dụng thùng chuyên dụng có gắn bánh xe để nhận rác từ thùng sau đó đẩy ra xe rác Đối với phương pháp cơ giới dùng các loại xe nhỏ chở thùng rác đến xe chính Việc đổ rác từ các thùng vào xe rác có thể bằng thủ công hoặc cơ giới Nếu xe thấp công nhân vệ sinh đổ trực tiếp vào xe Nếu xe có thiết bị nâng, các thùng rác được máy nâng lên và đổ vào xe, Trong trường hợp này, thùng được nâng phải dùng loại thùng được chế tạo hợp quy cách với thiết bị nâng
Khu dân cư thấp tầng và trung bình
Dịch vụ thu gom lề đường là phổ biến Với dịch vụ này, đội thu gom có trách nhiệm vận chuyển các thùng chứa đầy CTR từ hộ gia đình đến tuyến đường thu gom bằng phương pháp thủ công hoặc cơ giới, tuỳ thuộc vào số lượng rác cần vận chuyển Nếu sử dụng loại thùng chứa lớn, cần cơ giới hoá bằng cách dùng xe rác có thiết bị nâng
Khu dân cư cao tầng
Các loại thùng rác lớn được sử dụng để thu gom CTR Tuỳ thuộc kích thước kiểu dáng các loại thùng chứa được sử dụng mà áp dụng phương pháp cơ giới (xe thu gom có trang bị bộ phận nâng các thùng chứa để dễ dàng dỡ tải) hoặc kéo thùng chứa đến nơi khác để dỡ tải
Cả hai phương pháp thủ công và cơ giới đều được sử dụng để thu gom CTR
từ khu thương mại Để tránh tình trạng ùn tắc giao thông, việc thu gom CTR được thực hiện ban đêm hay sáng sớm Khi áp dụng thu gom thủ công thì CTR được đặt vào các túi hoặc thùng bên đường phố để thu gom và CTR được đổ lên các xe thu gom Hoặc có thể sử dụng thùng chứa Tuỳ kích thước hoặc hình dáng thùng chứa
để dỡ tải tại chỗ hay kéo đi nơi khác dỡ tải Dỡ tải bằng phương pháp cơ khí thường được áp dụng và thu gom rác vào ban đêm
* Dịch vụ thu gom CTR đã phân loại tại nguồn
Các thành phần CTR được phân loại tại nguồn cần phải được thu gom và
Trang 24đem tái chế Thường sử dụng phương pháp thu gom dọc lề đường, sử dụng phương tiện thông thường hoặc thiết kế các thiết bị chuyên dùng Xem xét đối với hai nguồn phát thải cụ thể:
Khu dân cư
CTR được phân loại theo nhiều cách: Phân loại tại lề đường khi đổ chúng vào xe chở thông thường hoặc xe chuyên dụng; phân loại bởi chủ nhà để mang đến các điểm thu mua Có thể phân loại theo hai thành phần CTR vô cơ và hữu cơ được đựng bởi hai thùng khác nhau Cũng có thể phân loại từng thành phần CTR kim loại, thuỷ tinh; CTR gỗ giấy và CTR thức ăn thừa, thực phẩm Hoạt động thu gom các thành phần CTR khác nhau ảnh hưởng đến thiết kế các loại phương tiện thu gom Xe chuyên chở CTR đã được phân loại có nhiều ngăn riêng, có nhiều kiểu xe:
xe kín hoặc hở, xe có thành cao thấp, xe có thùng chứa nhiều ngăn hoặc chở nhiều thùng chứa rời ghép lại, xe bốc đổ rác cơ giới hoặc nửa cơ giới
Khu thương mại
Thành phần CTR được phân loại bởi những tổ chức (các tổ chức này kí hợp đồng phân loại CTR với cơ sở thương mại) Thành phần CTR có thể tái chế được cho vào từng thùng chứa riêng Các loại thùng các tông được thu gom bó lại đặt tại
lề đường Các loại lon nhôm thải ra được đập bẹp để giảm thể tích khi thu gom
b) Hệ thống thu gom CTR đô thị
Hệ thống thu gom được phân chia thành nhiều dạng tuỳ theo từng quan điểm chẳng hạn phân chia theo phương thức hoạt động, trang thiết bị sử dụng, loại CTR cần thu gom Theo phương thức hoạt động, hệ thống thu gom CTR gồm hai dạng:
hệ thống dùng thùng chứa di động và hệ thống dùng thùng chứa cố định
* Hệ thống container di động
Trong hệ thống này, các container di động dùng để chứa đầy CTR và vận chuyển đến bãi đổ, đổ bỏ CTR và trả trở về vị trí thu gom ban đầu hoặc vị trí thu gom mới
Hệ thống container di động thích hợp cho các nguồn phát sinh CTR có khối lượng lớn ( trung tâm thương mại, nhà máy ) bởi vì hệ thống này sử dụng các
Trang 25container kích thước lớn Hệ thống container di động, CTR được đổ vào bằng thủ công nên hệ số sử dụng container thấp
* Hệ thống container cố định
Trong hệ thống này các container được chứa CTR, chúng được di chuyển một khoảng ngắn từ nguồn phát sinh đến vị trí thu gom để dỡ tải Hệ thống này phụ thuộc vào khối lượng CTR và số điểm phát sinh
Hệ thống container cố định được lấy tải theo cả phương pháp thủ công và cơ khí Xe thu gom sử dụng trong hệ thống này được trang bị thiết bị ép CTR để làm giảm thể tích tăng khối lượng CTR vận chuyển Vì vậy hệ số sử dụng thể tích container trong hệ thống này cao Trong hệ thống này xe thu gom chở CTR đến bãi
đổ sau khi tải được chất đầy
1.4.2.2 Hệ thống trung chuyển và vận chuyển CTR đô thị
a) Hệ thống trung chuyển CTR đô thị
Trung chuyển CTR là hoạt động mà trong đó CTR từ các xe thu gom nhỏ được chuyển sang các xe thu gom lớn Các xe trung chuyển được sử dụng để vận chuyển CTR một khoảng cách khá xa, hoặc đến trạm thu hồi phế liệu, hoặc đến bãi
đổ [15, tr78]
Thông thường CTR được vận chuyển từ nguồn phát sinh đến bãi chôn lấp hoặc cơ sở tái chế Tuy nhiên xu hướng các bãi chôn lấp được bố trí xa thành phố, thậm chí còn xa trục giao thông nên việc vận chuyển trực tiếp đến bãi chôn lấp chi phí cao không khả thi Ngoài ra hoạt động trung chuyển là cần thiết cho tất cả các trạm thu hồi phế liệu Trạm trung chuyển là một khâu không thể thiếu của các cơ sở tái chế kết hợp trung chuyển rác Ngay cả bãi chôn lấp cũng cần có trạm trung chuyển để tiếp nhận rác từ các xe thu gom chở đến sau đó nhờ các xe chuyên dụng chở đến các ô chôn lấp
* Các loại trạm trung chuyển CTR
Trạm trung chuyển chất tải trực tiếp: CTR từ xe gom nhỏ được đổ trực tiếp
vào xe vận chuyển tải trọng lớn hoặc thiết bị nén để nén CTR vào xe lớn Nhiều trường hợp CTR được đổ trên nền dỡ tải để phân loại vật liệu có thể tái chế, phần
Trang 26còn lại ép vào các xe trung chuyển Loại trạm trung chuyển này hầu như không lưu trữ CTR lâu, nếu có chỉ là nhất thời Thể tích CTR tạm thời trên nền dỡ tải thường
là công suất tích luỹ tức thời
Trạm trung chuyển kiểu tích luỹ: CTR được đổ trực tiếp vào hố chứa Từ hố
chứa này, CTR được chuyển lên xe vận chuyển nhờ các thiết bị khác Trạm trung chuyển kiểu này được thiết kế để tích luỹ CTR từ 1 đến 3 ngày
Trạm trung chuyển kết hợp chất tải trực tiếp và chất tải tích luỹ: Đây là trạm
trung chuyển đa chức năng, hoạt động để thu hồi vật liệu và thu phí Tất cả các xe thu gom khi đến trạm trung chuyển phải qua khâu kiểm tra cân lại, sau đó đến sàn
dỡ tải và đổ trực tiếp lên xe vận chuyển
b) Phương tiện và phương pháp vận chuyển CTR đô thị
* Phương tiện vận chuyển CTR
Xe tải, xe lửa, tàu thuỷ là phương tiện chủ yếu để vận chuyển CTR Bên cạnh đó còn sử dụng hệ thống nén khí và hệ thống thuỷ lực
Phương pháp xử lý CTR phụ thộc vào tính chất của CTR là loai CTR thông thường, CTR nguy hại
Trang 27a) Phương pháp xử lý CTR thông thường ở đô thị
* Phương pháp cơ học
Giảm kích thước: Được sử dụng giảm kích thước các thành phần của CTR để
có thể sử dụng lớp che phủ trên mặt đất hay làm phân compost hoặc một phần được
sử dụng cho các hoạt động tái sinh
Phân loại theo kích thước: Là quá trình phân loại một hỗn hợp các vật liệu
CTR có kích thước khác nhau thành hai hay nhiều loại vật liệu có cùng kích thước Quá trình phân loại thông thường gắn với các công đoạn chế biến CTR tiếp theo
Phân loại theo khối lượng riêng: Được sử dụng rộng rãi dựa vào khí động
học và sự khác nhau về khối lượng riêng của chúng Tách rời các loại vật liệu sau quá trình tách nghiền thành hai phần riêng biệt, dạng có khối lượng riêng nhẹ và dạng có khối lượng riêng nặng
khác nhau của các thành phần trong CTR Phân loại bằng từ trường tách được kim loại màu và kin loại đen Phân loại bằng tĩnh điện để tách nhựa và giấy Ngoài ra còn phân loại bằng dòng điện xoáy
của chất thải để lưu trữ vận chuyển hiệu quả hơn Nén CTR làm giảm lưu trữ khi tái
sử dụng và giảm thể tích vận chuyển
* Phương pháp nhiệt
Sử dụng nhiệt để tiêu huỷ hoàn toàn CTR là phương pháp hiệu quả và đang được áp dụng phổ biến Phương pháp này thực hiện qua các quá trình đốt, nhiệt phân và khí hoá
* Phương pháp chuyển hoá sinh học và hoá học
Phương pháp này thực hiện bởi các quy trình ủ phân hiếu khí, phân huỷ chất thải lên men kỵ khí, chuyển hoá hoá học và năng lượng từ quá trình chuyển hoá sinh học của CTR Sản phẩm khí được hình thành từ CTR sinh ra năng lượng khí Biogas có thể được sử dụng trực tiếp vào các động cơ đốt trong, quay tuabin tạo điện năng
Trang 28b) Phương pháp xử lý CTR nguy hại
Khi đã giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng CTR thì lượng chất thải nguy hại giảm
đi đáng kể nhưng vẫn còn tồn tại trong môi trường Chúng thường được xử lý bằng các phương pháp như: Phương pháp hoá học, lý học; phương pháp nhiệt
1.5 Cơ sở lý thuyết về xã hội hoá cung ứng dịch vụ trong hoạt động vệ sinh môi trường đô thị
Phát triển mô hình cung ứng dịch vụ trong hoạt động VSMT đô thị nghĩa là
sẽ từng bước xã hội hoá cung ứng loại dịch vụ này Do đó cần nghiên cứu cơ sở lý thuyết về nội dung xã hội hoá nói chung và xã hội hoá cung ứng dịch vụ VSMT nói riêng Trên cơ sở đó xác định những nội dung nào của hoạt động dịch vụ VSMT có thể xã hội hoá và lộ trình phát triển xã hội hoá như thế nào để phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của từng giai đoạn
1.5.1 Đặc điểm của dịch vụ trong hoạt động VSMT đô thị
Dịch vụ trong hoạt động VSMT là một loại dịch vụ công có những đặc điểm chung cơ bản như dịch vụ công nói chung bao gồm:
+ Dịch vụ công có tính xã hội, với mục tiêu chính là phục vụ lợi ích cộng đồng đáp ứng nhu cầu của tất cả công dân, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội và bảo đảm công bằng và ổn định xã hội, mang tính quần chúng rộng rãi Mọi người đều có quyền ngang nhau trong việc tiếp cận các dịch vụ công với tư cách là đối tượng phục vụ của nhà nước
+ Dịch vụ công cung ứng loại “hàng hóa” không phải bình thường mà là hàng hóa đặc biệt do nhà nước cung ứng hoặc ủy nhiệm cho tổ chức, cá nhân thực hiện, đáp ứng nhu cầu toàn xã hội
+ Việc trao đổi dịch vụ công không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ Thông thường, người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, hay đúng hơn là
đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước Cũng có những dịch
vụ công mà người sử dụng vẫn phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí; song nhà nước vẫn có trách nhiệm đảm bảo cung ứng các dịch vụ này không nhằm mục tiêu lợi nhuận
Trang 29+ Từ góc độ kinh tế học, dịch vụ công là các hoạt động cung ứng cho xã hội một loại hàng hoá công cộng Loại hàng hóa này mang lại lợi ích không chỉ cho những người mua nó, mà cho cả những người không phải trả tiền cho hàng hóa này
Do đó dịch vụ trong hoạt động VSMT đem lại lợi ích chung cho cả cộng đồng, sản phẩm là loại hàng hoá đặc biệt mọi người được hưởng có quyền bình đẳng như nhau Dịch vụ này không chỉ nhà nước cung ứng mà tổ chức, cá nhân có thể thực hiện cung ứng [37]
1.5.2 Khái niệm về xã hội hoá cung ứng dịch vụ trong hoạt động VSMT đô thị 1.5.2.1 Khái niệm xã hội hoá
Đặc điểm xã hội hoá được tổng kết thông qua những quan điểm sau:
+ Hoạt động sản xuất kinh doanh là chung không thể tự một người hay một gia đình làm được, mà là một hoạt động có tính tổ chức và có tính tập thể cao
+ Hoạt động do Nhà nước quyết định, điều động và kiểm soát – huy động mọi người làm chung
+ Hoạt động chung có tính tự nguyện như là tập thể người bỏ vốn vào công
ty, quyền tuỳ thuộc số tiền bỏ vốn ra, hay là các hợc tác xã mà người lao động làm chung quyết định chung mỗi người một phiếu giống nhau
+ Xã hội hoá là mỗi người tự đóng góp, tự lo, nhà nước có xu hướng giảm đi trách nhiệm của mình
Như vậy, khái quát xã hội hoá một hoạt động nào đó chính là sự gia tăng tính chất xã hội của hoạt động ấy thông qua sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội dựa trên những điều kiện và khuôn khổ cơ chế nhất định Điều kiện và
cơ chế như thế nào phụ thuộc vào bối cảnh của xã hội hoá Chúng quy định hình thức, phương thức tham gia của các chủ thể khác nhau trong xã hội vào hoạt động được xã hội hoá [37]
1.5.2.2 Khái niệm xã hội hoá cung ứng dịch vụ trong hoạt động VSMT đô thị
Dịch vụ trong hoạt động VSMT là một loại dịch vụ công nên xã hội hoá cung ứng dịch vụ trong hoạt động VSMT cũng mang đầy đủ đặc điểm của xã hội hoá cung ứng dịch vụ công nói chung Cung ứng dịch vụ công là cung ứng và phân
Trang 30phối dịch vụ được thực hiện bởi nhà nước Xã hội hoá cung ứng dịch vụ là mở rộng
sự tham gia của các chủ thể ngoài nhà nước vào việc cung ứng dịch vụ [37]
Do đó, xã hội hoá cung ứng dịch vụ công nói chung, dịch vụ trong hoạt động VSMT đô thị nói riêng được khái niệm như sau:
+ Quá trình vận động và tổ chức để nhân dân và toàn xã hội tham gia (về vốn, tài sản, sức lao động, trí tuệ ), hình thành cộng đồng trách nhiệm của các tổ chức Đảng, Nhà nước, đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội và các tầng lớp nhân dân Mỗi bên tham gia có thể có mục đích riêng của mình, tuy nhiên tất cả các bên đều hướng tới một mục đích chung quan trọng nhất là nâng cao hiệu quả của hoạt động cung ứng dịch vụ công, đáp ứng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ dịch vụ của nhân dân Quá trình vận động nhân dân tham gia cũng có nghĩa là tạo ra các phong trào lành mạnh sâu rộng trong xã hội
+ Quá trình đa dạng hoá các hình thức hoạt động, mở ra cơ hội để mọi người chủ động và bình đẳng tham gia Dịch vụ công không còn chỉ được cung ứng bởi Nhà nước nữa, mà được mở rộng cho sự tham gia của các tổ chức ngoài nhà nước với nhiều hình thức đa dạng, phong phú (có thể hoạt động độc lập, liên kết với Nhà nước hoặc quan hệ bạn hàng với Nhà nước) và bình đẳng
+ Quá trình đa dạng hoá các nguồn đầu tư để thu hút, khai thác mọi tiềm năng trong xã hội Gắn với việc đa dạng hoá các hình thức hoạt động cung ứng dịch
vụ công là quá trình đa dạng hoá các nguồn đầu tư trong xã hội Cùng với Nhà nước, các tổ chức ngoài nhà nước có thể bỏ vốn đầu tư vào hoạt động cung ứng dịch
vụ công
+ Xã hội hoá dịch vụ công bao gồm cả xã hội hoá việc cung ứng dịch vụ công, huy động toàn xã hội và thu hút cả đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực hoạt động này và cả xã hội hoá hưởng thụ dịch cụ công, thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm cho mọi người dân được hưởng những dịch vụ công cơ bản, thiết yếu
Như vậy, việc xác định khái niệm xã hội hoá có ý nghĩa quan trọng với xây dựng cơ chế để thực hiện xã hội hoá
Trang 311.5.3 Nội dung cơ chế của xã hội hoá đối với cung ứng dịch vụ trong hoạt động VSMT đô thị
Dịch vụ trong hoạt động VSMT đô thị là một trong những trường hợp riêng của dịch vụ công nên cơ chế của xã hội hoá loại dịch vụ trong hoạt động VSMT cũng có những đặc điểm giống như cơ chế xã hội hoá đối với dịch vụ công nói chung Do đó nội dung cơ chế xã hội hoá cũng bao gồm những đặc điểm sau:
Thứ nhất, chuyển đổi các cơ sở công lập cung ứng dịch vụ công đang hoạt động theo cơ chế sự nghiệp sang cơ chế tự chủ Các cơ sở này có đầy đủ quyền tự chủ về tổ chức và quản lý; thực hiện đúng mục tiêu và nhiệm vụ; hạch toán đầy đủ chi phí, cân đối thu-chi; thường xuyên nâng cao chất lượng dịch vụ; đảm bảo quyền lợi và cơ hội tiếp cận bình đẳng của người thụ hưởng; v.v Gắn liền với việc chuyển đổi là sự đổi mới chế độ thu phí dịch vụ Mức phí quy định theo nguyên tắc đủ trang trải các chi phí cần thiết, có tích luỹ để đầu tư phát triển và xoá bỏ mọi khoản thu khác Người thụ hưởng có quyền lựa chọn cơ sở cung ứng dịch vụ phù hợp với từng lĩnh vực
Thứ hai, chuyển các cơ sở công lập cung ứng dịch vụ công sang hình thức dân lập, tư nhân hoặc sang doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế phi lợi nhuận hoặc
cơ chế lợi nhuận Tài sản nhà nước sẽ được chuyển giao (giao, bán hoặc cho thuê) cho các chủ thể ngoài nhà nước Quyết định chuyển giao do các cơ quan có thẩm quyền quyết định
Thứ ba, khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ công ngoài công lập với các loại hình dân lập, tư nhân và doanh nghiệp (cả trong nước và nước ngoài) Quyền sở hữu của các cơ sở này được xác định theo Bộ luật Dân sự Các cơ
sở này có thể hoạt động theo cơ chế phi lợi nhuận hoặc cơ chế lợi nhuận
Vai trò chủ đạo của Nhà nước được thực hiện thông qua việc tiếp tục tăng đầu tư từ ngân sách đi đôi với phát huy các khả năng đầu tư, đóng góp kinh phí trong xã hội, hoàn thiện thể chế và đổi mới quản lý vĩ mô Cụ thể hơn, Nhà nước có các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai, nhân lực,… đối với các cơ sở công lập được chuyển đổi và các cơ sở ngoài công lập mới thành lập Nhà nước tạo môi
Trang 32trường phát triển, môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng theo pháp luật để thúc đẩy các cơ sở công lập cũng như ngoài công lập phát triển cả về quy mô và chất lượng Đồng thời, Nhà nước tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, phát huy vai trò của các đoàn thể, tổ chức quần chúng, đặc biệt là các hội nghề nghiệp trong việc giám sát hoạt động của các cơ sở cung ứng dịch vụ công được xã hội hoá [37]
1.6 Cơ sở lý thuyết về Marketing hỗ trợ phát triển dịch vụ trong hoạt động VSMT đô thị
1.6.1 Marketing phi lợi nhuận
1.6.1.1 Khái niệm Marketing phi lợi nhuận
Dịch vụ VSMT là dịch vụ công ích phi lợi nhuận, Marketing hỗ trợ cho dịch
vụ trong hoạt động VSMT là Marketing phi lợi nhuận Marketing phi lợi nhuận là Marketing được thực hiện bởi các tổ chức và cá nhân hoạt động cung cấp dịch vụ mang tính công ích, xã hội, từ thiện…không vì mục tiêu lợi nhuận [18, tr124] Chủ thể thực hiện Marketing là tổ chức phi lợi nhuận bao gồm các tổ chức sau:
+ Giáo dục: Trường học phổ thông, cao đẳng, đại học
+ Cung ứng dịch vụ công ích như: Môi trường, cấp nước, thoát nước
+ Văn hoá: Bảo tàng, nhà văn hoá
+ Tôn giáo: Nhà thờ, tu viện
+ Từ thiện: Hội chữ thập đỏ, hội từ thiện
+ Sự nghiệp xã hội: Hội bảo vệ môi trường, Hội bà mẹ trẻ em
+ Chăm sóc sức khoẻ: Bệnh viện, viện tim mạch
+ Chính trị: Đảng chính trị, Mật trận tổ quốc
* Marketing phi lợi nhuận có đặc điểm:
+ Đối tượng: Marketing phi lợi nhuận là các ý tưởng như giữ gìn vệ sinh
môi trường, không hút thuốc lá…; các địa điểm là nơi chốn linh thiêng tôn giáo, di tích lịch sử…; các sản phẩm dịch vụ là về cấp nước, thông tin liên lạc, vệ sinh môi trường…; con người là các ứng viên đại biểu nhân dân…
không phải nhận được tiền hay không xem tiền là mục tiêu cao nhất của tổ chức Ví
Trang 33dụ như ứng cử viên vận động bỏ phiếu cho mình và hứa đáp ứng những mong đợi của cử chi nếu được trúng cử Tổ chức cung ứng dịch vụ VSMT không phải mục tiêu thu phí và lợi nhuận mà đem lại môi trường sống sạch đẹp, giảm bệnh tật cho con người
+ Chi phí: Marketing phi lợi nhuận thì giá không liên hệ gì với chi phí hay
giá trị của sản phẩm Ví dụ như phẫu thuật từ thiện là miễn phí Học phí của học sinh, sinh viên không đủ trang trải cho toàn bộ chi phí của nhà trường
thất bại không đo lường bằng chỉ số tài chính Một tổ chức phi lợi nhuận có thể có các mục tiêu hỗn hợp như quyên qóp 200 triệu đồng từ các nhà hảo tâm, tăng cường
sự quan tâm, nhận thức của xã hội ủng hộ nạn nhân chất độc da cam Trong Marketing phi lợi nhuận thì lợi ích của tổ chức phi lợi nhuận thường không xuất phát từ số tiền khách hàng thanh toán Ví dụ tổ chức bảo vệ môi trường có lợi ích mang lại môi trường trong lành cho xã hội, bản thân và uy tín xã hội
+ Thị trường mục tiêu: Marketing phi lợi nhuận thường được mong đợi hay
yêu cầu phục vụ những đoạn thị trường không có lợi nhuận Ví dụ doanh nghiệp dịch vụ VSMT có nhiệm vụ dịch vụ công ích cho khu dân cư thu nhập thấp Bù lại nhà nước có ưu đãi hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu xã hội Có hai nhóm khách hàng mục tiêu gồm:
Nhóm các nhà tài trợ cung cấp nguồn lực cần thiết cho tổ chức hoạt động Do vậy, một nhiệm vụ quan trọng của tổ chức phi lợi nhuận là thu hút các nguồn lực cần thiết của xã hội Ngoài ra, để giúp các tổ chức phi lợi nhuận hoạt động tốt, chính phủ thường dành cho họ nhiều cơ chế ưu đãi về thuế, vốn vay…
Nhóm khách hàng mục tiêu được gọi bằng nhiều tên khác nhau như: Sinh viên, bệnh nhân, khán giả…
Ngoài thị trường mục tiêu, cũng như Marketing vì lợi nhuận, các tổ chức phi lợi nhuận còn phải quan tâm đến các nhóm công chúng khác nhau như các cấp chính quyền, các phương tiện thông tin đại chúng, cộng đồng địa phương và các nhóm khách hàng bên ngoài tổ chức
Trang 34Do đó chiến lược Markeing phi lợi nhuận căn cứ hai nhóm khách hàng như trên cần triển khai hai chương trình Marketing, một là hướng về phía sau để làm hài lòng các nhà cung cấp các nguồn lực đầu vào và một chương trình hướng về phía trước nhằm đáp ứng nhóm khách hàng mục tiêu và các nhóm công chúng có ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức
1.6.1.2 Nội dung cơ bản của Marketing phi lợi nhuận
* Phân tích thị trường mục tiêu
Như trên đã nêu, tổ chức phi lợi nhuận có hai nhóm đối tượng khách hàng cần đáp ứng nhu cầu đó là khách hàng mục tiêu của tổ chức và những nhà tài trợ
Để đáp ứng hai nhu cầu khách hàng này, tổ chức phải thực hiện nguyên tắc phân đoạn thị trường và chọn thị trường mục tiêu Cơ sở để phân đoạn thị trường cũng giống như Marketing vì lợi nhuận Ví dụ các nhà tài trợ có thể được phân đoạn theo các tiêu thức như động cơ tài trợ, mức tài trợ qúa khứ, vị trí xã hội Khách hàng của dịch vụ VSMT phân đoạn thành các nhóm như dân cư ngoại thành, nội thành, hộ gia đình kinh doanh, tổ chức thương mại…
* Chương trình Marketing hỗn hợp
Sản phẩm đối với Marketing phi lợi nhuận là sản phẩm làm cho các nhà tài trợ có cảm nhận hài lòng vì làm việc thiện, thương hiệu nhà tài trợ được quảng bá rộng rãi, họ được hưởng chế độ ưu đãi về thuế…
Chương trình xúc tiến được Marketing phi lợi nhuận quan tâm thường xuyên
sử dụng như quảng cáo, truyền thông, quan hệ công chúng (PR) cho khách hàng và nhà tài trợ Thông qua xúc tiến, tổ chức thuyết phục các nhà tài trợ đóng góp tài chính cho hoạt động hiệu quả của họ, đồng thời cung cấp thông tin và thuyết phục khách hàng đến với họ nhiều hơn
1.6.2 Marketing địa phương
1.6.2.1 Vai trò Marketing địa phương
Hoạt động Marketing không chỉ dừng lại ở phạm vi doanh nghiệp, ngành nghề hay lĩnh vực sản phẩm dịch vụ nào đó mà trong xu hướng cạnh tranh thì một quốc gia hay một địa phương phải luôn thay đổi cách nhìn Lợi thế so sánh của các
Trang 35yếu tố sản xuất cơ bản không còn là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế nữa bởi lẽ tất cả chỉ đều mang tính tương đối Theo Philip Kotler “Tương lai phát triển của địa phương không tuỳ thuộc vào vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên Tương lai phát triển của địa phương tuỳ thuộc vào chuyên môn, kỹ thuật đóng góp, phẩm chất của con người và tổ chức tại địa phương” [38] Các địa phương ngày càng phải tự thân vận động như một doanh nghiệp Theo định hướng thị trường các nhà lãnh đạo cần biết xây dựng địa phương mình thành một sản phẩm hấp dẫn, đồng thời cần biết cách quảng bá các nét đặc thù của địa phương “sản phẩm” này một cách hiệu quả đến các thị trường mục tiêu của mình
Như vậy Marketing địa phương là Marketing một thương hiệu nó tương tự như Marketing thương hiệu sản phẩm hay dịch vụ Tuy nhiên nó cũng có những đặc trưng riêng nên chương trình cụ thể của chúng phải phù hợp với trường hợp cụ thể Một vấn đề nữa là người làm Marketing địa phương không phải là doanh nghiệp mà
là chính quyền địa phương, cộng đồng kinh doanh và cộng đồng địa phương
Theo Philip Kotlerthì có ba nhóm chính liên quan đến Marketing địa phương
đó là khách hàng của địa phương có thể là nhà đầu tư, nhà sản xuất kinh doanh, khách du lịch…Thứ hai là các yếu tố của địa phương để tiếp thị như cơ sở hạ tầng, con người, hình tượng và chất lượng sống, các đặc trưng hấp dẫn Thứ ba là các nhà hoạch định bao gồm chính quyền, cộng đồng, công dân của địa phương đó.[38]
1.6.2.2 Nội dung của Marketing địa phương
* Thị trường mục tiêu : Du khách, cư dân và nhân công, kinh doanh và công nghiệp và Thị trường xuất khẩu
* Các yếu tố Marketing địa phương: Cơ sở hạ tầng; đặc trưng hấp dẫn; con người và ấn tượng địa phương và chất lượng cuộc sống
* Những giải pháp Marketing địa phương: Thông thường người làm
Marketing quảng bá hình ảnh của địa phương sử dụng chiến lược: Marketing hình ảnh địa phương; Marketing đặc trưng nổi bật; Marketing hạ tầng và Marketing con
người của địa phương Như vậy, giải pháp Marketing địa phương sẽ là công cụ hữu hiệu thu hút nhà tài trợ đầu tư cho lĩnh vực VSMT của địa phương
Trang 361.7 Tóm tắt chương 1 và nhiệm vụ chương 2
Trong chương 1 luận văn đã hệ thống được cơ sở lý thuyết về khái niệm, đặc điểm, vai trò của Marketing dịch vụ và dịch vụ trong hoạt động VSMT đô thị; hệ thống được phương pháp thu thập thông tin trong nghiên cứu Marketing làm cơ sở cho tiếp cận phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn đã nêu được lý thuyết về hệ thống quản lý tổng hợp CTR đô thị, trong đó lý thuyết cốt lõi là hệ thống kỹ thuật quản lý dịch vụ thu gom, vận chuyển
và xử lý CTR Lý thuyết khái niệm, cơ chế xã hội hoá cung ứng dịch vụ trong hoạt động VSMT đô thị cũng được hệ thống từ lý thuyết xã hội hoá dịch vụ công nói chung Và cuối cùng là khái niệm, vai trò và nội dung của Marketing phi lợi nhuận
và Marketing địa phương là những công cụ hỗ trợ phát triển dịch vụ VSMT đô thị
Mô hình và lộ trình phát triển mô hình trong hoạt động VSMT đô thị phù hợp sẽ tạo điều kiện cho dịch vụ VSMT của thành phố đô thị hoạt động có hiệu quả, đặc biệt là đối với những thành phố lớn thì tiêu chí trong hoạt động VSMT đòi hỏi cao Do đó, cần phải phân tích đánh giá những tiêu chí, thực trạng mô hình hoạt động của thành phố đô thị, thực trạng hoạt động dịch vụ của các tổ chức, đơn vị và thực trạng những giải pháp đã hỗ trợ phát triển mô hình hoạt động VSMT của thành phố đô thị hiện nay như thế nào Vì vậy, nhiệm vụ của chương 2 trong luận văn đặt
Trang 37CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ DỊCH VỤ TRONG HOẠT ĐỘNG VỆ SINH MÔI TRƯỜNG CỦA THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH VÀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN MÔI TRƯỜNG NAM ĐỊNH
2.1 Giới thiệu dịch vụ trong hoạt động VSMT tại thành phố Nam Định
2.1.1 Tổng quan về TP Nam Định
Thành phố Nam Định là đô thị loại II nằm ở phía Nam đồng bằng Sông Hồng là trung tâm kinh tế chính trị văn hoá của tỉnh Nam Định, cách thủ đô Hà Nội
90 km về phía Tây Bắc và cách TP Hải Phòng 80 km về phía Đông Bắc
Thành phố có 25 đơn vị hành chính, trong đó có 05 xã ngoại thành và 20 phường nội thành Diện tích tự nhiên là 46,25 km2, trong đó diện tích ngoại thành
là 27,736 km2 và nội thành là 18,514 km2 Dân số thành phố là 249.534 người, trong đó ngoại thành là 46.021 người và nội thành là 203.513 người Số hộ dân trên địa bàn là 66.992 hộ, trong đó ngoại thành là 11.924 hộ và nội thành là 55.068 hộ
Với tốc độ đô thị hoá và công nghiệp hoá khá cao, số lượng dân cư, các nhà máy và khu công nghiệp tăng Thành phố phải chịu sức ép khá lớn về lượng CTR
đổ ra mỗi ngày của khoảng 25 vạn dân với số cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp trên địa bàn là 12.074 cơ sở, trong đó sản xuất kinh doanh là 11.538 cơ sở, hành chính sự nghiệp là 440 cơ sở và tôn giáo là 96 cơ sở Vì vậy, quá trình hoạt động và sản xuất đã phát sinh ra một lượng CTR khoảng 150 tấn/ngày ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và đe doạ đến quá trình phát triển kinh tế [32]
2.1.2 Tổ chức dịch vụ trong hoạt động VSMT tại TP Nam Định
2.1.2.1 Tổ chức quản lý dịch vụ trong hoạt động VSMT của TP Nam Định
Hiện nay Công ty TNHH MTV Môi trường Nam Định là đơn vị duy nhất được giao thu gom, vận chuyển và xử lý CTR trên địa bàn thành phố Các phòng ban chuyên môn của thành phố có trách nhiệm tham mưu cho UBND thành phố xây dựng kế hoạch thu gom, vận chuyển và xử lý CTR để giao cho công ty hàng năm; kiểm tra, giám sát giải quyết phát những phát sinh vướng mắc trong quá trình thực
Trang 38hiện UBND 25 phường xã và các tổ chức đoàn thể phối hợp thực hiện UBND tỉnh chỉ đạo hoạt động VSMT trên địa bàn thành phố thông qua Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng và UBND thành phố
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức quản lý hoạt động VSMT của TP Nam Định [33]
2.1.2.2 Tổ chức dịch vụ trong hoạt động VSMT của Công ty TNHH MTV Môi trường Nam Định
Công ty TNHH MTV Môi trường Nam Định hoạt động theo loại hình doanh nghiệp là Công ty TNHH MTV từ ngày 18/12/2008, UBND tỉnh Nam Định là chủ
sở hữu vốn nhà nước theo Luật Doanh nghiệp năm 2005
Trước khi hoạt động theo loại hình TNHH MTV nhà nước làm chủ sở hữu, công ty đã hoạt động theo loại hình công ty công ích, có quá trình hình thành phát triển tiền thân từ Đội Vệ sinh được thành lập từ năm 1980, sau đó đổi tên là Công ty
Vệ sinh năm 1993 và là Công ty Môi trường năm 1997
Ngành nghề kinh doanh hiện nay của Công ty: Quét, thu gom CTR đường,
hè phố và nơi công cộng; thu gom CTR phát sinh từ hộ gia đình và các cơ sở kinh
tế, hành chính, sự nghiệp; vận chuyển và xử lý CTR và dịch vụ khác về VSMT
Tổ chức bộ máy của công ty gồm có: Ban kiểm soát; Chủ tịch công ty; ban giám đốc, phó giám đốc; kế toán trưởng và các phòng chuyên môn, đơn vị sản xuất
UBND tỉnh
UBND thành phố
Sở Tài nguyên & MT
Sở Xây dựng
Công ty TNHH MTV Môi trường
UBND phường,
xã và các Tổ chức đoàn thể
Các phòng
ban chuyên
môn
Trang 39
Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức của Công ty TNHH MTV Môi trường Nam Định [34] 2.1.2.3 Tổ chức hoạt động mô hình có xu hướng xã hội hoá hoạt động VSMT
Trong những năm gần đây UBND thành phố đã xác định phương hướng chiến lược tăng cường công tác quản lý CTR đô thị Đó là, cùng với việc giao kế hoạch, tổ chức kiểm tra giám sát việc thực hiện thu gom, vận chuyển xử lý CTR đối với hoạt động của Công ty TNHH MTV Môi trường Nam Định thì cần huy động sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động VSMT và tích cực đưa ra những chính sách thu hút các nguồn đầu tư hỗ trợ cho hoạt động VSMT của thành phố Một số công việc cụ thể đã được triển khai:
+ Dự án phát triển đô thị do Chính phủ Thuỵ sỹ tài trợ đã tổ chức được những buổi tuyên truyền nâng cao ý thức cộng đồng về VSMT
+ Thành phố đã giao cho các chính quyền phường tổ chức thu gom vận chuyển đối với CTR là phế thải xây dựng
+ Đã giao cho hai phường Vị Xuyên và Vị Hoàng thu phí VSMT
+ Các hoạt động tổ khu dân phố giữ VSMT, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên lồng ghép vào chương trình hoạt động của mình tuyên truyền VSMT
Chủ tịch công ty
Ban kiểm soát
Các phó giám đốc
gom, vận chuyển… Giám đốc
Trang 402.2 Xác định và phân tích đánh giá những tiêu chí về dịch vụ trong hoạt động
VSMT tại thành phố Nam Định
2.2.1 Tiêu chí đánh giá về dịch vụ trong hoạt động VSMT tại TP Nam Định
Môi trường đô thị được đánh giá bằng nhiều tiêu chí, riêng đối với hoạt động
VSMT được đánh giá bởi những tiêu chí cơ bản đó là lượng CTR được thu gom và
xử lý; công tác tổ chức và hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến quản lý CTR
Bảng 2.1 Tiêu chí hoạt động VSMT của TP Nam Định năm 2010 [33]
01 Lượng CTR được thu gom
1.2 05 xã ngoại thành và 03 phường mới thành lập % 45
3.1 Số lượng văn bản pháp quy được ban hành Văn bản 02
2.2.2 Phân tích đánh giá những tiêu chí về dịch vụ trong hoạt động VSMT của
thành phố Nam Định
2.2.2.1 Tiêu chí về lượng CTR được thu gom
Lượng CTR thu gom trên địa bàn thành phố hiện nay là khoảng 0,4kg/
người.ngày Tổng lượng rác được thu gom là khoảng 55.000 tấn, trong đó lượng thu
gom CTR phát sinh gồm: Từ hộ gia đình là 45.338/66.992 hộ (67%); hè đường phố
khoảng 9.597ha; quét dọn đường phố ban ngày là 4.786 km; quét dọn lề đường là
3.528 km; các cơ sở kinh tế, hành chính sự nghiệp 320/440 cơ sở (73%) Lượng
CTR được vận chuyển khoảng 53.000/55.000 tấn (96%), chi tiết như Bảng 2.2