Trong nhiều năm qua, lĩnh vực tái chế chất thải đã nhận được nhiều sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, thể hiện bằng các chính sách, pháp luật về tái chế đã được quy định trong Luật BVMT 2
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
TRẦN THANH VÂN
NGHI N Ứ Đ NH GI T ĐỘNG Ủ H NH H Ố GI
TR NG NH T I H HẤT THẢI Ở I T N
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và ôi trường
LUẬN ĂN THẠ KỸ THUẬT QUẢN Ý TÀI NG Y N À ÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Nguyễn Đức Quảng
Hà Nội - 2016
Trang 2Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung mà tôi đã trình bày trong Luận văn này
Hà N i, ngày 15 tháng 9 ă 2016
HỌC VIÊN
Trần Thanh Vân
Trang 3LỜI CẢ ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Đức Quảng, người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện Luận văn, người luôn quan tâm,
động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm Luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các thầy cô giáo của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã trang bị cho tôi những kiến thức bổ ích, thiết thực cũng như sự nhiệt tình, ân cần dạy bảo trong những năm vừa qua
Tôi xin chân thành cảm ơn Viện đào tạo Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Tôi cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn đến các cơ quan, cơ sở tái chế trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi có được những thông tin, tài liệu quý báu phục vụ cho Luận văn thạc sỹ này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn đến gia đình, cơ quan và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm Luận văn
Hà N i, ngày 15 tháng 9 ă 2016
Học viên
Trần Thanh Vân
Trang 4i
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
3 Nội dung của đề tài 2
4 Ý nghĩa của đề tài 3
5 Các phương pháp nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÁI CHẾ CHẤT THẢI 4
1.1 Hoạt động tái chế chất thải 4
1.1.1 Các khái niệm 4
1.1.2 Hoạt động tái chế chất thải ở các nước trên thế giới 5
1.1.3 Hoạt động tái chế chất thải ở Việt Nam 9
1.1.4 Lợi ích của hoạt động tái chế chất thải 15
1.2 Hiện trạng hệ thống các chính sách liên quan đến lĩnh vực tái chế chất thải 18
1.2.1 Các chính sách mang tính định hướng, giải pháp phát triển 18
1.2.2 Các chính sách được ban hành dưới dạng công cụ điều hành 20
1.3 Các vấn đề tồn tại trong hoạt động tái chế chất thải hiện nay 25
1.4 Các công cụ đánh giá chính sách 26
1.4.1 Các phương phương/công cụ được áp dụng 26
1.4.2 Các tiêu chí lựa chọn phương pháp phù hợp trong điều kiện Việt Nam 31
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU 33
2.1 Các phương pháp áp dụng để đánh giá các chính sách liên quan đến tái chế chất thải tại Việt Nam 33
2.2 Các công cụ áp dụng để đánh giá tác động của Quyết định số 16/2015/QĐ-TTg ngày 22/5/2015 đối với thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ 33
2.2.1 Mô hình phân tích SWOT 33
2.2.2 Phương pháp Phân tích dòng vật chất (MFA) 35
2.2.3 Phương pháp đánh giá tổng hợp DPSIR 35
Trang 5ii
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
3.1 Đánh giá hệ thống chính sách thúc đẩy lĩnh vực tái chế chất thải 37
3.1.1 Về xây dựng các chỉ tiêu, nội dung của hoạt động tái chế 37
3.1.2 Về tạo nguồn nguyên liệu đầu vào cho hoạt động tái chế 38
3.1.3 Về hỗ trợ hoạt động tái chế 40
3.1.4 Về hỗ trợ sản phẩm tái chế 41
3.2 Áp dụng các công cụ đã lựa chọn đánh giá tác động của Quyết định số 16/QĐ/2015-TTg đối với thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ 47
3.2.1 Phương pháp phân tích SWOT 50
3.2.2 Phương pháp phân tích dòng vật liệu 54
3.3.3 Sử dụng mô hình đánh giá tổng hợp DPSIR 60
3.3 Nghiên cứu điển hình tại địa bàn tỉnh Nghệ An 70
3.4 Kết quả đánh giá và các giải pháp đề xuất 74
3.4.1 Kết quả đánh giá 74
3.4.2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao tỷ lệ thu hồi, xử lý chính quy 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
1 Kết Luận 79
2 Kiến nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 6iii
D NH Ụ TỪ I T TẮT
TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
Trang 7iv
TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
CBA (Cost Benefit Analysis) : Phân tích chi phí lợi ích
DPSIR (Driving
Forces-
Pressure-State-Impact-Response)
: Phương pháp Đánh giá tổng hợp
EIA (Environmental Impact
ERA (Evironmental Risk
Asessment) : Phương pháp phân tích rủi ro môi trường
IOA (Imput - Output Analysis) : Phương pháp phân tích đầu vào - đầu ra MCA (Multi Criteria Analysis) : Phân tích đa tiêu chuẩn
MFA (Material Flow Analysis) : Phương pháp phân tích dòng vật liệu
Trang 8v
D NH Ụ BẢNG
Bảng 1.1 Lượng nguyên liệu thu hồi được từ hoạt động tái chế chất thải đô thị ở
châu Âu và Hoa Kỳ 6
Bảng 1.2 Tổng hợp dự báo tổng khối lượng chất thải rắn trên cả nước đến năm 2025 10
Bảng 1.3 Tổng lượng thu gom chất thải rắn sinh hoạt đô thị của một số địa phương năm 2014 10
Bảng 1.4 Thông tin về một số làng nghề tái chế phế liệu 13
Bảng 1.5 Hệ thống các chính sách quốc gia thúc đẩy tái chế tại Việt Nam 23
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu về tái chế chất thải rắn qua các mốc thời gian 37
Bảng 3.2 Trách nhiệm của các bên liên quan trước và sau khi ban hành Quyết định số 16/2015/QĐ-TTg 48
Bảng 3.3 Phân tích các điểm mạnh, điểm yếu và các cơ hội thách thức bằng phương pháp phân tích SWOT 50
Bảng 3.4 Lượng vật liệu thu được trong các thiết bị điện tử gia dụng 55
Bảng 3.5 Lợi nhuận của quá trình tháo dỡ các thiết bị điện tử gia dụng 57
Bảng 3.6 Kết quả điều tra/phỏng vấn một số đối tượng về Quyết định số 16/QĐ/2015-TTg 70
Bảng 3.7 Kết quả kháo sát về tính khá thi của chính sách 73
Trang 9
vi
D NH Ụ HÌNH
Hình 1.1 Các chất thải có thể tái sử dụng, tái chế 15
Hình 1.2 Các văn bản chủ yếu thúc đẩy tái chế CTR hiện hành 20
Hình 1.3 Mô hình DPSIR 29
Hình 1.4 Mô hình khung LCA và các bước thực hiện 30
Hình 2.1 Quy trình thực hiện nghiên cứu đánh giá chính sách bằng mô hình phân tích SWOT 34
Hình 2.2 Quy trình thực hiện nghiên cứu đánh giá chính sách bằng phương pháp phân tích dòng vật chất MFA 35
Hình 2.3 Quy trình thực hiện nghiên cứu đánh giá chính sách bằng phương pháp phân tích mô hình DPSIR 36
Hình 3.1 Các dòng chảy vật liệu của các thiết bị điện tử gia dụng 56
Hình 3.2 Sơ đồ đánh giá dòng CTĐT tử theo mô hình DPSIR 61
Hình 33: Mô hình quản lý, thu gom chất thải điện – điện tử 78
Trang 10ô nhiễm môi trường rất cao
Sự phát triển trong lĩnh vực tái chế chất thải có sự tác động của các yếu tố: trình độ kỹ thuật, công nghệ, thị trường vốn, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực Trong khi đó nhân tố về cơ chế chính sách lại hoàn toàn chủ quan có thể nghiên cứu, xây dựng cho phù hợp để tác động vào tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến lĩnh vực tái chế Đây sẽ là nhân tố mà đề tài đi sâu nghiên cứu
Trong chiến lược về quản lý tổng hợp CTR đến năm 2025, tầm nhìn đến năm
2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2149/QĐ-TTg ngày 17/12/2009, nhấn mạnh việc đặt ra mục tiêu đến năm 2025, 100% các đô thị
có công trình tái chế CTR thực hiện phân loại tại hộ gia đình, 100% tổng lượng CTR sinh hoạt đô thị và tại các làng nghề được thu gom và xử lý theo đúng tiêu chuẩn bảo vệ môi trường
Trong nhiều năm qua, lĩnh vực tái chế chất thải đã nhận được nhiều sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, thể hiện bằng các chính sách, pháp luật về tái chế đã được quy định trong Luật BVMT 2014 và các văn bản hướng dẫn, đặc biệt là trong Quyết định số 16/2015/QĐ-TTg ngày 22/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định
về thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều chính sách của Nhà nước chưa đồng bộ, thường xuyên phải bổ sung sửa đổi, thậm chí chưa thích hợp, khó thực thi gây bế tắc trong hoạt động thực tiễn Mặt khác, nhiều vấn đề liên
Trang 112
quan đến quá trình thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ chưa được Nhà nước quan tâm, chưa có những chế tài hay biện pháp kích thích thu gom Vì vậy, việc nghiên cứu đánh giá các chính sách quốc gia trong lĩnh vực tái chế chất thải để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động tái chế chất thải tại Việt Nam trong thời gian tới là đòi hỏi cấp thiết của thực tế Đó chính là lý do học viên chọn
đề tài: “Nghiên c u
Nam”
2 Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Mục tiêu nghiên cứu của luận văn: Phân tích ưu điểm và hạn chế của chính sách hiện hành trong lĩnh vực tái chế chất thải tại Việt Nam, đặc biệt là chính sách thực thi hệ thống trách nhiệm nhà sản xuất kéo dài để từ đó đề xuất một số giải pháp
cụ thể nhằm thúc đẩy hoạt động tái chế
- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: các chính sách liên quan đến tái chế chất thải tại Việt Nam Việc phân tích các chính sách sẽ tập trung vào nội dung chính sách liên quan đến hoạt động tái chế chất thải, trong đó lựa chọn chính sách tiêu biểu là Quyết định số 16/2015/QĐ-TTg ngày 22/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ đối với thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ để đánh giá, bởi vì Quyết định số 16/2015/QĐ-TTg sau khi được ban hành đã thay đổi hoàn toàn hiện trạng quản lý CTR hiện nay Quyết định cũng đã quy định chi tiết các danh mục sản phẩm thu hồi như Pin, săm lốp, ác quy, các sản phẩm điện tử thải bỏ, trong đó, CTĐT là nguồn phát sinh lớn, và rất có tiềm năng do nhu cầu sử dụng sản phẩm điện tử ở Việt Nam phát triển mạnh trong thời gian qua
Mặt khác, học viên cũng thực hiện đánh giá tác động của việc thực thi hệ thống trách nhiệm nhà sản xuất kéo dài đối với dòng chảy CTĐT tại địa bàn tỉnh Nghệ An nhằm làm rõ hơn các khó khăn, bất cập khi triển khai Quyết dịnh số 16/2015 tại địa phương
3 Nội dung của đề tài
- Thu thập thông tin tài liệu về hiện trạng phát sinh, thu gom, xử lý và tái chế chất thải tại Việt Nam
Trang 124 Ý nghĩa của đề tài
Phân tích, làm rõ ưu điểm và nhược điểm của các chính sách liên quan tới hoạt động thu hồi và tái chế chất thải ở Việt Nam, góp phần giúp cho các cơ quan quản lý có thêm phương án lựa chọn phù hợp trong việc quản lý nguồn phát sinh chất thải một cách chặt chẽ trong giai đoạn phát triển hiện nay và trong tương lai
5 ác phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp kế thừa thông tin: là phương pháp tìm kiếm thông tin trên các bài báo cáo khoa học, nghiên cứu khoa học ở trong nước và nước ngoài Sử dụng các tài liệu đã có, kế thừa các thành tựu lý thuyết và thực tiễn nhằm bổ sung
và phát triển các thành tựu đó, hoặc phát hiện những thiết sót, không hoàn chỉnh trong các tài liệu đã có…từ đó tìm thấy chỗ đứng của đề tài nghiên cứu của cá nhân
- Phương pháp điều tra/phỏng vấn: là phương pháp khảo sát, phỏng vấn một nhóm đối tượng trên một diện rộng nhằm phát hiện những quy luật phân bố, trình
độ phát triển, những đặc điểm về mặt định tính và định lượng của các đối tượng cần nghiên cứu Các tài liệu điều tra được là những thông tin quan trọng về đối tượng cần cho quá trình nghiên cứu và là căn cứ quan trọng để đề xuất những giải pháp khoa học hay giải pháp thực tế
- Phương pháp phân tích, so sánh: phân tích nội dung chính sách, so sánh các chính sách trong các thời kỳ để đánh giá sự thay đổi của chính sách, tính khả thi của các chính sách
- Phương pháp Phân tích SWOT (Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức)
- Phương pháp Phân tích dòng vật liệu MFA (Material Flow Analysis)
- Phương pháp Đánh giá tổng hợp DPSIR (Driving Forces - Pressure - State – Impact – Response)
Trang 134
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÁI CH CHẤT THẢI
1.1 Hoạt động tái chế chất thải
1.1.1 Các khái niệm
- Tái chế chất thải (Recycle) là quá trình sử dụng một phần hoặc toàn bộ một dạng vật chất, sản phẩm đã hết thời gian sử dụng để sản xuất/chế tạo một sản phẩm mới hoặc một sản phẩm khác [5] Nói một cách khác, tái chế là quá trình gia công trả lại giá trị sử dụng cho vật liệu hoặc sản phẩm thải
Nguyên tắc của quá trình tái chế là sự cân bằng giữa lợi ích kinh tế thu được với các lợi ích về bảo vệ môi trường và sử dụng tiết kiệm tài nguyên [5]
- Tái chế chất thải thường được chia thành 3 dạng sau:
+ Tái chế nhằm tái tạo giá trị: là quy trình mà trong đó chất liệu ban đầu được tái tạo lại thông qua một quá trình xử lý công nghệ, ví dụ như sử dụng mảnh thủy tinh trong lò nấu thủy tinh
+ Tái chế nhằm tiếp tục tận dụng giá trị: Sử dụng các vật liệu tái chế được trong các dòng vật chất, ví dụ như chất thải xây dựng để san lấp mặt bằng
+ Tái sử dụng thông qua chuyển đổi giá trị vật liệu sang năng lượng: là quá trình đốt hoặc chuyển đổi chất thải và thu hồi nhiệt sử dụng cho các mục đích khác như phát điện, sinh hơi,…ví dụ như dùng chất thải ủ từ hầm biogas để phát điện
- Các ưu điểm và nhược điểm của tái chế:
+ Ưu điểm:
o Tái chế tận dụng được nguồn nguyên liệu với tính năng tương đương với nguyên liệu thô, qua đó giảm được chi phí khai thác, tinh chế, vận chuyển nguyên liệu và bảo vệ được nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo
o Tái chế làm giảm thiểu lượng chất thải cần xử lý, qua đó giảm các chi phí thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải
o Tạo ra giá trị kinh tế thông qua lợi nhuận và tạo ra nhiều cơ hội việc làm + Nhược điểm:
Trang 14o Chi phí tái chế cao do đòi hỏi quá trình làm sạch, loại bỏ tạp chất
o Đại bộ phận người tiêu dùng hiện nay chưa có tâm lý ủng hộ các sản phẩm tái chế Chất lượng sản phẩm thấp chưa đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của người tiêu dùng
1.1.2 Hoạt động tái chế chất thải ở các nước trên thế giới
Hiện nay, ngành công nghiệp tái chế là lĩnh vực sản xuất đem lại lợi nhuận rất cao tại các nước phát triển Năm 2004, thị trường nguyên liệu thứ cấp đã đạt trên
600 triệu tấn với tổng giá trị ước đạt 100 tỷ USD, trong đó riêng tại Nhật Bản, lượng vật liệu tái chế trong năm 2005 đạt 228 triệu tấn (tính cả tái sử dụng trong cả nước), chiếm gần 13% tổng lượng vật chất đầu vào của nền kinh tế [16] Còn ở Mỹ, theo số liệu năm 2008, ngành công nghiệp tái chế đạt gần 236 tỷ USD mỗi năm với hơn 1,1 triệu lao động [14]
Năm 2007, trên toàn thế giới, lượng giấy tái chế là 208 triệu tấn, bằng 53% lượng giấy sản xuất ra - trong đó có 49 triệu tấn được xuất nhập khẩu Tại các nước OECD, tỷ lệ tái chế nhựa tương đối thấp và chỉ đạt khoảng 15% khối lượng nhựa thải Khoảng 22% nhựa thải được thu hồi để chuyển đổi thành năng lượng Tỷ lệ tái chế giấy ở Liên minh châu Âu cũng mới chỉ đạt được trên 60% (64,5% năm 2007
và đạt 65% năm 2010), với tổng số giấy thu gom và tái chế đạt 60,1 triệu tấn năm
2007, tăng 14,5% so với năm 2004 Tổng lượng kim loại tái chế ở Mỹ năm 2008 đạt trên 125 triệu tấn các loại, trong đó sắt thép chiếm 85 triệu tấn, 5,5 triệu tấn nhôm, 1,8 triệu tấn đồng, 1,2 triệu tấn chì, v.v Tỷ lệ tái chế kim loại ở châu Âu ước đạt trên 70% [5]
Lượng nguyên liệu thu hồi được từ hoạt động tái chế chất thải đô thị tại một
số nước châu Âu và Hoa Kỳ được thống kê tại bảng 1.1
Trang 156
Bảng 1.1 ượng nguyên liệu thu hồi được từ hoạt động tái chế
chất thải đô thị ở châu Âu và Hoa Kỳ [5]
15 nước liên minh châu Âu còn lại
Toàn châu
Trên thế giới, tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển đã xây dựng một
chiến lược quản lý chất thải mà trong đó chính sách thu hồi và tái chế chất thải đóng
vai trò tất yếu trong toàn bộ hệ thống Năm 1989, Cộng đồng châu Âu đã lãnh đạo
hệ thống quản lý này và ưu tiên thực hiện công tác ngăn ngừa phát sinh chất thải,
thu hồi và giảm thiểu thải bỏ cuối cùng Tháng 8/1996 Cộng đồng châu Âu đã thông
báo một chiến lược quản lý chất thải mới dựa trên hệ thống luật định quản lý chất
thải của năm 1989, đó là việc tái sử dụng sản phẩm và tái chế chất thải đóng vai trò
ưu tiên nhất trong hệ thống, hỗ trợ cho việc đốt chất thải nhằm thu hồi năng lượng
Để đảm bảo nguyên tắc được thực hiện, Cộng đồng châu Âu khuyến khích đẩy
mạnh hoạt động sản xuất sạch, công nghệ sạch nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu chất
Trang 167
thải sinh ra trong quá trình sản xuất và nhất là ngăn ngừa việc phát sinh chất thải nguy hại bằng cách giới hạn hoặc nghiêm cấm sử dụng kim loại nặng trong các qui trình sản xuất và sự có mặt của nó trong sản phẩm cuối cùng, khuyến khích sử dụng các công cụ kinh tế có liên quan đến việc ngăn ngừa chất thải phát sinh, phát huy việc áp dụng các phương pháp kiểm toán môi trường và cấp nhãn môi trường
Thêm vào đó Cộng đồng châu Âu đề nghị gia tăng sự hợp tác giữa các nước thành viên nhằm giảm thiểu xuất nhập khẩu bất hợp lý và các hoạt động phát sinh CTNH Điều này được xem như một phần của công tác quản lý chất thải, những nhà sản xuất ở những nước này luôn phải tính đến khả năng tái sinh phế phẩm của mình như một mục tiêu được đặt ra đầu tiên trong kế hoạch thiết kế sản xuất, sản xuất và mua bán Hệ thống quản lý này được nhiều quốc gia trên thế giới hưởng ứng và áp dụng cho việc quản lý CTR như: Đức, Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản,…
Hoạt động tái chế chất thải tại các nước phát triển như Cộng hoà Liên bang Đức, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc, từ lâu đã thu được nhiều thành công bằng các chính sách phù hợp, khuyến khích hoạt động tái chế phát triển, cụ thể:
o Cộng hoà Liên bang Đức:
Tại Cộng hoà Liên Bang Đức, mặc dù hệ thống chính sách pháp luật của Đức vẫn nằm trong hệ thống chính sách của Liên bang châu Âu, nhưng ở Đức, các quy định về quản lý chất thải thường khắt khe hơn Các nỗ lực ngăn ngừa phát sinh chất thải được thực hiện sâu rộng ở các cấp từ địa phương, cấp bang, với việc tham gia
và giữ vai trò quan trọng của các cơ sở tư nhân và các tổ chức phi chính phủ Bên cạnh việc áp các tiêu chuẩn và yêu cầu khắt khe đối với và yêu cầu khắt khe đối với hoạt động phát sinh chất thải, chính quyền Liên bang cũng ban hành cac khung chính sách ưu tiên nhằm thúc đẩy các hoạt động tái chế và tái sử dụng chất thải, góp phần giảm lượng chất thải phải xử lý cuối cùng bằng phương pháp chôn lấp
Năm 1996, Cộng hoà Liên bang Đức đã ban hành luật Quản lý và khép kín vòng tuần hoàn chất thải quy định rõ nghĩa vụ quản lý, tái chế chất thải an toàn và chất lượng cao, năm 2001 tái sử dụng giấy chiếm 80%, bao bì 61% [17]
Trang 17o Nhật Bản:
Tại Nhật Bản, từ những năm 1990, Chính phủ Nhật Bản đã sớm định hướng đến phát triển một xã hội bền vững bằng khuyến khích việc áp dụng chiến dịch 3R Chính phủ Nhật Bản đã ban hành một số Luật về tái chế bao gồm: Luật Khuyến khích tái chế tài nguyên năm 1991, Luật Tái chế bao bì và vật chứa năm 1995, Luật Tái chế thiết bị điện tử gia dụng năm 1995, Luật Tái chế thực phẩm năm 2000, Luật Tái chế chất thải xây dựng năm 2001, Luật Tái chế phương tiện giao thông thải năm 2005, Luật Khuyến khích sử dụng hiệu quả tài nguyên và chất thải tái chế năm
2000 và được điều chỉnh năm 2006, cùng nhiều Luật và các văn bản hướng dẫn liên quan Tỷ lệ tái chế một số loại sản phẩm gia dụng đã tăng đáng kể, năm 2003: điều hòa 81%, Tivi 78%, tủ lạnh 63%, máy giặt 65% [19] Năm 2008, khối lượng chất thải sinh hoạt được tái chế là 9,78 triệu tấn, trong đó, 2,34 triệu tấn được tái chế trực tiếp bởi các công ty môi trường đô thị, 4,51 triệu tấn được tái chế gián tiếp và 2,93 triệu tấn được người dân thu hồi từ rác thải Nhìn chung, tỷ lệ tái chế chất thải của Nhật Bản đã tăng lên 20,3% năm 2008, gấp 4 lần năm 1989 (4,5%) [2]
o Hàn Quốc:
Trang 189
Năm 1995, Hàn Quốc sửa đổi đạo Luật quản lý chất thải và đưa vào áp dụng
hệ thống phí chất thải Từ năm 1995 đến 2003, Hệ thống phí mới đã tạo ra khoảng 7,7 tỷ USD tính theo các lợi ích kinh tế do giảm thiểu được khoảng 652,7 tấn chất thải và tăng tỷ lệ thu gom tái chế khoảng 299,6 tấn [11]
Năm 1997, Luật Kiểm soát chất thải và Luật khuyến khích tiết giảm tài nguyên và tái chế tài nguyên được ban hành, trở thành cơ sở quan trọng cho việc áp dụng hệ thống tính phí chất thải, mà theo đó, các nhà sản xuất hoặc nhập khẩu phải trả tiền để xử lý các loại sản phẩm thải bỏ không thể hoặc khó xử lý, hoặc chứa các hợp chất nguy hại gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏa con người Năm
2003, chính phủ Hàn Quốc đã sửa đổi "Luật về tiết kiệm tài nguyên và thúc đẩy tái chế", đưa vào thi hành Chế độ "tái chế - trách nhiệm của nhà sản xuất"
Tỷ lệ tái chế của Seoul năm 2011 là 43,5%, năm 2013 tăng lên 46% và mục tiêu là tăng lên 51,6% năm 2016, lên 57,3% năm 2020 và lên 66% năm 2030 Tất cả hàng hóa Hàn Quốc sản xuất nếu làm từ nguyên liệu có thể tái chế được đều có thông báo điều này trên nhãn mác Một số công ty mỹ phẩm Hàn Quốc có chính sách tặng quà cho khách hàng khi khách hàng đến gửi lại hộp, chai mỹ phẩm đã dùng hết để họ tái chế [2]
1.1.3 Hoạt động tái chế chất thải ở Việt Nam
a Nguồn phát sinh chất thải
Trong thời gian qua, cùng với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, việc phát triển các ngành kinh tế như công nghiệp, nông nghiệp và du lịch,
dịch vụ là nguyên nhân phát sinh ngày càng lớn lượng chất thải
Theo Báo cáo Hiện trạng Môi trường quốc gia năm 2011 cho biết, tổng lượng CTR phát sinh năm 2015 khoảng 44 triệu tấn/năm và khối lượng ngày càng tăng với tốc độ gia tăng khoảng 10% mỗi năm và còn tiếp tục gia tăng mạnh trong thời gian tới cả về lượng và mức độ độc hại Theo nguồn gốc phát sinh, khoảng 46% CTR phát sinh từ các đô thị, 17% CTR từ hoạt động sản xuất công nghiệp; CTR nông thôn, làng nghề và y tế chiếm phần còn lại [1]
Trang 19b Công tác thu gom, xử lý:
Theo báo cáo của Bộ Xây dựng năm 2014, tỷ lệ thu gom trung bình ở các đô
thị giai đoạn giai đoạn 2013 - 2014 đạt khoảng 84% - 85%, tăng từ 3 đến 4% so với
giai đoạn 2008 - 2010 Khu vực ngoại thành tỷ lệ thu gom trung bình đạt khoảng
60% so với lượng CTR sinh hoạt phát sinh Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt tại khu
vực nông thôn còn thấp, trung bình đạt khoảng 40 - 55% Các vùng sâu, vùng xa tỷ
lệ này chỉ đạt khoảng 10% Báo cáo từ các địa phương, tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt
tại một số địa phương năm 2014 khá cao [3] (chi tiết xem tại bảng 1.3)
Bảng 1.3 Tổng lượng thu gom chất thải rắn sinh hoạt đô thị của một số
địa phương năm 2014 [3]
TT Địa phương Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt đô thị
Trang 20c Hoạt động tái chế chất thải
Hoạt động thu hồi chất thải để phục vụ cho công tác tái chế được thực hiện thông qua hệ thống thu gom chất thải theo mạng lưới ba cấp: người thu gom - Những người thu mua lẻ - Những địa lý thu mua tập trung
Chất thải có thể tái sử dụng, tái chế thành các sản phẩm như: chất thải hữu cơ chế biến làm phân hữu cơ, làm thức ăn chăn nuôi; tái chế giấy, kim loại, nhựa, thủy tinh (các chất thải có thể tái sử dụng, tái chế được thể hiện tại hình 1.1) Tỷ lệ tái chế các chất thải làm phân hữu cơ và tái chế giấy, nhựa, thủy tinh, kim loại như sắt, đồng, chì, nhôm, chỉ đạt khoảng 8 ÷ 12% CTR đô thị thu gom được [1] Theo ước tính của JICA, lượng CTR là giấy, kim loại, nhựa được tái chế chiếm khoảng 8,2% lượng CTR thu gom được Năm 2009, lượng CTR được tái chế tại Hà Nội là 348 tấn/ngày, Tp Hồ Chí Minh 554 tấn/ngày, Hải Phòng 86,5 tấn/ngày, Đà Nẵng 56,7 tấn/ngày, Huế 16,9 tấn/ngày (JICA, 2011)
Đối với các loại CTR công nghiệp, hiện nay có nhiều hình thức tái chế, phần lớn CTR của KCN được phân loại, làm sạch chế biến thành nguyên liệu cho sản
Trang 2112
xuất tái chế Một số hình thức khác là chế biến CTR thành phần hữu cơ thành phân bón vi sinh, sản xuất nhiên liệu và đốt phát điện Trong ngành công nghiệp giấy, phần lớn sử dụng công nghệ tuần hoàn nước để thu hồi bột giấy, giảm lượng thải và tái sử dụng nước tuần hoàn Trong công nghiệp luyện kim, phần lớn các CTR dưới dạng xỉ được tận thu, tái chế để thu hồi kim loại, làm vật liệu xây dựng Việt Nam chưa phát triển các công nghệ chế biến các chất thải văn phòng, như máy in, các hộp mực, các loại pin năng lượng, Sản phẩm tái chế CTR công nghiệp có nhiều loại Phần lớn trong số đó là nguyên liệu đầu vào của sản xuất công nghiệp như giấy, hạt nhựa, kim loại (như chì, đồng, vàng, bạc, ), các hóa chất, nguyên liệu đốt (các viên năng lượng, nhiên liệu sinh học) Một số CTR được quay vòng tái sử dụng ngay như chai thủy tinh, chi tiết điện tử Số khác được chế biến thành sản phẩm mới như phân vi sinh, dầu thải thành dầu đốt, các sản phẩm từ nhựa, các dung môi CTR còn được sử dụng làm nguồn cung cấp khí mêtan, đốt phát điện [1] Còn đối với CTNH công nghiệp hiện nay được xử lý cũng tăng theo các năm Theo kết quả thống kê tại Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2011, lượng CTNH được
xử lý từ năm 2008 đến 2011 tăng từ 85.264 lên đến 129.688 tấn/năm (tăng 34%) Hiện nay, công nghệ xử lý CTNH đang được áp dụng phổ biến ở Việt Nam, bao gồm lò đốt tĩnh hai cấp (trên 50%), hoá rắn (bê tông hoá), chôn lấp,
Đối với CTR y tế thông thường ở Việt Nam hiện đang thực hiện không theo đúng quy chế quản lý CTR y tế đã ban hành Chưa có các cơ sở chính thống thực hiện các hoạt động thu mua và tái chế các loại chất thải từ hoạt động y tế ở Việt Nam Một số vật liệu từ chất thải bệnh viện như: chai dịch truyền chứa dung dịch huyết thanh ngọt (đường glucose 5%, 20%), huyết thanh mặn (NaCl 0,9%), các dung dịch acide amine, các loại muối khác; các loại bao gói nilon và một số chất nhựa khác; một số vật liệu giấy, thuỷ tinh hoàn toàn không có yếu tố nguy hại, có thể tái chế để hạn chế việc thiêu đốt chất thải gây ô nhiễm [1]
Trong thời gian qua, hoạt động tái chế chất thải ở Việt Nam được thực hiện khá hiệu quả bởi các đơn vị tư nhân và mang lại giá trị kinh tế khá cao, đồng thời cũng tiết kiệm được chi phí dành cho việc xử lý lượng chất thải này Tuy nhiên,
Trang 2213
nhìn chung, hoạt động tái chế hiện nay còn mang tính nhỏ lẻ, tự phát, chưa được quản lý và kiểm soát chặt chẽ và gây ô nhiễm môi trường Mặt khác, quy mô của các cơ sở tái chế còn nhỏ, đa số là các hộ sản xuất cá thể tại các làng nghề nên công nghệ, dây chuyền sản xuất và các trang thiết bị chưa được đầu tư,…hiệu quả từ việc khai thác, tái chế chất thải còn hạn chế Hoạt động tái chế CTR của một số làng nghề tái chế phế liệu như trong bảng 1.4
Bảng 1.4 Thông tin về một số làng nghề tái chế phế liệu [7, 8]
1
Tái chế
nhựa thải > 400 cơ sở
Triều Khúc, Tân Triều, Hà Nội, Minh Khai - Như Quỳnh, Văn Lâm – Hưng Yên; Đồng Mầu - Yên Lạc - Vĩnh Phúc, Tào Phú - Yên Lạc - Vĩnh Phúc,
Nam My - Nam Định
2 Tái chế giấy > 150 hộ sx Dương Ổ - Phú Lâm - Bắc Ninh
3 Tái chế sắt
vụn, kim loại 700 cơ sở
Văn Môn, Yên Phong, Bắc Ninh; Đa Hội, Châu Khê, Bắc Ninh; Bình Yên, Nam Trực, Nam Định; Vân Chàng,
Hoạt động tái chế phế liệu tập trung tại một số làng nghề tạo ra một khối lượng sản phẩm tái chế và các loại phế thải [7] như sau:
- Làng nghề tái nhựa phế thải: Làng nghề tái chế nhưạ thải Triều Khúc hiện
có hơn 300 cơ sở Do không có bãi tập kết phế liệu nên nhựa phế thải phải để cả ở trong và bên ngoài nhà, chiếm dụng đường đi gây ách tách giao thông Người dân phải sống cùng với các loại nhựa phế thải này Theo thống kê, các hộ sản xuất ở
Trang 23%, trong đó có 1,35 tấn chất thải có kim loại; 38,25 tấn chất ăn mòn; 15,5 tấn chất
dễ cháy; 2,7 tấn chất khó phân huỷ ; và 16,2 tấn các loại chất thải nguy hại khác Riêng làng nghề tái chế giấy Phú Lâm và Dương Ô: Hai làng nghề này mỗi năm ước tính thải ra 5328 tấn CTR Riêng CTNH là 373 tấn chiếm 7% bao gồm: 7 tấn bã thải có kim loại; 165 tấn chất ăn mòn; 106 tấn chất dễ cháy, 16 tấn chất khó phân huỷ, 79 tấn CTNH khác
- Làng nghề tái chế sắt vụn tại Đa Hội, Châu Khê, Bắc Ninh: Theo số liệu thống kê, đến cuối năm 2009 tại Châu Khê có 1.767 hộ sản xuất tái chế sắt vụn/70
cơ sở với sản phẩm tái chế trung bình 400 tấn thép/cơ sở/ngày, khối lượng vụn thép,
rỉ thép, phôi thép thải trung bình 1,2 tấn/cơ sở/ngày
- Làng nghề tái chế nhôm tại Văn Môn, Yên Phong, Bắc Ninh: Văn Môn hiện có 104 hộ gia đình hành nghề đúc nhôm, 100 hộ gia đình hành nghề thu mua phế liệu tại nhà và 29 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh lĩnh vực này Khối lượng CTR từ các hoạt động làng nghề này không thể kiểm soát
Thực tế, công nghệ tái chế ở các làng nghề phần lớn là thủ công, lạc hậu nên gây ô nhiễm môi trường nặng nề, bên cạnh đó, các chất thải làng nghề hầu hết đều không được xử lý mà đều thải thẳng ra môi trường cùng với chất thải sinh hoạt
và đưa đến bãi chôn lấp
Theo Báo cáo Hiện trạng Môi trường quốc gia năm 2011, các làng nghề tái chế chỉ chiếm 90/1.450 làng nghề Còn nhiều cơ sở tái chế không nằm trong làng nghề mà nằmngay trong các đô thị Tp Hồ Chí Minh có 302 cơ sở tái chế nằm trong địabàn thành phố, chủ yếu ở Quận 11, trong đó 67 cơ sở tái chế nhựa, 15 cơ
sở tái chế thủy tinh, 9 cơ sở tái chế kim loại, 7 cơ sở tái chế giấy và 2 cơ sở tái chế cao su [1]
Trang 2415
Hình 1.1 ác chất thải có thể tái sử dụng, tái chế [1]
1.1.4 Lợi ích của hoạt động tái chế chất thải
Thực tế tại nhiều quốc gia như Mỹ, các nước Châu Âu và Châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản,… đã chứng minh rằng việc phát triển ngành công nghiệp tái chế, với lợi ích tiết kiệm tài nguyên, đồng thời giảm thiểu tối đa diện tích đất sử dụng chôn lấp, là một giải pháp hữu hiệu nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của mỗi quốc gia với điều kiện các hoạt động tái chế này phải có công nghệ không gây ô nhiễm môi trường, sản phẩm tái chế phải đạt chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng Mục đích ban đầu khi hình thành công nghiệp tái chế là lợi ích kinh tế đã dần được thay thế bằng việc phát triển công nghiệp tái chế nhằm mục đích hàng đầu là bảo vệ môi trường, đồng thời đạt được lợi ích kinh tế và các lợi ích về xã hội trong tạo việc làm, gia tăng thu nhập
a Về mặt môi trường:
- Hoạt động tái chế giúp Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên: Khi tạo ra sản phẩm
mới từ nguồn vật liệu đã qua sử dụng, con người sẽ giảm bớt nhu cầu tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên Đó là cách đơn giản nhất để gìn giữ cho thế hệ tương lai những
gì chúng ta được hưởng hôm nay Đó là nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường sống trong lành, đúng như quan điểm phát triển bền vững
Chất thải có thể tái chế, tái sử dụng
Chất thải: Al,
Cu, Fe, Pb, giấy, thủy tinh, nhựa, cao su,…
Làm thức ăn
gia súc, phân hữu cơ, sản xuất biogas
Phân rác hữu
cơ, chất thải thực phẩm,…
Làm nhiên liệu , khí hóa, nhiệt phân
Chất thải cao
su, gỗ, giấy, nhựa, chất hữu cơ
Lấp chỗ trũng, rải đường, lớp phủ bãi chôn lấp
Chất thải xây dựng
Trang 2516
- Tiết kiệm năng lượng: Sử dụng nguyên vật liệu tái chế giúp tiết kiệm năng
lượng hơn hẳn so với nguyên vật liệu sản xuất mới hoàn toàn, do giảm bớt được một số hoạt động như khai thác, chế biến, vận chuyển,…
- Giảm thiểu ô nhiễm môi trường: Do ít tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên và hạn chế sử dụng năng lượng nên tái chế góp phần làm giảm lượng khí thải ra môi trường, đặc biệt là khí thải nhà kính Theo tổng hợp của Chương trình môi trường Liên hợp quốc UNEP (2010), sau việc giảm thiểu chất thải, tái chế là một hoạt động tạo ra các lợi ích về khí hậu cao nhất trong các hình thức xử lý chất thải, góp phần chống biến đổi khí hậu Báo cáo của UNEP cho biết, chính việc sử dụng các vật liệu tái chế đã làm giảm năng lượng phải sử dụng so với nguyên liệu nguyên chất Việc tái chế nhựa thay thế nhựa nguyên sinh tạo ra lợi ích khí hậu lớn hơn (tiết kiệm được 700-1.500 kg CO2/1 tấn chất thải nhựa); việc sản xuất từ nguyên liệu nhôm tái chế giảm 10 - 20 lần năng lượng so với nhôm nguyên chất [12] Tại Mỹ, năm 2006 hoạt động tái chế đã dẫn đến việc tránh sử dụng khoảng 183 triệu tấn CO2 [10] Tại Hàn Quốc, bằng cách tái chế thay vì chôn lấp hoặc đốt, lượng khí thải CO2 đã giảm hàng năm khoảng 412.000 tấn và khoảng 23.532 tấn khí thải khí nhà kính từ bãi CTR nhựa hoặc đốt đã bị ngăn cản [13]
- Giảm diện tích và số lượng bãi chôn lấp: Số lượng chất thải vẫn không
ngừng tăng lên trên toàn thế giới Trước tình hình dân số ngày càng gia tăng, diện tích đất bị thu hẹp, sẽ không dễ xây mới hoặc mở rộng các bãi chôn lấp chất thải Chưa kể, việc chôn lấp chất thải chưa qua xử lí còn có thể gây hại cho nguồn nước, đất,…Vì thế, tái chế được xem như là giải pháp góp phần hạn chế chất thải, từ đó giảm bớt số lượng hoặc thu hẹp diện tích các bãi chôn lấp
Tái chế, tái sử dụng chất thải không những giúp giảm áp lực cho hoạt động
xử lý chất thải, có lợi cho môi trường mà còn có lợi cho phát triển kinh tế xanh Thế nhưng, để có thể phát huy lợi ích kép này tại Việt Nam, cần phải mạnh dạn đầu tư hơn nữa cho công nghệ sạch và có một chính sách thật sự phù hợp
b Về mặt kinh tế - xã hội:
Trang 2617
Tái chế chất thải không chỉ có ý nghĩa về mặt môi trường mà còn đem lại lợi ích về kinh tế Chúng làm giảm sự phụ thuộc của con người vào việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang dần cạn kiệt Bên cạnh đó việc tái chế còn giúp thu hồi các loại nguyên liệu như: nhựa, giấy, kim loại…, tránh lãng phí tài nguyên, ngăn ngừa được sự ô nhiễm
Hoạt động tái chế chất thải hiện nay có thể được coi là một ngành công nghiệp - kinh doanh và tạo ra một hệ quả kép cả về môi trường và kinh tế:
- Tiết kiệm được nguồn tài nguyên thiên nhiên do sử dụng những vật liệu tái chế thay cho những nguồn tài nguyên thiên nhiên cần phải khai thác (tái chế giấy - giảm khai thác rừng, tái chế nhiên liệu giảm áp lực khai thác các nguồn nhiên liệu hoá thạch)
- Giảm được lượng chất thải cẩn phải xử lý, giảm chi phí cho các quá trình
xử lý, nâng cao thời gian sử dụng của các công trình xử lý
- Một số chất thải trong quá trình tái chế tiết kiệm năng lượng hơn các quá trình sản xuất từ các nguyên liệu thô ban đầu (tái chế Nhôm tiết kiệm 95% năng lượng so với Nhôm nguyên liệu từ quá trình luyện kim)
Lợi ích do hoạt động từ các làng nghề tái chế mang lại như sau:
- Tạo cơ hội việc làm cho người lao động:
+ Hoạt động tái chế đã thu hút khoảng 30% người lao động nông thôn tại các làng nghề tham gia [8]
+ Đóng góp khoảng 50% thu nhập của làng [7]
- Góp phần giảm từ 15 - 20% khối lượng CTR đưa đi xử lý/chôn lấp:
+ Các hoạt động tái chế phế liệu tại các làng nghề đã góp phần giảm được chi phí cho xử lý CTR tại các đô thị Ước tính mỗi năm, tại TP Hồ Chí Minh đã tiết kiệm được khoảng 135 tỷ đồng từ hoạt động tái chế; thành phố Hà Nội tiết kiệm được 44 tỷ đồng và thành phố Hải Phòng khoảng 33 tỷ đồng [8]
+ Thời gian vận hành của bãi chôn lấp được kéo dài hơn bởi khối lượng CTR đưa đến chôn lấp ít hơn [2]
+ Giảm thiểu chất thải, tăng cường tái sử dụng và tái chế CTR hiện là quốc
Trang 2718
sách của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới
Để tận dụng những lợi ích từ nguồn chất thải lớn tại Việt Nam, mang lại hiệu quả cao trong vấn đề tái chế chất thải, trong thời gian tới, bên cạnh việc phải có những chính sách phù hợp để xã hội hóa vấn đề tái chế chất thải thì việc thông tin, giáo dục, nâng cao nhận thức về tái chế chất thải cần được chú trọng
1.2 Hiện trạng hệ thống các chính sách liên quan đến lĩnh vực tái chế chất thải
Trong nhiều năm qua, lĩnh vực tái chế chất thải đã nhận được nhiều sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, thể hiện bằng các chính sách, pháp luật về tái chế đã được quy định trong Luật BVMT 2014 và trong Quyết định số 16/2015/QĐ-TTg
Các chính sách thúc đẩy tái chế được thể hiện khá cụ thể tại các chính sách liên quan đến quản lý chất thải của Việt Nam Có thể phân làm 2 loại như sau:
1.2.1 Các chính sách mang tính định hướng, giải pháp phát triển
Hệ thống các văn bản thể hiện chủ trương, định hướng và các giải pháp của Nhà nước đối với thúc đẩy phát triển tái chế chất thải đã khá đầy đủ, cụ thể:
- Nghị quyết 41/NQ-TW (ngày 15/11/2004) của Bộ Chính trị đã nêu cần xác định rõ trách nhiệm BVMT của Nhà nước, cá nhân, tổ chức và cộng đồng, đặc biệt
đề cao trách nhiệm của các cơ sở sản xuất dịch vụ Tạo cơ sở pháp lý và cơ chế, chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức và cộng đồng tham gia công tác BVMT Hình thành các loại hình tổ chức đánh giá, tư vấn, giám định, công nhận, chứng nhận về BVMT Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia các dịch vụ thu gom, tái sử dụng, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải và các dịch vụ khác về BVMT Định hướng phát triển của Việt Nam (Agenda 21) cũng khuyến khích sử dụng tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, sử dụng các sản phẩm và bao bì không gây hại đến môi trường; giảm tối đa chất thải độc hại và khó phân hủy, tái chế và sử dụng các sản phẩm tái chế
- Quyết định số 1440/QĐ-TTg ngày 06/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch xây dựng khu xử lý CTR 3 vùng kinh tế trọng điểm Bắc
bộ, miền Trung và phía Nam đến năm 2020
Trang 2819
+ Về quan điểm của Quy hoạch sẽ khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng và quản lý các hoạt động thu gom, xử lý chất thải và ưu tiên áp dụng công nghệ trong nước đã được cấp giấy chứng nhận để tái chế, tái sử dụng CTR, hạn chế chôn lấp nhằm xử lý triệt để ô nhiễm môi trường và tăng hiệu quả sử dụng đất (mục 4, điều 1)
+ Về cơ chế chính sách khuyến khích, hỗ trợ ưu đãi như sau:
Miễn tiền sử dụng đất; Nhà nước hỗ trợ kinh phí giái phóng mặt bằng, xây dựng công trình ngoài hàng rào của dự án;
Doanh nghiệp được vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam với đảm bảo tiền vay bằng tài sản được hình thành từ dự án;
- Quyết định số 1030/QĐ-TTg ngày 20/7/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Đề án phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn đến 2025" Trong đó Đề án yêu cầu sử dụng bền vững tài nguyên, phục hồi môi trường bằng cách tăng cường hiệu quả hoạt động cung cấp nước sạch, sử dụng tiết kiệm tài nguyên; giảm thiểu, tái chế và tái sử dụng chất thải, phế liệu, sản phẩm đã qua sử dụng (Điều 1, mục II, khoản 5a);
- Quyết định 129/2009/QĐ-TTg ngày 29/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên và môi trường”
- Quyết định số 2149/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng Chỉnh phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 Với quan điểm: Quản lý CTR phải được thực hiện theo phương thức tổng hợp, nhằm phòng ngừa, giảm thiểu phát sinh chất thải tại nguồn là nhiệm
vụ ưu tiên hàng đầu, tăng cường tái sử dụng, tái chế để giảm khối lượng chất thải phải chôn lấp (Điều 1, mục 1)
Trong các văn bản trên, quan điểm xử lý chất thải chủ yếu theo hình thức giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế với những chỉ tiêu, giải pháp rất cụ thể đã được đề cập Có thể nhận thấy tất cả những giải pháp làm tiền đề cho sự phát triển lĩnh vực tái chế đều đã được thể hiện trong các văn bản này
Trang 2920
Các chính sách, chiến lược nhìn chung đã đặt ra các mục tiêu cụ thể có ý
nghĩa định hướng cho công tác thúc đẩy tái chế chất thải hiện nay Tuy nhiên, kết
quả đạt được trên thực tế vẫn còn hạn chế so với yêu cầu của chiến lược đề ra, các
mục tiêu về tái chế chất thải đặt ra còn gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai
thực hiện cũng như hoàn thành mục tiêu
1.2.2 ác chính sách được ban hành dưới dạng công cụ điều hành
Hệ thống này bao gồm các Luật, Nghị định, Quyết định, Thông tư, được
ban hành để chỉ đạo, điều hành các hoạt động liên quan đến thúc đẩy tái chế chất
thải Có nhiều văn bản đã được ban hành phục vụ nội dung này Hình 1.2 đề cập
đến những văn bản quan trọng nhất, liên quan mật thiết đến việc thúc đẩy tái chế
CTR được ban hành theo Luật BVMT 2014
Hình 1.2 ác văn bản chủ yếu thúc đẩy tái chế TR hiện hành
* uật Bảo vệ ôi trường số: 55/2014/QH13 đã được uốc hội khóa 13,
kỳ hợp thứ 7 thông qua ngày 23/6/2014
- Về công tác quản lý: Luật quy định chất thải phải được quản lý trong toàn
bộ quá trình phát sinh, giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái
chế và tiêu hủy và Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ làm phát sinh chất thải
có trách nhiệm giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải
hoặc chuyển giao cho cơ sở có chức năng phù hợp để tái sử dụng, tái chế và thu hồi
năng lượng (Điều 86, khoản 1 và 2)
LUẬT BẢO V MÔI TRƯỜNG 2014
Quyết định 16/2015/ TTg uy định về thu hồi,
Đ-xử lý sản phẩm thải bỏ
Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT, ngày 30/6/2015 về quản lý CTNH
Trang 3021
- Về thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ: Luật cũng quy định rõ chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ; người tiêu dùng có trách nhiệm chuyển sản phẩm thải bỏ đến nơi quy định; Ủy ban nhân dân các cấp,
cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tổ chức việc thu gom sản phẩm thải bỏ Điều 87 cũng đã quy định việc thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ (Điều 87)
- Về tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và xử lý CTR thông thường Luật cũng làm rõ trách nhiệm tái chế CTR thông thường: Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có phát sinh CTR thông thường có trách nhiệm tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và xử lý CTR thông thường Trường hợp không có khả năng tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và xử lý CTR thông thường phải chuyển giao cho cơ sở có chức năng phù hợp để tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và xử lý (Điều 97)
- Về phát triển công nghiệp môi trường: Nhà nước đầu tư và có chính sách
hỗ trợ tổ chức, cá nhân phát triển công nghiệp môi trường; xây dựng đầu tư, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật xử lý và tái chế chất thải; hình thành và phát triển các khu xử
lý, tái chế chất thải tập trung; sản xuất, cung cấp thiết bị, sản phẩm phục vụ yêu cầu bảo vệ môi trường (Điều 153) Luật ưu đãi, hỗ trợ xây dựng cơ sở tái chế, xử lý CTR thông thường, chất thải nguy hại, khu chôn lấp chất thải (Điều 151)
*Nghị định số 38/2015/NĐ- P ngày 24/4/2015 của hính phủ về quản
lý chất thải và phế liệu Theo Nghị định này, các công nghệ tái chế, thu hồi năng
lượng, sản xuất sản phẩm từ các thành phần có ích trong chất thải là một trong năm nhóm công nghệ chính trong xử lý chất thải Ngoài ra, Nghị định cũng khuyến khích lựa chọn công nghệ đồng bộ, tiên tiến cho hoạt động tái chế chất thải để tạo ra nguyên liệu và năng lượng, đồng thời giảm thiểu khối lượng CTR phải chôn lấp, tiết kiệm quỹ đất sử dụng chôn lấp và bảo đảm vệ sinh môi trường
* Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường:
Trang 3122
- Đối với hoạt động xử lý chất thải: được hưởng ưu đãi về tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai như các đối tượng thuộc lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư và được Nhà nước hỗ trợ tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng Đối với hoạt động tái chế: được hưởng ưu đãi về tiền thuê đất theo quy định của pháp luật đất đai như các đối tượng thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư
- Việc huy động từ Quỹ BVMT đối với hoạt động xử lý chất thải thì chủ đầu
tư dự án nếu áp dụng công nghệ xử lý có tỷ lệ chất thải phải chôn lấp sau xử lý dưới 30% trên tổng lượng CTR thu gom thì được vay vốn với lãi suất ưu đãi tối đa không quá 50% mức lãi suất tín dụng đầu tư của Nhà nước do cơ quan có thẩm quyền công
bố tại thời điểm cho vay, tổng mức vay vốn không quá 80% tổng mức đầu tư xây dựng công trình; được ưu tiên hỗ trợ sau đầu tư hoặc bảo lãnh vay vốn; đối với hoạt động tái chế: Chủ đầu tư dự án được vay vốn với lãi suất ưu đãi tối đa không quá 50% mức lãi suất tín dụng đầu tư của Nhà nước do cơ quan có thẩm quyền công bố tại thời điểm cho vay, tổng mức vay vốn không quá 70% tổng mức đầu tư xây dựng công trình; được ưu tiên hỗ trợ sau đầu tư hoặc bảo lãnh vay vốn
*Quyết định số 16/2015/ Đ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: uy định
về thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
quy định về thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ, bắt đầu từ 1/7/2016 sẽ thu hồi và xử lý một số sản phẩm thải bỏ là ắc quy và pin các loại; một số thiết bị điện, điện tử; dầu nhớt, săm, lốp các loại Quyết định nêu rõ:
- Nhà sản xuất có trách nhiệm tổ chức thu hồi sản phẩm thải bỏ do mình đã bán ra thị trường Việt Nam; thiết lập điểm hoặc hệ thống các điểm thu hồi sản phẩm thải bỏ; có trách nhiệm tiếp nhận sản phẩm thải bỏ của mình; khuyến khích tiếp nhận sản phẩm cùng loại với sản phẩm mình đã bán ra thị trường mà không phân biệt nhãn hiệu hoặc nhà sản xuất; tiếp nhận để xử lý những sản phẩm thải bỏ của mình đã đưa ra thị trường do nhà sản xuất khác thu hồi được khi có yêu cầu,…
- Người tiêu dùng có trách nhiệm chuyển giao các sản phẩm thải bỏ theo các hình thức: Tự chuyển đến điểm thu hồi; chuyển giao cho tổ chức, cá nhân thu gom
để vận chuyển đến các điểm thu hồi sản phẩm thải bỏ,…
Trang 3223
- Cơ sở phân phối có trách nhiệm phối hợp với nhà sản xuất thiết lập điểm thu hồi và tiếp nhận sản phẩm thải bỏ tại cơ sở của mình theo đề nghị của nhà sản xuất; lưu giữ các sản phẩm thải bỏ tại điểm thu hồi theo quy định
Bảng 1.5, khái quát những nội dung liên quan đến chính sách thúc đẩy hoạt động tái chế chất thải được thể hiện trong các văn bản điều hành của nhà nước
Bảng 1.5 Hệ thống các chính sách quốc gia thúc đẩy tái chế tại Việt Nam
2025, tầm nhìn 2050”
(2009)
Chưa thực hiện được các tiêu chỉ theo lộ trình đã xác định trong chiến lược
- Thông tư số 36/2015/ BTNMT về quản lý CTNH
Chỉ có hoạt động phân loại CTR y tế và 1 phần CTR công nghiệp; chưa triển khai chính thức phân loại CTR sinh hoạt, mới chỉ dừng lại ở việc thí điểm tại một số phường, xã của thành phố như: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng
Trang 33xử lý sản phẩm thải
bỏ)
Theo Quyết định số 50/2013 /QĐ-TTg, một số sản phẩm quy định bắt đầu thu hồi từ 1/2015, nhưng hiện nay đã lùi lại sớm nhất là tháng 7/2016 theo Quyết định số 16/2015/QĐ-TTg
128/2016/TT-BTC
Đang thực hiện ở một số địa phương
- Nghị định 19/2015 /NĐ-CP;
Hiện nay đã có các nhà máy sản xuất phân hữu cơ tại nhiều tỉnh, thành phố được ưu đãi, hỗ trợ về đất sạch, vốn, công nghệ
Đã có một số doanh nghiệp được vay vốn ưu đãi từ Quỹ môi trường địa phương
Chưa thực hiện
Trang 3425
1.3 Các vấn đề tồn tại trong hoạt động tái chế chất thải hiện nay
- Công nghệ tái chế cũ và lạc hậu nên nhìn chung chưa tạo được nhiều sản phẩm tái chế có chất lượng cao cũng như chưa khai thác hết chất thải có thể tái chế
về chủng loại và khối lượng Năng lực tái chế CTR hiện nay ở Việt Nam chủ yếu từ các vật liệu thông thường như kim loại (sắt, thép, đồng, chì, nhôm), một phần giấy, nhựa là có thể tiếp tục phát triển thì gần như các mảng tải chế khác chưa đáp ứng được nhu cầu Trong lĩnh vực tái chế chất thải sinh hoạt, thực tế các hạn chế trong các công nghệ đang triển khai, đến lúc này vẫn cho thấy chủ yếu dựa vào công nghệ tái chế phân vi sinh, tái chế nhiên liệu rắn và lỏng, tái chế năng lượng thông qua quá trình đốt và tái chế vật liệu nhân tạo như gỗ, nhựa Hạn chế của các công nghệ này chủ yếu tập trung vào các mảng phân loại thải, hiệu suất chuyển hóa, giá thành và chất lượng sản phẩm [5]
- Sự chưa đầy đủ và có hiệu quả của khung chính sách pháp luật, cũng chưa đáp ứng được yêu cầu và năng lực của ngành sản xuất Chưa bao giờ vấn đề tái chế
và thu hồi sản phẩm loại bỏ lại được các quốc gia đặc biệt quan tâm như hiện nay và Việt Nam là một quốc gia đang phát triển cũng không nằm ngoại lệ Tìm kiếm công nghệ, chính sách phù hợp để thu hồi, tái sử dụng và tái chế các loại chất thải hiệu quả được xem là thách thức cho các nước nói chung và Việt Nam nói riêng
Vấn đề thu hồi sản phẩm thải bỏ và tái chế không phải là vấn đề của một cá nhân, một nhóm xã hội, mà sự ảnh hưởng của nó mang tính quốc gia, toàn cầu Do vậy, cần có sự tác động mạnh mẽ từ những công cụ đủ mạnh, nhằm giải quyết vấn
đề theo đúng phạm vi của nó Chính sách, với tư cách là một phương tiện quản lý của nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước, sẽ có những tác động cũng như ảnh hưởng to lớn đến lĩnh vực tái chế chất thải Đặc biệt, với một quốc gia xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, công cụ này càng đóng vai trò quan trọng, khi mà nó cũng chính là sự thể hiện ý chí của toàn dân, nguyện vọng của nhân dân Từ đó, mang lại
sự tác động mang tính đồng bộ, mọi mặt, dẫn đến hiệu quả cao nhất trong việc giải quyết vấn đề quốc gia này
Trang 35- Thiếu hụt một cơ sở dữ liệu về chất thải có thể tái chế cũng như các chương trình chia sẻ thông tin liên quan;
- Chưa có sự hiểu biết và hợp tác đầy đủ của cộng đồng Đại bộ phận người tiêu dùng hiện nay chưa có tâm lý ủng hộ các sản phẩm tái chế Chất lượng sản
phẩm thấp chưa đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của người tiêu dùng
1.4 Các công cụ đánh giá chính sách
1.4.1 ác phương phương/công cụ được áp dụng
Ở các nước phát triển, đặc biệt là các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế thường sử dụng nhiều công cụ đánh giá chính sách, kết hợp cả phương pháp định tính và định lượng nhằm đánh giá và dự báo tác động của các chính sách trong thực tế Các phương pháp/công cụ thường được sử dụng gồm: mô hình phân tích SWOT; Phương pháp phân tích dòng vật liệu MFA; Phương pháp Đánh giá tổng hợp DPSIR; Phương pháp đánh giá tác động môi trường EIA; Phương pháp phân tích rủi ro môi trường ERA; Phương pháp phân tích đầu vào - đầu ra IOA; Phân tích chi phí lợi ích CBA, Phân tích đa tiêu chuẩn MCA,…
Hiện nay, một số phương pháp chủ yếu sau đây được áp dụng rộng rãi, gồm:
1 Phương pháp phân tích SWOT
SWOT là công cụ phân tích hữu hiệu, giúp chúng ta hiểu vấn đề của sự việc,
là từ viết tắt của Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội), Threats (Nguy cơ, Thách thức)
Mô hình phân tích SWOT do Albert Humphrey phát triển vào những năm 1960- 1970 Đây là kết quả của một dự án nghiên cứu do đại học Standford, Mỹ thực hiện Dự án này sử dụng dữ liệu từ 500 công ty có doanh thu lớn nhất nước Mỹ (Fortune 500) nhằm tìm ra nguyên nhân thất bại trong việc lập kế hoạch của các
Trang 3627
doanh nghiệp này Albert cùng các cộng sự của mình ban đầu đã cho ra mô hình
phân tích có tên gọi SOFT: Thỏa mãn (Satisfactory) - Điều tốt trong hiện tại, Cơ
hội (Opportunity) – Điều tốt trong tương lai, Lỗi (Fault) – Điều xấu trong hiện tại;
Nguy cơ (Threat) – Điều xấu trong tương lai Tuy nhiên, cho đến năm 1964, sau khi
mô hình này được giới thiệu cho Urick và Orr tại Zurich Thuỵ Sĩ, họ đã đổi F
(Fault) thành W (Weakness) và SWOT ra đời từ đó Phiên bản đầu tiên được thử
nghiệm và giới thiệu đến công chúng vào năm 1966 dựa trên công trình nghiên cứu
tại tập đoàn Erie Technological Năm 1973, SWOT được sử dụng tại J W French
Ltd và thực sự phát triển từ đây Đầu năm 2004, SWOT đã được hoàn thiện và cho
thấy khả năng hữu hiệu trong việc đưa ra cũng như thống nhất các mục tiêu của tổ
chức mà không cần phụ thuộc vào tư vấn hay các nguồn lực tốn kém khác
Công cụ SWOT được phân tích dưới dạng ma trận 2*2 (hai hàng, hai cột)
Phân tích SWOT
Tích cực/Có lợi trong việc đạt được mục
tiêu
Tiêu cực/Gây hại
Các yếu tố bên trong (sự
thật, yếu tố,…phát sinh từ
nội bộ)
Điểm mạnh (S) Điểm yếu (W)
Các yếu tố bên ngoài
(sự thật, yếu tố,…phát
sinh từ môi trường xung
quanh)
Cơ hội (O) Thách thức (T)
Phân tích SWOT cho ta cách nhìn tổng thể của vấn đề, sự việc [20]
- Phân tích các điểm mạnh, điểm yếu trong nội tại của hệ thống tái chế
- Phân tích những tác động từ bên ngoài hệ thống có thể tạo ra cơ hội và
nguy cơ
Tuy nhiên trong thực tế một số trường hợp cũng rất khó phân biệt đâu là môi
trường bên trong, đâu là môi trường bên ngoài, phạm vi của vấn đề phân tích nó ở
đâu Điểm mạnh - Điểm yếu của một vấn đề khi phân tích đôi khi không rõ, nó có
Trang 37Công cụ này cho phép nhà phân tích lần theo dấu của các dòng đa vật liệu đi qua nền kinh tế Công cụ này có thể xác định các cơ hội làm giảm tác động gây ra bởi tác động phụ của quá trình sản xuất và tiêu thụ Các mô hình trong nhóm này có thể được áp dụng ở cấp độ chính sách và trong việc thiết kế, quy hoạch các hệ thống vùng để tạo ra vòng lặp khép kín
MFA là một phương pháp đánh giá hiệu quả của việc sử dụng vật liệu bằng cách dùng thông tin từ kiểm toán dòng vật liệu MFA giúp biểu thị và xác định chất thải của các tài nguyên thiên nhiên và các vật liệu khác trong nền kinh tế mà việc xác định đó không được nhận biết trong các hệ thống theo dõi kinh tế thông thường Phân tích dòng vật liệu áp dụng cho qui mô nền kinh tế được xây dựng từ những năm 1990 dưới sự hợp tác của nhiều tổ chức nghiên cứu Năm 2001 các phương pháp này được tiêu chuẩn hóa trong bản hướng dẫn phương pháp luận (Eurostat, 2001) Mục đích của phương pháp luận MFA là định lượng hóa sự trao đổi vật chất giữa nền kinh tế quốc gia và môi trường trên cơ sở tổng khối lượng vật liệu chuyển
từ môi trường vào nền kinh tế (vật liệu vào) và từ nền kinh tế quốc gia đi ra môi trường
MFA cung cấp một cơ sở dữ liệu quan trọng để thiết lập một loạt các chỉ tiêu
áp lực môi trường
Các bước phân tích dòng vật liệu bao gồm:
- Thực hiện phân tích hệ thống bao gồm các sản phẩm và tiến trình
- Xác định các dòng khối lượng của các sản phẩm trên một đơn vị thời gian
- Xác định sự tập trung của các thành phần vật liệu chọn lọc trong các sản phẩm này
Trang 3829
- Tính toán khối lượng và các dòng vật liệu từ khối các dòng hàng hóa và các thành phần vật liệu
- Diễn đạt và trình bày các kết quả
3 Phương pháp đánh giá tổng hợp DPSIR (Động lực chi phối - Hiện trạng - Tác động - Ứng phó): Phương pháp này do Tổ chức Môi trường Châu Âu xây dựng vào năm 1999 là một mô hình dùng mô tả mối quan hệ tương hỗ giữa Động lực (phát triển kinh tế - xã hội, nguyên nhân sâu xa của các biến đổi môi trường), Áp lực (các nguồn thải trực tiếp gây ô nhiễm và suy thoái môi trường), Hiện trạng (hiện trạng chất lượng môi trường), Tác động (tác động của ô nhiễm môi trường đối với sức khỏe cộng đồng, hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái), Đáp ứng (các đáp ứng của nhà nước và xã hội để bảo vệ môi trường) [18]
Cấu trúc của mô hình bao gồm các thông số chỉ thị về điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội của vùng nghiên cứu, dựa vào đặc điểm và bản chất, các thông số này được chia thành 5 hợp phần như hình 1.3
Chiều thuận Chiều phản hồi
Hình 1.3 Mô hình DPSIR
Quy trình này được đề xuất từ năm 2004 được áp dụng rộng rãi ở các nước
EU, từ 2005 được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam
4 Phương pháp đánh giá chu trình sản phẩm LCA
Theo Chế Đình Lý (2004) trích từ tài liệu ISO 14000 LCA được định nghĩa:
"LCA là sự thu thập tài liệu, ước lượng các thông số đầu vào, đầu ra và các tác động môi trường tiềm tàng của một hệ thống sản phẩm thông qua vòng đới của
Trang 39LCA được giới thiệu tại Việt Nam năm 1997 cùng với bộ tiêu chuẩn ISO
14000 Việc thực hiện và áp dụng phương pháp này ở Việt Nam còn rất hạn chế vì thiếu những dữ liệu cho giai đoạn phân tích vòng đời
5 Phương pháp đánh giá tác động môi trường EIA
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là phương thức của một quá trình được
sử dụng để dự đoán hệ quả về môi trường (tích cực hoặc tiêu cực) của một kế hoạch, một chính sách, một chương trình hoặc dự án trước khi ra quyết định thực hiện, đồng thời đề xuất các biện pháp để điều chỉnh tác động đến mức độ có thể được chấp nhận (mức độ do chính quyền quy định thông qua các quy chuẩn kỹ thuật) hoặc để khảo sát các giải pháp kỹ thuật mới Mặc dù một đánh giá có thể dẫn đến các quyết định kinh tế khó khăn và những mối quan tâm về chính trị, xã hội
+ Cải tiến và phát triển sản phẩm
+ Kế hoạch chiến lược cho nhà nghiên cứu, nhà sản xuất,…
+ Xây dựng chính sách Marketing
+ Các mục đích khác
Trang 40sự đánh giá tác động môi trường đặc biệt ở chỗ chúng không yêu cầu sự tuân thủ các một kết quả môi trường được định trước, mà yêu cầu các nhà hoạch định ra quyết định cân nhắc, tính toán đến các giá trị môi trường trong các quyết định của
họ và để chứng minh những quyết định trong bối cảnh nghiên cứu một môi trường
cụ thể và những ý kiến công chúng về các tác động tiềm ẩn của môi trường
1.4.2 Các tiêu chí lựa chọn phương pháp phù hợp trong điều kiện Việt Nam
Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam cũng như điều kiện thực hiện Luận văn, do thiếu nguồn lực và những hạn chế về mặt thời gian, không gian và quy mô, sau khi đánh giá chung về hệ thống các chính sách trong lĩnh vực tái chế chất thải ở Việt Nam, học viên lựa chọn Quyết định số 16/2015/QĐ-TTg ngày 22/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ đối với thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ đối với CTĐT
Để đánh giá được chính sách này, bên cạnh việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu như đã nêu, học viên lựa chọn 3 công cụ đánh giá là phương pháp phân tích SWOT; Phương pháp Đánh giá tổng hợp DPSIR và Phương pháp phân tích dòng vật liệu MFA nhằm đánh giá các tác động dựa trên các tiêu chí sau:
- Thứ nhất, căn cứ vào quá trình thực hiện chính sách: Quyết định số 16/2015/QĐ-TTg đang trong giai đoạn đầu của quá trình thực hiện chính sách (quy định thu hồi một số sản phẩm trong danh mục như pin, ắc quy, săm lốp, bao bì, đồ điện, điện tử, …bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/7/2016); do vậy chưa có kết quả để đối chứng hiện trạng môi trường trước và sau khi thực hiện chính sách Nội dung phân tích chính sách trong giai đoạn này nhìn chung chỉ mới dừng lại ở mức độ